Việt Nam giữa Mỹ và Trung Quốc: Phân tích lịch sử và chính trị tình hình đại chính trị hiện tại trong khu vực
ViÖt Nam gi÷a Mü vμ Trung Quèc….
DiÔn ®μn trao ®æi
“Nhiệm vụ chính là đảm bảo trong tương lai không một quốc gia hoặc liên minh các quốc
gia nào có thể tập hợp sức mạnh địa chính trị nhằm đẩy Hoa Kỳ khỏi đại lục Á - Âu kể cả
việc làm giảm đáng kể vai trò trọng tài quan trọng của chúng ta”
Zbigniew Brzezinski
Gs. Kolotov v.n
Tr−êng ®¹i häc Tæng hîp quèc gia
Siant-Peterburg)
được coi là âm và dương làm tê liệt lẫn nhau
và điều đó tạo điều kiện để nước Anh được
tự do hành động trên khắp trái đất”(1).
Ý nghĩa toàn cầu thực tế địa chính trị
của khu vực Đông Á. Lịch sử vấn đề và
hiện trạng
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nước Mỹ
đã vũ trang cho mình bằng chiến lược thành
công này, đã thực hiện sứ mệnh của mình
không kém phần khéo léo so với người Anh
trong những thế kỷ trước. Trong một cuốn
sách của mình, Zbigniew Brzezinski đã viết:
“Đại lục Á-Âu là bàn cờ mà cuộc đấu giành
quyền thống trị toàn cầu vẫn đang tiếp
tục”(2).
Hiện nay, mặc dù cuộc chiến tranh lạnh hai
thập kỷ trước đã kết thúc, nhưng tình hình tại
khu vực Đông Á vẫn còn khá căng thẳng, bởi
lẽ các trò chơi địa chính trị toàn cầu và khu
vực chưa có những thay đổi đáng kể.
Số phận lịch sử cho thấy, các cường quốc
hàng hải đã đạt được rất nhiều quyền đặc
biệt trong các vấn đề quốc tế, đã lợi dụng
mâu thuẫn giữa các quốc gia lục địa để trục
lợi cho mình. Ngay từ đầu thế kỷ hai mươi
nhà phân tích quân sự Nga Alexander
Vandam đã lưu ý “theo quan điểm của người
Anh, thì các quốc gia lục địa được xếp hạng
theo nguyên tắc "cân bằng quyền lực" đều
Nhà khoa học chính trị Mỹ nổi tiếng cho
rằng, đại lục Á-Âu, là phần lục địa quan
trọng nhất của thế giới, và sự xuất hiện của
bất kỳ lực lượng địa chính trị nào có thể thiết
lập quyền kiểm soát của mình đối với đại lục
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 9(145) – 2013
61
Kolotov v.n
Á-Âu thì điều đó có nghĩa là vai trò toàn cầu
sẽ được tự động chuyển sang cho thế lực đó
– “... kiểm soát toàn bộ lục địa Á-Âu sẽ là
nền tảng trung tâm nhằm thiết lập sự thống
trị toàn cầu”(3).
vi của đại lục này. Bắc Mỹ đã thành công
trong việc củng cố vị thế của mình tại cả
vùng bờ biển phía Tây lẫn bờ biển phía
Đông của lục địa Á-Âu rộng lớn”(7).
Trong các chính sách kiềm chế khối Xô -
Trung có hai nhân tố chính quyết định kết
quả của cuộc chiến tranh lạnh:
Theo Z. Brzezinski: “Hiện nay một quốc
gia không phải Á-Âu đang đóng vai trò lãnh
đạo tại đại lục Á-Âu và vai trò thủ lĩnh toàn
cầu của Mỹ trực tiếp phụ thuộc vào việc ưu
thế của Mỹ sẽ được duy trì bao lâu và hiệu
quả thế nào tại lục địa Á-Âu”(4).
1) Chia rẽ khối Trung-Xô
2) Sử dụng vùng ngoại vi nhằm duy trì
căng thẳng trong toàn bộ đại lục Á-Âu.
Về nhân tố đầu tiên cần lưu ý rằng, có thể
coi sự chia rẽ khối Trung-Xô là một trong
những sai lầm lớn nhất của lãnh đạo hai
nước Trung- Xô, mà đến giờ và còn lâu dài
hơn sau này nữa chúng ta vẫn cảm nhận
được những hậu quả bi thảm của nó
“Về tổng thể thì sự hùng mạnh của đại
lục Á-Âu vượt trội hơn nhiều so với sức
mạnh của Hoa Kỳ. May mà đối với Hoa Kỳ,
đại lục Á-Âu là quá lớn nên tại đó không có
sự thống nhất về chính trị”(5).
Thực tế này làm cho các chính trị gia phía
bên kia đại dương, những người kiên trì theo
đuổi truyền thống địa chính trị của những
người tiền nhiệm tràn đầy lạc quan. Chính vì
vậy, Washington coi sự xuất hiện của khối
Trung-Xô vào giữa thế kỷ XX là mối đe dọa
chính cho việc hiện thực hóa tham vọng toàn
cầu của Hoa Kỳ. Trong sự hình thành trật tự
thế giới lưỡng cực sau chiến tranh thế giới
thứ hai, khu vực Đông Á, theo Zbigniew
Brzezinski, đã trở thành “mặt trận chiến lược
phía Đông”(6), mà vào thời đó tại Đông Á,
mặt trận này đã chạy từ Triều Tiên bị phân
chia, qua Trung Quốc bị phân chia, đến Việt
Nam bị phân chia.
Trong việc chia rẽ khối Trung-Xô, trước
hết lỗi lầm là của các nhà lãnh đạo của cả
Liên Xô lẫn Trung Quốc. Họ đã đặt tham
vọng cá nhân lên trên lợi ích quốc gia. Tiếp
theo là vai trò của Mỹ, nước đã tích cực làm
mọi thứ có thể để phá vỡ mối quan hệ Xô-
Trung và nhằm củng cố vị thế đã đạt được.
Vào những năm 1970, khi thấy không còn
hy vọng ở chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ đã
chuyển từ chính sách ngăn chặn kép (Liên
Xô và Trung Quốc) sang thực hiện chính
sách chỉ ngăn chặn Liên Xô và bình thường
hóa quan hệ với Trung Quốc trên cơ sở
chống Liên Xô. Theo Brzezinski, “Liên
minh do Mỹ dẫn đầu đã duy trì được sự
thống nhất, trong khi khối Trung-Xô thì bị
sụp đổ trong vòng chưa đầy hai thập kỷ”(8).
Trong cuốn sách "Bàn cờ lớn", Zbigniew
Brzezinski đã hoàn toàn đúng đắn chỉ rõ
chính sách ngăn chặn ảnh hưởng của khối
Trung-Xô trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.
“Về địa chính trị, cuộc xung đột chủ yếu
diễn ra ở ngoại vi đại lục Á-Âu. Khối Nga-
Trung đã kiểm soát phần lớn đại lục Á-Âu
nhưng lại không kiểm soát được phần ngoại
Thực tế là trước khi chấm dứt sự tồn tại
của mình, khối Trung-Xô hoàn toàn khác
với khối thân Mỹ. Lý do là một đối tác trong
khối mạnh như Trung Quốc, là quá lớn và
Liên Xô không đủ các nguồn lực cần thiết,
và cũng không muốn đối xử với Trung Quốc
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 9(145) – 2013
62
ViÖt Nam gi÷a Mü vμ Trung Quèc….
"Ngoại vi", đặc biệt trên mặt trận phía
giống như Mỹ đối xử với các đối tác của
mình, là những đối tác yếu hơn nhiều so với Đông và phía Nam trong cuộc chiến tranh
thủ lĩnh của họ.
lạnh, đã đóng một vai trò đặc biệt quan trọng
trong các chính sách kiềm chế các cường
quốc Á-Âu. Mỹ kiên trì xây dựng các tiền
đồn ngăn chặn ở ngoại vi, nhằm duy trì sự
căng thẳng tại đại lục Á-Âu, gây mất ổn
định, và đồng thời lợi dụng một cách khôn
khéo những mâu thuẫn giữa Liên Xô và
Trung Quốc. Tất cả điều đó đã đóng vai trò
quyết định làm khối Xô-Trung sụp đổ cùng
với tất cả những hệ lụy sau này.
Theo Z. Brzezinski: “Nỗ lực thành công
ngăn chặn khối Á-Âu của Bắc Mỹ nhằm
thiết lập sự thống trị lâu dài trên toàn bộ đại
lục Á-Âu, cho đến cùng cả hai bên đều kiềm
chế đối đầu quân sự trực tiếp, vì lo sợ một
chiến tranh hạt nhân, đã dẫn đến một thực tế
là cuộc cạnh tranh đã kết thúc bằng những
biện pháp phi quân sự”(9).
Bản đồ của Z. Brzezinski. Khối Xô -Trung và ba mặt trận chiến lược trung tâm(10)
lấp mất các nước nhỏ mà những độc giả
thiếu kinh nghiệm thường coi là những nước
thiếu ý chí và chỉ giữ vai trò là công cụ để
nước khác thực hiện các dự án địa chính trị.
Cuộc đối đầu địa chính trị trong khu
vực Đông Á
Lịch sử đối đầu địa chính trị ở Đông Á là
một vấn đề vô cùng lý thú cả từ quan điểm
khoa học thuần túy lẫn quan điểm thực tiễn.
Thông thường người ta thường chú ý đến vai
trò của các nước lớn như: Trung Quốc và
Nhật Bản, thật đáng tiếc, chúng thường che
Với cách tiếp cận này, dường như các
nước nhỏ không đóng vai trò đáng kể nào
trong chính trị khu vực và không gây được
sự chú ý của giới khoa học. Tuy nhiên, cần
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 9(145) – 2013
63
Kolotov v.n
lưu ý đến một thực tế là trong suốt thế kỷ
XX, cả các cường quốc toàn cầu lẫn khu vực
đều rất tích cực lợi dụng các quốc gia nhỏ
trong khu vực, không chỉ như những "con
tốt" trong "bàn cờ" địa chính trị khu vực, mà
còn tích cực tranh giành sự ủng hộ của các
nước này. Trong bài viết này, chúng tôi
muốn chứng tỏ vai trò của Việt Nam với tư
cách là một đối trọng khu vực đặc biệt, nước
đã, đang và sẽ đóng vai trò quan trọng trong
cân bằng lực lượng địa chính trị trong khu
vực. Vai trò này của Việt Nam phản ánh
những lợi ích toàn cầu.
Ngay sau khi thành lập nước Cộng hòa
nhân dân Trung Hoa, Trung Quốc đã tranh
thủ chơi ván bài trong khu vực và lợi ích của
Trung Quốc là ở chỗ nước này lợi dụng chế
độ đồng minh tại các quốc gia phía Đông bị
chia cắt vì lợi ích của mình. Trung Quốc
không muốn Triều Tiên và Việt Nam thống
nhất dưới sự bảo trợ của Hoa Kỳ, vì điều đó
có nghĩa là các chế độ thân Mỹ sẽ xuất hiện
ngay biên giới với Trung Quốc và chính sách
của các chế độ này sẽ gây bất ổn cho tình
hình ở Trung Quốc. Mặt khác, Trung Quốc
còn ghen tỵ trước việc các nước này hợp tác
với Liên Xô. Trung Quốc rất muốn có các
nước láng giềng suy yếu bởi những cuộc đấu
tranh nội bộ hơn là các nước mạnh mẽ và
độc lập, đầy quyết tâm và mong muốn bảo
vệ lợi ích quốc gia của mình.
Sự bành trướng của Trung Quốc tại
Đông Nam Á. Phản ứng của Trung Quốc
trước nhân tố Việt Nam trong thế kỷ XX
Vào nửa sau thế kỷ XX, Bắc Kinh đã
nhiều lần cố gắng củng cố vị thế của mình
trong khu vực Đông Á, trước hết là tại Đông
Nam Á. Nhiều lần Bắc Kinh cố thiết lập các
hệ thống kiểm soát khác nhau đối với các
quốc gia và các vùng lãnh thổ. Chưa ai quên
sự kiện nổi tiếng ở Indonesia năm 1965, với
cuộc tàn sát đẫm máu của Trung Quốc. Năm
1969, nỗ lực tiến lên phía Bắc đã kết thúc
bởi cuộc xung đột quân sự với Liên Xô.
Năm 1974, lợi dụng cơ hội khi các lực lượng
vũ trang miền Bắc Việt Nam tiến hành tổng
tiến công giải phóng miền Nam Việt Nam
vào mùa xuân năm 1975, một đơn vị quân
Giải phóng nhân dân Trung Quốc đã đánh
chiếm Hoàng Sa (ngày 19/1/1974), vào thời
điểm đó, do quân đội Việt Nam cộng hòa
nắm giữ. Cũng vào năm 1975, một cuộc đảo
chính đã diễn ra tại Campuchia, kết quả là
một nhóm những người Cộng sản
Campuchia thân Bắc Kinh do Pol Pot cầm
đầu đã giành được chính quyền.
Theo các nhà nghiên cứu Việt Nam,
Trung Quốc không muốn miền Bắc Việt
Nam giải phóng miền Nam Việt Nam do Mỹ
bảo trợ. Theo quan điểm của Trung Quốc,
một miền Bắc Việt Nam (nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa) suy yếu sẽ thuận lợi hơn
là một Việt Nam thống nhất dưới sự bảo trợ
của Việt Nam vì với kịch bản này ảnh hưởng
Xô-Việt sẽ được tăng cường tại biên giới
miền Nam Trung Quốc, và sự xuất hiện một
Việt Nam thống nhất đương nhiên có nghĩa
là Việt Nam sẽ tăng cường quyền kiểm soát
phía Đông Đông Dương và Trung Quốc
không hề muốn điều này. Với cách đánh giá
tình hình theo quan điểm cạnh tranh toàn cầu
và khu vực như vậy, Trung Quốc đã khuyến
khích Khmer Đỏ thân Bắc Kinh thiết lập
quyền kiểm soát Campuchia nghiêm ngặt
hơn ngay sau khi Việt Nam thống nhất vào
năm 1975. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều
nhà nghiên cứu cho rằng, trên thực tế, chế độ
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 9(145) – 2013
64
ViÖt Nam gi÷a Mü vμ Trung Quèc….
Pol Pot, là chế độ bảo hộ của Trung Quốc(11)
.
sao, mà trong trường hợp cân bằng quyền
Điều này dẫn đến sự đàn áp tàn độc nhất tại lực diễn ra khác đi thì khối này có thể là một
Campuchia, hậu quả là từ đó đến nay đất mối đe dọa đến lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ
nước này chưa thể phục hồi. Sau khi nắm theo cách diễn giải của Zbigniew Brzezinski.
quyền, Khmer Đỏ đã tiêu diệt hầu hết tầng
lớp có học và phá hủy toàn bộ nền kinh tế
quốc gia, biến đất nước thành một địa bàn
Vào thời điểm đó, cả Trung Quốc và Mỹ,
đã rất nỗ lực đạt được mục tiêu hạn chế ảnh
hưởng Xô-Việt trên bán đảo Đông Dương.
thử nghiệm chủ nghĩa Mao trong bối cảnh Ngoại trưởng Henry Kissinger nói, “Tất cả
những gì giúp kiềm chế Việt Nam – đều tốt"
... Kissinger dự đoán rằng trong 15 năm tiếp
theo chính sách của Mỹ sẽ bao gồm: Ủng hộ
các nhân vật chống Việt Nam tại
Campuchia, thậm chí nếu điều đó có nghĩa là
ủng hộ cho các phần tử Khơ-me Đỏ "khó
của các chiến dịch lớn chống Việt Nam, và
làm cho tình hình an ninh biên giới
Campuchia-Việt Nam thêm căng thẳng.
Quân Khmer Đỏ xâm chiếm lãnh thổ Việt
Nam, giết chết dân thường hay bắt bớ họ đưa
sang Campuchia. Không thể chịu đựng tình
trạng này, Việt Nam buộc phải đưa quân vào
Campuchia tiêu diệt binh lính Khmer Đỏ tại
các tỉnh Tây Bắc Campuchia, bằng cách đó
ngăn chặn nạn diệt chủng đối với dân tộc
Khmer. Điều quan trọng cần lưu ý là phương
Tây thường lớn tiếng bảo vệ nhân quyền đã
lên án Việt Nam đã vi phạm nghiêm trọng về
nhân quyền ở Campuchia, bởi lẽ căng thẳng
leo thang tại "mặt trận chiến lược phía
Đông" đã đáp ứng lợi ích lâu dài của họ.
chịu”(12)
.
Đánh giá chính sách của Hoa Kỳ trong
những năm đó tại "mặt trận chiến lược phía
Đông", một trong những chuyên gia nổi
tiếng của Mỹ cho biết: “Dường như chính
sách của Mỹ chỉ dựa trên những tính toán
theo kiểu chính sách thực dụng, bao gồm
việc muốn chơi con bài Trung Quốc trong
trận chiến chiến lược chống Liên Xô”(13)
.
Đây là một trích dẫn thêm từ cùng một
nguồn, “Brzezinski muốn liên minh với
Trung Quốc và Campuchia để gây áp lực
Sau khi chế độ Pol Pot bị Hà Nội tiêu
diệt, Bắc Kinh đã thực hiện một bài học lịch
sử lâu đời thông qua quyết định trừng phạt
Việt Nam cứng đầu và quân đội Trung Quốc
đã vượt qua biên giới Trung-Việt. Trong tình
thế này Liên Xô ủng hộ Hà Nội và trong khi
đại diện của hai nước xã hội chủ nghĩa lớn
nhất trong khu vực đang tiến hành các cuộc
chiến đấu đẫm máu tại vùng rừng núi biên
giới Việt Nam-Trung Quốc, còn cường quốc
xã hội chủ nghĩa thứ ba đang cố gắng ngăn
chặn cuộc bạo lực vô nghĩa này thì các thế
lực bên kia đại dương lại hài lòng theo dõi
cuộc xung đột phát triển bi hài như thế nào
và sự sụp đổ tiếp theo của khối Trung-Xô ra
chống Liên Xô”(14)
.
Chỉ vài thập kỷ sau, một đại diện cấp cao
thuộc chính quyền Hoa Kỳ đã có đủ can đảm
thừa nhận rằng, kế hoạch Trung-Xô thâm
hiểm, dựa theo lý thuyết domino và các ý
kiến của Mỹ về việc cuộc leo thang ở Đông
Nam Á của cộng sản dường như đã được lên
kế hoạch từ trước vào những năm đó đều là
sai lầm. Robert McNamara, đặc biệt, ghi
nhận: “Khi đó chúng ta đã đánh giá nhầm và
hiện nay chúng ta cũng đang đánh giá không
chính xác ý định địa chính trị của các đối thủ
của chúng ta (trong trường hợp này, là miền
Bắc Việt Nam và Việt cộng, được Trung
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 9(145) – 2013
65
Kolotov v.n
Quốc và Liên Xô ủng hộ), và chúng ta đã
thổi phồng sự nguy hiểm của họ đối với
Mỹ”(15). Như vậy, có thể thấy rằng, hiện
chưa có một ai có thể chứng minh rằng,
những đánh giá hiện tại của Mỹ về "chính
sách xâm lược của Trung Quốc" đối với
Đông Nam Á có đúng với sự thật hay không.
vẫn tiếp tục tác động đến thực tế của tình
hình địa chính trị hiện nay xung quanh
Trung Quốc.
Từ những phân tích trên có thể rút ra kết
luận về quan điểm tích cực của Trung Quốc,
sự linh hoạt nắm bắt tình huống và sẵn sàng
cùng một lúc áp dụng một loạt các chiến
thuật và chiến lược để đạt được những mục
tiêu chính sách đối ngoại của họ.
Chính sách tích cực được Trung Quốc
thực hiện trong những năm 1970-1980 tại
Trung Á cũng đáng được quan tâm. Trên
“mặt trận phía Nam”(16), đi qua Afghanistan,
Trung Quốc duy trì phòng tuyến chiến lược,
rõ ràng là muốn hỗ trợ các phần tử
Mujahideen kiềm chế Liên Xô gia tăng ảnh
hưởng trong khu vực. Vào thời đó Trung
Quốc hiểu rằng, câu trả lời cho câu hỏi:
Nước nào sẽ có lợi hơn tại Afghanistan: Liên
Xô đã bị kiệt quệ hay các căn cứ quân sự Mỹ
nhất định xuất hiện tại đó khi Liên Xô rút
khỏi đây chính là Washington. Hiện nay, sau
khi Liên Xô rút khỏi Afghanistan và rất
nhiều nhiều căn cứ quân sự Mỹ xuất hiện tại
đây thì những hậu quả trực tiếp của chính
sách Afghanistan trong những năm 1980 của
Bắc Kinh là sự xuất hiện của một núi vấn đề
phải đối mặt với chủ nghĩa ly khai và sự bất
ổn tại các tỉnh miền Tây Trung Quốc, cũng
như phải đối mặt với nạn buôn bán ma túy
cùng với tất cả những hệ lụy kéo theo. Việc
thay đổi trong định hướng địa chính trị của
các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ ở
Trung Á, diễn ra trong "cuộc cách mạng
màu" như một hệ quả của các quá trình mô
tả ở trên là gợi ý đúng đắn cho sự lựa chọn
của Trung Quốc vào cuối thế kỷ trước trên
mặt trận chiến lược phía Nam. Tuy nhiên,
bất chấp những phân tích quan trọng của giải
pháp đã được thực hiện trong thời gian gần
đây, hậu quả của nó, một cách khách quan,
Tình hình ở Đông Á vào đầu thế kỷ.
Trung Quốc ở Đông Nam Á
Tình hình địa chính trị toàn cầu và khu
vực được miêu tả ở trên đã hình thành nên
mô hình chính sách đối ngoại sau – các
cường quốc thường dựa vào những xung đột
của các đối thủ địa chính trị của họ để đảm
bảo an ninh, cũng như thực hiện chính sách
nhằm gây bất ổn từ bên trong của các đối thủ
này. Nhưng cũng không nên quên rằng có sự
đan xen của những nỗ lực thuộc hoạt động
gây mất ổn định này theo chiều ngược lại.
Nước nào khéo léo hơn tạo ra những thách
thức bên ngoài và nội bộ cho đối thủ cạnh
tranh của mình, thì nước đó sẽ tạo cho mình
những điều kiện thuận lợi và an ninh hơn,
còn nước nào tạo ra các điều kiện để các
nước láng giềng của mình có cuộc sống yên
bình và thoải mái thì trong tương lai sẽ là
nước tự đào hố chôn mình, bởi lẽ, sau khi
các nước láng giềng mạnh lên họ sẽ bắt đầu
thực hiện chính sách gây bất ổn đối với nước
láng giềng tốt bụng của họ. Cần chú ý đến
chính sách cô lập địa chính trị đối với các
đối thủ đã bị tổn thương, phá hoại kinh tế,
gây bất ổn, kích động xung đột sắc tộc và
tôn giáo, và thực thi các chương trình dài
hạn khác nhằm gây khó khăn hết mức cho
đối thủ địa chính trị tiềm năng khôi phục sức
mạnh trước đây.
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 9(145) – 2013
66
ViÖt Nam gi÷a Mü vμ Trung Quèc….
Đây chính là những gì đã xảy ra sau sự trưởng trở lại và đến cuối năm 2006 đạt mức
tan rã của Liên Xô. Biểu đồ dưới đây chỉ rõ của năm 1990.
sự tăng trưởng GDP của Nga, Trung Quốc
và các nước ASEAN từ năm 1990 đến năm
2009. Một cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm
trọng đã diễn ra ở Nga, dưới thời Yeltsin,
GDP của Nga đã giảm đều đặn, cùng với tất
cả những hậu quả kéo theo: Tội phạm xã hội,
tham nhũng, dân số suy giảm, quân đội tan
rã, hệ thống giáo dục và y tế yếu kém, gia
tăng căng thẳng và xung đột. Hậu quả địa
chính trị của thời kỳ "cải cách", là ảnh
hưởng trước đây của Nga trên trường quốc tế
nói chung và trong khu vực Đông Á nói
riêng bị suy giảm. Chỉ sau khi Vladimir
Putin lên nắm quyền, GDP của Nga mới tăng
Trong khi đó, châu Á đạt mức tăng
trưởng kinh tế chưa từng có. Trung Quốc
tăng trưởng nhanh nhất và dần dần trở thành
đầu tầu trong khu vực, có khả năng đảm bảo
sự phát triển cho các quốc gia nhỏ hơn trong
khu vực. Trong những năm 1990, Bắc Kinh,
trong chiến lược địa chính trị khu vực đã
chuyển trọng tâm chính vào hợp tác kinh tế
với các nước Đông Nam Á, và trong lĩnh
vực này đạt được thành công ấn tượng, trong
đó, đặc biệt, được thể hiện trong việc xây
dựng khu vực thương mại tự do với các
nước ASEAN vào tháng 1-2010, bao gồm 10
quốc gia Đông Nam Á.
Tăng trưởng GDP của Trung Quốc, Nga và các nước ASEAN từ 1990 đến 2011
230
220
210
200
190
180
170
160
150
140
130
120
110
100
90
80
70
Trung Quốc
Nga
60
ASEAN
50
40
30
20
10
0
-10
-20
-30
-40
-50
-60
-70
1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
Sau khi Liên Xô tan rã, Đông Á đã trở Do vậy, các nước Đông Nam Á nói chung có
thành ngoại vi lợi ích của các đấu thủ địa rất ít cơ hội lịch sử để có thể sử dụng một
chính trị lớn, là những quốc gia đang chia cách khôn ngoan. Trong khoảng thời gian
phần chiến lợi phẩm từ đối thủ bị thương. tương đối ngắn, khi chiến tranh lạnh đã kết
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 9(145) – 2013
67
Kolotov v.n
thúc, còn thế giới đơn cực chưa xuất hiện, thì
toàn bộ khu vực nói chung đã có những
bước đột phá về kinh tế, và để lại những hậu
quả địa chính trị sâu rộng.
chủ nghĩa thực dân mới, còn Suharto thì tán
dương ưu thế của gia đình trị. Tháng 6-1997,
Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN)
đã tiếp nhận thêm một thành viên mới là
Myanmar (Miến Điện), đó là thách thức trực
tiếp tới nền dân chủ phương Tây mà theo
quan điểm của họ thì cả về chính trị lẫn nhân
đạo, chế độ đàn áp của Myanmar là không
thể chấp nhận được. (Sự lên án công khai
của tôi về quyết định này của ASEAN đã bị
Mười nước Đông Nam Á gia nhập khối
ASEAN, và mặc dù có sự khác biệt đáng kể
về chế độ chính trị nhưng đã thực sự tăng
cường hội nhập khu vực, và tất nhiên điều đó
đã ảnh hưởng đến những tham vọng chính trị
của các nước đứng đầu khu vực. Thời đó
mọi người đều biết đến những bài phát biểu
nổi tiếng của Suharto, Mohathira
Mohammad, Lý Quang Diệu, những bài phát
biểu đã làm cho Washington không giấu
được sự bất bình.
Mohathira phê phán kịch liệt)”(17)
.
Các nhà kinh tế học của Nga là A.B.
Kobyakov và M.L. Khazin, khi mô tả tình
trạng các thị trường tài chính toàn cầu thời
kỳ đó, nhấn mạnh: “Chính vì các ngân hàng
quốc tế (chủ yếu là đầu tư) có trụ sở tại Hoa
Kỳ, là nền tảng xây nên kim tự tháp tài
chính, nên các ngân hàng này đã trở thành
nạn nhân của cuộc khủng hoảng. Trong đó
nghĩa vụ tài chính và những đồng đô la bị
đem khỏi nước Mỹ có thể làm sụp đổ hoàn
Nhà tài chính Mỹ George Soros, đã đánh
giá tình hình ở Đông Nam Á và sự tự tin của
các nhà lãnh đạo chính trị địa phương trước
khi cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra vào
cuối năm 1990: “Mô hình châu Á đã chứng
tỏ là chiến lược phát triển kinh tế rất thành
công, giới kinh doanh đánh giá rất cao mô
hình này. Nó giúp gia tăng đáng kể mức
sống người dân, tốc độ tăng trưởng thu nhập
bình quân đầu người trung bình suốt trong
một thời gian dài là 5,5% mỗi năm - nếu so
sánh trong một thời gian dài, thì chẳng có
nơi nào trên thế giới đạt được điều này. Vì
vậy, ngay cả khi cuộc khủng hoảng đã bắt
đầu, lãnh đạo các nước châu Á như Lý
toàn toàn bộ hệ thống tài chính của Mỹ”(18)
.
Và Hoa Kỳ không muốn để điều đó diễn ra,
nên các nước Đông Nam Á đã bị đánh. Hệ
thống được bố trí với "van an toàn" để xả
"hơi" mà các nước "ngoại vi" sẽ đóng vai trò
là chiếc van an toàn đó. Khi đó "Trung tâm"
sẽ được an toàn.
Nếu xem xét cuộc khủng hoảng châu Á
trong bối cảnh toàn cầu, chúng ta sẽ có được
một bức tranh như sau. Theo M.L. Khazin và
A.B. Kobyakov “vào giữa những năm
1990... Đông Nam Á trở thành vấn đề
chính.... những dòng chảy tài chính chủ yếu
từ "nền kinh tế mới" đều tập trung vào chính
Đông Nam Á và điều đó tạo điều kiện để
bắt đầu từ những năm 1980, khu vực này có
Quang Diệu
ở
Singapore, Suharto ở
Indonesia và Mohathir ở Malaysia, đã tự hào
tuyên bố rằng giá trị châu Á vượt trội hơn so
với giá trị phương Tây. Hơn nữa, họ còn
nghi ngờ những giá trị được ghi trong Tuyên
ngôn Nhân quyền của Liên hợp quốc. Lý
Quang Diệu đề cập đến sự suy giảm của các
nền dân chủ phương Tây, Mohathir đả kích
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 9(145) – 2013
68
ViÖt Nam gi÷a Mü vμ Trung Quèc….
thể thực hiện được bước đột phá lớn về kinh chỉ là "đòn chém gió". Cần lưu ý rằng đòn
này đã không được thực hiện đến cùng, vì
Trung Quốc, không thể nào chấp nhận được
chính sách này, nên đã giáng đòn phản công
tế. Và đối với nền kinh tế Mỹ, tình hình này
là một mối nguy hiểm bởi lẽ một trong
những nguyên tắc cơ bản, là cơ sở của cơ
chế kinh tế sau chiến tranh đã bị vi phạm:
Thị trường tài chính đáng tin cậy nhất và
đem lại lợi nhuận cao nhất thế giới phải ở
trong nước Mỹ.
mãnh liệt vào người Mỹ”(20)
.
Theo quan điểm của nhà phương Đông
học có uy tín người Nga là D.V. Mosyakov
thì kết quả của các quá trình được mô tả ở
trên là: “Trong cuộc khủng hoảng, niềm tin
vào phương Tây của giới tinh hoa các nước
Đông Nam Á đã phải chịu một áp lực lớn
bởi lẽ niềm tự hào của họ đã bị làm tổn
thương bởi chế độ độc tài trắng trợn phương
Để giải quyết vấn đề này, lần cuối cùng
Mỹ đã áp dụng hiệu quả đòn bẩy kinh tế
(chứ không phải là lực lượng quân sự): Mùa
Thu năm 1997 những đồng tiền của các quốc
gia Đông Nam Á đã bị sụp đổ. Nhưng chính
khi đó và cho đến nay công cụ vạn năng này
đã lần đầu tiên tỏ ra không tác dụng – nó
không thể làm sụp đổ nền kinh tế của Trung
Quốc. Tuy nhiên, Mỹ đã giải quyết được vấn
đề chính ...: sự chắc chắn của thị trường tài
chính khu vực Đông Nam Á đã bị giảm
mạnh, và lợi nhuận của các thị trường này bị
giảm đáng kể. Còn đối với thị trường Trung
Quốc, chúng hoàn toàn nằm dưới sự kiểm
soát của nhà nước cộng sản, mà những hành
động của Trung Quốc ít liên quan nhất đến
Tây mà IMF là cơ quan đại diện”(21)
.
Trong và sau cuộc khủng hoảng “giới
cầm quyền các nước ASEAN bắt đầu thể
hiện chủ nghĩa dân tộc Đại Á và thái độ
chống phương Tây công khai”(22). Và sự thể
hiện này đều dưới những hình thức mạnh
mẽ, bằng chứng là các nhà lãnh đạo chính trị
nhiều quốc gia Đông Nam Á đã có rất nhiều
những tuyên bố mạnh mẽ.
Tình thế tại Đông Nam Á đã phát triển
theo chiều hướng là cuộc khủng hoảng tài
chính bắt đầu chuyển sang khủng hoảng kinh
tế, còn khủng hoảng kinh tế lại chuyển sang
khủng hoảng chính trị, trong đó giới thượng
lưu "táo bạo" trong khu vực đã được thay thế
bởi các chính trị gia có tính xây dựng hơn,
đó là các chính trị gia thân Mỹ. Kết quả của
cuộc khủng hoảng là một số nhà lãnh đạo
buộc phải ra đi. Điều này diễn ra tại Thái
Lan, Indonesia, và Philippines. Tình hình
chính trị ở Miến Điện, Việt Nam và
Malaysia vẫn không bị ảnh hưởng. Nhưng
Mỹ không thay đổi được chiều hướng chính
trị của sự phát triển trong khu vực. Cuộc
khủng hoảng đã tạo thêm nhiều tuyên bố
lợi ích của Hoa Kỳ”(19)
.
Theo A.B. Kobyakov và M.L. Khazin
“Mỹ đã giáng đòn đầu tiên vào các nền kinh
tế Đông Nam Á vào những năm 1997-1998.
Mỹ phải ngăn chặn sự phát triển năng động
của khu vực này, một sự phát triển đã làm
nghi ngờ về tính ưu việt toàn cầu của Mỹ.
Trước hết, sự nguy hiểm là ở chỗ sự gia tăng
phúc lợi của người dân trong khu vực này
tạo điều kiện để khu vực có thể trở thành
khu vực "tự cung tự cấp", và nhu cầu nội
khối sẽ dần dần lấn át xuất khẩu của Mỹ và
các nước Đông Nam Á sẽ có thể "thoát khỏi"
"vòng kiềm tỏa" của Mỹ... Vì vậy, đòn giáng
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 9(145) – 2013
69
Kolotov v.n
chống Mỹ triệt để hơn, và thay vì thay đổi
Đánh giá triển vọng của tình hình địa
giới tinh hoa trong khu vực, thì Hoa Kỳ lại chính trị hiện nay trong khu vực, chúng ta có
phải đối đầu với một nhóm nước ASEAN thể nhận thấy sự tăng trưởng kinh tế ấn
đoàn kết chặt chẽ hơn trước đó và để đối đầu tượng, cả ở Trung Quốc lẫn ở Đông Nam Á,
với Hoa Kỳ nhóm này bắt đầu tìm kiếm một mà trong một thời gian tương đối ngắn đã
đầu tầu khu vực mạnh mẽ hơn, có đủ khả cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống ở các
năng bảo vệ họ chống lại áp lực từ phía Hoa quốc gia của mình, cũng như đã tạo ra một
Kỳ và tạo những điều kiện thuận lợi hơn cho nhu cầu thanh toán nội bộ. Khi đánh giá các
các nước Đông Nam Á phát triển. Trung cơ hội giả định về sự liên kết giữa Trung
Quốc là nước đứng ra lãnh trách nhiệm này. Quốc và Đông Nam Á chúng ta có thể nhận
Trong thời gian khủng hoảng, Trung Quốc thấy các thông số như gần 2 tỷ người, và
đã chứng tỏ vai trò tích cực hỗ trợ cho một tổng lượng GDP vào khoảng 13 tỷ USD
số nước Đông Nam Á. Hóa ra thay vì muốn (PPP). Tất nhiên, trong tương lai gần sự xuất
trừng phạt các nước Đông Nam Á, chỉ cho hiện của khối này có những hệ lụy địa chính
họ thấy vị trí đích thực của họ trong phân trị sâu rộng trong khu vực Đông Á, chắc
công lao động quốc tế, trên thực tế nước Mỹ chắn sẽ ảnh hưởng đến Đài Loan, Nhật Bản,
chỉ đạt được một số mục tiêu của mình, các và Hàn Quốc với sự gia tăng ảnh hưởng của
nước Đông Nam Á đã "được đặt đúng chỗ", Trung Quốc và các căn cứ quân sự của Mỹ
nhưng từ những gì đã diễn ra, nước Mỹ đã trong khu vực này sẽ bị loại bỏ. Tuy nhiên,
rút ra được nhiều bài học. Kết quả của cuộc vẫn còn quá sớm để nói rằng, Đông Nam Á
khủng hoảng là vị thế chính trị của Trung đã trở thành khu vực thân Bắc Kinh. Chúng
Quốc trong khu vực được tăng cường và các ta vẫn thấy nhìn chung sự hiện diện quân sự
nước Đông Nam Á lại đoàn kết xung quanh của Mỹ trong khu vực vẫn đang được duy
một thủ lĩnh khu vực mới, nước sẵn sàng trì. Bắc Kinh coi các căn cứ quân sự của Mỹ
tuyên bố và theo đuổi một chính sách có lợi là các căn cứ quân sự nhằm vào Trung
hơn cho các nước Đông Nam Á.
Quốc. Trung Quốc đang nằm trong chiếc
"vòng kim cô" của các cuộc xung đột tiềm
năng và âm ỉ cả trong lãnh thổ của mình
cũng như tại các nước láng giềng, nếu như bị
kích hoạt đồng thời sẽ có thể chôn vùi tất cả
các kế hoạch hiện đại hóa và xây dựng khu
vực ảnh hưởng của mình trong khu vực đầy
tham vọng của Trung Quốc. Chúng ta sẽ
không quên một thực tế là có những nước
muốn đảm bảo an ninh của mình bằng việc
xâm hại an ninh của các quốc gia khác
Như vậy, mặc dù chủ động gây ra cuộc
khủng hoảng, nhằm định dạng lại khu vực
Đông Nam Á theo mong muốn của mình,
song nước Mỹ lại phải đối mặt với một khu
vực tăng cường hơn tốc độ hội nhập khu vực
với khuynh hướng chống Mỹ và đoàn kết
xung quanh Trung Quốc. Điều này liên quan
đến dự án thành lập khu vực tự do thương
mại Trung Quốc - ASEAN, đi vào hoạt động
năm 2010 và dự án thiết lập đơn vị tiền tệ
châu Á (ACU), đang được thảo luận ở các
cấp độ khác nhau.
Nghịch lý của tình hình hiện nay trong
khu vực Đông Á là ở chỗ, một mặt, một số
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 9(145) – 2013
70
ViÖt Nam gi÷a Mü vμ Trung Quèc….
nước châu Á muốn tiếp tục đảm bảo sự hiện lớn” do Z. Brzezinski đề xướng mà nội hàm
diện quân sự của Mỹ nhằm duy trì sự ổn của nó là “ngăn chặn sự thông đồng và duy
định trong khu vực, mặt khác, họ lại quan trì sự phụ thuộc an ninh giữa các chư hầu,
tâm đến sự phát triển nền kinh tế Trung duy trì sự thuần phục và bảo vệ kẻ hèn mọn,
Quốc có thị trường đầu ra cho sản phẩm của cũng như ngăn chặn không để các nước mọi
mình. Nên nhớ rằng, sự hiện diện quân sự rợ liên kết lại với nhau”(23). Theo logic này,
của Mỹ đã có từ thời kỳ chiến tranh lạnh, và thì khả năng "các nước mọi rợ liên kết lại
sự hiện diện này phản ánh sự cân bằng lực với nhau" dưới sự bảo trợ của một cường
lượng nhất định vào thời điểm đó. Sự phát quốc châu Á nào đó sẽ bị Washington coi
triển năng động của Trung Quốc sẽ thay đổi như một mối đe dọa cho an ninh quốc gia
đáng kể cán cân này. Trong tương lai gần, sự của Mỹ, với tất cả những hậu quả kéo theo
tăng trưởng của nền kinh tế Trung Quốc sẽ và sẽ xem xét việc sử dụng các hệ thống hiện
làm thay đổi cán cân lực lượng trong khu có của các hiệp định song phương về an
vực, và sẽ đem lại những hậu quả kinh tế và ninh. Cần đặc biệt chú ý các từ ngữ “duy trì
chính trị sâu rộng, chống lại sự hiện diện sự phụ thuộc an ninh giữa các chư hầu”,
quân sự của Mỹ với tất cả những hậu quả (“maintain security dependence among the
tiếp theo của sự hiện diện này. Trong bối vassals”), có nghĩa là đảm bảo duy trì sự phụ
cảnh này, triển vọng tương lai của hội nhập thuộc của các nước chư hầu nhằm đảm bảo
khu vực trở nên rất chắc chắn. Hoàn toàn có an ninh. Nói cách khác, thách thức chính tại
thể diễn ra phương án hình thành song song Đông Á là ngăn chặn các nước "mọi rợ"
cả hai dự án hội nhập cạnh tranh với nhau: không thể tự đảm bảo an ninh và bằng mọi
Dưới sự bảo trợ của Bắc Kinh và của cách kìm giữ sự phụ thuộc của chúng theo
Washington mà trong tương lai có thể dẫn tình trạng hiện tại. Cần nhớ lại là, khu vực
đến một sự phân cực của các nước Đông Đông Á rất đa dạng về chính trị, văn hóa và
Nam Á phụ thuộc vào hai trung tâm quyền tôn giáo, và đây là những điều kiện thuận lợi
lực này, và trong trường hợp xấu nhất có thể cho việc xây dựng các đồng minh và liên
dẫn đến sự bất ổn trong khu vực. Nếu như, minh nhằm ngăn chặn các "mối đe dọa" của
sau sự kiện Liên Xô sụp đổ, vị trí ngoại vi một đối thủ địa chính trị có thể xuất hiện.
của khu vực trong nền chính trị thế giới đã
tạo điều kiện để các nước nhỏ hơn ở Đông
Nam Á nói chung có vai trò quan trọng trong
quá trình hội nhập khu vực, thì hiện nay, với
sự phát triển của Trung Quốc và những
mong muốn duy trì sự cân bằng quyền lực
được thiết lập trong quá khứ của Hoa Kỳ thì
không gian hoạt động cho các nước Đông
Nam Á đã bị thu hẹp đáng kể. Chúng ta chưa
quên, “ba điều luật địa chiến lược đế quốc
Ngay cả các nhà phân tích phương Tây
cũng nói rằng “một phản ứng kích động
truyền thống, luôn bị phương Tây coi là sự
xuất hiện của một lực lượng bên ngoài hùng
mạnh”(24). Không còn gì để tranh cãi về sự
đúng đắn của khẳng định này. Hiện nay,
chúng ta có thể thấy trong báo chí phương
Tây và trong các ấn phẩm phân tích hàng
loạt những công bố đầy tính kích động về
chủ đề “mối đe dọa Trung Quốc”, tất nhiên,
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 9(145) – 2013
71
Kolotov v.n
chúng ta muốn tiến hành một cuộc chiến
thương mại, chứ không phải là một cuộc
chiến thực sự, nhưng để thực hiện tốt cuộc
chiến thương mại trong tay chúng ta nhất
trong đó, cũng có chỗ cho những “cảnh báo
thân thiện” của các nước phương Tây cho
Liên bang Nga rằng mối đe dọa của Trung
Quốc là đặc biệt nguy hiểm đối với nước
Nga. Đặc biệt, có nhận định cho rằng “Trung
Quốc, đang nhanh chóng mở rộng phạm vi
ảnh hưởng ở Trung Á và Viễn Đông là thách
định phải có một thanh kiếm”(28)
.
Một chuyên gia Mỹ tin rằng, “sự khác
biệt chính giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ ở
Đông Nam Á là Trung Quốc có một chiến
lược rõ ràng trong khu vực, còn Mỹ thì
không”(29). Tuy nhiên, sự tuyên truyền này
không có những cơ sở thực tế. Lâu nay, tại
Hoa Kỳ người ta thường tưởng tượng ra sự
phản ứng đối với sự trỗi dậy của Trung
Quốc. Còn nhiều nhà phân tích nổi tiếng và
chuyên môn cao của Mỹ đã vội vàng phát
triển các kịch bản kiềm chế Trung Quốc.
thức thật sự đối với Nga”(25)
.
Nhiều chuyên gia hàng đầu của Nga và
phương Tây đã đúng khi lưu ý sức mạnh
kinh tế ngày càng tăng của Trung Quốc có
thể trở thành công cụ chính trị để Trung
Quốc tạo dựng khu vực ảnh hưởng của
mình(26). Rất khó có thể đánh giá mức độ của
vùng ảnh hưởng giả thuyết này, nhưng các
chuyên gia uy tín cho rằng, “Trung Quốc
muốn khôi phục ảnh hưởng tại các nước láng
giềng trong phạm vi của đế quốc Trung Hoa.
Đó là bán đảo Triều Tiên, Việt Nam, bán
đảo Đông Dương cho tới khu vực Đông
Nam Á. Tham vọng quân sự toàn cầu của
Trung Quốc là nhỏ hơn so với của nước
Nga, mặc dù Trung Quốc nỗ lực hơn Nga để
Với quy mô của Trung Quốc và sự hiện
diện của vũ khí hạt nhân người ta không bàn
đến một phương án giản đơn của bất kỳ sự
va chạm nào giữa Hoa Kỳ với Trung Quốc,
mà ngay từ đầu vấn đề chỉ bàn về những
thao tác tinh tế hơn, nhờ đó, bằng bàn tay
của người khác Hoa Kỳ có thể đạt được mục
đích của mình. Samuel Huntington đã phát
triển và công bố một trong những kịch bản
nguy hiểm nhất. Theo quan điểm của Mỹ,
Ông đề xuất phương án khởi đầu cuộc Thế
chiến thứ III tại khu vực Đông Á. Phương án
này được công bố trong cuốn sách giật gân
"Sự đụng độ giữa các nền văn minh", từ một
cuộc xung đột cục bộ tại Việt Nam. “Sự xuất
hiện của Trung Quốc với tư cách là thế lực
thống trị tại khu vực Đông và Đông Nam Á
sẽ là trở lực đối với lợi ích của Mỹ theo cùng
một kiểu như thường đã được giải thích.
trở thành thủ lĩnh ở châu Á”(27)
.
Sự tăng trưởng của Trung Quốc trong
thập kỷ gần đây đã củng cố niềm tin cho một
số đại diện của giới chuyên gia nước này vào
ưu thế của Trung Quốc. Đoạn trích sau đây
rất tiêu biểu cho quan điểm đó: “Thặng dư
thương mại khổng lồ hiện nay của chúng ta
cho thấy hiệu quả quản lý của chúng ta cao
hơn so với ở các nước khác. Với người
Trung Quốc, nguồn tài nguyên thế giới sẽ
được phân phối và sử dụng tốt hơn... Tính
theo những thành tựu thực tế trong lịch sử
văn minh, người Trung Quốc còn thành công
hơn những người Do Thái ... Vì vậy, chúng
ta phải có thanh kiếm trong tay để buôn bán,
Với những lợi ích của Mỹ thì làm thế nào
có thể phát động được một cuộc chiến tranh
giữa Mỹ và Trung Quốc? Cứ cho rằng bây
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 9(145) – 2013
72
ViÖt Nam gi÷a Mü vμ Trung Quèc….
giờ là năm 2010. ... Các công ty của Mỹ
đang khai thác các mỏ dầu ở Biển Đông chủ
yếu dưới sự bảo trợ của Trung Quốc với tốc
độ nhanh chóng, nhưng một số khu vực
riêng biệt lại nằm dưới sự kiểm soát của Việt
Nam. Với những khả năng triển khai lực
lượng mới của mình, sự tự tin của Trung
Quốc sẽ ngày càng tăng và Trung Quốc
tuyên bố thiết lập toàn quyền kiểm soát trên
vùng biển này (Trung Quốc luôn tranh chấp
chủ quyền đối với vùng biển này). Việt Nam
sẽ chống lại và các cuộc giao tranh giữa tàu
chiến Trung Quốc và Việt Nam bắt đầu. Để
rửa nỗi nhục năm 1979, người Trung Quốc
tràn sang Việt Nam…, lực lượng bộ binh
Trung Quốc tiến vào và chiếm đóng phần
Mức độ nghiêm trọng của các tranh chấp
tại Biển Đông là do ý nghĩa đặc biệt quan
trọng về kinh tế và địa chính trị, bởi lẽ người
ta cho rằng tại thềm lục địa Biển Đông có trữ
lượng lớn dầu và khí đốt, đồng thời chạy qua
khu vực này là tuyến đường thương mại
chính và tuyến đường trọng điểm vận
chuyển dầu từ Trung Đông sang Đông Á,
bởi lẽ về tổng thể, mặc dù có nhiều mỏ dầu,
nhưng khu vực này vẫn là khu vực nhập
khẩu ròng nguyên liệu hydrocarbon. Trong
bối cảnh hiện nay, thậm chí trong tương lai
xa, việc Trung Quốc hoặc một số nước Đông
Nam Á láng giềng thiết lập quyền kiểm soát
trên Biển Đông đều làm Washington quan
ngại, bởi lẽ điều đó có thể tạo ra mối đe dọa
tiềm năng ảnh hưởng đến các đồng minh lớn
của Mỹ trong khu vực với những hậu quả địa
chính trị rõ ràng. Bất kỳ một phương án nào
nhằm giải quyết tranh chấp lãnh thổ ở Biển
Đông đều ảnh hưởng trực tiếp không chỉ đến
các quốc gia ven biển, những nước bị lôi kéo
trực tiếp vào các cuộc tranh chấp, mà còn
đến hầu như toàn bộ khu vực Đông Á.
lớn đất đai Việt Nam”(30)
.
Nhất định Hà Nội phải quan tâm đến cách
tiếp cận này, chưa kể Việt Nam còn nhớ rất
rõ Samuel Huntington từ thời chiến tranh
Đông Dương lần thứ hai.
Hoạt động chính sách đối ngoại của Mỹ
trong khu vực Đông Nam Á
Chính phủ Hoa Kỳ đã tiến hành các bước
thực tế nào để cân bằng tình thế ở Đông
Nam Á, đặc biệt là xung quanh vấn đề Biển
Đông. Điều này đặc biệt cấp thiết trong bối
cảnh của các hoạt động mà Bắc Kinh tiến
hành gần đây để giải quyết các vấn đề tranh
cãi tại Biển Đông. Hoạt động này làm các
nước trong khu vực Đông Nam Á rất lo lắng,
và để đối trọng với ảnh hưởng ngày càng
tăng của Trung Quốc một số nước đã viện
tới sự trung gian của Hoa Kỳ, nước có thể
giải quyết nhiệm vụ này một cách chuyên
nghiệp cao và đương nhiên điều này, làm
Bắc Kinh không giấu nổi sự bất bình.
Vào cuối những năm 1980, khi mức độ
nghiêm trọng của vấn đề dầu lửa còn chưa
gay gắt như hiện nay, trong trận hải chiến,
tại các đảo tranh chấp Hải quân Trung Quốc
đã đánh chìm ba tàu chiến của Việt Nam còn
các công ty dầu mỏ nước ngoài đã nhận
được một cảnh báo rõ ràng không nên ký kết
các thỏa thuận thăm dò dầu trên vùng lãnh
thổ tranh chấp ở Biển Đông với Việt Nam.
Kể từ đó, Trung Quốc không ngừng mở rộng
khu vực kiểm soát (trên) thực tế ở Biển
Đông. Sự gia tăng căng thẳng giữa Mỹ và
Trung Quốc trong khu vực sẽ tạo ra cuộc
chạy đua vũ trang chưa từng có trong lịch sử
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 9(145) – 2013
73
Kolotov v.n
tại khu vực Đông Á. “Theo số liệu của Viện nghĩa là Bắc Kinh quan tâm đặc biệt đến các
Nghiên cứu Những vấn đề Hòa bình Quốc tế
Stockholm, khối lượng vũ khí mua sắm của
các nước trong khu vực từ năm 2005 đến
năm 2009 đã tăng gấp đôi so với 5 năm
trước”(31). Chuyên gia Nga V.A. Skosyrev
lưu ý đến thực tế là “sự tăng cường vị thế
của Trung Quốc trong khu vực Đông Á đã
làm cho các nước láng giềng lo lắng. Gần
đây, lần đầu tiên trong ba thập kỷ qua, Nhật
Bản đã tuyên bố sẽ tăng cường hạm đội tàu
ngầm của mình. Trước đó, Việt Nam,
Singapore và Malaysia đã mua sắm tàu
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Biển
Đông ngang với các vấn đề Tây Tạng và Đài
Loan. Cách tiếp cận này đã làm các quốc gia
có liên quan tại Đông Nam Á lo lắng, đặc
biệt là Việt Nam và Philippines, vì hai nước
sẽ vô cùng khó khăn trong việc giải quyết
những vấn đề này với Trung Quốc theo
nguyên tắc song phương.
Nhằm giảm bớt vai trò nhân tố Trung
Quốc trong tranh chấp về vấn đề Biển Đông
“Hilary Clinton đề nghị Mỹ hỗ trợ xây dựng
cơ chế hòa giải quốc tế nhằm giải quyết
những tuyên bố chồng chéo về chủ quyền tại
Biển Đông giữa Trung Quốc, Đài Loan,
Philippines, Việt Nam, Indonesia và
Malaysia. Đối với Trung Quốc, sự can thiệp
ngầm”(32)
.
Theo cựu Bộ trưởng Quốc phòng Nhật
Bản và Cố vấn an ninh quốc gia Yuriko
Koike: “Một nỗi sợ hãi chung đã xuất hiện
tại châu Á cho rằng, Trung Quốc đang tìm
cách sử dụng sức mạnh hàng hải ngày càng
mạnh không chỉ để thống trị vùng biển giàu
tài nguyên hydrocarbon tại Biển Đông, mà
còn để kiểm soát các tuyến đường biển hiện
đang là những tuyến nhộn nhịp nhất trên thế
giới. Vì vậy, tin tức về việc bà Clinton tăng
cường chú trọng đối với an ninh hàng hải
của Mỹ tại các vùng biển xung quanh Trung
Quốc, trực tiếp tham gia các cuộc tập trận
hải quân và không quân chung với Hàn
Quốc ngoài khơi bờ biển phía Đông của bán
đảo Triều Tiên, đã được các nước đón nhận.
Ngoài ra, quan hệ quân sự giữa Mỹ và các
đơn vị tinh nhuệ nhất của các lực lượng vũ
trang Indonesia - bị đình chỉ trong nhiều thập
kỷ - đã được khôi phục trong chuyến công
của bà Clinton là một cú sốc”(34)
.
Trong bối cảnh ảnh hưởng khu vực của
Trung Quốc gia tăng, tại Việt Nam người
dân vô cùng lo lắng nhớ lại rất nhiều cuộc
chiến tranh trước kia với Trung Quốc bắt
đầu từ thế kỷ thứ III trước Công nguyên.
Hơn hai ngàn năm qua, tại Việt Nam có một
quy luật lịch sử nhất định: Mỗi khi Trung
Quốc ổn định và tăng trưởng thì Việt Nam
lại phải đối đầu với cuộc xâm lược tàn phá
từ phía Bắc. Ký ức lịch sử nêu rõ “làm bạn
với anh em xa chống láng giềng gần”, theo
đó Hoa Kỳ có thêm cơ hội lợi dụng tình thế
có lợi cho mình.
Về phần mình, Bắc Kinh cũng luôn thận
trọng theo dõi các hoạt động của Hoa Kỳ tại
biên giới phía Nam. Rõ ràng, việc sử dụng
khéo léo nhân tố Việt Nam có thể ngăn chặn
hoặc đẩy nhanh việc mở rộng chiến lược của
Trung Quốc ở phía Nam. Sự phát triển của
tình hình theo các phương án khác nhau đang
du châu Á của bà Clinton”(33)
.
Mùa xuân năm 2010, Bắc Kinh tuyên bố
Biển Đông, là "khu vực lợi ích cốt lõi" có
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 9(145) – 2013
74
ViÖt Nam gi÷a Mü vμ Trung Quèc….
được nghiên cứu, không chỉ ở Washington,
Bắc Kinh, Hà Nội và Moscow. Các nhà quan
sát hữu quan quan tâm đến tình hình địa chính
trị đang hình thành, nghi ngờ lẫn nhau và diện
mạo tương lai giữa các đồng minh và đối thủ
tiềm năng như thế nào vẫn chưa rõ ràng.
Nhưng có một điều hiển nhiên là, đang có một
“cuộc chiến giành Việt Nam”(35).
vực. Đây là đánh giá kết quả chuyến thăm
của chuyên gia Nhật Bản có uy tín: “Chuyến
thăm của bà Clinton đã đưa ra một tín hiệu
rất rõ ràng rằng, nước Mỹ chưa sẵn sàng
chấp nhận yêu sách bá chủ khu vực của
Trung Quốc. Đằng sau hậu trường Hội nghị
thượng đỉnh của Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á (ASEAN) tại Hà Nội, bà Hillary
Clinton đã chất vấn Bộ trưởng Ngoại giao
Trung Quốc Dương Khiết Trì về yêu sách
chủ quyền quần đảo Trường Sa ở Biển Đông
của Bắc Kinh vào lúc này là "lợi ích cốt lõi."
Theo định nghĩa này, Trung Quốc coi các
đảo (Việt Nam và Philippines đang tranh
chấp quyền chiếm hữu) như một phần của
lục địa giống như Tây Tạng và Đài Loan, coi
bất kỳ sự can thiệp từ bên ngoài nào đều là
Một trong những vấn đề cấp bách nhất
hiện nay trong chính sách đối ngoại của Việt
Nam có thể là: Làm thế nào để đối phó với
một số nước Đông Nam Á đang ngả dần về
Bắc Kinh? Do vậy, có thể có ba phương án
thực tiễn cho các giải pháp: Thân với Trung
Quốc chống lại Hoa Kỳ, thân với Hoa Kỳ
chống lại Trung Quốc, vận động khéo léo
giữa hai trung tâm quyền lực này. Với bất kỳ
phương án nào thì khả năng Việt Nam trở
thành nạn nhân của chính sách toàn cầu theo
kịch bản Afghanistan là rất cao. Vì vậy, cần
lưu ý rằng, đối với Việt Nam thì “Không có
gì quý hơn độc lập tự do”, mà nhân dân Việt
Nam đã rất vất vả mới đạt được, vì vậy theo
đuổi chính sách đối ngoại theo Bắc Kinh hay
theo Washington đều là mối đe dọa mất chủ
quyền. Với những bài học lịch sử, thì quốc
gia lân bang sẽ là quốc gia nguy hiểm hơn.
Hà Nội thường theo đuổi một chiến lược vận
động khéo léo giữa các cường quốc, ở cấp
độ khu vực, Việt Nam cố tiến hành chính
sách mềm mỏng hơn đối với các nước yếu
hơn trên bán đảo Đông Dương. Kết quả
quyết định của Hà Nội sẽ có hậu quả sâu
rộng không chỉ đối với khu vực Đông Nam
Á, mà còn cho toàn bộ khu vực Đông Á.
điều cấm kỵ”(36)
.
Mùa hè năm 2010 cũng ghi nhận dấu ấn
gia tăng hoạt động quân sự của Hoa Kỳ,
nước đã tổ chức tập trận với Hàn Quốc và
Việt Nam gần vùng lãnh hải của Trung
Quốc. Washington bắt đầu tích cực hơn quan
hệ với các nước e ngại ảnh hưởng ngày càng
tăng của Bắc Kinh trong khu vực. Theo A.V.
Fenenko “Bắc Kinh coi sự gia tăng hoạt
động quân sự của Mỹ trong khu vực châu Á-
Thái Bình Dương là nỗ lực của Nhà Trắng
can thiệp vào tranh chấp lãnh thổ giữa Trung
Quốc với các nước láng giềng”(37)
.
Theo logic gia tăng ngoại vi để kiềm chế
hoàn toàn thích hợp với chính sách lôi kéo
Việt Nam của Washington. Gần đây, các
cuộc tiếp xúc ở các cấp độ khác nhau giữa
Việt Nam và Hoa Kỳ tăng lên đáng kể. Và
thậm chí đã diễn ra những sự kiện ấn tượng
như lần đầu tiên kể từ sau chiến tranh Đông
Trong chuyến thăm mùa hè sang Việt
Nam, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã
thảo luận về các vấn đề quan trọng trong khu
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 9(145) – 2013
75
Kolotov v.n
Dương lần thứ hai (1964-1975) tàu sân bay giao công nghệ hạt nhân dân sự. Có thể,
Mỹ đã đến thăm Việt Nam. Trong bối cảnh bằng cách này, Hoa Kỳ đang cố gắng cân
này, thì các cuộc phỏng vấn các quân nhân Mỹ bằng với các lực lượng hạt nhân "thân Trung
gốc Việt của báo giới Việt Nam là rất ấn Quốc" của Bình Nhưỡng ở phía Bắc, bằng
tượng. Washington cũng tích cực mở rộng hợp việc xây dựng tại phía Nam "mặt trận chiến
tác hạt nhân với Hà Nội. Trong chuyến thăm lược phía Đông" một đối trọng hạt nhân khu
của bà Hillary Clinton, hai bên đã thảo luận về vực chống lại chính sách "hiếu chiến" của
khả năng các công ty Mỹ tham gia xây dựng Trung Quốc?
các nhà máy điện hạt nhân ở Việt Nam, hai
bên cũng tiến hành đàm phán về việc Mỹ
chuyển giao nhiên liệu hạt nhân và công nghệ
cho Việt Nam, điều này giúp Việt Nam tự
Ngày 22-11-2011, tại Đại hội đồng lần
thứ 8 của Hội đồng hợp tác an ninh châu Á-
Thái Bình Dương (CSCAP), Đại sứ Mỹ tại
Việt Nam David Sher nhấn mạnh rằng
không thể có chuyện Hoa Kỳ kiềm chế
làm giàu uranium cho mục đích dân sự(38)
.
Trong một bài viết của mình, Đô đốc Hải Trung Quốc và rằng đây là một giải thích sai
quân đã nghỉ hưu, nguyên chỉ huy trưởng lầm về những ý định của Washington. Tuy
Hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ và là nhiên, một số sự kiện lại mâu thuẫn với
đại diện quân sự cấp cao của Mỹ tại Liên những tuyên bố chính trị. Mới đây Barack
hợp quốc, James Lyons đã đánh giá chiến Obama tuyên bố Quan hệ đối tác xuyên Thái
lược hiện nay của Trung Quốc ở Đông Á : Bình Dương mà nhiều chuyên gia cho là một
“Trung Quốc có ý định đẩy Nhật Bản, Hàn đối thủ cạnh tranh với Khu vực mậu dịch tự
Quốc, Úc, Ấn Độ và các nước ASEAN do Trung Quốc-ASEAN. Tổng thống Mỹ
(Hiệp hội các nước Đông Nam Á) vào tình còn tuyên bố tăng cường các căn cứ quân sự
trạng lệ thuộc chiến lược (strategic Mỹ và triển khai thêm các căn cứ quân sự
subordination) và tiêu diệt nền dân chủ ở Đài mới (thí dụ như tại Úc) cũng như tăng ngân
Loan... bắt đầu từ năm 2020 Trung Quốc sẽ sách cho các lực lượng quân sự Mỹ tại Thái
thách thức sự thống trị quân sự toàn cầu của Bình Dương trong khi cắt giảm chi tiêu quân
Mỹ”(39). Nói chung, bài viết đã sử dụng rất sự trong các khu vực khác trên thế giới. Mặc
nhiều thuật ngữ mang tính ý thức hệ thời kỳ dù còn nhiều câu hỏi về vấn đề này và những
chiến tranh lạnh. Đặc biệt, còn khẳng định: vấn đề khác của những người tham gia hội
“Tổ chức Hợp tác Thượng Hải là liên minh nghị, nhưng ngài Đại sứ từ chối trả lời, viện lý
của các chế độ độc tài”(40). Để chống lại “sự do bận việc và rời khỏi phòng họp.
xâm lược Cộng sản của Trung Quốc" tại
châu Á, Hoa Kỳ "cần thể hiện cho thế giới
biết rằng những nguy cơ Cộng sản không thể
đe dọa nổi nền dân chủ hàng đầu thế giới”(41)
và Mỹ sẵn sàng hợp tác ngay cả với những
người cộng sản Việt Nam, kể cả việc chuyển
So với thời kỳ Xô-viết, vai trò của Nga
trong khu vực Đông Á bị giảm đi đáng kể.
Sau những "cải cách" vào những năm 1990,
Nga vẫn còn quá yếu để tham gia vào cuộc
chiến bảo vệ lợi ích và ảnh hưởng của mình
thậm chí chỉ ở khu vực Đông Nam Á. Mặc
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 9(145) – 2013
76
ViÖt Nam gi÷a Mü vμ Trung Quèc….
Triều Tiên, ở Nhật Bản, Đài Loan và, tất
nhiên ở cả Việt Nam lại mạnh mẽ như vậy,
và đây có thể là những điều kiện thuận lợi
khi gia nhập liên minh. Với khuôn khổ được
tăng cường đáng kể so với thời gian chiến
tranh lạnh, mặt trận chiến lược trung tâm
cũng sẽ được đẩy mạnh hơn theo hướng
Tây-Bắc Trung Quốc.
dù những chỉ tiêu kim ngạch thương mại với
khu vực còn rất khiêm tốn, nhưng hiện tại
vẫn còn nhiều khả năng thay đổi cán cân
quyền lực trong khu vực bằng cách tổ chức
cung cấp hệ thống vũ khí tấn công hay
phòng thủ tiên tiến.
*
* *
Tạm thời, có thể kết luận rằng, lần đầu
tiên kể từ cuộc khủng hoảng năm 1997-
1998, Hoa Kỳ đã thành công trong việc tham
gia tích cực vào các trò chơi địa chính trị
trong khu vực. Một số chính trị gia và
chuyên gia châu Á cho rằng, nếu những hậu
quả của cuộc khủng hoảng tài chính 1997-
1998 do Hoa Kỳ phát động đã được Bắc
Kinh lợi dụng để triển khai dự án xây dựng
một Đông Nam Á thân Trung Quốc, thì hiện
nay có thể thấy rằng, những áp lực gia tăng
từ Bắc Kinh đối với các nước nhỏ Đông
Nam Á về vấn đề Biển Đông, làm cho các
quốc gia này lo lắng đến mức Hoa Kỳ có thể
lợi dụng tình hình một cách khôn ngoan với
việc ủng hộ các nước "nhỏ và bị áp bức".
Bằng cách này, Hoa Kỳ có thể tham gia một
cách khôn khéo vào các cuộc đối thoại về
các vấn đề an ninh khu vực thậm chí sau này
Chó thÝch:
(1) Вандам А.Е. Наше положение. // Восток
и Запад против России. Неуслышанные пророки
грядущих войн. М., 2004. С. 90.
(2) Brzezinski Z. The Sino-Soviet Bloc and
Three Central Strategic Fronts // The Grand
Chessboard:
Geostrategic Imperatives, 1997. P. 31.
(3), (4), (5), (6), (7), (8), (9) Ibid. P. 39, P.30,
P.31, P.6, P.7
American
Primacy
and
Its
(10) Map by Brzezinski Z. The Sino-Soviet
Bloc and Three Central Strategic Fronts // The
Grand Chessboard: American Primacy and Its
Geostrategic Imperatives, 1997. P. 7.
(11) Шубин В.В. Кампучия: суд народа. М.,
Юридическая литература. 1980. С. 13, 118-141.
(12) Clymer K.J. The United States and
Cambodia, 1969-2000: a troubled relationship.
Ruotledge Curzon. NY, 2004. P.110.
(13), (14) Ibid. P.118.
(15) McNamara R.S. In retrospect. The tragedy
có thể thành lập một liên minh các nước bất and lessons of Vietnam. Times books. NY. 1995. P.
321.
mãn và lợi dụng họ nhằm thực hiện chính
(16) Brzezinski Z. The Grand Chessboard:
sách truyền thống kiềm chế những tham
American
Primacy
and
Its
Geostrategic
vọng ngày càng tăng của Trung Quốc.
Chuyến viếng thăm mùa hè của Ngoại
trưởng Mỹ Hillary Clinton tới châu Á là
nhằm giải quyết những nhiệm vụ này, trong
đó Hoa Kỳ đã đẩy mạnh các mối quan hệ
theo tuyến mặt trận chiến lược phía Đông
thời kỳ chiến tranh lạnh. Đó là lý do tại sao
những lời lẽ chống Trung Quốc trên bán đảo
Imperatives, 1997. P.7.
(17) Сорос Дж. Реформируя глобальный
капитализм. М., 2001. С. 285.
(18) Кобяков А.Б., Хазин М.Л. Закат
империи доллара и конец «Pax Americana». М.,
2003. С. 312.
(19), (20) Там же. С. 315, C.307.
(21) Мосяков Д.В. Некоторые аспекты
китайской современной политики
в
Юго-
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 9(145) – 2013
77
Kolotov v.n
Восточной Азии // Юго-Восточная Азия в 2003 г.
Актуальные проблемы развития. М., 2004. С. 15.
(33) Yuriko Koike. Hillary’s Kissinger Moment
koike8/English
(22) Там же. С. 15.
(34) Ibid.
(23) «… three grand imperatives of imperial
geostrategy are to prevent collusion and maintain
(35) Kolotov V.N. Main Trends of Russia’s
security dependence among the vassals, to keep Foreign Policy in Transforming East and Southeast
tributaries pliant and protected, and to keep the Asia // Brookings Northeast Asia Commentary |
The Grand Chessboard: American Primacy and Its 2008/04_asia_kolotov.aspx
Geostrategic Imperatives, 1997. Р. 40.
(36) Yuriko Koike. Hillary’s Kissinger Moment
kitaiskoi-moschi-14959
koike8/English
(37) Фененко
А.В.
Дальневосточная
(25) Бистон Р. Назад в СССР? Это еще стратегия Вашингтона. Американо-китайские
бабушка надвое сказала. ("The Times", противоречия создают трудности для
20101013/163571671.html
.ru/politics/2010-09-01/3_kartblansh.html
(26) Пушков А.К. Китай успешно создает
(38) Solomon Jay. U.S., Hanoi in Nuclear
свою
собственную
зону
влияния
// Talks. Vietnam Plan to Enrich Uranium May
http://www.oko-planet.su/politik/ politikmir/28980- Undercut Nonproliferation Efforts, Rile China //
aleksej-pushkov-kitaj-uspeshno-sozdaet-svoyu.html The Wall Street Journal.
(27) Ломанов А.В. Внимание России и Китая
в
globalaffairs.ru/articles/10195.html
EUROPE_hpp_LEFTTopStories
(39), (40), (41) Lyons J.A. LYONS:
(28) Цит по: Лукин А. «Китайская мечта» и
number/Kitaiskaya-mechta-i-buduschee-Rossii-
14857
dictatorship presents trouble in Asia and abroad //
tontimes.com/news/2010/oct/18/countering-chinas-
aggression/
(29) Bower E.Z. China’s activities in Southeast
Asia and implications for U.S. interests. Statement
before the U.S.-China Economic & Security.
100204_bower_testimony.pdf
tμi liÖu tham kh¶o
1. Bower E.Z. China’s activities in
Southeast Asia and implications for U.S. interests.
Statement before the U.S.-China Economic &
100204_bower_testimony.pdf
(30) Huntington S. The Clash of Civilizations.
New York. Simon and Schuster, 1996. P. 312-313.
(31)
Скосырев В.А.
Соседи Китая
вооружаются чем могут. Американские военные
возвращаются во Вьетнам 2010-08-10
html
/
2. Brzezinski Z. The Grand Chessboard:
American
Primacy
and
Its
Geostrategic
Imperatives, 1997.
(32) Скосырев В.А. США вмешались в спор
Китая с соседями. Вашингтон ищет новых
партнеров в Юго-Восточной Азии. 2010-07-28 /
3. Clymer K.J. The United States and
Cambodia, 1969-2000: a troubled relationship.
wsj.com/article/SB10001424052748704741904575
28/5_china_usa.html
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 9(145) – 2013
78
ViÖt Nam gi÷a Mü vμ Trung Quèc….
409261840078780.html?mod=WSJEUROPE_hpp_
LEFTTopStories
15. Лукин А.В. «Китайская мечта»
и
будущее России. (A.V. Lukin "Giấc mơ Trung
globalaffairs.ru/number/Kitaiskaya-mechta-i-
buduschee-Rossii-14857
4. Huntington S. The Clash of Civilizations.
New York. Simon and Schuster, 1996.
5. V.N. Main Trends of Russia’s Foreign
Policy in Transforming East and Southeast Asia //
Brookings Northeast Asia Commentary | Number
asia_kolotov.aspx
16. Мосяков Д.В. Некоторые аспекты
китайской современной политики
в
Юго-
Восточной Азии // Юго-Восточная Азия в 2003 г.
Актуальные проблемы развития. М., 2004.
(Mosyak D.V. Một số khía cạnh của chính trị đương
đại của Trung Quốc ở Đông Nam Á / / Đông Nam Á
năm 2003. Những vấn đề sự phát triển cấp bách).
6. Lyons J.A. LYONS: Countering China's
aggression. Communist dictatorship presents
trouble in Asia and abroad // The Washington
2010/oct/18/countering-chinas-aggression/
17. Пушков А.К. Китай успешно создает
свою собственную зону влияния (Pushkov A.K.
Trung Quốc xây dựng thành công khu vực ảnh
politik/politikmir/28980-aleksej-pushkov-kitaj-
uspeshno-sozdaet-svoyu.html
7. McNamara R.S. In retrospect. The tragedy
and lessons of Vietnam. Times books. NY. 1995.
8. Solomon Jay. U.S., Hanoi in Nuclear
Talks. Vietnam Plan to Enrich Uranium May
Undercut Nonproliferation Efforts, Rile China //
The Wall Street Journal.
18. Скосырев
вооружаются чем могут. Американские военные
возвращаются во Вьетнам 2010-08-10
В.А.
Соседи
Китая
/
9. Yuriko Koike. Hillary’s Kissinger
(Skosyrev V.A. Các nước láng giềng của Trung
Quốc vũ trang bị bằng mọi thứ có thể. Quân đội Mỹ
10/7_vietnam.html
Moment
//
commentary/koike8/English
10. Бистон Р. Назад в СССР? Это еще
бабушка надвое сказала. (Beeston R. Trở lại Liên
Xô? Từ thời bà ngoại đã từng nói thế) ("The
politic/20101013/163571671.html
19. Скосырев В.А. США вмешались в спор
Китая с соседями. Вашингтон ищет новых
партнеров в Юго-Восточной Азии. 2010-07-28 /
(Skosyrev V.A. Hoa Kỳ can thiệp vào tranh chấp
giữa Trung Quốc với các nước láng giềng.
Washington đang tìm kiếm đối tác mới ở Đông
china_usa.html
11. Вандам А.Е. Наше положение. // Восток
и Запад против России. Неуслышанные пророки
грядущих войн. М., 2004. (Vandam A.E. Vị thế
của chúng ta. / /Phương Đông và phương Tây
chống nước Nga. Những tiên đoán chưa từng nghe
về các cuộc chiến tranh trong tương lai. M., 2004
20. Сорос Дж. Реформируя глобальный
капитализм. М., 2001. (George Soros Cải cách tư
bản toàn cầu)
12. Каплан Р. География китайской мощи
(Kaplan R. Địa lý quyền lực Trung Quốc)
kitaiskoi-moschi-14959
21. Фененко
стратегия Вашингтона. Американо-китайские
противоречия создают трудности для
А.В.
Дальневосточная
13. Кобяков А.Б., Хазин М.Л. Закат
империи доллара и конец «Pax Americana». М.,
2003. (Kobiakov A.B., M.L. Hazin. Buổi hoàng
hôn của đế chế đô la và sự kết thúc của «Pax
Americana»)
российского Дальнего Востока (Fenenko A.V.
Chiến lược Viễn Đông của Washington. Mâu thuẫn
Mỹ-Trung Quốc gây khó khăn cho vùng Viễn Đông
01/3_kartblansh.html
14. Ломанов А.В. Внимание России
и
22. Шубин В.В. Кампучия: суд народа. М.,
Юридическая литература. 1980. (Vladimir
Shubin. Campuchia: tòa án của nhân dân)
Китая обращено в одну сторону (Lomanov A.V.
Nga và Trung Quốc cùng chú ý sang một hướng) //
Nghiªn cøu Trung Quèc sè 9(145) – 2013
79
Bạn đang xem tài liệu "Việt Nam giữa Mỹ và Trung Quốc: Phân tích lịch sử và chính trị tình hình đại chính trị hiện tại trong khu vực", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
viet_nam_giua_my_va_trung_quoc_phan_tich_lich_su_va_chinh_tr.pdf

