Chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận trong luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014

Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)  
CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THOẢ THUẬN TRONG  
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2014  
Hoàng Nghiệp Quỳnh1, Nguyễn Thị An2,  
Trần Thị Kim Anh3  
Tóm tắt  
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 lần đầu tiên quy định hai chế độ tài sản của vợ chồng: được thực hiện  
theo thỏa thuận hoặc theo luật định. Trong đó, chế độ tài sản theo luật định chỉ áp dụng khi vợ chồng  
không có thỏa thuận về chế độ tài sản. Đây là điểm mới trong nhận thức của các nhà lập pháp Việt Nam,  
phù hợp với Hiến pháp 2013, đã đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và xu thế hội nhập quốc tế  
sâu rộng. Tuy nhiên, trong các quy định pháp luật thực định và thực hiện quy định này, vấn đề nhận thức  
và thống nhất còn gặp khó khăn vì các nội dung chưa rõ ràng, thiếu sự chuyển tiếp trong các quy định  
pháp luật, tính dự liệu còn hạn chế. Bài báo sẽ đề cập đến các nội dung trên.  
Từ khoá: Việt Nam, vợ hoặc chồng, nhận lại tài sản theo thỏa thuận.  
Abstract  
The Law on Marriage and Family 2014 provides for the first time two property regime of husband and wife:  
with the agreement or by law. In particular, the legal property regime only applies when the husband and wife  
do not have an agreement. The Law shows a major change in the ideology of Vietnamese lawmakers, in  
accoradance with the 2013 Constituon. It has met the needs of socio – economic development and the trend of  
deep international intergration. However, in the provision and implementation of this regulation, the issue of  
awareness and unity is still limited because the contents are unclear, lack of transition in legal provisions,  
limited projection. The article mentions the above contents.  
Key word: Vietnam, spouse, the property regime as agreed.  
JEL classification: K, K11, K36.  
một chế độ tài sản trong hôn nhân cho tất cả các  
cặp vợ chồng là cứng nhắc, không đáp ứng được  
nhu cầu của một số cặp vợ chồng muốn thực hiện  
một chế độ tài sản phù hợp với tình trạng kinh tế  
của họ và gia đình; quy định của Luật HN&GĐ  
năm 2000 không đảm bảo quyền tự định đoạt của  
người có tài sản được quy định trong Hiến Pháp  
và BLDS; nhiều Bộ, ngành địa phương đã có ý  
kiến cho rằng việc lập thỏa thuận về tài sản trước  
hôn nhân là cần thiết, là cách ứng xử công bằng  
và tiến bộ, giúp giảm thiểu xung đột và tiết kiệm  
được án phí tranh tụng trong trường hợp ly hôn;  
pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới hiện  
nay đều quy định về các chế độ tài sản của vợ  
chồng khác nhau (chế độ tài sản theo luật định và  
chế độ tài sản theo thỏa thuận). Vì vậy, chế độ tài  
sản của vợ chồng theo thỏa thuận được Luật  
HN&GĐ năm 2014 thừa nhận song song với chế  
độ tài sản của vợ chồng theo luật định.  
Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình và  
bài viết đăng trên các báo, tạp chí đề cập đến vấn  
đề chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận,  
tiêu biểu có thể kể đến một số bài báo như:  
+ Áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận trong  
việc giải quyết việc chấm dứt quan hệ tài sản giữa  
vợ và chồng, TS. Đoàn Thị Phương Diệp, Đại học  
kinh tế - luật, Đại học Quốc gia TP.HCM năm 2016.  
1.Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu  
Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận  
hay còn gọi là hôn ước đã được thừa nhận rộng rãi  
và áp dụng ở nhiều nơi trên thế giới. Pháp luật quy  
định chế độ tài sản của vợ chồng được thực hiện  
theo thỏa thuận hoặc theo luật định, trong đó, chế  
độ tài sản theo luật định chỉ áp dụng khi vợ chồng  
không có thỏa thuận về chế độ tài sản. Ở châu Á,  
các nước như Ấn Độ, Indonexia, Nhật Bản, Hàn  
Quốc, Philipines, Singapo, Thái Lan...đều giải  
quyết chế độ tài sản của vợ chồng theo hướng này.  
Cũng như các nước khác trong khu vực,  
quyền tự định đoạt đối với tài sản cá nhân là quyền  
hiến định ở nước ta. Tuy nhiên, trong lĩnh vực hôn  
nhân và gia đình, Nhà nước ta đặt ra nhiều hạn  
chế, trong đó chế độ tài sản của vợ chồng là chế  
độ tài sản theo luật định mà không phải là theo  
thỏa thuận. Xác định rằng, cho phép vợ chồng có  
quyền lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận  
chính là góp phần đảm bảo thực hiện quyền tự  
định đoạt đối với tài sản của cá nhân, Luật hôn  
nhân và gia đình (HN&GĐ) năm 2014 thay thế  
Luật HN&GĐ năm 2000 đã thừa nhận chế độ tài  
sản của vợ chồng theo thỏa thuận.  
Thừa nhận chế độ tài sản theo thỏa thuận là  
một sự thay đổi lớn về tư tưởng lập pháp của Nhà  
nước ta. Các nhà lập pháp cho rằng: việc áp đặt  
31  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)  
+ Chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ  
chồng liên hệ từ pháp luật nước ngoài đến pháp  
luật Việt Nam, Th.s Bùi Minh Hồng, Đại học Luật  
Hà Nội năm 2009.  
+ Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa  
thuận trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt  
Nam, Nguyễn Văn Cừ, Đại học Luật Hà Nội năm  
2015, Tạp chí Luật học số 4/2015.  
tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng; quyền  
và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với các loại tài sản  
đó và nguyên tắc phân chia tài sản của vợ chồng.  
3.2. Nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng  
theo thỏa thuận  
Các nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng  
theo thỏa thuận do vợ chồng quyết định. Luật  
HN&GĐ năm 2014 không đưa ra những điều  
khoản cụ thể cho các nội dung của chế độ tài sản  
này. Tuy nhiên, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc  
thực hiện chế độ tài sản và giải quyết tranh chấp,  
Luật quy định thỏa thuận của vợ chồng phải xác  
định những nội dung cơ bản, bao gồm: xác định  
tài sản của vợ chồng; quyền, nghĩa vụ của vợ  
chồng đối với tài sản; phân chia tài sản khi chấm  
dứt chế độ tài sản và các nội dung khác có liên  
quan. Tuy nhiên, đây không phải là quy định về  
điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận của vợ chồng.  
Như đã nêu ở mục trước, trường hợp thỏa thuận  
của vợ chồng không đầy đủ hoặc không rõ ràng  
thì áp dụng các quy định chung và quy định tương  
ứng của chế độ tài sản theo luật định  
2. Phương pháp nghiên cứu  
Bài báo được nghiên cứu bằng sự kết hợp  
nhiều phương pháp như: phân tích, đánh giá, tổng  
hợp, thống kê, so sánh, phương pháp tiếp cận dựa  
trên quyền…trên cơ sở phương pháp luận của Chủ  
nghĩa duy vật, Chủ nghĩa Mác – Lênin nhằm xem  
xét, đánh giá vấn đề một cách toàn diện.  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
3.1. Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng theo  
thỏa thuận  
Ở Việt Nam, có rất nhiều quan điểm khác  
nhau về định nghĩa chế độ tài sản của vợ chồng  
theo thỏa thuận hay còn gọi là hôn ước. Theo đó,  
“hôn ước (còn gọi là hôn khế, khế ước) theo pháp  
luật của các quốc gia phương Tây là sự thỏa thuận  
bằng văn bản (hợp đồng) do vợ chồng kết lập với  
nhau từ trước khi kết hôn nhằm điều chỉnh về chế  
độ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”.  
Hay: “Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa  
thuận là chế độ tài sản mà theo đó vợ chồng cùng  
thỏa thuận về việc xác lập, thực hiện quyền và  
nghĩa vụ đối với tài sản của họ. Thỏa thuận này  
được thể hiện dưới dạng văn bản và dưới nhiều  
tên gọi khác nhau như: hôn ước, hợp đồng tiền  
hôn nhân hoặc thỏa thuận trước hôn nhân…”  
Có thể thấy, dù hiểu theo quan điểm nào, chế  
độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận là chế độ  
tài sản xác lập theo thỏa thuận của vợ chồng được  
thể hiện bằng văn bản, do vợ chồng cùng nhau  
thỏa thuận từ trước khi kết hôn về chế độ tài sản  
của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân . Chế độ tài  
sản của vợ chồng theo thỏa thuận chỉ phát sinh  
hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký kết hôn và thông  
thường có hiệu lực đến thời điểm hôn nhân chấm  
dứt. Trong trường hợp vợ chồng sửa đổi, bổ sung,  
thậm chí lựa chọn thay đổi toàn bộ nội dung chế  
độ tài sản theo thỏa thuận thì chế độ tài sản đã xác  
lập có thể chấm dứt hiệu lực theo thỏa thuận của  
các bên ngay khi hôn nhân đang tồn tại.  
3.2.1. Xác định tài sản của vợ chồng  
Luật HN&GĐ năm 2014 quy định nội dung  
của chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm các vấn  
đề về tài sản của vợ chồng, trong đó xác định tài  
sản nào là tài sản chung, tài sản nào là tài sản riêng  
của vợ, của chồng (điểm a, khoản 1 Điều 48).  
Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày  
31/12/2014 quy định chi tiết một số điều và biện  
pháp thi hành Luật HN&GĐ năm 2014 hướng dẫn:  
“Điều 15. Xác định tài sản của vợ chồng theo  
thỏa thuận  
1. Trường hợp lựa chọn áp dụng chế độ tài  
sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì vợ chồng có  
thể thỏa thuận về xác định tài sản theo một trong  
các nội dung sau đây:  
a) Tài sản giữa vợ và chồng bao gồm tài sản  
chung và tài sản riêng của vợ, chồng;  
b) Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng  
của vợ, chồng mà tất cả tài sản do vợ, chồng có  
được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn  
nhân đều thuộc tài sản chung;  
c) Giữa vợ và chồng không có tài sản chung  
mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi  
kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở  
hữu riêng của người có được tài sản đó;  
Theo đó, có thể đưa ra định nghĩa về chế độ  
tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận một cách đầy  
đủ như sau: Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa  
thuận là chế độ tài sản của vợ chồng xác lập theo  
thỏa thuận của vợ chồng bằng văn bản được lập từ  
trước khi kết hôn quy định về quan hệ sở hữu tài  
sản của vợ chồng, gồm: căn cứ, nguồn gốc xác lập  
d) Xác định theo thỏa thuận khác của vợ chồng.  
2. Thỏa thuận về tài sản của vợ chồng phải  
phù hợp với quy định tại các Điều 29, 30, 31 và  
32 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nếu vi phạm,  
người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu  
Tòa án tuyên bố thỏa thuận vô hiệu theo quy định  
tại Điều 50 của Luật Hôn nhân và gia đình.”  
32  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)  
Điều luật này cho thấy nhà làm luật đã dự liệu  
trước trong trường hợp vợ chồng chọn áp dụng chế  
độ tài sản theo thỏa thuận thì việc xác định tài sản  
của vợ chồng có thể theo một trong các hướng sau:  
+ Thứ nhất, tài sản giữa vợ và chồng bao gồm  
tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng. Việc  
xác định căn cứ xác lập tài sản chung, tài sản riêng  
của vợ chồng hoàn toàn do hai bên vợ, chồng tự  
thỏa thuận, pháp luật không đưa ra bất kỳ quy định  
nào trong trường hợp này. Tuy nhiên, các bên có  
thể thỏa thuận tài sản chung của vợ chồng bao  
gồm những tài sản mà vợ, chồng tạo ra trong thời  
kỳ hôn nhân; tài sản mà mỗi bên vợ, chồng có  
được từ trước khi kết hôn hoặc được tặng cho  
riêng, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân (không  
kể là động sản hay bất động sản) là tài sản riêng  
của vợ chồng. Thỏa thuận như vậy sẽ tạo nên chế  
độ cộng đồng tạo sản.  
Chế độ cộng đồng tạo sản với những ưu điểm  
của nó đã được ghi nhận trong pháp luật về hôn  
nhân gia đình của nhiều nước trên thế giới với tính  
cách là chế độ tài sản pháp định, trong đó có Việt  
Nam. Loại chế độ tài sản này vừa bảo đảm tính  
cộng đồng tài sản của vợ chồng, vừa bảo vệ quyền  
lợi chính đáng đối với tài sản riêng của vợ, chồng  
+ Thứ hai, giữa vợ và chồng không có tài sản  
riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do vợ, chồng  
có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn  
nhân đều thuộc tài sản chung. Nếu vợ chồng lựa  
chọn thỏa thuận theo nội dung này thì thỏa thuận  
sẽ tạo nên chế độ cộng đồng toàn sản.  
Chế độ cộng đồng toàn sản có ưu điểm là đơn  
giản trong việc xác định tính chất của tài sản cũng  
như những khoản nợ và mang đậm tính cộng đồng  
trong gia đình. Chế độ tài sản này thường phù hợp  
với loại gia đình truyền thống, luôn đặt lợi ích  
chung của gia đình, nghĩa vụ nuôi dưỡng, giáo dục  
các con lên hàng đầu. Nhưng chế độ này không  
mang lại sự công bằng giữa vợ chồng, không đảm  
bảo quyền lợi chính đáng về tài sản của mỗi bên  
vợ chồng khi tham gia các giao dịch dân sự cũng  
như quyền tự định đoạt của vợ, chồng đối với  
những tài sản mà theo bản chất là tài sản riêng của  
vợ chồng…Hơn nữa, chế độ tài sản này dễ làm  
nảy sinh quan hệ hôn nhân với mục đích của một  
bên là chiếm hữu tài sản của bên kia. Do đó, chế  
độ cộng đồng toàn sản thường ít được các cặp vợ  
chồng lựa chọn  
Chế độ tài sản riêng biệt chỉ ghi nhận sự tồn  
tại của hai khối tài sản riêng của mỗi bên. Đây là  
chế độ tài sản đơn giản, mỗi bên vợ chồng đều toàn  
quyền quản lý, định đoạt tài sản của riêng mình,  
không tồn tại khối tài sản chung (với điều kiện tài  
sản của các bên vẫn phải đảm bảo nhu cầu thiết yếu  
của gia đình). Chế độ tài sản riêng biệt tạo cho vợ  
chồng sự tự chủ cao, phù hợp với những cặp vợ  
chồng có nhiều tài sản riêng mà đều tham gia các  
hoạt động kinh doanh, thương mại, cần tránh  
những rủi ro có thể gây ra cho gia đình từ thất bại  
của công việc kinh doanh của cá nhân. Tuy nhiên,  
đây là chế độ tài sản thiếu tính cộng đồng, không  
mang lại sự gắn kết giữa các thành viên trong gia  
đình. Những gia đình chỉ có một bên vợ hoặc chồng  
tham gia hoạt động kinh doanh và người còn lại  
không trực tiếp hoạt động tạo ra tài sản không nên  
lựa chọn chế độ tài sản này để tránh sự thiệt thòi  
cho một bên khi chế độ tài sản chấm dứt.  
+ Ngoài ra, tài sản của vợ chồng có thể được  
xác định theo các thỏa thuận khác của vợ chồng.  
Theo đó, vợ chồng có thể hoàn toàn tự do thỏa  
thuận về tài sản của mình, đưa ra các căn cứ làm  
xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu tài sản  
phù hợp với điều kiện và nguyện vọng của vợ,  
chồng nhưng không trái pháp luật, đảm bảo đáp  
ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình và không ảnh  
hưởng đến quyền, lợi ích của người khác.  
Thực tiễn thực hiện chế độ tài sản của vợ  
chồng theo Luật HN&GĐ năm 2000 (chế độ tài  
sản pháp định) cho thấy nhiều vụ việc vẫn còn bộc  
lộ những vướng mắc, bất cập trong xác định tài  
sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng.  
Ví dụ: “Năm 2005, khi chưa kết hôn, A đứng  
tên đặt mua căn hộ chung cư trả góp tại Hà Nội.  
Việc thanh toán tiền mua nhà được thực hiện mỗi  
năm một lần vào tháng 12, lần thanh toán cuối  
cùng sẽ trả vào tháng 12 năm 2009 khi nhận nhà.  
Toàn bộ các khoản tiền thanh toán đều được A  
thanh toán bằng tiền mặt. Tháng 2 năm 2009, A  
kết hôn với B. Tháng 12 năm 2009, A thanh toán  
tiền nhà lần cuối, nhận căm hộ và AB chuyển đến  
ở. Đợt thanh toán cuối cùng này, A đã sử dụng  
tiền lương của mình trong 5 tháng để trả, với số  
tiền bằng 1/5 tổng số tiền phải thanh toán. Năm  
2013, AB ly hôn. A yêu cầu Tòa án xác định căn  
nhà trên là tài sản riêng của A do được thanh toán  
bằng tiền của A. Ngược lại, B lại yêu cầu được  
chia căn nhà đó vì cho rằng đó là tài sản chung  
của vợ chồng.  
+ Thứ ba, giữa vợ và chồng không có tài sản  
chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước  
khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc  
sở hữu riêng của người có được tài sản đó. Thỏa  
thuận như vậy sẽ tạo nên chế độ tài sản riêng biệt  
hay còn gọi là chế độ biệt sản.  
Khó khăn của Tòa án khi xác định đây là tài  
sản riêng của A hay tài sản chung của AB. Vì, số  
tiền thanh toán trong 4 lần (từ năm 2005 đến  
2008) là tài sản riêng của A (trước khi AB kết  
33  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)  
hôn). Lần thanh toán cuối cùng cũng bằng tiền  
lương của A nhưng đây là tiền lương của A sau  
khi A và B đã kết hôn. Vì vậy đợt thanh toán cuối  
cùng mặc nhiên được coi là thanh toán bằng tài  
sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, số tiền này  
chỉ bằng 1/5 tổng số tiền phải trả cho căn hộ”  
Sau khi Luật HN&GĐ 2014 có hiệu lực, nếu  
trong trường hợp tương tự ví dụ trên mà các bên có  
thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng trước khi  
kết hôn, chẳng hạn “tài sản có được từ thu nhập hợp  
pháp của cá nhân vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân  
là tài sản riêng của vợ chồng” thì Tòa án không còn  
gặp khó khăn khi xác định căn hộ chung cư là tài  
sản chung hay tài sản riêng của vợ, chồng.  
Thỏa thuận về quyền, nghĩa vụ của vợ chồng  
đối với tài sản phải đảm bảo không xâm phạm đến  
lợi ích của người thứ ba. Để bảo vệ quyền lợi của  
người thứ ba ngay tình, pháp luật quy định:  
“Thỏa thuận về tài sản của vợ chồng phải phù  
hợp với quy định tại các Điều 29, 30, 31 và 32 của  
Luật Hôn nhân và gia đình. Nếu vi phạm, người có  
quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án  
tuyên bố thỏa thuận vô hiệu theo quy định tại Điều  
50 của Luật Hôn nhân và gia đình” (khoản 2 Điều  
15 - Nghị định số 126/2014/NĐ-CP).  
“Trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng  
theo thỏa thuận được áp dụng thì khi xác lập, thực  
hiện giao dịch vợ, chồng có nghĩa vụ cung cấp cho  
người thứ ba biết về những thông tin liên quan;  
nếu vợ, chồng vi phạm nghĩa vụ này thì người thứ  
ba được coi là ngay tình và được bảo vệ quyền lợi  
theo quy định của Bộ luật Dân sự” (Điều 16 -  
Nghị định số 126/2014/NĐ-CP).  
3.2.2. Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản  
Bên cạnh việc xác định tài sản của vợ chồng,  
nội dung chế độ tài sản của vợ chồng không thể  
thiếu vấn đề quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng đối  
với tài sản.  
Đối với chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa  
thuận, Luật chỉ quy định chung: “1. Nội dung cơ  
bản của thỏa thuận về chế độ tài sản bao gồm:…b)  
Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản  
chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài  
sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia  
đình;…”(điểm b khoản 1 Điều 48) mà chưa có  
hướng dẫn cụ thể nào thêm. Theo đó, vợ, chồng có  
toàn quyền tự do thỏa thuận với nhau về việc quản  
lý, sử dụng, định đoạt tài sản, quyền và nghĩa vụ  
của mỗi bên vợ chồng đối với tài sản riêng của mỗi  
người và tài sản chung hợp nhất; quyền và nghĩa vụ  
tài sản của vợ chồng đối với giao dịch có liên quan  
(phải tuân theo nguyên tắc bảo đảm lợi ích hợp  
pháp của gia đình, vợ, chồng, các thành viên khác  
trong gia đình và người khác). Việc pháp luật  
không có quy định cụ thể vấn đề này càng thể hiện  
sự tôn trọng quyền tự định đoạt tài sản của vợ,  
chồng. Chỉ có một nội dung cụ thể mà pháp luật  
“gợi ý” thỏa thuận đó là nghĩa vụ về “tài sản để đảm  
bảo nhu cầu thiết yếu của gia đình”. Tài sản đó có  
thể được các bên thỏa thuận trích từ khối tài sản  
chung hoặc từ tài sản riêng của vợ, chồng.  
Vợ chồng có thể tự do thỏa thuận về quyền  
và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung và  
tài sản riêng theo ý chí của hai bên, theo nhu cầu,  
hoàn cảnh kinh tế của gia đình... Vợ chồng cũng  
có thể thỏa thuận tương tự theo một phần hoặc  
toàn bộ nội dung của chế độ tài sản theo pháp luật.  
Bởi trong chế độ tài sản theo pháp luật, Luật  
HN&GĐ năm 2014 quy định tương đối cụ thể và  
hợp lý về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với  
tài sản chung và tài sản riêng tại các Điều 35, 36,  
37, 44, 45.  
Như vậy, với chế độ tài sản của vợ chồng theo  
thỏa thuận, các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối  
với tài sản như việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt  
tài sản, thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch với  
người thứ ba… hoàn toàn do vợ chồng thỏa thuận  
quyết định. Thỏa thuận này phải bảo đảm đáp ứng  
nhu cầu thiết yếu của gia đình và bảo đảm lợi ích  
hợp pháp của người có liên quan.  
3.2.3. Phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản  
Trong chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa  
thuận, viêc phân chia tài sản được Luật HN&GĐ  
2014 quy định: “…Trong trường hợp chế độ tài sản  
của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài  
sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó;  
nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng  
quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều  
này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật  
này để giải quyết” (khoản 1 Điều 59).  
Căn cứ vào đó, việc phân chia tài sản khi  
chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa  
thuận cũng thể hiện sự tôn trọng quyền tự định  
đoạt tài sản của vợ chồng. Vợ chồng hoàn toàn có  
thể thỏa thuận phân chia tài sản theo những  
nguyên tắc riêng được thống nhất bởi hai bên.  
Chẳng hạn, anh A và chị B trước khi kết hôn đã  
lập văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản trong đó  
nêu rõ trong trường hợp hôn nhân chấm dứt, tài  
sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của  
người đó, toàn bộ tài sản chung của vợ chồng sẽ  
thuộc quyền sở hữu của chị B. Thỏa thuận về  
nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ  
tài sản giúp Tòa án giải quyết tranh chấp về tài sản  
của vợ chồng một cách nhanh chóng và dễ dàng  
34  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)  
hơn. Khi tranh chấp xảy ra, căn cứ vào các thỏa  
thuận đã được các bên thống nhất, Tòa án có thể  
dễ dàng xác định đâu là khối tài sản chung của vợ  
chồng, đâu là tài sản riêng của vợ, chồng, cách  
thức phân chia cụ thể các khối tài sản này.  
Chỉ khi vợ chồng thỏa thuận không đầy đủ  
hoặc có thỏa thuận nhưng thỏa thuận đó không rõ  
ràng thì mới áp dụng tương ứng các nguyên tắc  
phân chia tài sản của chế độ tài sản pháp định  
được quy định cụ thể trong Luật HN&GĐ. Với  
chế độ tài sản theo pháp luật, nếu khi chấm dứt  
chế độ tài sản mà vợ, chồng không thỏa thuận  
được thì tài sản được phân chia như sau: “2. Tài  
sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có  
tính đến các yếu tố sau đây:  
quan hệ sở hữu tài sản, trong đó đưa ra một số gợi  
ý như chế độ cộng đồng toàn sản, chế động cộng  
đồng tạo sản hay chế độ biệt sản… Mặc dù vợ  
chồng được tôn trọng quyền tự do thỏa thuận nội  
dung của chế độ tài sản theo thỏa thuận nhưng vẫn  
phải tuân thủ các quy định chung về chế độ tài sản  
giữa vợ chồng như các nguyên tắc chung về chế  
độ tài sản của vợ chồng, quyền, nghĩa vụ của vợ,  
chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của  
gia đình, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con  
và thành viên khác của gia đình và người có liên  
quan… nhằm đảm bảo việc thỏa thuận của vợ  
chồng đúng quy định của pháp luật và đảm bảo  
quyền lợi cho người khác.  
4. Kết luận  
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;  
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc  
tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung.  
Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi  
như lao động có thu nhập;  
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên  
trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các  
bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;  
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền,  
nghĩa vụ của vợ chồng.  
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng  
hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia  
theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện  
vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải  
thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.  
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở  
hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã  
nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.  
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa  
tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu  
cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị  
tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ  
trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.  
Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận  
được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn trong  
trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài  
sản được lập thành văn bản trước khi kết hôn với  
nội dung và hình thức theo luật định. Luật HN&GĐ  
năm 2014 quy định vợ, chồng có thể tự do thỏa  
thuận các nội dung của chế độ tài sản theo thỏa  
thuận xoay quanh vấn đề quan hệ sở hữu tài sản,  
trong đó đưa ra một số gợi ý như chế độ cộng đồng  
toàn sản, chế động cộng đồng tạo sản hay chế độ  
biệt sản… Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng cũng  
có quyền sửa đổi, bổ sung nội dung chế độ tài sản  
của vợ chồng theo thỏa thuận hoặc thỏa thuận áp  
dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật.  
Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng phải  
tuân thủ các quy định chung như các nguyên tắc  
chung về chế độ tài sản của vợ chồng; quyền, nghĩa  
vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết  
yếu của gia đình; lợi ích hợp pháp của thành viên  
khác trong gia đình và người khác có liên quan. Có  
thể khẳng định rằng, việc ghi nhận chế độ tài sản  
của vợ chồng theo thỏa của các nhà làm luật là hợp  
lý. Các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng  
theo thỏa thuận theo Luật HN&GĐ năm 2014  
mang tính thực tiễn cao, hoàn toàn phù hợp để áp  
dụng rộng rãi trong đời sống xã hội.  
5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con  
chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực  
hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động  
và không có tài sản để tự nuôi mình” (khoản 2, 3,  
4, 5 Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014).  
Tóm lại, Luật HN&GĐ năm 2014 quy định  
vợ, chồng có thể tự do thỏa thuận các nội dung của  
chế độ tài sản theo thỏa thuận xoay quanh vấn đề  
Đây là quy định mới đáp ứng yêu cầu hội nhập  
và tạo điều kiện cho cá nhân phát triển tự do kinh  
doanh thương mại trong điều kiện kinh tế thị trường  
hiện nay khi quyết định đầu tư bằng tài sản cá nhân.  
35  
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý. (2006). Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách Khoa.  
[2] .Bùi Minh Hồng. (2009). Chế độ tài sản theo thoả thuận của vợ chồng trong pháp luật Cộng hoà Pháp  
và pháp luật Việt Nam. Tạp chí Luật học số 11/2009, tr,18 – tr,25.  
[2]. Chính phủ. (2014). Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết  
một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình 2014.  
[3]. Nguyễn Văn Cừ. (2014). Một số nội dung cơ bản về chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật Việt  
Nam. Tạp chí TAND, kỳ III – tháng 4 - 2014  
[4]. Nguyễn Văn Cừ. (2012). Một số vấn đê về hôn ước và quan điểm áp dụng ở Việt Nam hiện nay. Tạp  
chí Luật học số 10/2012, tr.3 – tr.9.  
[5]. Nguyễn Văn Cừ. (2008). Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam,  
NXB tư pháp.  
[6]. Nguyễn Văn Cừ. (2012). Một số vấn đề về hôn ước và quan điểm áp dụng ở Việt Nam hiện nay  
[7]. Nguyễn Thị Kim Dung. (2014). Chế độ tài sản vợ chồng theo thoả thuận trong pháp luật Việt Nam,  
Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Hà Nội.  
[8]. Quốc hội. (2015). Bộ luật dân sự 2015.  
[9]. Quốc hội. (2014). Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014.  
Thông tin tác giả:  
Ngày nhận bài: 07/01/2021  
Ngày nhận bản sửa: 24/5/2021  
Ngày duyệt đăng: 30/05/2021  
1. Hoàng Ngiệp Quỳnh  
- Đơn vị công tác: Trường Đại học Kinh tế & QTKD  
- Địa chỉ email: [email protected]  
2. Nguyễn Thị An  
- Đơn vị công tác: Trường Đại học Kinh tế & QTKD  
3. Trần Thị Kim Anh  
- Đơn vị công tác: Trường Đại học Kinh tế & QTKD  
36  
pdf 6 trang Thùy Anh 14320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận trong luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfche_do_tai_san_cua_vo_chong_theo_thoa_thuan_trong_luat_hon_n.pdf