Vượt qua nghi ngờ hợp lý: Ngưỡng tiêu chuẩn chứng minh trong tư pháp hình sự Hoa Kỳ và kinh nghiệm cho Việt Nam

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
VƯỢT QUA NGHI NGỜ HỢP LÝ:  
NGƯỠNG TIÊU CHUẨN CHỨNG MINH TRONG TƯ PHÁP HÌNH SỰ HOA KỲ  
VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM  
Võ Minh Kỳ*  
* ThS. Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.  
Tóm tắt:  
Thông tin bài viết:  
Ngưỡng tiêu chuẩn chứng minh đóng vai trò quan trọng trong việc giải  
quyết vụ án hình sự. Khi và chỉ khi phía buꢀc tꢀi thực hiện chứng minh  
tꢀi phạm đạt hoặc vượt qua ngưỡng tiêu chuẩn chứng minh, thì người  
xét xꢁ mới có thể tuyên phán quyết có tꢀi. Tuy nhiên, pháp luật tꢂ tụng  
hình sự (TTHS) Việt Nam chưa quy định về ngưỡng tiêu chuẩn chứng  
minh. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích ngưỡng tiêu chuẩn  
chứng minh “vượt qua nghi ngờ hợp lý” của hệ thꢂng tư pháp hình sự  
Hoa Kỳ và luận giải về khả năng áp dụng ngưỡng tiêu chuẩn này vào  
TTHS Việt Nam.  
Từ khóa: Nghi ngờ hợp lý, giới hạn  
chứng minh, ngưỡng tiêu chuẩn  
chứng minh, tꢂ tụng hình sự.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 11/6/2021  
: 28/6/2021  
: 01/7/2021  
Abstract:  
Article Infomation:  
The standard of proof plays an important role in tackling criminal cases.  
Only when the prosecutors prove the crime over the requirement of the  
standard of proof, the trier of fact gives a verdict of conviction. However,  
the current Vietnamese law on criminal procedure does not regulate  
such a standard. The paper analyses the standard of proof “beyond a  
reasonable doubt” of the U.S criminal justice system, then recommends  
the possibility of implementing such a standard into Vietnam.  
Keywords: Reasonable doubt;  
burden of proof; standard of  
proof; criminal procedure.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 11 Jun 2021  
: 28 Jun 2021  
: 01 July 2021  
Approved  
1. Dẫn nhập  
minh, chứng minh cái gì, và nghĩa vụ chứng  
minh phải được thực hiện tới mức đꢀ nào.  
Nghĩa vụ chứng minh (burden of proof) là  
mꢀt khía cạnh quan trọng trong tꢂ tụng nói  
chung, và TTHS nói riêng. Khi nói đến nghĩa  
vụ chứng minh, mꢀt sꢂ câu hỏi thường được  
đặt ra như: ai là người có nghĩa vụ chứng  
Trong đó, câu hỏi về việc thực hiện nghĩa  
vụ chứng minh đến mức đꢀ nào lại đặt ra  
mꢀt sꢂ vấn đề khá phức tạp, đặc biệt là trong  
TTHS. Theo pháp luật Hoa Kỳ, có ba mức  
đꢀ của nghĩa vụ chứng minh, hay còn gọi  
54  
Số 14(438) - T7/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
là ngưỡng tiêu chuẩn chứng minh (standard  
of proof) sau đây1: Thứ nhất, ở mức đꢀ thấp  
nhất, thường được sꢁ dụng trong tranh chấp  
dân sự được gọi là “sự vượt trꢀi về chứng  
cứ” (preponderance of evidence); thứ hai, ở  
mức đꢀ giữa, thường được dùng trong các  
vụ việc hành chính mang tính chất nghiêm  
trọng như xem xét việc tước quꢂc tịch, hoặc  
thực hiện việc trục xuất, được gọi là “clear  
and convincing evidence” (tạm dịch: Chứng  
cứ rõ ràng và thuyết phục); thứ ba, mức đꢀ  
ngưỡng tiêu chuẩn chứng minh khắt khe nhất  
được sꢁ dụng trong các vụ án hình sự được  
gọi là “vượt qua nghi ngờ hợp lý” (beyond a  
reasonable doubt)2.  
Mục đích của ngưỡng tiêu chuẩn chứng  
minh được đưa ra nhằm để hướng dẫn người  
xét xꢁ về mức đꢀ của chứng cứ trong việc  
chứng minh sự thật vụ án mà bên có nghĩa  
vụ chứng minh phải thực hiện. Đꢃng thời,  
nó cũng giúp cho người có nghĩa vụ chứng  
minh nhận thức được mức đꢀ của nghĩa vụ  
mà mình phải thực hiện. Khi và chỉ khi phía  
có nghĩa vụ chứng minh đạt hoặc vượt qua  
các mức ngưỡng này, thì người xét xꢁ mới  
có thể tuyên phán quyết chấp nhận yêu cꢄu  
của phía có nghĩa vụ chứng minh.  
2. Vượt qua nghi ngờ hợp lý: Ngưỡng  
tiêu chuẩn chứng minh tư pháp hình sự  
Hoa Kỳ  
2.1. Nguồn gốc của “vượt qua nghi ngờ  
hợp lý”  
Học thuyết về “nghi ngờ hợp lý” có  
nguꢃn gꢂc ngay từ thời Cải cách châu  
Âu (Protestant Reformation/European  
Reformation) vào đꢄu thế kỷ XVI3. Tuy  
nhiên, năm 1770, phiên tòa đꢄu tiên được  
chính thức ghi nhận áp dụng ngưỡng tiêu  
chuẩn chứng minh “vượt qua nghi ngờ hợp  
lý” là Boston Massacre Trials. Mꢀt sꢂ ghi  
chép khác ghi nhận rằng, vào năm 1798,  
ngưỡng tiêu chuẩn chứng minh này cũng  
được áp dụng ở các phiên tòa Irish Treason  
Trials4. Lý giải cho sự xuất hiện của ngưỡng  
tiêu chuẩn “vượt qua nghi ngờ hợp lý”, hiện  
có hai giả thuyết sau đây5:  
1 Mꢀt sꢂ nhà nghiên cứu luật học Việt Nam đã sꢁ dụng thuật ngữ “giới hạn chứng minh” để chỉ “standard of proof”.  
Tuy nhiên, việc sꢁ dụng cụm từ “giới hạn” ở đây không thực sự phù hợp với nghĩa của thuật ngữ này. Theo lẽ thông  
thường, “giới hạn” được hiểu là ngưỡng/điểm nhất định không thể vượt qua, tức là ngưỡng/điểm cực đại, tꢂi đa.  
Như vậy, khi dùng thuật ngữ “giới hạn chứng minh” sẽ dẫn đến ý niệm nghĩa vụ chứng minh không được vượt quá  
ngưỡng/điểm giới hạn. Trong khi đó, “standard of proof” chỉ mꢀt điểm/ngưỡng tꢂi thiểu mà bên có nghĩa vụ chứng  
minh phải vượt qua, tức phải chứng minh từ điểm/ngưỡng đó trở lên mà không thể thấp hơn. Do đó, trong bài viết  
này, tác giả sꢁ dụng thuật ngữ “ngưỡng tiêu chuẩn chứng minh” nhằm chỉ khái niệm “standard of proof”. Xem thêm  
Đinh Thế Hưng, “Bàn về giới hạn chứng minh và nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hình sự”, https://tapchitoaan.  
vn/bai-viet/phap-luat/ban-ve-gioi-han-chung-minh-va-nghia-vu-chung-minh-trong-to-tung-hinh-su, truy cập ngày  
29/3/2021; Đỗ Văn Đương, Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng hình sự, Hà Nꢀi: Nxb. Tư pháp, 2006.  
2 Mꢀt nghiên cứu khoa học xã hꢀi nhận thấy, khi ở ngưỡng tiêu chuẩn chứng minh “sự vượt trꢀi về chứng cứ”  
(preponderance of evidence), thì mức đꢀ chứng minh của bên có nghĩa vụ chứng minh (thường là nguyên đơn)  
thường phải vượt trꢀi hơn mức 50% so với phía bị đơn. Đꢂi với ngưỡng tiêu chuẩn chứng minh “chứng cứ rõ  
ràng và thuyết phục” (clear and convincing evidence) đòi hỏi chứng cứ phải thể hiện được mức đꢀ chứng minh  
ở khoảng 67% đến 75%. Còn đꢂi với ngưỡng tiêu chuẩn cao nhất là “vượt qua nghi ngờ hợp lý” (beyond a  
reasonable doubt), là mức đꢀ chứng minh của phía công tꢂ thường phải vượt qua mức 90% trở lên. Xem thêm  
Dorothy K. Kagehiro và W. Clark Stanton, “Legal vs. Quantified Definition of Standards of Proof,” Law and  
Human Behavior, Vol. 9, No. 2 (June 1985), pp.160-161  
3 Theodore Waldman, “Origins of the Legal Doctrine of Reasonable Doubt,” Journal of the History of Ideas,  
Vol. 20, No. 3 (Jun. - Sep., 1959), pp. 299-301  
4 Thomas V. Mulrine, “Reasonable Doubt: How in the World Is It Defined?,” American University International  
Law Review, Vol. 12, Issue 1 (1997), p. 200  
5
Barbara Shapiro, “The Beyond Reasonable Doubt Doctrine: Moral Comfort or Standard of Proof,” Law  
and Humanities, Vol. 2, Issue 2 (2008), pp. 149 - 173; và Miller W. Shaealy Jr., “A Reasonable Doubt About  
“Reasonable Doubt”,” Oklahoma Law Review, Vol. 65, No. 2 (2013), p. 270  
Số 14(438) - T7/2021  
55  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
Thứ nhất, quan điểm lý giải dựa trên “factual  
proof” (bằng chứng thực tế)6. Theo quan điểm  
này, vào thế kỷ XIII - XIV, tại nước Anh đã  
thực hiện việc xét xꢁ bởi bꢃi thẩm đoàn (jury),  
là những người biết về sự thật vụ án, bởi vì họ  
sꢂng cùng mꢀt cꢀng đꢃng với người bị buꢀc tꢀi.  
Bꢃi thẩm đoàn được kỳ vọng sẽ sꢁ dụng những  
hiểu biết của họ về cá nhân người bị buꢀc tꢀi,  
và những chứng cứ do chính họ thu thập để đưa  
ra phán quyết. Đến thế kỷ XV, vì nhiều lý do  
(như sự gia tăng dân sꢂ, sự tăng cường giao  
thương giữa các khu vực,…), bꢃi thẩm đoàn  
không còn đủ khả năng tự mình thực hiện các  
cuꢀc điều tra thu thập chứng cứ, và hiểu biết  
của bꢃi thẩm đoàn về cá nhân của người bị  
buꢀc tꢀi cũng hạn chế so với trước. Do đó, bꢃi  
thẩm đoàn đã trao việc thu thập chứng cứ cho  
các bên trong phiên tòa. Kết quả là, do không  
còn tự mình thu thập chứng cứ, nên bꢃi thẩm  
đoàn phải thực hiện việc đánh giá tính xác thực  
(truthfulness/reliability) của chứng cứ để đưa  
ra phán quyết. Từ đó, đòi hỏi về các ngưỡng  
tiêu chuẩn đánh giá chứng cứ như là tất yếu của  
việc xét xꢁ. Như vậy, sự xuất hiện của “beyond  
a reasonable doubt” là do sự đòi hỏi của việc  
phải đánh giá chứng cứ nhằm xác định sự thật  
vụ án của bꢃi thẩm đoàn.  
Thứ hai, quan điểm dựa trên “moral  
comfort” (không cắn rứt lương tâm). Theo  
niềm tin của người Công giáo, việc kết án mꢀt  
người vô tꢀi được xem là tꢀi lỗi nghiêm trọng.  
Do đó, các bꢃi thẩm viên rất e ngại trong  
việc kết án. Việc phát triển nguyên tắc về  
“reasonable doubt” là mꢀt trong các phương  
tiện nhằm giúp bꢃi thẩm viên vượt qua được  
nỗi e ngại của họ trong việc xét xꢁ. Nếu bꢃi  
thẩm viên có nghi ngờ về tꢀi lỗi của bị cáo, thì  
việc kết tꢀi sẽ không phù hợp với lẽ thường.  
Nghi ngờ được xem là tiếng nói của sự không  
chắc chắn của lương tâm về việc kết tꢀi, và  
trong trường hợp có sự nghi ngờ thì điều tꢂt  
hơn cꢄn làm là không làm gì cả, tức từ chꢂi  
việc kết án. Chính vì vậy, ngưỡng tiêu chuẩn  
chứng minh “vượt qua nghi ngờ hợp lý” được  
tạo ra vꢂn không phải nhằm mục đích đảm  
bảo việc tìm kiếm sự thật vụ án, hay để đảm  
bảo quyền của người bị buꢀc tꢀi, mà chính  
là nhằm để tạo ra mꢀt ngưỡng chứng minh  
nhằm giúp bꢃi thẩm đoàn thỏa mãn, khuây  
khỏa được niềm tin, đạo đức cá nhân khi thực  
hiện nhiệm vụ xét xꢁ hình sự7.  
Sau sự manh nha xuất hiện vào năm 1770  
và 1798 của việc áp dụng ngưỡng tiêu chuẩn  
chứngminh“vượtquanghingờhợplý”thìđến  
năm 1850, Tòa án Hoa Kỳ chính thức áp dụng  
ngưỡng tiêu chuẩn này vào hệ thꢂng TTHS  
hiện đại thông qua vụ án Commonwealth v.  
Webster8. Tuy nhiên, ngưỡng tiêu chuẩn này  
chỉ được áp dụng tại các tòa án liên bang.  
Đến năm 1970, Tòa án tꢂi cao Hoa Kỳ mới  
chính thức ghi nhận “beyond a reasonable  
doubt” là mꢀt đòi hỏi của trình tự tꢂ tụng công  
bằng (Due Process of Law) theo Tu chính án  
thứ 5 và Tu chính án thứ 14. Từ đó, ngưỡng  
tiêu chuẩn chứng minh “vượt qua nghi ngờ  
hợp lý” được áp dụng trên khắp đất nước Hoa  
Kỳ, từ cấp đꢀ liên bang đến cấp đꢀ tiểu bang9.  
2.2. Khái niệm về “vượt qua nghi ngờ  
hợp lý”  
Mặc dù Tòa án tꢂi cao Hoa Kỳ đã ghi  
nhận nguyên tắc “vượt qua nghi ngờ hợp  
lý” như là mꢀt đòi hỏi bắt buꢀc trong quy  
trình tꢂ tụng công bằng, nhưng Tòa án tꢂi  
cao chưa từng chính thức đưa ra giải thích  
thế nào là “nghi ngờ hợp lý”. Thậm chí, Tòa  
án tꢂi cao từng ghi nhận rằng thuật ngữ “nghi  
6 Xem thêm Barbara J. Shapiro, ‘Beyond Reasonable Doubt’ and ‘Probable Cause’: Historical Perspectives  
on the Anglo-American Law of Evidence, Berkeley CA: University of California Press, 1991, p. 4  
7 Xem thêm James Q. Whitman, The Origins of Reasonable Doubt: Theological Roots of the Criminal Trial,  
New Haven CT: Yale University Press, 2008, pp.2-4  
8 Commonwealth v. Webster, 59 Mass. (5 Cush.) 295 (1850).  
9 Xem thêm In re Winship, 397 U.S. 358 (1970).  
56  
Số 14(438) - T7/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
ngờ hợp lý” là thuật ngữ có ý nghĩa tự thân  
(self-explanatory) và không cꢄn thêm bất kỳ  
sự giải thích nào về nó. Mặt khác, việc cꢂ  
gắng giải thích thuật ngữ này cũng không  
thường dẫn đến việc khiến nó rõ ràng hơn10.  
Tuy nhiên, Tòa án tꢂi cao cũng trao cho  
các tòa án cấp dưới quyền lựa chọn định nghĩa  
hoặc không định nghĩa thuật ngữ “vượt qua  
nghi ngờ hợp lý” khi thực hiện việc xét xꢁ  
mꢀt vụ việc cụ thể, với điều kiện định nghĩa  
này, không khiến bꢃi thẩm đoàn giảm ngưỡng  
tiêu chuẩn chứng minh xuꢂng thấp hơn đòi  
hỏi của trình tự tꢂ tụng công bằng. Điều này  
dẫn đến các Tòa án liên bang, Tòa án tiểu  
bang có quan điểm khác nhau về việc định  
nghĩa hay không định nghĩa tiêu chuẩn này  
trong xét xꢁ. Mꢀt sꢂ Tòa án buꢀc thẩm phán  
phải đưa ra giải thích về thuật ngữ này, mꢀt sꢂ  
khác thì nghiêm cấm, và sꢂ còn lại thì lại tiếp  
tục trao quyền tùy nghi cho thẩm phán11.  
Mꢀt trong các định nghĩa được đưa ra bởi  
thẩm phán Shaw: “Nghi ngờ hợp lý không  
chỉ đơn thuần là khả năng có nghi ngờ. Bởi  
vì, trong mọi chuyện liên quan đến con người  
và chứng cứ đạo lý, sự tồn tại của nghi ngờ  
là mặc định. Chính vì vậy, tiêu chuẩn vượt  
quá nghi ngờ hợp lý không phải là hoàn toàn  
không có tí nghi ngờ nào. Chúng ta cảm thấy  
vượt quá tiêu chuẩn nghi ngờ hợp lý khi: Sau  
khi xem xét các chứng cứ, tòa án có thể “cảm  
thấy” các chứng cứ của vụ án đều chỉ ra là  
bị cáo có tội. Sự “cảm thấy” này không thể  
chỉ là “linh cảm” dựa vào “trực giác”, mà  
nó phải xuất phát từ bằng chứng đạo lý của  
con người. Do đó, cảm giác này được định  
nghĩa là sự chắc chắn của đạo lý”12.  
Mꢀt sꢂ Tòa án thường sꢁ dụng cụm từ  
“hesitate to act” (do dự khi hành đꢀng) nhằm  
giải nghĩa về “nghi ngờ hợp lý” như là “một  
loại nghi ngờ mà khiến cho một người có lý  
trí phải do dự khi hành động trong những  
việc quan trọng nhất của mình”13.  
Tòa án Tꢂi cao Hoa Kỳ giải thích: “Nghi  
ngờ hợp lý là một nghi ngờ có lý do, và nghi  
ngờ đó hợp lý dựa trên sự xem xét toàn bộ  
các chứng cứ”14. Tuy nhiên, giải thích này  
không được xem như là yêu cꢄu chính thức  
của Tòa án tꢂi cao Hoa Kỳ.  
Ngược lại, ý kiến phản đꢂi khái niệm  
trên cho rằng, bản thân cụm từ “beyond a  
reasonable doubt” mang ý nghĩa phổ quát  
(common understanding) nên người nghe có  
thể tự hiểu mà không cꢄn giải thích, đặc biệt  
họ còn cho rằng, đây là ý niệm liên quan đến  
niềm tin về đạo đức của mỗi cá nhân trong  
việc đánh giá chứng cứ trong từng vụ việc cụ  
thể, việc định nghĩa khái niệm trên sẽ tạo ra  
“sự liên kết mang tính phân tích giữa các từ”  
(nguyên văn: analytic connections between  
words and words) khiến ý niệm này càng trở  
nên khó hiểu15. Thẩm phán Tòa án tꢂi cao  
Potter Stewart từng viết: “Tôi không thể định  
nghĩa nó (nghi ngờ hợp lý), nhưng tôi biết nó  
khi tôi thấy nó”16.  
10  
Xem thêm Holland v. United States, 348 U.S 121 (1954), đoạn 140; “Reasonable Doubt: An Argument  
Against Definition,” Harvard Law Review, Vol. 108, No. 8 (June 1995), p.1956  
11 Xem thêm Henry A. Diamond, “Reasonable Doubt: To Define, or Not to Define,” Columbia Law Review,  
Vol. 90, No. 6 (October 1990), pp. 1717 - 1721  
12 Commonwealth v. Webster, tlđd, đoạn 320. Bản dịch được lấy từ bài viết của tác giả Đinh Thế Hưng, tlđd.  
13 Nguyên văn: “The kind of doubt that would make a reasonable person hesitate to act in the most important  
geesa-v-state, truy cập ngày 04/4/2021.  
14  
Nguyên văn: “Reasonable doubt is a doubt based on reason, and which is reasonable in view of all the  
evidence.”Xem thêm Hopt v. Utah, 120 U.S 430 (1887), đoạn 439.  
15 “Reasonable Doubt: An Argument Against Definition,” tlđd, tr.1968.  
16 Jacobellis v. Ohio, 378 U.S 184 (1964), đoạn 197.  
Số 14(438) - T7/2021  
57  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
Mꢀt ví dụ thường được các luật sư Hoa  
Kỳ sꢁ dụng khi mô tả về “nghi ngờ hợp lý”  
cho các khách hàng như sau: Mꢀt thợ săn  
nhìn thấy mꢀt vật ở xa trông giꢂng như mꢀt  
con hươu, người thợ săn đưa súng lên ngắm  
bắn, nhưng bất chợt anh ấy cảm giác mꢀt  
điều gì bất an không rõ ràng từ trong tiềm  
thức của mình. Anh ấy không biết tại sao,  
nhưng anh ấy trở nên ngập ngừng, do dự  
việc bóp cò súng. Cuꢂi cùng, trong lúc anh  
ấy quyết định cꢄn phải làm gì thì vật ở xa  
chuyển đꢀng, và đó là mꢀt bé gái chứ không  
phải là con hươu17.  
Tuy rằng, khái niệm về “nghi ngờ hợp lý”  
vẫn chưa được định nghĩa thꢂng nhất và rõ  
ràng trong hệ thꢂng tư pháp hình sự Hoa Kỳ,  
nhưng nhìn chung, các thẩm phán, công tꢂ  
viên, luật sư, và giới nghiên cứu đều đꢃng ý  
rằng, ngưỡng tiêu chuẩn chứng minh “vượt  
qua nghi ngờ hợp lý” là ngưỡng chứng minh  
đòi hỏi phía công tꢂ phải chứng minh tꢀi  
phạm (thông qua các chứng cứ) ở mức đꢀ  
rất cao, đến mức khi bꢃi thẩm đoàn xem xét  
các chứng cứ được đưa ra thì không còn bất  
kỳ nghi ngờ nào về việc bị cáo không phạm  
tꢀi, không còn do dự về mặt logic hay về mặt  
niềm tin đạo đức trong việc kết luận bị cáo  
phạm tꢀi và tuyên bản án kết tꢀi bị cáo.  
nghĩa vụ chứng minh thuyết phục được  
người xét xꢁ về tꢀi của anh ấy. Trình tự  
tꢂ tụng công bằng nhằm bảo vệ người bị  
buꢀc tꢀi đꢂi với sự kết án, trừ khi phía  
buꢀc tꢀi chứng minh được tꢀi phạm vượt  
qua nghi ngờ hợp lý của mọi khía cạnh,  
yếu tꢂ cấu thành nên tꢀi phạm mà người  
bị cáo bị truy tꢂ18.  
Ngoài ra, trong mꢂi liên hệ với nguyên  
tắc suy đoán vô tꢀi (presumption of  
innocence), ngưỡng tiêu chuẩn chứng minh  
“vượt qua nghi ngờ hợp lý” tạo ra sự chắc  
chắn củng cꢂ cho nguyên tắc này19. Nó đòi  
hỏi phía công tꢂ phải chứng minh tꢀi phạm  
ở ngưỡng chứng minh rất cao, nếu không  
vượt qua được ngưỡng đó thì người bị buꢀc  
tꢀi vẫn được xem là vô tꢀi. Tòa án tꢂi cao  
Hoa Kỳ còn nhấn mạnh rằng, ngưỡng tiêu  
chuẩn “vượt qua nghi ngờ hợp lý” là công  
cụ chủ yếu nhằm giảm rủi ro kết án oan sai,  
phản ánh giá trị xã hꢀi rằng nếu phải lựa  
chọn giữa việc thả mꢀt người có tꢀi, và kết  
án oan mꢀt người vô tꢀi, thì lựa chọn đꢄu  
vẫn tꢂt hơn20. Mꢀt nền tư pháp tꢂt luôn cꢂ  
gắng tránh việc bỏ lọt tꢀi phạm, và kết án  
oan người vô tꢀi. Tuy nhiên, không có cách  
nào làm giảm tỷ lệ bỏ lọt tꢀi phạm mà lại  
không làm gia tăng khả năng kết án oan  
người vô tꢀi. Mỗi khi chúng ta khiến việc  
kết án mꢀt tꢀi phạm trở nên dễ dàng hơn,  
thì cũng đꢃng nghĩa với việc chúng ta gia  
tăng khả năng kết án oan mꢀt người vô tꢀi21.  
Luật gia William Blackstone từng đưa ra  
nhận định: “Bỏ lọt 10 tꢀi phạm còn tꢂt hơn  
là kết án oan sai 01 người vô tꢀi”22. Nhận  
2.3. Ý nghĩa của “vượt qua nghi ngờ hợp lý”  
Đꢂi với Tòa án tꢂi cao Hoa Kỳ, “vượt  
qua nghi ngờ hợp lý” được xem là mꢀt đòi  
hỏi của trình tự tꢂ tụng công bằng (Due  
Process of Law). Theo đó, trình tự tꢂ tụng  
công bằng yêu cꢄu không ai có thể bị tước  
đi tự do, trừ khi chính quyền đã thực hiện  
17 Alan M. Dershowitz, Reasonable Doubts: The Criminal Justice System and the O.J. Simpson Case, Reprint  
edition , New York: Simon and Schuster, 1997, p. 71  
18 In re Winship, tlđd, đoạn 364.  
19 In re Winship, tlđd, đoạn 363.  
20 In re Winship, tlđd, đoạn 372.  
21 Alan M. Dershowitz, tlđd, tr. 199  
22 Nguyên văn: “It is better that ten guilty persons escape than that one innocent suffer”. Xem thêm William  
Blackstone, Commentaries on the Laws of England, 21st ed. (1765; London: Sweet, Maxwell, Stevens &  
Norton, 1844), bk. IV, ch. 27, p. 358.  
58  
Số 14(438) - T7/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
định này đã phản ánh sự đòi hỏi của tư pháp  
hình sự trong tꢂ tụng tranh tụng nói riêng,  
và giá trị xã hꢀi phương Tây nói chung về  
sự đề cao quyền con người và các giá trị tự  
do của con người.  
Mặt khác, ngưỡng tiêu chuẩn chứng  
minh “vượt qua nghi ngờ hợp lý” còn nhằm  
để hướng dẫn người xét xꢁ về mức đꢀ của  
chứng cứ trong việc chứng minh sự thật vụ  
án mà bên có nghĩa vụ chứng minh phải  
thực hiện. Đꢃng thời, nó cũng giúp cho phía  
công tꢂ nhận thức được mức đꢀ của nghĩa  
vụ mà mình phải thực hiện.  
Khi áp dụng ngưỡng tiêu chuẩn chứng  
minh “vượt qua nghi ngờ hợp lý” sẽ khiến  
cho phꢄn việc của phía công tꢂ trở nên  
nặng nề hơn khi họ phải chứng minh tꢀi  
phạm ở mức đꢀ rất cao và nghiêm ngặt, đòi  
hỏi việc thu thập chứng cứ để chứng minh  
cꢄn được thực hiện cẩn trọng, tꢂn nhiều  
công sức và thời gian hơn. Ngược lại, lúc  
này phꢄn việc của người bào chữa trở nên  
đơn giản hơn rất nhiều, đó là chỉ cꢄn tạo ra  
mꢀt “nghi ngờ hợp lý” đꢂi với toàn bꢀ cáo  
trạng truy tꢂ và các chứng cứ kèm theo.  
Tuy nhiên, sự đòi hỏi được xem là mꢀt sự  
cân bằng hợp lý, bởi phía công tꢂ đại diện  
quyền lực nhà nước, được quyền sꢁ dụng  
các sự nguꢃn lực lớn từ phía chính quyền  
như tài chính, nhân lực, và quyền lực.  
Trong khi đó, người bị buꢀc tꢀi thường là  
các cá nhân (hoặc pháp nhân tư nhân) với  
nguꢃn lực hạn chế, không thể nào so sánh  
với nguꢃn lực của chính quyền. Do đó, đòi  
hỏi cao về nghĩa vụ chứng minh của phía  
công tꢂ là thể hiện sự cân bằng trong phiên  
tòa giữa quyền lực nhà nước và quyền tự  
do cá nhân.  
Tóm lại, “vượt qua nghi ngờ hợp lý”  
là mꢀt đòi hỏi của trình tự tꢂ tụng công  
bằng, nguyên tắc suy đoán vô tꢀi, sự cꢄn  
thiết để giảm thiểu việc kết án oan sai, và  
là sự cân bằng giữa quyền lực nhà nước  
và quyền tự do cá nhân trong mꢀt phiên  
tòa tranh tụng.  
3. Tố tụng hình sự Việt Nam: quy định  
về chứng minh và ngưỡng tiêu chuẩn  
chứng minh  
3.1. Chứng minh theo quy định của pháp  
luật tố tụng hình sự  
Chứng minh là mꢀt trong những chế  
định quan trọng nhất của toàn bꢀ quá trình  
TTHS. Toàn bꢀ hoạt đꢀng của người tiến  
hành tꢂ tụng, người tham gia tꢂ tụng đều  
hướng vào việc thu thập, kiểm tra, đánh giá  
chứng cứ nhằm chứng minh những vấn đề  
cꢄn chứng minh của vụ án23. Chế định về  
chứng minh đã được Bꢀ luật TTHS năm  
2015 (Bꢀ luật TTHS 2015) quy định trên  
mꢀt sꢂ khía cạnh như chủ thể có nghĩa vụ  
chứng minh, vấn đề cꢄn phải chứng minh,  
và nguꢃn chứng cứ có thể sꢁ dụng để chứng  
minh trong vụ án hình sự24.  
Về chủ thể có nghĩa vụ chứng minh, Điều  
15 Bꢀ luật TTHS 2015 quy định trách nhiệm  
chứng minh tꢀi phạm thuꢀc về cơ quan có  
thẩm quyền tiến hành tꢂ tụng. Người bị  
buꢀc tꢀi có quyền nhưng không buꢀc phải  
chứng minh là mình vô tꢀi. Đꢃng thời, cơ  
quan có thẩm quyền tiến hành tꢂ tụng phải  
áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định  
sự thật của vụ án mꢀt cách khách quan, toàn  
diện và đꢄy đủ, làm rõ chứng cứ xác định  
có tꢀi và chứng cứ xác định vô tꢀi, tình tiết  
tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm  
hình sự của người bị buꢀc tꢀi.  
23 Đỗ Ngọc Quang, “Chứng minh và chứng cứ,” trong cuꢂn sách “Những nội dung mới trong Bộ luật Tố tụng  
hình sự năm 2015” do Nguyễn Hòa Bình chủ biên, Nxb. Chính trị quꢂc gia, Hà Nꢀi, 2016, tr. 205.  
24 Mꢀt sꢂ nghiên cứu còn dùng khái niệm “phạm vi chứng minh”, “đꢂi tượng chứng minh” để chỉ vấn đề cꢄn  
chứng minh trong vụ án hình sự. Xem thêm Lê Hữu Thể, Đỗ Văn Đươn, và Nguyễn Thị Thủy, Những vấn đề  
lý luận và thực tiễn cấp bách của việc đổi mới thủ tục tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Nxb.  
Chính trị quꢂc gia sự thật, Hà Nꢀi, 2013, tr. 81 - 85; và Đinh Thế Hưng, tlđd.  
Số 14(438) - T7/2021  
59  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
Cꢄn lưu ý rằng, Bꢀ luật TTHS năm 2015  
sꢁ dụng cụm từ “cơ quan có thẩm quyền  
tiến hành tố tụng”, tức là không chỉ bên  
buꢀc tꢀi có nghĩa vụ chứng minh là Cơ  
quan điều tra, Viện kiểm sát, và cơ quan  
được giao nhiệm vụ tiến hành mꢀt sꢂ hoạt  
đꢀng điều tra; mà Tòa án cũng có nghĩa vụ  
chứng minh tꢀi phạm25. Đây là điểm khác  
biệt so với mô hình tꢂ tụng tranh tụng ở Hoa  
Kỳ, nơi mà Tòa án chỉ có nhiệm vụ xét xꢁ  
dựa trên sự chứng minh của hai bên công tꢂ  
và bào chữa.  
Về các vấn đề cꢄn chứng minh, Bꢀ luật  
TTHS năm 2015 phân biệt các vấn đề cꢄn  
chứng minh đꢂi với cá nhân phạm tꢀi và  
các vấn đề cꢄn chứng minh trong trường  
hợp pháp nhân phạm tꢀi. Cụ thể, Điều 85  
Bꢀ luật TTHS năm 2015 quy định về  
những vấn đề phải chứng minh trong vụ  
án hình sự đꢂi với cá nhân, bao gꢃm: (1)  
Có hành vi phạm tꢀi xảy ra hay không,  
thời gian, địa điểm và những tình tiết khác  
của hành vi phạm tꢀi; (2) Ai là người thực  
hiện hành vi phạm tꢀi; có lỗi hay không  
có lỗi, do cꢂ ý hay vô ý; có năng lực trách  
nhiệm hình sự hay không; mục đích, đꢀng  
cơ phạm tꢀi; (3) Những tình tiết giảm nhẹ,  
tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can,  
bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can,  
bị cáo; (4) Tính chất và mức đꢀ thiệt hại do  
hành vi phạm tꢀi gây ra; (5) Nguyên nhân  
và điều kiện phạm tꢀi; và (6) Những tình  
tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách  
nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự,  
miễn hình phạt.  
gian, địa điểm và những tình tiết khác của  
hành vi phạm tꢀi thuꢀc trách nhiệm hình  
sự của pháp nhân theo quy định của Bꢀ  
luật Hình sự; (2) Lỗi của pháp nhân, lỗi  
của cá nhân là thành viên của pháp nhân;  
(3) Tính chất và mức đꢀ thiệt hại do hành  
vi phạm tꢀi của pháp nhân gây ra; (4)  
Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách  
nhiệm hình sự và tình tiết khác liên quan  
đến miễn hình phạt; (5) Nguyên nhân và  
điều kiện phạm tꢀi.  
Vấn đề cꢄn chứng minh trong vụ án  
thường xoay quanh đến các yếu tꢂ cấu  
thành tꢀi phạm, định tꢀi danh, định khung  
hình phạt cũng như nguyên nhân, điều kiện  
phạm tꢀi và hậu quả của tꢀi phạm. Việc xác  
định rõ những vấn đề cꢄn phải chứng minh  
trong vụ án hình sự là yếu tꢂ tiên quyết để  
đưa ra được định hướng điều tra thu thập  
chứng cứ để chứng minh những vấn đề cꢄn  
phải chứng minh26.  
Việc chứng minh trong vụ án hình sự  
được dựa trên cơ sở chứng cứ. Theo Điều  
86 và 87 Bꢀ luật TTHS năm 2015, chứng  
cứ là những gì có thật, được thu thập theo  
trình tự, thủ tục do Bꢀ luật TTHS quy định,  
được dùng làm căn cứ để xác định có hay  
không có hành vi phạm tꢀi, người thực  
hiện hành vi phạm tꢀi và những tình tiết  
khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ  
án; và những gì có thật nhưng không được  
thu thập theo trình tự, thủ tục do Bꢀ luật  
TTHS quy định thì không có giá trị pháp  
lý và không được dùng làm căn cứ để giải  
quyết vụ án hình sự. Theo quy định, chứng  
cứ chỉ được thu thập, xác định từ mꢀt trong  
các nguꢃn: (a) Vật chứng; (b) Lời khai, lời  
trình bày; (c) Dữ liệu điện tꢁ; (d) Kết luận  
giám định, định giá tài sản; (đ) Biên bản  
trong hoạt đꢀng khởi tꢂ, điều tra, truy tꢂ,  
Trong trường hợp vụ án đꢂi với pháp  
nhân phạm tꢀi, những vấn đề cꢄn phải  
chứng minh trong vụ án được quy định tại  
Điều 441 Bꢀ luật TTHS năm, cụ thể: (1)  
Có hành vi phạm tꢀi xảy ra hay không, thời  
25 Nguyễn Ngọc Anh và Phan Trung Hoài, Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nxb. Chính  
trị quꢂc gia sự thật, Hà Nꢀi, 2019, tr.34-35  
26 Đỗ Ngọc Quang, tlđd, tr.207.  
60  
Số 14(438) - T7/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
xét xꢁ, thi hành án; (e) Kết quả thực hiện  
ủy thác tư pháp và hợp tác quꢂc tế khác; và  
(g) Các tài liệu, đꢃ vật khác.  
sꢂ vấn đề liên quan đến ngưỡng tiêu chuẩn  
chứng minh khi đưa ra quy định về thu  
thập, đánh giá, kiểm tra, và sꢁ dụng chứng  
cứ trong vụ án hình sự là phải “làm rõ”,  
“đủ”, “bảo đảm đủ” và “đầy đủ, khách  
quan, toàn diện”. Tuy nhiên, các quy định  
này còn chung chung, chưa ghi nhận việc  
thu thập chứng cứ chứng minh tꢀi phạm  
đến mức đꢀ nào thì “đủ” để có thể kết luận  
có tꢀi, và đến mức đꢀ nào thì được xem là  
“không đủ căn cứ để buộc tội, kết tội” để có  
thể kết luận vô tꢀi.  
3.2. Ngưỡng tiêu chuẩn chứng minh  
Bꢀ luật TTHS năm 2015 không trực tiếp  
quy định ngưỡng tiêu chuẩn chứng minh,  
mà theo đó mức đꢀ chứng minh tꢀi phạm  
dựa trên chứng cứ thu thập được, đến mức  
nào thì Hꢀi đꢃng xét xꢁ có thể tuyên bꢂ bị  
cáo có tꢀi.  
Điều 13 Bꢀ luật TTHS năm 2015 quy  
định, khi không đủ và không thể làm sáng  
tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội thì phải kết  
luận người bị buꢀc tꢀi không có tꢀi; Điều 15  
ghi nhận cơ quan có thẩm quyền tiến hành  
tꢂ tụng phải áp dụng các biện pháp hợp  
pháp để xác định sự thật của vụ án mꢀt  
cách khách quan, toàn diện và đꢄy đủ, làm  
rõ chứng cứ xác định có tội và chứng  
cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và  
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của  
người bị buꢀc tꢀi; Điều 108 quy định việc  
xác định những chứng cứ thu thập được  
phải bảo đảm đủ để giải quyết vụ án hình  
sự. Người có thẩm quyền tiến hành tꢂ tụng  
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của  
mình phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách  
quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập  
được về vụ án. Theo Điều 326, Hꢀi đꢃng  
xét xꢁ chỉ được căn cứ vào những chứng  
cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên  
tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện  
chứng cứ của vụ án, ý kiến của Kiểm sát  
viên, bị cáo, người bào chữa, người tham  
gia tꢂ tụng khác để ra bản án.  
Có tác giả cho rằng, xác định sự thật của  
vụ án phải có điểm dừng. Đây chính là giới  
hạn của quá trình xác định sự thật của vụ án.  
Việc xác định giới hạn này luôn được đặt ra  
trong quá trình chứng minh nhằm xác định sự  
thật của vụ án và được cụ thể hóa trong Luật  
TTHS bằng giới hạn chứng minh. Điều này  
xuất phát từ ý nghĩa của nó trong TTHS: Một  
là, nếu xác định giới hạn chứng minh quá  
rꢀng thì hoặc là lãng phí thời gian và nguꢃn  
lực, không tập trung làm rõ được những vấn  
đề bản chất của vụ án hoặc rơi vào tình trạng  
“bất khả tri”, kết luận mơ hꢃ không biết thế  
nào là đủ làm cho quá trình giải quyết vụ án  
không có điểm kết thúc; Hai là, nếu xác định  
giới hạn chứng minh quá hẹp thì dẫn đến bỏ  
sót các tình tiết có ý nghĩa pháp lý hình sự và  
TTHS, thu thập không đꢄy đủ tài liệu chứng  
cứ dẫn đến kết luận, bản án không đủ sức  
thuyết phục, từ đó không những bỏ lọt tꢀi  
phạm mà còn làm oan người vô tꢀi27.  
Theo quan điểm này, giới hạn chứng  
minh là việc chứng minh trong vụ án phải  
có điểm dừng, là việc thu thập chứng cứ  
để chứng minh phải đạt mức cꢄn và đủ.  
Nꢀi dung những quy định trên cho thấy,  
Bꢀ luật TTHS năm 2015 đã đề cập đến mꢀt  
27 Đinh Thế Hưng, tlđd.  
Số 14(438) - T7/2021  
61  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
4. Khả năng áp dụng ngưỡng tiêu chuẩn  
chứng minh “vượt qua nghi ngờ hợp lý”  
vào tố tụng hình sự Việt Nam  
Mặt khác, bản thân từ “giới hạn” được  
hiểu là ngưỡng/điểm nhất định không thể  
vượt qua, tức là ngưỡng/điểm cực đại, tꢂi  
đa28; có nghĩa là, “giới hạn chứng minh” là  
ngưỡng cực đại mà quá trình chứng minh  
vụ án đi đến và dừng tại đó mà không thể  
vượt qua. Mặc dù quan điểm này có những  
hạt nhân hợp lý, nhưng cũng chứa đựng  
mꢀt sꢂ điểm chưa phù hợp. Trước hết, có  
thể thấy, thuật ngữ “standard of proof”  
chỉ mꢀt điểm/ngưỡng tꢂi thiểu mà bên có  
nghĩa vụ chứng minh phải vượt qua, tức  
phải chứng minh từ điểm/ngưỡng đó trở  
lên mà không thể thấp hơn, có nghĩa đây  
là mꢀt ngưỡng tꢂi thiểu chứ không phải  
là ngưỡng tꢂi đa như quan điểm trên. Mặt  
khác, quan điểm này chỉ nhấn mạnh đến  
khía cạnh thu thập chứng cứ trong quá  
trình điều tra – truy tꢂ để chứng minh tꢀi  
phạm, nhưng chưa chú ý đến khía cạnh  
người xét xꢁ sẽ tiếp nhận và đánh giá các  
chứng cứ đó đến mức đꢀ như thế nào để  
đưa ra phán quyết có tꢀi hay vô tꢀi. Trong  
khi đó, ngưỡng tiêu chuẩn chứng minh  
chủ yếu nhằm để hướng dẫn người xét xꢁ  
về mức đꢀ của chứng cứ trong việc chứng  
minh sự thật vụ án mà bên có nghĩa vụ  
chứng minh phải thực hiện, trên cơ sở đó,  
người xét xꢁ cảm thấy tự tin, thỏa mãn  
với mức đꢀ chứng minh của bên có nghĩa  
vụ mà đưa ra phán quyết. Từ vai trò cơ  
bản đó, nó mới nảy sinh ra vai trò khác là  
giúp cho người có nghĩa vụ chứng minh  
nhận thức được mức đꢀ của nghĩa vụ mà  
mình phải thực hiện nhằm thuyết phục  
được người xét xꢁ.  
Qua việc phân tích, đánh giá ngưỡng tiêu  
chuẩn chứng minh “vượt qua nghi ngờ hợp lý”  
trong tư pháp hình sự Hoa Kỳ và quy định của  
pháp luật TTHS Việt Nam về ngưỡng tiêu chuẩn  
chứng minh, chúng ta có thể cân nhắc, xem xét  
áp dụng ngưỡng “vượt qua nghi ngờ hợp lý” ở  
mức đꢀ nhất định, phù hợp với mô hình tꢂ tụng  
của Việt Nam dựa trên các lý do sau:  
Thứ nhất, Việt Nam đã có những quy định  
mang tính khái quát về ngưỡng tiêu chuẩn  
chứng minh trong TTHS. Tuy nhiên, sự  
thiếu vắng những quy định cụ thể về mức đꢀ  
chứng minh sẽ dẫn đến sự lúng túng của cơ  
quan và người tiến hành tꢂ tụng trong việc  
giải quyết vụ án hình sự nói chung, và trong  
việc xét xꢁ vụ án hình sự nói riêng. Trong  
mꢀt sꢂ vụ việc cụ thể, khi các chứng cứ buꢀc  
tꢀi để chứng minh tꢀi phạm đã đạt đến mꢀt  
sꢂ lượng tương đꢂi nhiều, nhưng vì những  
lý do nào đó mà người giải quyết vụ án vẫn  
còn những hoài nghi nhất định trong việc kết  
tꢀi bị cáo, thì việc không có cơ sở pháp lý  
cho hướng giải quyết vụ án dựa trên những  
hoài nghi như vậy sẽ dễ dẫn đến những phán  
quyết giải quyết vụ án không thực sự đảm  
bảo công lý, và để lại những băn khoăn trong  
nꢀi tâm của người đã ra phán quyết.  
Do đó, việc ghi nhận và áp dụng ngưỡng  
tiêu chuẩn chứng minh “vượt qua nghi ngờ hợp  
lý” là cꢄn thiết và là sự bổ sung, hướng dẫn  
cụ thể hơn cho việc chứng minh tꢀi phạm phải  
“đủ”, “bảo đảm đủ” và “đầy đủ, khách quan,  
toàn diện”. Từ đó, đảm bảo các phán quyết phù  
hợp công lý, và giúp người đưa ra phán quyết  
có cơ sở vững tin về phán quyết của mình.  
28 Ví dụ, BLTTHS năm 2015 có quy định về giới hạn của việc xét xꢁ ở Điều 298. Theo đó, Tòa án chỉ được xét  
xꢁ theo những bị cáo và những hành vi theo tꢀi danh mà Viện kiểm sát truy tꢂ; hoặc xét bị cáo theo khoản khác  
với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tꢂ trong cùng mꢀt điều luật hoặc về mꢀt tꢀi khác bằng hoặc nhẹ hơn tꢀi  
mà Viện kiểm sát đã truy tꢂ. Điều này có nghĩa là, quyết định truy tố của Viện kiểm sát đã tạo ra một ngưỡng  
tối đa, giới hạn việc xét xử của Tòa án. Điều luật cũng quy định điều kiện để Tòa án có thể vượt qua giới hạn  
xét xꢁ là Tòa án trả hꢃ sơ để Viện kiểm sát truy tꢂ lại; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tꢀi danh đã truy tꢂ thì Tòa án  
có quyền xét xꢁ bị cáo về tꢀi danh nặng hơn đó.  
62  
Số 14(438) - T7/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
Thứ hai, mꢀt nguyên tắc cơ bản khác  
trong TTHS là nguyên tắc suy đoán vô tꢀi  
(presumption of innocent), và cũng là mꢀt  
quyền con người cơ bản được Hiến pháp  
Việt Nam bảo vệ29. Nꢀi dung của nguyên tắc  
suy đoán vô tꢀi là mꢀt giả định thể hiện ở  
yêu cꢄu: bị can, bị cáo phải được coi là vô tꢀi  
khi mà lỗi của bị can, bị cáo đó chưa được  
chứng minh theo mꢀt trình tự do pháp luật  
quy định và được xác định bởi mꢀt bản án  
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Nguyên  
tắc suy đoán vô tꢀi khẳng định trong tất cả  
các giai đoạn tꢂ tụng người bị tình nghi, bị  
can, bị cáo chưa phải là tꢀi phạm. Do đó, nó  
đòi hỏi hoạt đꢀng TTHS không chỉ tuân thủ  
pháp luật TTHS để việc xác định sự thật vụ  
án đạt được kết quả chính xác nhất làm cơ sở  
để kết luận mꢀt người là có tꢀi hay không mà  
còn nhấn mạnh yêu cꢄu “mọi hoài nghi về lỗi  
của bị can, bị cáo phải được giải thích theo  
hướng có lợi cho bị can, bị cáo”30. Như vậy,  
về hình thức, có thể khẳng định sự suy đoán  
về tình trạng vô tꢀi của bị can, bị cáo sẽ kết  
thúc vào thời điểm có bản án kết tꢀi có hiệu  
lực của Tòa án. Tuy nhiên, về mặt nꢀi dung,  
quy định của pháp luật Việt Nam chưa cho  
thấy rõ sự suy đoán vô tꢀi sẽ kết thúc vào lúc  
nào, có nghĩa là việc chứng minh tꢀi phạm  
theo trình tự thủ tục luật định đến mức đꢀ  
nào thì Tòa án có thể tuyên bản án có tꢀi và  
kết thúc sự suy đoán vô tꢀi. Do đó, ngưỡng  
tiêu chuẩn chứng minh “vượt qua nghi ngờ  
hợp lý” tạo ra sự chắc chắn và là sự bổ sung,  
củng cꢂ cho nguyên tắc này về mặt nꢀi dung;  
đặt ra tiêu chuẩn của việc chứng minh có tꢀi  
của phía buꢀc tꢀi và bản án kết tꢀi của tòa án.  
Khi và chỉ phía công tꢂ chứng minh tꢀi phạm  
đạt hoặc vượt qua ngưỡng “vượt qua nghi  
ngờ hợp lý” (về nꢀi dung), thì sự suy đoán  
vô tꢀi mới chấm dứt bằng mꢀt bản án kết tꢀi  
của tòa án (về hình thức).  
Suy đoán vô tꢀi là thành quả đấu tranh  
văn minh nhân loại đưa đến kết quả là, bị  
cáo không buꢀc phải chứng minh mình vô  
tꢀi và Hꢀi đꢃng xét xꢁ không kết tꢀi khi vẫn  
còn nghi ngờ về không phạm tꢀi. Hꢀi đꢃng  
xét xꢁ chỉ được phép tuyên mꢀt ai đó là có  
tꢀi khi họ không còn nghi ngờ rằng, có thể  
bị cáo không phạm tꢀi31.  
Thứ ba, trong nhà nước pháp quyền, quyền  
con người là những giá trị quan trọng, “được  
công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo  
Hiến pháp và pháp luật” và chỉ có thể bị hạn  
chế “trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc  
phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội,  
đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”32.  
Việc áp dụng ngưỡng tiêu chuẩn “vượt qua  
nghi ngờ hợp lý” đòi hỏi mức đꢀ chứng minh  
tꢀi phạm cao từ phía quyền lực nhà nước để  
có thể kết án và tước bỏ tự do của mꢀt người.  
Đꢃng thời, nó cũng làm giảm rủi ro kết án oan  
sai, phản ánh mꢀt nguyên tắc tiến bꢀ trong tꢂ  
tụng hình sự, đó là “thà bỏ lọt tꢀi phạm còn hơn  
làm oan người vô tꢀi”. Đây là nguyên tắc mà  
rất nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước  
Bắc Âu đã thừa nhận, đề cao giá trị về quyền tự  
do cá nhân, quyền con người33.  
Việc áp dụng ngưỡng tiêu chuẩn chứng  
minh “vượt qua nghi ngờ hợp lý” sẽ tác  
đꢀng nhất định đến Hꢀi đꢃng xét xꢁ trong  
29 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 và Điều 13 Bꢀ luật Tꢂ tụng hình sự năm 2015.  
30 Đinh Thế Hưng, tlđd.  
31 Hoàng Hùng Hải, “Suy đoán vô tội và kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về nguyên tắc suy đoán  
aspx?tintucid=208309, truy cập ngày 04/4/2021.  
32 Điều 14 Hiến pháp năm 2013.  
33 Hꢃng Tú, “Thà bỏ lọt tội phạm còn hơn làm oan,” Báo Pháp luật TP. HCM, ngày 09/12/2010, https://plo.  
vn/plo/tha-bo-lot-toi-pham-con-hon-lam-oan-157496.html, truy cập ngày 31/3/2021; và Thái Bình, “Thà tha  
lầm còn hơn làm oan người vô tội!”, https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/tha-tha-lam-con-hon-lam-oan-nguoi-  
vo-toi-77056.html, truy cập ngày 31/3/2021.  
Số 14(438) - T7/2021  
63  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
việc giải quyết vụ án. Nó đòi hỏi mꢀt sự cân  
nhắc, suy xét cẩn trọng hơn đꢂi với chứng  
cứ của vụ án được đưa ra khi quyết định  
tuyên bản án có tꢀi hay vô tꢀi.  
“vượt qua nghi ngờ hợp lý” là cꢄn thiết nhằm  
đảm bảo cho phiên tòa công bằng, đảm bảo  
nguyên tắc suy đoán vô tꢀi, và làm giảm tỷ  
lệ kết án oan sai. Việt Nam hoàn toàn có thể  
thích nghi và có khả năng áp dụng ngưỡng tiêu  
chuẩn chứng minh này. Để áp dụng ngưỡng  
tiêu chuẩn chứng minh “vượt qua nghi ngờ  
hợp lý” vào TTHS của nước ta hiện nay, cꢄn  
bổ sung quy định về ngưỡng tiêu chuẩn chứng  
minh “vượt qua nghi ngờ hợp lý” trong chế  
định về chứng cứ và chứng minh trong TTHS;  
đꢃng thời, bổ sung quy định về ngưỡng tiêu  
chuẩn này cho nguyên tắc suy đoán vô tꢀi và  
quy định về việc nghị án, cụ thể34:  
- Sꢁa đổi, bổ sung Điều 13 Bꢀ luật TTHS  
năm 2015 về nguyên tắc suy đoán vô tꢀi như  
sau: “Người bị buꢀc tꢀi được coi là không có  
tꢀi cho đến khi được chứng minh là có tꢀi theo  
trình tự, thủ tục do Bꢀ luật này quy định mà  
không còn tồn tại một nghi ngờ hợp lý nào  
khác về khả năng không phạm tội và có bản  
án kết tꢀi của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.  
- Bổ sung Điều 85a quy định về ngưỡng  
tiêu chuẩn chứng minh tꢀi phạm như sau:  
“Việc chứng minh tội phạm trong quá trình  
điều tra, truy tố, xét xử của cơ quan có thẩm  
quyền tiến hành tố tụng phải đảm bảo không  
còn tồn tại một nghi ngờ hợp lý nào khác về  
khả năng người bị buộc tội không phạm tội”.  
- Sꢁa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 326 Bꢀ  
luật TTHS năm 2015 quy định về việc nghị  
án như sau: “Việc nghị án chỉ được căn cứ  
vào những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra  
tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đꢄy đủ, toàn  
diện chứng cứ của vụ án, ý kiến của Kiểm  
sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham  
gia tꢂ tụng khác. Hội đồng xét xử chỉ được  
tuyên bản án kết tội bị cáo nếu các chứng cứ,  
tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa chứng  
minh được bị cáo đã thực hiện tội phạm mà  
không còn tồn tại một nghi ngờ hợp lý nào  
Hiện nay, thực tiễn xét xꢁ cho thấy ở Việt  
Nam cho thấy, Thẩm phán và Hꢀi thẩm dựa  
trên quy định của pháp luật, tài liệu, chứng  
cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa và niềm  
tin nꢀi tâm để giải quyết vụ án, đưa ra kết  
luận về việc có tꢀi hay không có tꢀi. Trong  
đó, niềm tin nꢀi tâm thường được hiểu là  
mꢀt khái niệm mang tính đạo đức, là niềm  
tin của cá nhân Thẩm phán, Hꢀi thẩm trong  
việc đánh giá chứng cứ, mức đꢀ chứng minh  
của chứng cứ buꢀc tꢀi, chứng cứ gỡ tꢀi đặt  
trong toàn bꢀ vụ án. Tuy nhiên, ý niệm về  
niềm tin nꢀi tâm hiện chưa được pháp luật  
ghi nhận chính thức. Do đó, việc áp dụng  
ngưỡng “vượt qua nghi ngờ hợp lý”, mꢀt ý  
niệm liên quan đến niềm tin về đạo đức của  
mỗi cá nhân trong việc đánh giá chứng cứ  
trong từng vụ việc cụ thể, cũng chỉ là mꢀt  
hướng dẫn pháp lý rõ ràng hơn đꢂi với việc  
sꢁ dụng niềm tin nꢀi tâm của mỗi thẩm phán  
và hꢀi thẩm trong quá trình đánh giá chứng  
cứ trong mỗi vụ án cụ thể chứ không phải là  
mꢀt đòi hỏi mới mẻ về niềm tin đạo đức.  
Mặt khác, “vượt qua nghi ngờ hợp lý” là  
mꢀt căn cứ pháp lý để Hꢀi đꢃng xét xꢁ tuyên  
phán quyết có tꢀi khi không còn nghi ngờ hợp  
lý nào về việc bị cáo không phạm tꢀi trong mꢀt  
vụ án cụ thể. Khi còn những “nghi ngờ hợp lý”  
thì Hꢀi đꢀng xét xꢁ cꢄn thiết trả hꢃ sơ điều tra  
bổ sung để làm rõ những nghi ngờ hợp lý đó;  
chỉ sau khi đã điều tra bổ sung nhưng vẫn còn  
tꢃn tại “nghi ngờ hợp lý” về việc kết tꢀi bị cáo  
thì đây cũng lại là mꢀt căn cứ pháp lý vững  
chắc để Hꢀi đꢃng xét xꢁ tuyên phán quyết  
không có tꢀi, tránh những vụ án oan sai như đã  
từng xảy ra trong lịch sꢁ TTHS Việt Nam.  
5. Kiến nghị  
Từ các phân tích trên, tác giả cho rằng,  
việc áp dụng ngưỡng tiêu chuẩn chứng minh  
khác về khả năng bị cáo không phạm tội”  
34 Đoạn in nghiêng thể hiện phꢄn sꢁa đổi, bổ sung của tác giả.  
64  
Số 14(438) - T7/2021  
pdf 11 trang Thùy Anh 12120 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vượt qua nghi ngờ hợp lý: Ngưỡng tiêu chuẩn chứng minh trong tư pháp hình sự Hoa Kỳ và kinh nghiệm cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvuot_qua_nghi_ngo_hop_ly_nguong_tieu_chuan_chung_minh_trong.pdf