Giáo trình Luật lao động Việt Nam (Phần 2)

Chương 4  
THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ  
1. KHÁI NIỆM THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ  
1.1. Khái niệm thỏa ước lao động tập thể  
Thuật ngữ “Thỏa ước lao động tập thể” có rất nhiều tên gọi khác  
nhau và được ghi nhận trong các văn bản khác nhau. Ngay trong Sắc  
lệnh 29/SL Chủ tịch Hồ Chí Minh ký năm 1949 cũng điều chỉnh mối  
quan hệ lao động mang tính tập thể. Chương III tiết 2 Sắc lệnh 29/SL:  
“Ấn định quy tắc làm việc và tiền lương chung cho từng ngành, từng xí  
nghiệp hay từng địa phương do sự thỏa thuận của chủ hay đại biểu chủ  
và công nhân hay đại biểu công nhân”. Tiếp theo là Nghị định 172/CP  
năm 1963 qui định dưới tên gọi là hợp đồng tập thể. Thuật ngữ “thỏa  
ước lao động tập thể” mới được chính thức ghi nhận trong Bộ luật lao  
động ban hành ngày 23/6/1994. Mặc dù có rất nhiều tên gọi khác nhau  
về thỏa ước lao động tập thể nhưng xét về thực chất thỏa ước lao động  
tập thể đều là những qui định nội bộ của doanh nghiệp, đơn vị ghi nhận  
quyền và nghĩa vụ của các bên góp phần ổn định quan hệ lao động đảm  
bảo lợi ích của các bên trong quan hệ lao động cũng như lợi ích của  
Nhà nước.  
Pháp luật qui định: “Thỏa ước lao động tập thể là văn bản thỏa  
thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện  
lao động mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể. Thỏa  
ước lao động tập thể gồm thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa  
ước lao động tập thể ngành và hình thức thỏa ước lao động tập thể khác  
do Chính phủ quy định.” (Điều 73 Bộ luật lao động 2012).  
Thương lượng tập thể là một khái niệm “áp dụng cho mọi cuộc  
thương lượng giữa một bên là một người sử dụng lao động, một nhóm  
người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều tổ chức của người sử dụng  
lao động, với một bên là một hay nhiều tổ chức của người lao động, để:  
62  
a) Quy định những điều kiện lao động và sử dụng lao động;  
b) Giải quyết những mối quan hệ giữa những người sử dụng lao  
động với những người lao động;  
c) Giải quyết những mối quan hệ giữa những người sử dụng lao  
động hoặc các tổ chức của họ với một hoặc nhiều tổ chức của người  
lao động.11  
Pháp luật lao động quy định: “Thương lượng tập thể là việc tập  
thể lao động thảo luận, đàm phán với người sử dụng lao động nhằm mục  
đích sau đây:  
(1). Xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ;  
(2). Xác lập các điều kiện lao động mới làm căn cứ để tiến hành ký  
kết thỏa ước lao động tập thể;  
(3). Giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong việc thực hiện  
quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.” (Điều 66 Bộ  
luật lao động 2012).  
Như vậy, giữa khái niệm thương lượng tập thể và khái niệm thỏa  
ước lao động tập thể có những điểm chung nhất định. Trong thương  
lượng và thỏa ước đều có hai, nhiều bên hoặc đại diện của hai hoặc nhiều  
bên tham gia nhằm đạt được mục tiêu chung nào đó trong việc xác lập  
những giới hạn, những căn cứ pháp lý nhất định, những điều kiện lao  
động để các bên tuân theo. Đồng thời, thương lượng tập thể và thỏa ước  
tập thể đều nhằm xây dựng một mối quan hệ lao động hài hòa ổn định,  
điều tiết mối quan hệ lao động giữa các bên, hoặc đại diện giữa các bên.  
Trong đó, thỏa ước lao động tập thể là kết quả của quá trình thương  
lượng tập thể.  
Xuất phát từ qui định trên, thỏa ước lao động tập thể có những đặc  
trưng cơ bản sau:  
- Về hình thức: Thỏa ước lao động tập thể bắt buộc ký kết bằng văn  
bản. Bởi vì, để hạn chế mầm mống tranh chấp xảy ra trong tương lai và  
là cơ sở để giải quyết các tranh chấp thì việc ký kết bằng văn bản là hình  
thức pháp lý hữu hiệu, an tòan nhất đảm bảo quyền và và lợi ích của tập  
thể người lao động.  
11 Điều 2, Công ước 154 về xúc tiến thương lượng tập thể, 1981  
63  
- Về bản chất: Thỏa ước lao động tập thể mang bản chất của một  
hợp đồng đó là sự thỏa thuận của các bên trong quan hệ lao động.  
Trong thỏa ước phản ánh ý chí của tập thể người lao động mà đại diện  
là tổ chức công đoàn và ý chí của người sử dụng lao động được thể hiện  
thông qua việc thương lượng, ký kết và quá trình thực hiện thỏa ước lao  
động tập thể tại doanh nghiệp. Ngoài ra, thỏa ước lao động tập thể cũng  
chứa đựng tính pháp quy12.  
+ Thứ nhất, thỏa ước lao động tập thể lấy nguồn chủ yếu từ Bộ  
luật lao động và các văn bản pháp luật lao động liên quan. Thỏa ước  
chứa đựng tính chất bắt buộc các chủ thể trong doanh nghiệp phải có  
nghĩa vụ tuân thủ thỏa ước, kể cả những người lao động không được  
tham gia hỏi ý kiến và những người lao động vào làm việc sau khi thỏa  
ước lao động tập thể đã phát sinh hiệu lực. Nội dung chủ yếu của thỏa  
ước do pháp luật lao động quy định và tất cả các điều khoản của thỏa ước  
không được trái pháp luật lao động và pháp luật khác. Chủ thể tham gia  
thương lượng và ký kết thỏa ước được pháp luật lao động quy định cụ  
thể. Trình tự, thủ tục ban hành, hiệu lực, thủ tục sửa đổi, bổ sung của  
thỏa ước cũng được Bộ luật lao động quy định chặt chẽ. Sau khi thỏa ước  
lao động có hiệu lực, người sử dụng lao động phải thông báo cho mọi  
người lao động trong doanh nghiệp biết.  
+ Thứ hai, thỏa ước lao động tập thể được áp dụng bắt buộc  
trong phạm vi doanh nghiệp và được áp dụng lâu dài trong thực tế. Thời  
hạn áp dụng tùy thuộc vào thời gian hoạt động của doanh nghiệp.  
- Về chủ thể: Một bên chủ thể của thỏa ước lao động tập thể bao giờ  
cũng là tập thể người lao động mà người đại diện là tổ chức công đoàn.  
- Về nội dung: Nội dung các bên thỏa thuận trong thỏa ước là  
quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động giữa tập thể người lao động  
với người sử dụng lao động về điều kiện lao động và sử dụng. Trong  
đó, Nhà nước khuyến khích việc ký kết thỏa ước lao động tập thể với  
những nội dung có lợi hơn cho người lao động so với những quy định  
của pháp luật lao động.  
12 Giáo trình Luật lao động Việt Nam, PTS. Phạm Công Trứ (CB), NXB Đại học Quốc  
Gia Hà Nội 1999, tr120  
64  
Có thể nói, thỏa ước lao động tập thể đưa người lao động lên ngang  
hàng với người sử dụng lao động, và nhờ đó, đạt được những điều kiện  
có lợi hơn so với hợp đồng lao động. So với pháp luật, thỏa ước lao động  
tập thể có ưu điểm là “rất uyển chuyển, mềm dẻo, dễ thích ứng với thực  
tại xã hội “13  
So với hợp đồng lao động thì thỏa ước lao động tập thể có nhiều  
điểm khác biệt tuy vậy giữa hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập  
thể có mối quan hệ gắn bó với nhau. Hợp đồng lao động là cơ sở để thiết  
lập thỏa ước lao động tập thể. Thỏa ước lao động tập thể nhằm bổ sung  
và nâng cao những thỏa thuận trong hợp đồng lao động.  
Chính vì thế có thể coi thỏa ước lao động tập thể là hình thức hợp  
đồng lao động phát triển ở mức độ cao, là “hợp đồng lao động tập thể”.14  
1.2. Ý nghĩa của thỏa ước lao động tập thể  
Thỏa ước lao động tập thể là một văn bản ghi nhận quyền và nghĩa  
vụ của tập thể người lao động với người sử dụng lao động do đó nó có ý  
nghĩa rất quan trọng liên quan đến lợi ích của tập thể lao động, của đơn vị  
sử dụng lao động và của nhà nước.  
Đối với người lao động, thực chất của thỏa ước lao động tập thể  
trước hết là một sự tiến bộ xã hội, thừa nhận quyền của mọi người lao  
động làm công ăn lương.15 Thỏa ước lao động tập thể là một hình thức  
phát triển hợp đồng lao động ở mức độ cao. Do đó, việc ký kết thỏa ước  
lao động tập thể có vai trò ý nghĩa rất quan trọng đối với tập thể người  
lao động. Trong thỏa ước, đại diện tập thể người lao động được quyền  
thỏa thuận, thương lượng những điều khoản liên quan mật thiết đến đời  
sống người lao động như việc làm và bảo đảm việc làm, thời giờ làm  
việc, nghỉ ngơi, tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp lương, định mức lao  
động, an tòan lao động, vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội đối với  
người lao động. Thỏa ước lao động tập thể là văn bản mà tập thể người  
lao động được thỏa thuận những điều khoản có lợi hơn cho tập thể người  
13 Tập bài giảng Luật lao động, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tr79  
14 Giáo trình Luật lao động Việt Nam, PTS. Phạm Công Trứ (CB), NXB Đại học Quốc  
Gia Hà Nội 1999, tr122  
15 Đặng Đức San (CB), Tìm hiểu Luật lao động Việt Nam, NXBCTQG 1996, tr103  
65  
lao động phù hợp với điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp. Thỏa ước  
lao động tập thể là hình thức để tập thể người lao động bày tỏ ý chí bình  
đẳng, dân chủ, công khai với người sử dụng lao động, là cơ sở pháp lý  
quan trọng đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của tập thể người lao  
động, đem lại vị trí người lao động ngang tầm với người sử dụng lao  
động trong quan hệ lao động. Thỏa ước lao động tập thể là căn cứ để  
người lao động xác lập, giao kết hợp đồng lao động. Pháp luật lao động  
quy định trong trường hợp quyền lợi của người lao động đã thỏa thuận  
trong hợp đồng lao động thấp hơn so với thỏa ước tập thể, thì phải thực  
hiện những điều khoản tương ứng của thỏa ước tập thể. Bản chất hợp  
đồng và tính pháp quy trong thỏa ước lao động tập thể là yếu tố cơ bản  
phát huy sự bình đẳng, dân chủ của tập thể người lao động và khuyến  
khích người lao động tôn trọng thực hiện các điều khoản khi thỏa ước  
phát sinh hiệu lực. Đồng thời thỏa ước lao động tập thể cũng là căn cứ để  
người lao động yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp có  
thể xảy ra trong tương lai.  
Đối với người sử dụng lao động, thỏa ước lao động tập thể là một  
văn bản thỏa thuận xác lập điều kiện lao động và sử dụng lao động để tạo  
ra những yếu tố cơ bản cho tập thể lao động và người sử dụng lao động  
khi thực hiện quan hệ lao động. Thông qua thỏa ước lao động tập thể,  
người sử dụng lao động thực hiện quyền quản lý lao động và quyền điều  
hành doanh nghiệp. Mỗi một ngành nghề khác nhau trong các doanh  
nghiệp khác nhau thì có một bản thỏa ước khác nhau. Người sử dụng lao  
động trên cơ sở sự thương lượng của đại diện tập thể lao động sẽ phản  
ánh ý chí của mình trong các điều khoản phù hợp với yêu cầu thực tế đặt  
ra trong các doanh nghiệp. Thỏa ước lao động tập thể là cầu nối giữa quy  
phạm pháp luật lao động với điều kiện, khả năng thực tế của các bên.16  
Ngoài ra, thỏa ước lao động tập thể có ý nghĩa rất quan trọng,  
thể hiện ở vai trò phòng ngừa, hạn chế mâu thuẫn, xung đột của quan  
hệ lao động tập thể. Thỏa ước lao động tập thể còn có thể lập ra những  
thủ tục thương lượng, hòa giải hoặc trọng tài hiệu quả, góp phần giải  
16 Giáo trình Luật lao động, Trung tâm đào tạo từ xa, TS Nguyễn Hữu Chí, NXBCAND,  
Hà Nội 2003, tr86  
66  
quyết một cách nhanh chóng, hòa bình các tranh chấp lao động trong  
doanh nghiệp.17  
Đối với Nhà nước, thỏa ước lao động tập thể là cơ sở để Nhà nước  
quản lý lao động. Thỏa ước lao động tập thể là cơ sở để xác định loại  
tranh chấp và cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Trong quá  
trình kiểm tra việc chấp hành pháp luật lao động, thực hiện thỏa ước lao  
động tập thể tại các doanh nghiệp nếu phát hiện thỏa ước lao động tập thể  
vi phạm pháp luật lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu thì cơ quan  
nhà nước có thẩm quyền tuyên bố hủy bỏ, hoặc tuyên bố thỏa ước lao  
động tập thể vô hiệu để bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho các bên.  
Mặc dù thỏa ước lao động tập thể không tồn tại như một hình thức  
của pháp luật nhưng nó là cơ sở pháp lý quan trọng để Tòa án áp dụng  
trong việc giải quyết tranh chấp lao động. Chính vì vậy, thỏa ước lao  
động tập thể tồn tại và có chức năng của một nguồn của luật lao động nói  
riêng. Thỏa ước lao động tập thể là một nguồn đặc biệt của luật lao  
động18. Đồng thời, thỏa ước lao động tập thể là căn cứ để cơ quan nhà  
nước có thầm quyền xem xét, xây dựng, hoạch định chính sách, sửa đổi  
quy phạm pháp luật về thỏa ước lao động tập thể phù hợp với thị trường  
lao động Việt Nam.  
1.3. Đối tượng, phạm vi áp dụng thỏa ước lao động tập thể  
Xuất phát từ bản chất thỏa ước lao động tập thể là sự thỏa thuận  
thương lượng giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về điều  
kiện lao động và sử dụng lao động do đó Điều 1 NĐ 93/CP ngày  
11/11/2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của NĐ 196/CP ngày  
31/12/1994 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ  
luật lao động về thỏa ước lao động tập thể quy định đối tượng và phạm vi  
áp dụng thỏa ước lao động tập thể là các doanh nghiệp, tổ chức có tổ  
chức công đoàn cơ sở hoặc Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời,  
bao gồm:  
17 Tập bài giảng Luật lao động, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tr86  
18 Nguyễn Thị Tú Uyên, Tìm hiểu về những vấn đề cơ bản của Luật lao động trong nền  
kinh tế thị trường, NBĐHQG Hồ Chí Minh 2002, tr151  
67  
- Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà  
nước, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.  
- Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của các đơn vị hành  
chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị, chính trị - xã hội;  
- Hợp tác xã thành lập theo Luật Hợp tác xã có sử dụng lao động  
theo hợp đồng lao động;  
- Các cơ sở giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao ngoài công lập thành  
lập theo Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19 tháng 8 năm 1999 của  
Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa;  
- Các cơ quan, tổ chức quốc tế hoặc nước ngoài đóng trên lãnh thổ  
Việt Nam có sử dụng lao động hợp đồng là người Việt Nam, trừ trường  
hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký  
kết hoặc tham gia có quy định khác”.  
Ngoài ra, pháp luật lao động cũng quy định công chức, viên chức  
làm việc trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp Nhà nước; những  
người làm việc trong các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị xã hội;  
những người làm việc trong các doanh nghiệp đặc thù của lực lượng quân  
đội nhân dân, công an nhân dân, sỹ quan, hạ sỹ quan, chiến sỹ trong lực  
lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân là những đối tượng và phạm  
vi không áp dụng thỏa ước lao động tập thể. Bởi vì, địa vị pháp lý của  
các nhóm đối tượng này đã được pháp luật quy định một cách chặt chẽ,  
cụ thể, các chủ thể này không thể tự do thỏa thuận để làm thay đổi các  
quyền và nghĩa vụ đó. Không chỉ thế, các nhóm đối tượng này do tính  
chất pháp lý của mình đã được các văn bản pháp luật điều chỉnh riêng  
như: Luật cán bộ công chức, Luật sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam,  
Luật công an nhân dân, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam…  
2. NỘI DUNG CỦA THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ  
Nội dung của thỏa ước lao động tập thể là các điều khoản chứa đựng  
quyền và nghĩa vụ của tập thể người lao động và người sử dụng lao động  
cam kết các vấn đề về việc làm và bảo đảm việc làm, thời giờ làm việc,  
thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp lương, định mức lao  
động, bảo hộ lao động và bảo hiểm xã hội đối với người lao động.  
68  
Pháp luật thường qui định quyền lợi và nghĩa vụ của các bên ở mức tối  
thiểu hoặc tối đa do đó các bên phải thỏa thuận các vấn đề một cách cụ thể  
phù hợp với quy định của pháp luật và thực tế của từng doanh nghiệp.  
Thỏa ước lao động tập thể ngoài các nội dung nói trên pháp luật  
cũng cho phép các bên có thể thỏa thuận thêm những nội dung khác như  
thể thức giải quyết tranh chấp lao động, ăn giữa ca, phúc lợi tập thể, trợ  
cấp việc hiếu hỷ, xây nhà trẻ cho người lao động gửi con, xe đưa đón  
công nhân, trợ cấp khó khăn, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động…  
phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp và bảo đảm quyền lợi  
cho tập thể người lao động.  
2.1. Việc làm và bảo đảm việc làm  
Việc làm và bảo đảm việc làm là vấn đề quan trọng đối với tập  
thể người lao động do đó các bên cần phải thỏa thuận thương lượng cụ  
thể các trường hợp duy trì quan hệ lao động, các biện pháp bảo đảm việc  
làm, trường hợp nâng cao tay nghề cho người lao động, đào tạo lại khi  
thay đổi kỹ thuật hay tổ chức sản xuất, các trường hợp điều chuyển người  
lao động sang làm công việc khác, cũng như các chế độ sau khi chấm dứt  
quan hệ lao động.  
2.2. Thời giờ làm việc và nghỉ ngơi  
Thời giờ làm việc và nghỉ ngơi đã được các quy phạm pháp luật  
lao động điều chỉnh song để phù hợp với từng doanh nghiệp, từng tính  
chất công việc thì các bên phải thương lượng cụ thể về độ dài thời giờ  
làm việc trong ngày, trong tuần, cần bố trí ca kíp, các trường hợp làm  
đêm, làm thêm giờ, thời giờ nghỉ giải lao phù hợp với từng loại nghề,  
công việc, thời giờ nghỉ giữa ca, các ngày nghỉ hàng tuần, nghỉ lễ, nghỉ  
việc riêng, nghỉ phép năm, nghỉ Tết, nghỉ không hưởng lương, tiền tàu xe  
cho công nhân khi nghỉ phép năm…  
2.3. Tiền lương, tiền thưởng và phụ cấp  
Các bên thỏa thuận tiền lương, tiền thưởng căn cứ vào công việc,  
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và trên cơ sở quy định của pháp  
luật. Các bên phải thỏa thuận tiền lương tối thiểu, tiền lương trung bình,  
thang bảng lương của doanh nghiệp, các hình thức trả lương, các trường  
69  
hợp nâng bậc lương, phương thức bồi thường khi người sử dụng lao động  
trả chậm lương, nguyên tắc thưởng, hình thức thưởng, thưởng thường  
xuyên hoặc đột xuất… Ngoài ra các bên còn phải thỏa thuận các chế độ  
phụ cấp và mức phụ cấp cụ thể.  
2.4. Định mức lao động  
Việc xác định hợp lý định mức lao động là cơ sở để phát triển sản  
xuất do đó các bên phải thương lượng cụ thể các nguyên tắc, phương  
pháp xây dựng định mức áp dụng thử, loại định mức, các biện pháp đối  
với trường hợp không hòan thành định mức, nguyên tắc khoán tổng hợp  
cả lao động và vật tư…  
2.5. An tòan lao động, vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội  
Trên cơ sở các quy định của pháp luật về an tòan lao động, vệ  
sinh lao động và bảo hiểm xã hội các bên cần thỏa thuận cụ thể các biện  
pháp bảo hộ lao động, các chế độ phòng hộ lao động, bồi dưỡng sức khoẻ  
cho từng loại công việc, chế độ đối với lao động làm những công việc  
nặng nhọc, độc hại; trách nhiệm của người sử dụng lao động về bồi  
thường tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động.  
Các bên cũng thỏa thuận về trách nhiệm và quyền lợi của người  
sử dụng lao động và người lao động trong việc đóng góp bảo hiểm xã hội  
và các chế độ bảo hiểm xã hội sẽ được hưởng, các khoản trợ cấp hỗ trợ  
khi người lao động bị ốm đau, thai sản, bị tai nạn lao động, bệnh nghề  
nghiệp, nghỉ hưu hoặc chế độ khi người lao động chết. Đặc biệt, trong  
thỏa ước lao động tập thể phải cụ thể chế độ nghỉ dưỡng sức cho người  
lao động trong trường hợp người lao động sau khi nghỉ chế độ mà vẫn  
yếu sức khỏe, các chế độ hỗ trợ cho người lao động khi người lao động  
tham gia tập huấn về an tòan lao động, vệ sinh lao động, các chế độ về ăn  
giữa ca, thể thức giải quyết tranh chấp…  
3. TRÌNH TỰ, THỦ TỤC THƯƠNG LƯỢNG, KÝ KẾT THỎA  
ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ  
Thủ tục thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể là cơ sở  
xác định tính pháp quy của một thỏa ước. Khi thương lượng và ký kết  
70  
thỏa ước các bên phải tuân thủ những quy tắc do Nhà nước đặt ra về  
chủ thể tham gia thương lượng, chủ thể ký kết thỏa ước và các giai đoạn  
ký kết thỏa ước.  
3.1. Đại diện thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể  
3.1.1. Đại diện thương lượng tập thể  
Khi tham gia quan hệ lao động, người lao động bao giờ cũng rơi  
vào vị thế yếu so với người sử dụng lao động. Chính vì vậy, để tạo sự  
tương đồng giữa hai chủ thể pháp luật qui định tập thể người lao động  
có quyền thành lập tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp  
pháp của mình.  
Công đoàn được pháp luật trao cho quyền năng đại diện và để đảm  
bảo thực hiện được quyền năng mang tính tổng quát này thì công đoàn  
phải thực hiện các quyền năng cụ thể trên thực tế. Một trong những  
quyền năng đó là quyền tham gia thương lượng và ký kết thỏa ước lao  
động tập thể. (Điều 74 Bộ luật lao động 2012).  
Có thể khẳng định việc ghi nhận quyền năng này của công đoàn  
phản ánh sự bình đẳng giữa hai chủ thể và thể hiện ý chí cũng như tính  
công khai của các chủ thể. Tuy nhiên, để thực hiện quá trình thương  
lượng và ký kết đạt được sự công bằng, có hiệu quả thì công đoàn phải  
có những người thực sự có khả năng, am hiểu nghiệp vụ đàm phán  
thương lượng và am hiểu luật pháp.  
Khi tham gia thương lượng đại diện bên tập thể lao động trong  
thương lượng tập thể phạm vi doanh nghiệp là tổ chức đại diện tập thể  
lao động tại cơ sở; thương lượng tập thể phạm vi ngành là đại diện Ban  
chấp hành công đoàn ngành;  
Bên người sử dụng lao động trong thương lượng tập thể phạm vi  
doanh nghiệp là người sử dụng lao động hoặc người đại diện cho người  
sử dụng lao động; thương lượng tập thể phạm vi ngành là đại diện của tổ  
chức đại diện người sử dụng lao động ngành. Số lượng người tham dự  
phiên họp thương lượng của mỗi bên do hai bên thỏa thuận.  
71  
3.1.2. Đại diện ký kết  
Khi tham gia ký kết, các bên phải chuẩn bị và tiến hành thương  
lượng một cách cẩn thận, chu đáo với đầy đủ thiện chí, các bên cần xác  
định rõ mục tiêu sẽ đạt được khi thương lượng, chọn người đại diện phù  
hợp, chuẩn bị đầy đủ thông tin tài liệu để bảo vệ mục tiêu, có chiến lược,  
chiến thuật đàm phán và phải mềm dẻo trong thương lượng. Để đạt được  
mục tiêu và yêu cầu trên, trong quá trình thương lượng để ký kết thỏa  
ước, các bên phải đảm bảo các nguyên tắc sau:  
3.1.2.1. Nguyên tắc tự nguyện  
Thể hiện sự tự do bày tỏ ý chí của các bên xuất phát từ nhận thức  
về quyền và trách nhiệm trong việc xúc tiến ký kết thỏa ước. Quá trình  
thương lượng các bên phải trên tinh thần thiện chí hướng tới ngày mai.  
Các bên phải đối xử bình đẳng với nhau dù thích hay không thích.19 Như  
vậy, mọi sự cưỡng bức, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép xuất phát từ một bên  
đều có nguy cơ dẫn đến hậu quả của thỏa ước lao động tập thể vô hiệu.  
Chính vì vậy, tôn trọng trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện xuất phát  
từ quyền và lợi ích của hai bên sẽ là nền tảng vững bền trong việc thiết  
lập mối quan hệ lao động mang tính tập thể.  
3.1.2.2. Nguyên tắc bình đẳng  
Mặc dù địa vị kinh tế của người lao động và người sử dụng lao  
động khác nhau nhưng các bên đều gặp nhau ở một điểm đó là lợi ích  
kinh tế.20 Nhưng để đạt được điều này, các bên phải đối xử với nhau trên  
cơ sở bình đẳng, tôn trọng và hợp tác. Trong quá trình thỏa thuận, ký kết  
các bên không được đưa ra yêu sách áp đặt ý chí chủ quan của mình cho  
phía bên kia. Khi thương lượng các bên phải xác định sự bình đẳng về địa  
vị pháp lý để mong muốn thiết lập một mối quan hệ hài hòa ổn định và hạn  
chế những mầm mống tranh chấp trong tương lai có thể phát sinh.  
19  
Giáo trình Luật lao động, Trung tâm đào tạo từ xa, TS. Nguyễn Hữu Chí, NXBCAND,  
Hà Nội 2003, tr92  
20  
Giáo trình Luật lao động, Trung tâm đào tạo từ xa, TS. Nguyễn Hữu Chí, NXBCAND,  
Hà Nội 2003, tr93  
72  
3.1.2.3. Nguyên tắc công khai  
Trong quá trình thương lượng và ký kết công đoàn là tổ chức phản  
ánh ý kiến gián tiếp của tập thể người lao động. Tuy vậy các điều khoản  
trong thỏa ước cũng phải được tập thể người lao động thông qua. Pháp  
luật quy định thỏa ước lao động tập thể chỉ được ký kết khi các bên đã  
đạt được thỏa thuận tại phiên họp thương lượng tập thể. Trong trường  
hợp ký thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp phải có trên 50% số  
người của tập thể lao động biểu quyết tán thành nội dung thương lượng  
tập thể đã đạt được. Trong trường hợp ký thỏa ước lao động tập thể  
ngành phải có trên 50% số đại diện Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc  
công đoàn cấp trên cơ sở biểu quyết tán thành nội dung thương lượng tập  
thể đã đạt được. Nguyên tắc này đảm bảo cho thỏa ước lao động tập thể  
thực thi có hiệu quả.  
3.1.2.4. Nguyên tắc không trái pháp luật lao động và pháp luật khác  
Khi thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể, pháp luật  
lao động quy định rất chặt chẽ cụ thể chủ thể tham gia thương lượng,  
chủ thể ký kết, trình tự thương lượng, nội dung thương lượng, hiệu lực  
thỏa ước, thủ tục sửa đổi, bổ sung thỏa ước. Và trong trường hợp nếu  
nội dung thỏa ước trái pháp luật, người ký kết không đúng thẩm quyền,  
không tuân thủ trình tự ký kết đều dẫn đến thỏa ước lao động tập thể vô  
hiệu. Do đó, thỏa ước lao động tập thể phải tuân thủ pháp luật lao động  
và pháp luật khác là căn cứ pháp lý, là giới hạn để các bên chấp hành,  
tuân thủ những quyền và nghĩa vụ phát sinh trong thỏa ước. Để quá  
trình thương lượng, ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể đạt  
hiệu quả, các bên phải tuân thủ đồng thời các nguyên tắc trên một cách  
đồng bộ, thống nhất.  
Theo quy định của pháp luật đại diện ký kết của bên tập thể lao động  
là đại diện tập thể lao động tại cơ sở; Bên người sử dụng lao động là người  
sử dụng lao động hoặc người đại diện của người sử dụng lao động.  
3.2. Trình tự ký kết thỏa ước lao động tập thể  
3.2.1. Đề xuất yêu cầu và nội dung cần thương lượng  
Đề xuất yêu cầu là giai đoạn đầu tiên trong quá trình xác lập thỏa  
ước lao động tập thể trong đó mỗi bên đều có quyền đề xuất yêu cầu ký  
73  
kết và nội dung thỏa ước lao động tập thể. Các yêu cầu và nội dung  
thương lượng cần phải phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp  
và đáp ứng được yêu cầu tôn trọng, hợp tác trên cơ sở cùng có lợi giữa  
các bên và phải thông báo bằng văn bản. Mỗi bên đều có quyền yêu cầu  
thương lượng tập thể, bên nhận được yêu cầu không được từ chối việc  
thương lượng. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được  
yêu cầu thương lượng, các bên thỏa thuận thời gian bắt đầu phiên họp  
thương lượng. Trường hợp một bên không thể tham gia phiên họp thương  
lượng đúng thời điểm bắt đầu thương lượng theo thỏa thuận, thì có quyền  
đề nghị hoãn, nhưng thời điểm bắt đầu thương lượng không quá 30 ngày  
kể từ ngày nhận được yêu cầu thương lượng tập thể.  
3.2.2. Tiến hành thương lượng  
Thương lượng là một trình tự, thủ tục trung tâm đặc biệt quan trọng  
trong quá trình xây dựng thỏa ước lao động tập thể bởi vì thỏa ước lao  
động tập thể có đi đến kết quả ký kết hay không nó phụ thuộc vào kết quả  
thương lượng. Giai đoạn thương lượng giúp các bên bày tỏ một cách rõ  
ràng nhất về quan điểm của mình thông qua các thông tin trong thỏa ước  
mà các bên đưa ra. Giai đoạn này các bên phải chuẩn bị một số kỹ năng  
quan trọng như việc thu thập và xử lý thông tin, xác định rõ mục tiêu, nội  
dung cần phải đàm phán trong thỏa ước. Các bên phải xây dựng kế hoạch  
thương lượng, sử dụng nhiều kỹ năng trong đàm phán và nhiều phương  
pháp trong đàm phán nhằm đạt được mục tiêu chung trong việc đi đến  
thống nhất những điều khoản cần thiết của thỏa ước. Ngoài ra, các bên  
phải bày tỏ thiện chí, tính bình đẳng, tính mềm dẻo linh hoạt trong khi  
tiến hành thương lượng. Để kết quả thương lượng khả quan, các bên còn  
phải tôn trọng ý kiến của nhau, các bên phải ghi rõ những điều khoản đã  
thống nhất được nội dung và những điều khoản chưa đi đến kết quả.  
Mầm mống tranh chấp có thể xảy ra trong tương lai phụ thuộc vào quá  
trình thương lượng, do đó, các bên càng đầu tư chú trọng vào quá trình  
thương lượng bao nhiêu càng hạn chế các tranh chấp bất đồng có thể xảy  
ra trong tương lai bấy nhiêu.  
Quy trình thương lượng tập thể gồm các bước sau:  
- Quy trình chuẩn bị thương lượng tập thể:  
74  
+ Trước khi bắt đầu phiên họp thương lượng tập thể ít nhất 10  
ngày, người sử dụng lao động phải cung cấp thông tin về tình hình hoạt  
động sản xuất, kinh doanh, khi tập thể lao động yêu cầu trừ những bí mật  
kinh doanh, bí mật công nghệ của người sử dụng lao động;  
+ Lấy ý kiến của tập thể lao động: Đại diện thương lượng của  
bên tập thể lao động lấy ý kiến trực tiếp của tập thể lao động hoặc gián  
tiếp thông qua hội nghị đại biểu của người lao động về đề xuất của người  
lao động với người sử dụng lao động và các đề xuất của người sử dụng  
lao động với tập thể lao động;  
+ Thông báo nội dung thương lượng tập thể: Chậm nhất 05 ngày  
làm việc trước khi bắt đầu phiên họp thương lượng tập thể, bên đề xuất  
yêu cầu thương lượng tập thể phải thông báo bằng văn bản cho bên kia  
biết về những nội dung dự kiến tiến hành thương lượng tập thể.  
- Quy trình tiến hành thương lượng tập thể được quy định như sau:  
+ Tổ chức phiên họp thương lượng tập thể: Người sử dụng lao  
động chịu trách nhiệm tổ chức phiên họp thương lượng tập thể theo thời  
gian, địa điểm do hai bên đã thỏa thuận. Việc thương lượng tập thể phải  
được lập biên bản, trong đó phải có những nội dung đã được hai bên  
thống nhất, thời gian dự kiến ký kết về các nội dung đã đạt được thỏa  
thuận; những nội dung còn ý kiến khác nhau;  
+ Biên bản phiên họp thương lượng tập thể phải có chữ ký của  
đại diện tập thể lao động, của người sử dụng lao động và của người ghi  
biên bản. Trong thời gian 15 ngày, kể từ ngày kết thúc phiên họp thương  
lượng tập thể, đại diện thương lượng của bên tập thể lao động phải phổ  
biến rộng rãi, công khai biên bản phiên họp thương lượng tập thể cho tập  
thể lao động biết và lấy ý kiến biểu quyết của tập thể lao động về các nội  
dung đã thỏa thuận. Trường hợp thương lượng không thành một trong hai  
bên có quyền tiếp tục đề nghị thương lượng hoặc tiến hành các thủ tục  
giải quyết tranh chấp lao động theo quy định.  
3.2.3. Lấy ý kiến của tập thể về dự thảo thỏa ước  
Việc lấy ý kiến của tập thể lao động do Ban chấp hành công đoàn  
cơ sở tiến hành bằng cách biểu quyết. Kết quả lấy ý kiến phải lập thành  
75  
biên bản và phải có chữ ký của đại diện Ban chấp hành công đoàn cơ sở.  
Thủ tục hỏi ý kiến tập thể người lao động là một trình tự rất quan trọng  
trong quá trình xây dựng thỏa ước. Mặc dù tổ chức công đoàn thực hiện  
chức năng đại diện cho tập thể người lao động nhưng vẫn phải hỏi ý kiến  
tập thể người lao động vì mọi nội dung mà thỏa ước xác lập đều gắn bó  
mật thiết đến đời sống người lao động. Bên cạnh đó, việc hỏi ý kiến để  
nhằm quy tụ ý chí của ba bên trên cơ sở dân chủ, công khai, bình đẳng  
đồng thời nâng cao trách nhiệm của các bên trong việc thực hiện thỏa ước,  
nâng cao sự tự giác của người lao động khi thỏa ước phát sinh hiệu lực.  
3.2.4. Hòan thiện dự thảo thỏa ước và tiến hành ký kết  
Sau khi hòan thiện dự thảo thỏa ước, các bên sẽ tiến hành ký kết  
khi có trên 50% số người của tập thể lao động biểu quyết tán thành nội  
dung thương lượng tập thể đã đạt được trong trường hợp ký thỏa ước lao  
động tập thể doanh nghiệp; có trên 50% số đại diện Ban chấp hành công  
đoàn cơ sở hoặc công đoàn cấp trên cơ sở biểu quyết tán thành nội dung  
thương lượng tập thể đã đạt được trong trường hợp ký thỏa ước lao động  
tập thể ngành.  
3.3. Đăng ký thỏa ước lao động tập thể  
Đăng ký thỏa ước là một thủ tục bắt buộc để cơ quan quản lý nhà  
nước về lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có căn cứ để  
quản lý lao động trong doanh nghiệp và là cơ sở kiểm tra tính hợp pháp  
của thỏa ước, kiểm tra việc áp dụng và thực thi pháp luật của người sử  
dụng lao động trong thực tế. Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật lao  
động sửa đổi năm 2012, việc đăng ký thỏa ước lao động tập thể nó không  
làm phát sinh hiệu lực của thỏa ước. Quy định này nhằm mục đích khẳng  
định tính chất thỏa thuận, hợp đồng của thỏa ước, mở rộng quyền tự chủ  
của các bên phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp.  
Thỏa ước lao động tập thể đã ký kết phải làm thành 5 bản, trong đó:  
- Mỗi bên ký kết giữ 01 bản;  
- 01 bản gửi cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh đối với  
thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp; gửi Bộ Lao động - Thương binh  
76  
và Xã hội đối với thỏa ước lao động tập thể ngành và thỏa ước lao động  
tập thể khác.  
- 01 bản gửi công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở và 01 bản gửi tổ  
chức đại diện người sử dụng lao động mà người sử dụng lao động là  
thành viên.  
4. HIỆU LỰC CỦA THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ  
4.1. Hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể  
Xét hiệu lực về thời gian, ngày có hiệu lực của thỏa ước lao động  
tập thể được ghi trong thỏa ước. Trường hợp thỏa ước lao động tập thể  
không ghi ngày có hiệu lực thì thỏa ước có hiệu lực kể từ ngày các bên  
ký kết.  
Xét hiệu lực về đối tượng, thỏa ước lao động tập thể có hiệu lực đối  
với tất cả người lao động làm việc trong doanh nghiệp, kể cả người vào  
làm việc sau ngày ký kết đều phải có trách nhiệm thực hiện thỏa ước.  
Như vậy, thỏa ước lao động tập thể phát sinh hiệu lực đối với những  
người lao động được hỏi ý kiến đồng ý với bản dự thảo thỏa ước và đối  
với những người lao động không được hỏi ý kiến.  
Xét hiệu lực về phạm vi: thỏa ước lao động tập thể có hiệu lực  
trong phạm vi các doanh nghiệp đối với thỏa ước doanh nghiệp và trong  
phạm vi ngành đối với thỏa ước ngành.  
Xét hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể so với văn bản  
pháp luật lao động, hợp đồng lao động và nội quy, quy chế của  
doanh nghiệp.21  
So với văn bản pháp luật lao động thì hiệu lực của thỏa ước lao  
động tập thể có giá trị pháp lý thấp hơn, nó mang tính nội bộ trong một  
hoặc nhiều doanh nghiệp, hoặc trong phạm vi ngành. Thỏa ước lao động  
tập thể là một nguồn đặc biệt, nguồn nội bộ của luật lao động.  
So với hợp đồng lao động, nội quy, quy chế thì thỏa ước lao động  
tập thể có hiệu lực pháp lý cao hơn. Thỏa ước lao động tập thể được xem  
là loại “hợp đồng mở”, “hợp đồng tập thể” hoặc “hợp đồng lao động đặc  
biệt”. Ngoài các nguyên tắc chung của mọi loại hợp đồng, khi ký kết hợp  
21 Tập bài giảng Luật lao động, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tr97  
77  
đồng lao động các bên phải tuân thủ nguyên tắc không trái pháp luật và  
thỏa ước lao động tập thể. Bên cạnh đó, pháp luật quy định: “Trong  
trường hợp một phần hoặc tòan bộ nội dung của hợp đồng lao động quy  
định quyền lợi của người lao động thấp hơn quy định trong pháp luật về  
lao động, nội quy lao động, thỏa ước lao động tập thể đang áp dụng hoặc  
nội dung của hợp đồng lao động hạn chế các quyền khác của người lao  
động thì một phần hoặc tòan bộ nội dung đó bị vô hiệu”. (Điều 50 Bộ  
luật lao động 2012). Pháp luật lao động cũng quy định trong trường hợp  
Tòa án xét xử phát hiện hợp đồng lao động trái với thỏa ước lao động tập  
thể thì Tòa án có thẩm quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Ngoài  
ra, pháp luật lao động cũng quy định trong trường hợp quyền lợi của  
người lao động đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động thấp hơn so với  
thỏa ước tập thể, thì các bên tiến hành sửa đổi, bổ sung phần của hợp  
đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu để phù hợp với thỏa ước lao động tập  
thể hoặc pháp luật về lao động.  
Thỏa ước lao động tập thể có hai loại: Thỏa ước có hiệu lực pháp lý  
và thỏa ước vô hiệu. Thỏa ước lao động tập thể cũng có thể bị coi là vô  
hiệu từng phần hoặc vô hiệu tòan bộ.  
Thỏa ước lao động tập thể có hiệu lực pháp lý là thỏa ước phải tuân  
thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về chủ thể tham gia thương lượng,  
ký kết thỏa ước, trình tự ký kết thỏa ước, nội dung thỏa ước.  
Thỏa ước lao động tập thể vô hiệu từng phần khi một hoặc một số  
nội dung trong thỏa ước trái pháp luật. (Điều 78 Bộ luật lao động 2012).  
Thỏa ước lao động tập thể vô hiệu tòan bộ thuộc một trong các  
trường hợp sau đây:  
- Có tòan bộ nội dung trái pháp luật;  
- Người ký kết không đúng thẩm quyền;  
- Việc ký kết không đúng quy trình thương lượng tập thể.  
Pháp luật quy định Tòa án có thẩm quyền tuyên bố thỏa ước lao  
động tập thể vô hiệu.  
Khi thỏa ước lao động tập thể bị tuyên bố vô hiệu thì quyền, nghĩa  
vụ và lợi ích của các bên ghi trong thỏa ước tương ứng với tòan bộ hoặc  
78  
phần bị tuyên bố vô hiệu được giải quyết theo quy định của pháp luật và  
các thỏa thuận hợp pháp trong hợp đồng lao động.  
4.2. Thực hiện thỏa ước  
Khi thỏa ước có hiệu lực, người sử dụng lao động phải thông báo  
cho mọi người lao động trong doanh nghiệp biết. Tất cả người lao động  
trong doanh nghiệp phải thực hiện đúng thỏa ước. Trong trường hợp khi  
một bên cho rằng bên kia thực hiện không đầy đủ hoặc vi phạm thỏa ước  
lao động tập thể, thì có quyền yêu cầu thi hành đúng thỏa ước và hai bên  
phải cùng nhau xem xét giải quyết; nếu không giải quyết được, mỗi bên  
đều có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể theo quy  
định của pháp luật. Tranh chấp về thỏa ước lao động tập thể được xác  
định là tranh chấp lao động tập thể.  
4.3. Thời hạn của thỏa ước  
Thỏa ước lao động tập thể được ký kết với thời hạn từ một đến ba  
năm. Đối với doanh nghiệp lần đầu ký kết thỏa ước tập thể, thì có thể ký  
kết với thời hạn dưới một năm. Chỉ sau 3 tháng thực hiện, kể từ ngày có  
hiệu lực đối với thỏa ước thời hạn dưới một năm và sáu tháng đối với  
thỏa ước lao động tập thể từ một đến ba năm, các bên mới có quyền yêu  
cầu sửa đổi, bổ sung thỏa ước. Việc sửa đổi bổ sung được tiến hành theo  
trình tự như ký kết thỏa ước tập thể.  
Trong thời hạn 03 tháng trước ngày thỏa ước lao động tập thể hết  
hạn, hai bên có thể thương lượng để kéo dài thời hạn của thỏa ước lao  
động tập thể hoặc ký kết thỏa ước lao động tập thể mới.  
Khi thỏa ước lao động tập thể hết hạn mà hai bên vẫn tiếp tục  
thương lượng, thì thỏa ước lao động tập thể cũ vẫn được tiếp tục thực  
hiện trong thời gian không quá 60 ngày.  
Trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp,  
chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý, quyền sử dụng tài sản của doanh  
nghiệp thì việc thực hiện thỏa ước như sau:  
- Thỏa ước lao động tập thể tiếp tục có hiệu lực đối với trường hợp  
sáp nhập doanh nghiệp mà doanh nghiệp nhận sáp nhập có số lao động  
được tiếp tục sử dụng chiếm trên 50% tổng số lao động sau khi sáp nhập.  
79  
- Các trường hợp hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, chuyển quyền  
sở hữu, quyền quản lý, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp và sáp  
nhập doanh nghiệp (trừ trường hợp trên) thì hai bên phải tiến hành  
thương lượng để ký kết thỏa ước tập thể mới trong thời hạn 6 tháng.  
- Trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp,  
chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý, quyền sử dụng tài sản của doanh  
nghiệp thì người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm trả  
lương và các quyền lợi khác cho người lao động từ doanh nghiệp cũ  
chuyển sang.  
- Trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản thì tiền lương, trợ cấp  
thôi việc, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác của người lao động theo  
thỏa ước và hợp đồng đã ký kết là khoản nợ trước hết trong thứ tự ưu tiên  
thanh toán.  
80  
Chương 5  
VIỆC LÀM VÀ HỌC NGHỀ  
1. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ VIỆC LÀM  
1.1. Khái niệm về việc làm  
Việc làm luôn là vấn đề nóng bỏng có ý nghĩa quan trọng đối với  
quốc gia Việt Nam nói riêng và các nước trên thế giới nói chung. Việc  
làm và tạo việc làm là một trong những mục tiêu chính của chiến lược  
phát triển kinh tế - xã hội nước ta trong những năm qua.  
Việc làm là một hiện tượng kinh tế xã hội, là đối tượng nghiên cứu  
của nhiều khoa học khác nhau như khoa học kinh tế, khoa học xã hội,  
khoa học pháp lý…  
Dưới góc độ kinh tế - xã hội: Có quan điểm cho rằng việc làm là  
một phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động với tư liệu sản  
xuất hoặc những phương tiện để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần  
cho xã hội.  
Việc làm cũng được hiểu như là một phạm trù kinh tế, tồn tại ở tất  
cả mọi hình thái xã hội, đó là một tập hợp những mối quan hệ kinh tế  
giữa con người về việc đảm bảo chỗ làm việc và tham gia của họ vào  
hoạt động kinh tế.22  
Cũng có quan điểm cho rằng việc làm là hoạt động trong đó có sự  
trả công do có sự tham gia có tính chất cá nhân và trực tiếp của người lao  
động vào quá trình sản xuất.  
Theo Guy-HânTơ thì “việc làm theo nghĩa rộng là tòan bộ các hoạt  
động kinh tế của một xã hội, nghĩa là tất cả những gì quan hệ đến cách  
thức kiếm sống của con người, tất cả các quan hệ xã hội và các tiêu  
chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình kinh tế”.23  
22 TSKH Phạm Đức Chính, Thị trường lao động cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam,  
NXBCTQG 2005, tr314  
23 Đặng Đức San(CB), Tìm hiểu Luật lao động Việt Nam, NXBCTQG 1996, tr56  
81  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 69 trang Thùy Anh 7441 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Luật lao động Việt Nam (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_luat_lao_dong_viet_nam_phan_2.pdf