Vi phạm cơ bản hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của CISG 1980 và pháp luật Việt Nam

VI PHẠM CƠ BẢN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA  
THEO QUY ĐỊNH CỦA CISG 1980 VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM  
NGUYỄN THỊ KHÁNH* - PHẠM VŨ TÚ NAM**  
Pháp luật Việt Nam hiện hành và Công ước Viên của Liên hợp quốc 1980 về Hợp đồng mua bán  
hàng hóa quốc tế (CISG 1980) vẫn tồn tại những điểm chưa tương thích về vi phạm cơ bản trong  
hợp đồng mua bán hàng hóa. Bài viết tập trung làm rõ những điểm tương đồng và sự khác biệt về  
vi phạm cơ bản, từ đó đúc kết những kinh nghiệm cho Việt Nam.  
Từ khóa: CISG 1980, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, vi phạm cơ bản.  
Ngày nhận bài: 05/4/2021; Biên tập xong: 12/4/2021; Duyệt đăng: 15/4/2021  
The current Vietnamese laws and the United Nations Convention on Contracts for the  
International Sale of Goods (Vienna, 1980 - CISG) still have witnesses many disagreements  
about fundamental breach of contracts for the international sale of goods. This article focuses  
on clarifying the similarities and differences on fundamental breach of contracts to present  
experience for Vietnam.  
Keywords: CISG 1980, contracts for the international sale of goods, fundamental breach.  
ó thể thấy, giữa các quy định của năm 2005  
Luật thương mại (LTM) Việt Nam  
Nhìn chung, LTM năm 2005 và CISG  
C
năm 2005 và CISG 1980 tồn tại tình  
trạng thiếu nhất quán đối với thuật ngữ  
pháp lý “vi phạm cơ bản hợp đồng”. Trong khi  
đó, vi phạm cơ bản là sự kiện pháp lý làm  
phát sinh quyền khác của các bên1 như: Buộc  
thực hiện đúng hợp đồng, bồi thường thiệt  
hại... và đặc biệt là hủy hợp đồng.2 Đứng  
trước xu hướng gia tăng không ngừng về số  
lượng tranh chấp liên quan đến hợp đồng  
xuất nhập khẩu hàng hóa giữa các thương  
nhân Việt Nam và đối tác nước ngoài, LTM  
năm 2005 vẫn cần được xem xét, chỉnh lý  
theo hướng tạo sự tương thích với các văn  
bản pháp luật quốc tế (trong đó có CISG  
1980).  
1980 đều có quy định về khái niệm “vi phạm  
cơ bản hợp đồng”, các yếu tố xác định tính cơ  
bản của hành vi vi phạm nghĩa vụ đã thỏa  
thuận. Tuy nhiên, những quy định này còn  
chứa đựng những khác biệt nhất định. Cụ  
thể như sau:  
1.1. Vi phạm cơ bản hợp đồng theo quy  
định của CISG 1980  
Tại Hội nghị của Ủy ban Liên hợp quốc về  
Luật thương mại quốc tế vào ngày 11/4/1980  
tại Viên (Áo), khái niệm “vi phạm cơ bản hợp  
đồng” đã được Ủy ban sửa đổi, bổ sung và  
được thông qua với nội dung như sau: “Một  
sự vi phạm hợp đồng do một bên gây ra là vi  
phạm cơ bản nếu tổn hại gây ra tước đi đáng kể  
những gì bên bị thiệt hại có quyền kỳ vọng trên  
cơ sở hợp đồng, trừ khi bên vi phạm không tiên  
liệu được hậu quả đó và một người có lý trí cũng  
sẽ không tiên liệu được nếu họ ở vào hoàn cảnh  
tương tự.”3  
1. Vi phạm cơ bản hợp đồng theo quy  
định của CISG 1980 và Luật thương mại  
1ꢀ Jorge Ivan Salazar Tamez (2007), The CISG Remedies of  
SpecificPerformance, DamagesandAvoidance, Comparedto  
the Equivalent in the Mexican Law on Sales, Nxb Proquest  
Information and Learning Company, Mexico.  
2ꢀ Xem thêm các Điều 46.2, 49.1.a, 51.2, 64.1.a, 72.1, và * Thạc sĩ, Giảng viên Khoa Pháp luật quốc tế, Trường  
73.1.2 CISG 1980.  
Đại học Kiểm sát Hà Nội  
132 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
NGUYỄN THỊ KHÁNH - PHẠM VŨ TÚ NAM  
Có thể thấy, khía cạnh quan trọng nhất chậm giao hàng (đặc biệt đối với hàng hóa  
để xác định tính cơ bản của vi phạm hợp theo mùa vụ)7, giao hàng không phù hợp  
đồng theo quy định tại Điều 25 CISG 1980 nếu người mua không thể sử dụng, bán lại  
là tổn hại do vi phạm dẫn tới bên bị vi phạm hay để sử dụng cho mục đích sản xuất, mục  
bị tước đi đáng kể những điều họ có quyền đích khác8,…; người mua không nhận hàng9,  
kỳ vọng từ hợp đồng. Hội đồng cố vấn CISG không thanh toán tiền hàng10; tài liệu đi kèm  
1980 đã nhấn mạnh mức độ nghiêm trọng không có hoặc không phù hợp với hàng hóa  
khiến người mua không thể bán lại hàng11…;  
của hành vi vi phạm phải được xác định  
bằng cách tham khảo các lợi ích hứa hẹn như  
đã thỏa thuận và giới hạn trong hợp đồng4.  
Bên cạnh đó, CISG 1980 không chỉ cân nhắc  
đến quyền kỳ vọng của bên bị vi phạm mà  
còn xem xét tới khả năng nhận thức của bên  
vi phạm đối với hậu quả hành vi của mình  
trên cơ sở khách quan một người có lý trí ở  
vào hoàn cảnh tương tự. Cụ thể:  
Uy tín kinh doanh bị tổn hại cũng được  
xem là thiệt hại đáng kể, thường liên quan  
đến vi phạm về chất lượng hàng hóa, gây ra  
tổn thất cho người mua về uy tín kinh doanh  
khi người mua bán lại hàng hóa cho khách  
hàng của mình. Tổn thất về uy tín được coi  
là vi phạm cơ bản ngay cả khi người bán  
chỉ ra được rằng hàng hóa được giao không  
phù hợp với hợp đồng vẫn có thể bán được  
trên thực tế và giúp người mua thu được lợi  
nhuận nhưng việc bán đi ảnh hưởng đến uy  
tín của người mua12;  
(i) Yếu tố tổn hại  
Tổn hại cấu thành vi phạm cơ bản hợp  
đồng phải là tổn hại đáng kể (fundamental  
detriment). Ban thư ký của Ủy ban Liên hợp  
quốc về Luật thương mại quốc tế nhấn mạnh  
điều này và khẳng định việc xác định tổn hại  
đối với kỳ vọng có đáng kể hay không sẽ do  
các cơ quan tài phán có thẩm quyền quyết  
định và phải dựa vào các tình huống thực  
tế5.  
truy cập ngày 12/09/2020  
7ꢀ Canada (2003), Tòa Công lý tối cao tại Ontario,  
Diversitel Communications Inc. v. Glacier Bay Inc.  
Nguồn truy cập:  
case/1189, truy cập ngày 12/09/2020  
8ꢀ Spanish (1993), Tòa án quận Ellwangen, Vụ tranh  
chấp về hạt tiêu paprika. Nguồn truy cập: hꢁp://www.  
unilex.info/cisg/case/145, trích dẫn ngày 10/09/2020.  
USA (1995), Tòa phúc thẩm Liên bang Hoa kỳ, Vụ  
Delchi v. Rotorex. Nguồn truy cập: hꢁp://www.  
unilex.info/cisg/case/157, trích dẫn ngày 12/09/2020.  
Germany (2007), Tòa phúc thẩm Koblenz, Vụ Shoe.  
case/1380, trích dẫn ngày 12/09/2020.  
Do khái niệm vi phạm cơ bản còn rất  
mơ hồ nên thực tiễn áp dụng Điều 25 CISG  
trong giải quyết các tranh chấp về hợp đồng  
mua bán hàng hóa quốc tế cho thấy cơ quan  
tài phán có cách xác định và đo lường mức  
độ nghiêm trọng của thiệt hại rất khác nhau.  
Qua nghiên cứu án lệ có liên quan, yếu tố  
tổn hại đáng kể được thể hiện thông qua  
một số tiêu chí sau:  
9ꢀ Olof Clausson (1986), “Avoidance in non-payment  
situations and fundamental breach under the 1980 U.N  
Convention on contracts for the international sale of  
goods”, N.Y.L.Sch.J.Int’l & Comp.L, No.6.  
Mục đích hợp đồng không đạt được có  
thể xảy ra khi người bán không giao hàng6,  
10ꢀ Vietnam (1996), Tòa án nhân dân tối cao tại Thành  
phố Hồ Chí Minh, Vụ monosodium glutamate. Nguồn  
** Cử nhân Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội  
3ꢀ Xem: Điều 25 CISG 1980.  
4ꢀ Council, CISG Advisory Council Opinion No.5. Nguồn cập ngày 12/09/2020. USA (2009), Tòa án bang New  
AC-op5.html#1.  
info/cisg/case/1451, truy cập ngày 12/09/2020  
5ꢀ UNCITRAL Secretariat, Explanatory Note by the 11ꢀ China (2006), Trọng tài Kinh tế và Thương mại Quốc tế  
UNCITRAL Secretariat on the United Nations Convention CIETAC, Vụ Fluorite. Nguồn truy cập: hꢁp://cisgw3.law.  
on Contracts for the International Sale of Goods. Nguồn truy pace.edu/cases/060200c1.html, truy cập ngày 11/09/2020  
12ꢀ Germany (1994), Tòa án quận Landshut, Vụ Sport  
6ꢀ Finland (1997), Tòa phúc thẩm Phần Lan, Vụ buꢀer. clothing. Nguồn truy cập: hꢁp://www.unilex.info/  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 133  
VI PHẠM CƠ BẢN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA...  
Khả năng khắc phục, sửa chữa vi phạm cũng  
Khả năng tiên liệu được đánh giá thông  
là một trong những dấu hiệu xác định yếu qua kiến thức, kinh nghiệm chủ quan của  
tố tổn hại đáng kể theo Điều 25 CISG 1980.  
Nếu vi phạm có thể được sửa chữa nhanh  
chóng và không gây cho người mua trở ngại  
lớn nào thì vi phạm đó có thể được xem xét  
không là vi phạm cơ bản13. Ngược lại, nếu  
bên bị vi phạm không khắc phục được vi  
phạm thì coi như đó là vi phạm cơ bản hợp  
đồng và bên vi phạm có quyền hủy hợp  
đồng14.  
bên vi phạm đặt trong sự so sánh với người  
có lý trí ở hoàn cảnh tương tự về điều kiện  
thị trường, pháp luật, chính trị, môi trường,  
tập quán...17, hoặc có thể dựa vào hợp đồng,  
hoặc sự thỏa thuận về đặc điểm cụ thể hàng  
hóa, mục đích sử dụng hàng hóa…18 Ngoài  
ra, cũng cần lưu ý rằng Điều 25 CISG 1980  
không quy định về thời điểm bên vi phạm  
phải tiên liệu được hậu quả, điều quan trọng  
là vào thời điểm vi phạm hợp đồng, bên vi  
phạm có tiên liệu được hoặc phải tiên liệu  
được tổn hại đáng kể như là hậu quả của  
hành vi vi phạm hợp đồng hay không19.  
(ii) Yếu tố khả năng tiên liệu  
Khái niệm này có thể hiểu là khả năng  
thấy trước hậu quả nghiêm trọng (tổn hại  
đến mức tước đi đáng kể những gì bên bị vi  
phạm có quyền kỳ vọng từ hợp đồng) của  
bên vi phạm đối với hành vi vi phạm. Khả  
năng tiên liệu được quy định tại Điều 25  
CISG 1980 nhằm tránh trường hợp bên bị vi  
phạm hủy hợp đồng khi có tổn hại đáng kể  
xảy ra mà bên vi phạm không thể tiên liệu  
được.15 Điều này có nghĩa rằng, bên vi phạm  
có nghĩa vụ chứng minh họ không thể tiên  
liệu được hậu quả nghiêm trọng khi thực  
hiện hành vi vi phạm hoặc một người có lý  
trí minh mẫn cũng không thể tiên liệu được  
trong hoàn cảnh tương tự.16  
1.2. Vi phạm cơ bản hợp đồng theo quy  
định của pháp luật Việt Nam  
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam về  
hợp đồng, vấn đề vi phạm cơ bản được quy  
định tại Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 và  
LTM năm 2005 nhưng có sự khác nhau trong  
việc sử dụng thuật ngữ. Cụ thể, BLDS năm  
2015 sử dụng thuật ngữ “vi phạm nghiêm  
trọng”, nghĩa là việc không thực hiện đúng  
nghĩa vụ của một bên đến mức làm cho bên  
kia không đạt được mục đích của việc giao  
kết hợp đồng (khoản 2 Điều 423). Trong khi  
đó, LTM năm 2005 lại sử dụng thuật ngữ “vi  
phạm cơ bản”, được giải thích là sự vi phạm  
hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho  
bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt  
được mục đích của việc giao kết hợp đồng  
(khoản 3 Điều 13). Khi áp dụng pháp luật  
cùng một vấn đề, luật chuyên ngành sẽ được  
cisg/case/124, trích dẫn ngày10/1/2019  
13ꢀ France (1995), Tòa phúc thẩm Grenoble, Vụ Marques  
Roque Joachimv. anin Rivière. Nguồn truy cập: hꢁp://  
14ꢀ Germany (1995), Tòa phúc thẩm Oldenburg, Vụ  
tranh chấp Furniture. Nguồn truy cập: hꢁp://www.  
unilex.info/cisg/case/244, trích dẫn ngày 10/09/2020  
15ꢀMaartjeBijl(2009),Fundamentalbreachindocumentary  
sales contracts – The doctrine of strict compliance with the Contracts for the International Sale of Goods’, Temple  
underlying sales contract, reproduced with permission International Law Journal, tr. 121.  
of 1 European Journal of Commercial Contract Law 17ꢀ Alexander Lorenz (1998), Fundamental breach under  
19-28. Nguồn truy cập: hꢁps://www.cisg.law.pace. the CISG. Nguồn truy cập: hꢁps://cisgw3.law.pace.  
edu/cisg/biblio/bijl.html, truy cập ngày 06/12/2020. edu/cisg/biblio/lorenz.html, truy cập ngày 06/12/2020  
Xem thêm: Katrina Winsor (2010), “The Applicability 18ꢀ Spanish (1993), Tòa án quận Ellwangen, Vụ tranh  
of the CISG 1980 to Govern Sales of Commodity Type chấp về hạt tiêu paprika. Nguồn truy cập: hꢁp://www.  
Goods”, Vindobona Journal of International Commercial unilex.info/cisg/case/145, trích dẫn ngày 13/11/2020  
Law and Arbitration, No. 14. Nguồn truy cập: hꢁps:// 19ꢀ Harry M. Flechtner (1988), “Remedies Under the New  
www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/winsor.html, International Sales Convention: The Perspective from  
truy cập ngày 13/11/2020  
Article 2 of the U.C.C.”, Journal of Law and Commerce  
16ꢀ BABIAK, Andrew (1992), “Defining “Fundamental No. 8. Nguồn truy cập: hꢁp://cisgw3.law.pace.edu/  
Breach” under the United Nations Convention on cisg/biblio/flecht.html, trích dẫn ngày 27/12/2020  
134 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
NGUYỄN THỊ KHÁNH - PHẠM VŨ TÚ NAM  
áp dụng20. Do đó, trong phạm vi bài viết, tác vốn dĩ rất rộng của khái niệm “thiệt hại”.  
giả nghiên cứu vi phạm cơ bản hợp đồng  
theo quy định của LTM năm 2005.  
Đối với yếu tố mục đích giao kết hợp  
đồng, theo khoản 13 Điều 3 LTM năm 2005,  
Thuật ngữ pháp lý “vi phạm cơ bản” được  
ghi nhận cụ thể tại khoản 13 Điều 3 LTM  
năm 2005 như sau: “Vi phạm cơ bản là sự vi  
phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho  
bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được  
mục đích của việc giao kết hợp đồng”. Trong đó,  
vi phạm hợp đồng được hiểu là“việc một bên  
không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc  
thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận  
giữa các bên…”21. Có thể thấy, yếu tố quan  
trọng và quyết định một vi phạm cơ bản là  
thiệt hại mà ở đó, bên bị vi phạm không đạt  
được mục đích của việc giao kết hợp đồng.  
một vi phạm dù gây ra thiệt hại cho bên bị vi  
phạm nhưng không nghiêm trọng đến mức  
ngăn cản việc đạt được mục đích thực hiện  
của bên bị vi phạm thì không cấu thành một  
vi phạm cơ bản22. Tuy nhiên, việc xác định  
mục đích giao kết hợp đồng cũng không  
phải là điều đơn giản bởi các bên có thể  
hướng tới nhiều mục đích khác nhau nhưng  
lại không được thể hiện rõ trong hợp đồng  
(do pháp luật không yêu cầu)23. Trong khi  
đó, CISG xét đến khả năng rộng hơn so với  
pháp luật Việt Nam khi sử dụng cách diễn  
giải “những gì bên bị vi phạm có quyền kỳ vọng  
từ hợp đồng”, có thể bao gồm mục đích giao  
kết hay lợi ích khác như tổn hại về uy tín.  
Dù chưa có giải thích hay hướng dẫn cụ  
thể, song việc hiểu một cách thấu đáo khái  
niệm “thiệt hại” đối với hợp đồng mua bán  
hàng hóa dựa vào các quy định có liên quan  
trong hệ thống pháp luật Việt Nam là hoàn  
toàn khả thi. Theo đó, “thiệt hại” được phân  
loại thành 04 nhóm dựa vào các điều 589,  
590, 591, 592 BLDS năm 2015. Trong đó, có  
02 nhóm đặc biệt liên quan đến chế định hợp  
đồng cần xem xét là thiệt hại về tài sản và  
thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín.  
Ngoài ra, pháp luật Việt Nam không  
đặt ra vấn đề hậu quả của vi phạm phải  
được bên vi phạm tiên liệu được và có sự  
nhìn nhận khách quan từ người thứ ba khi  
đặt họ vào hoàn cảnh tương tự. Bởi lẽ, liên  
quan đến mục đích hợp đồng có đạt được  
hay không, phải xác định từ thời điểm giao  
kết hợp đồng. Vì vậy, khi xem xét vi phạm  
cơ bản chỉ căn cứ vào hợp đồng được ký kết  
để xác định mục đích giao kết hợp đồng.  
Hiển nhiên, các bên phải biết đến mục đích  
này nên không đặt ra việc xem xét ý chí chủ  
quan của bên vi phạm có tiên liệu được hay  
không. Ngược lại, CISG 1980 đặt ra vấn đề  
là bên vi phạm phải tiên liệu được hậu quả  
vi phạm bởi ngay cả khi hợp đồng đã được  
thực hiện xong, nếu một bên thấy “cái mà  
họ có quyền chờ đợi từ hợp đồng” không  
đạt được, họ vẫn có quyền hủy hợp đồng.  
Do đó, để xác định được thiệt hại bên bị vi  
Liên quan đến vấn đề xác định thiệt hại,  
Điều 302 LTM năm 2005 cũng nhấn mạnh  
“giá trị thiệt hại” là giá trị “tổn thất thực tế,  
trực tiếp” và “khoản lợi trực tiếp” mà bên bị  
vi phạm phải chịu do hậu quả của hành vi  
vi phạm gây ra. Tuy nhiên, một hành vi vi  
phạm cơ bản hợp đồng cũng có thể là những  
mất mát phi thực tế hoặc tổn thất dự đoán  
(thiệt hại tiên liệu). Những thiệt hại này đều  
có thể được xem là cơ sở để bên bị vi phạm  
áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại đối với  
bên vi phạm hợp đồng. Như vậy, với cách  
quy định như khoản 2 Điều 302, LTM năm  
2005 đã vô hình chung thu hẹp ngoại diên  
22ꢀ Phan Thị Thanh Thủy (2014), “So sánh các quy định về  
trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong Luật Thương mại  
Việt Nam 2005 và Công ước Viên 1980”, Tạp chí Khoa học  
20ꢀ Khoản 3 Điều 4 BLDS năm 2015. Xem thêm: TS. Đại học Quốc gia Hà Nội: Luật học, tập 30, số 39.  
Nguyễn Văn Hiển (2020), Nguyên tắc áp dụng pháp 23ꢀ Vũ Thị Hoa (2019), Chế định hủy hợp đồng theo công  
luật trong trường hợp các văn bản do cùng một chủ thể ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và  
ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, Tạp kinh nghiệm cho Việt Nam, Báo cáo tổng kết đề tài tham  
chí Nghiên cứu Lập pháp số 07 (407).  
gia xét giải thường “Sinh viên nghiên cứu khoa học”  
năm 2019, Đề tài đạt giải ba cấp Bộ, tr. 45-47.  
21ꢀ Xem: Khoản 12 Điều 3 LTM năm 2005.  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 135  
VI PHẠM CƠ BẢN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA...  
phạm đưa ra có thực sự xuất phát từ hợp hại. Thiệt hại là một trong những yếu tố cấu  
đồng hay không, phải căn cứ vào ý chí của  
bên vi phạm có tiên liệu được hậu quả đó  
hay không. Để sự tiên liệu được khách quan,  
CISG 1980 đưa ra sự kiểm tra rằng trong  
trường hợp đó, đối với một người có lý trí  
minh mẫn cũng phải tiên liệu được nếu họ ở  
hoàn cảnh tương tự.  
thành nên vi phạm, nếu cả hai bên không ai  
gây thiệt hại cho ai điều gì thì không có căn  
cứ để xử lý ai đã vi phạm và đưa ra chế tài  
hợp lý. Vì vậy, pháp luật Việt Nam bên cạnh  
việc sửa đổi khái niệm vi phạm cơ bản theo  
CISG 1980 thì cần sửa đổi thống nhất giữa  
các khái niệm về vi phạm cơ bản hợp đồng.  
Như vậy, một cách tổng quát, nội hàm  
khái niệm vi phạm cơ bản của CISG 1980  
rộng và bao quát hơn rất nhiều so với khái  
niệm trong LTM năm 2005 đưa ra. Vì vậy,  
pháp luật Việt Nam quy định vi phạm cơ  
bản chỉ giới hạn trong mục đích giao kết hợp  
đồng thì sẽ không đầy đủ.  
Việc thống nhất thuật ngữ theo hướng  
phù hợp với Công ước là cần thiết bởi hiện  
nay cả pháp luật Việt Nam và CISG 1980 đều  
có thể được lựa chọn là luật áp dụng cho  
hợp đồng hoặc giải quyết tranh chấp giữa  
các chủ thể của quan hệ mua bán hợp đồng  
hàng hóa. Nhằm hướng tới thiết lập một  
hành lang pháp lý vững chắc, các quy định  
hiện hành chứa thuật ngữ “vi phạm nghiêm  
trọng hợp đồng” (ví dụ như điểm b khoản 1  
và khoản 2 Điều 423 BLDS năm 2015) nên  
được chỉnh lý theo hướng thay bằng “vi  
phạm cơ bản hợp đồng”. Bởi “vi phạm nghiêm  
trọng” chưa được định nghĩa bởi bất kỳ văn  
bản quy phạm pháp luật nào, trong khi “vi  
phạm cơ bản” hiện không chỉ được định nghĩa  
trong LTM năm 2005 mà còn có thời gian dài  
tồn tại trong nhiều quy định pháp luật (gồm  
cả pháp luật hình sự, pháp luật hành chính).  
Bên cạnh đó, thuật ngữ “cơ bản” đồng nghĩa  
với “fundamental” được sử dụng tại Điều 25  
CISG trong khi “nghiêm trọng” lại tương ứng  
với “serious” trong tiếng Anh nói chung.  
2. Kiến nghị  
Qua so sánh và phân tích các quy định  
về vi phạm cơ bản hợp đồng quy định trong  
CISG 1980 và pháp luật Việt Nam, có thể  
thấy, các nhà lập pháp trong nước đã cơ bản  
tiếp cận thuật ngữ pháp lý này theo hướng  
tương tự Công ước Viên 1980. Tuy nhiên,  
như đã phân tích ở trên, nội hàm khái niệm  
vi phạm cơ bản trong LTM Việt Nam năm  
2005 còn hẹp. Vì vậy, cần phải sửa đổi quy  
định về vi phạm cơ bản đầy đủ và có nội  
hàm bao quát hơn. Tác giả cho rằng, pháp  
luật Việt Nam cần quy định vi phạm cơ bản  
theo quy định của CISG 1980. Theo đó, sửa  
đổi khoản 13 Điều 3 LTM năm 2005 như sau:  
“Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một  
bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho  
bên kia mất cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở  
hợp đồng, bên vi phạm phải tiên liệu được hậu  
quả đó một cách khách quan và một người có lý  
trí minh mẫn cũng sẽ tiên liệu được trong hoàn  
cảnh tương tự.”  
Khi pháp luật trong nước và CISG 1980  
có sự khác biệt như trên, các cơ quan tài  
phán (Tòa án nhân dân, Trọng tài thương  
mại quốc tế), các cơ quan hữu quan (Bộ Công  
thương, Bộ Tư pháp…) cũng như các doanh  
nghiệp Việt Nam cần nắm được sự khác biệt  
của CISG 1980 và LTM năm 2005 để có thể  
đưa ra các quyết định đúng đắn liên quan  
tới hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Từ  
đó, các nhà làm luật, các cơ quan giải quyết  
tranh chấp và cơ quan chức năng mới giúp  
được các doanh nghiệp nước nhà phát huy  
tối đa những lợi thế của LTM năm 2005 cũng  
như điểm tiến bộ của CISG khi tham gia đời  
sống thương mại quốc tế./.  
Bên cạnh đó, cần sự thống nhất giữa văn  
bản pháp luật tại Việt Nam về khái niệm vi  
phạm cơ bản và vi phạm nghiêm trọng, bởi  
nếu căn cứ theo BLDS năm 2015 quy định  
về khái niệm vi phạm nghiêm trọng không  
nhắc đến việc gây thiệt hại cho bên kia24. Quy  
định này không hợp lý bởi dù là tính toán  
thực tế hay là dự đoán trước thì phải có thiệt  
24ꢀ Xem: Khoản 2 Điều 423 BLDS năm 2015.  
136 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
pdf 5 trang Thùy Anh 13120 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vi phạm cơ bản hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của CISG 1980 và pháp luật Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvi_pham_co_ban_hop_dong_mua_ban_hang_hoa_theo_quy_dinh_cua_c.pdf