Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh với việc nâng cao văn hóa chính trị trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Bùi Thị Thu Hiền  
VĂN HÓA CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC NÂNG CAO  
VĂN HÓA CHÍNH TRỊ TRONG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO,  
QUẢN LÝ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
HO CHI MINH’S POLITICAL CULTURE WITH IMPROVING  
POLITICAL CULTURE IN THE LEADERS AND MANAGERS IN VIETNAM TODAY  
BÙI THỊ THU HIỀN  
TÓM TẮT: Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh là một hệ thống các giá trị do Người sáng tạo ra trong  
suốt cuộc đời hoạt động chính trị của mình và là một tập hợp ba nhóm giá trị cơ bản gồm giá trị về  
tư tưởng; giá trị về hành vi và giá trị về nhân cách. Với những giá trị này, văn hóa chính trị Hồ Chí  
Minh trở thành mẫu mực của văn hóa lãnh đạo, quản lý và có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao  
văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay.  
Từ khóa: văn hóa chính trị; văn hóa chính trị Hồ Chí Minh.  
ABSTRACT: Ho Chi Minh’s political culture is a system of values created by himself throughout  
his political life, including three basic value groups, they are ideological value; behavioral value  
and personality value. With these values, Ho Chi Minh’s political culture is a model of leadership  
and managerment culture and has a great significance in improving the political culture of the  
leaders and managers in Vietnam nowadays.  
Key words: political culture; Ho Chi Minh’s political culture.  
cách mạng Việt Nam. Trong đó, nhóm những giá  
trị tư tưởng bao gồm: tri thức chính trị, niềm tin, lý  
tưởng chính trị và phương pháp, phong cách chính  
trị của Người; Nhóm các giá trị hành vi thể hiện ở  
việc xây dựng hệ thống chính trị thực sự của dân,  
do dân, vì dân, ở việc Người chú trọng xây dựng  
văn hóa lãnh đạo, văn hóa cầm quyền và văn hóa  
thực hành dân chủ; Nhóm các giá trị nhân cách  
chính trị biểu hiện ở việc, luôn đề cao vai trò của  
nhân dân, lấy dân làm gốc, luôn giải quyết hài hòa  
giữa đạo đức chính trị với cách thức đạt được các  
mục tiêu chính trị và ở phẩm chất cần, kiệm, liêm  
chính, luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên  
trên lợi ích cá nhân.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Văn hóa chính trị là một phương diện của văn  
hóa, ra đời khi xã hội loài người phân chia thành  
giai cấp và có hoạt động chính trị, có nhà nước.  
Văn hóa chính trị do con người sáng tạo ra trong  
quá trình hoạt động chính trị nhằm định hướng  
nhận thức cũng như hành vi của con người cho  
phù hợp với tiến trình phát triển của lịch sử. Văn  
hóa chính trị kết tinh toàn bộ những giá trị, phẩm  
chất, trình độ, năng lực chính trị được hình thành  
trên một nền chính trị nhất định nhằm thực hiện lợi  
ích giai cấp, dân tộc, cộng đồng và phù hợp với xu  
hướng phát triển tiến bộ của xã hội loài người.  
Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh là tổng hòa  
các giá trị tư tưởng, giá trị hành vi và giá trị nhân  
cách mang tính chân, thiện, mỹ mà Người sáng tạo  
ra trong quá trình hoạt động chính trị, lãnh đạo  
2. NỘI DUNG  
2.1. Giá trị tư tưởng trong văn hóa chính trị  
Hồ Chí Minh  
 TS. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, [email protected], Mã số: TCKH21-23-2020  
14  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 21, Tháng 5 - 2020  
Giá trị tư tưởng trong văn hóa chính trị Hồ Chí  
Minh bao gồm tri thức chính trị, niềm tin chính trị  
và phương pháp, phong cách chính trị của Người.  
Một trong những yếu tố nền tảng của văn hóa  
chính trị là tri thức chính trị. Tri thức chính trị là  
những hiểu biết về bản chất các mối quan hệ lợi  
ích giữa cá nhân với cộng đồng; giữa các giai cấp,  
tầng lớp với nhau trong một quốc gia dân tộc;  
giữa quốc gia này với quốc gia khác và thái độ  
của số đông quần chúng nhân dân với mỗi thể chế  
chính trị hiện thực. Tri thức chính trị bao gồm sự  
hiểu biết về chính trị và các kinh nghiệm chính trị  
đã diễn ra trong thực tiễn đời sống. Tri thức chính  
trị có vai trò hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động thực  
tiễn của mỗi chủ thể chính trị.  
cầm lái có vững thuyền mới chạy” [4, t.2,  
tr.289]. Với tri thức chính trị của mình, Hồ Chí  
Minh đã tiến hành chuẩn bị các điều kiện cho  
sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, mở ra  
một kỷ nguyên mới trong lịch sử phát triển của  
dân tộc, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với  
chủ nghĩa xã hội. Tri thức chính trị mà Hồ Chí  
Minh tiếp thu không chỉ là yếu tố bảo đảm cho  
tính đúng đắn, cách mạng, khoa học trong các  
quyết sách chính trị, ứng xử chính trị và đường  
lối chính trị, mà còn là ngọn cờ tư tưởng để  
đoàn kết, tập hợp mọi người Việt Nam yêu  
nước thực hiện mục tiêu chính trị phù hợp với  
nguyện vọng của quảng đại quần chúng nhân  
dân và xu thế thời đại.  
Sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh là  
sự nghiệp tìm kiếm lý luận, kinh nghiệm và mô  
hình chính trị để thực hiện mục tiêu giải phóng  
dân tộc gắn liền với giải phóng nhân dân lao  
động khỏi sự áp bức, bóc lột, bất công. Bằng  
các hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh tìm tòi,  
lựa chọn, tích lũy tri thức chính trị, đồng thời,  
vận dụng những tri thức mà Người tích lũy  
được vào việc đấu tranh chính trị. Trong quá  
trình tìm đường cứu nước, Người đã tiếp xúc  
với nhiều hệ tư tưởng, cả ở phương Đông và  
phương Tây, cả truyền thống và hiện đại, cả  
của dân tộc và nhân loại, nhưng Người lựa  
chọn chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư  
tưởng chính trị của cách mạng Việt Nam.  
Người đã khẳng định: “Chủ nghĩa Mác -Lê-nin  
đối với chúng ta, những người cách mạng và  
nhân dân Việt Nam, không những là cái cẩm  
nang thần kì, không những là cái kim chỉ nam,  
mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng  
ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa  
xã hội và chủ nghĩa cộng sản” [4, t.12, tr.563].  
Bên cạnh đó, quá trình tham gia hoạt động cách  
mạng đã giúp Hồ Chí Minh nhận rõ vai trò  
quan trọng của Đảng đối với sự thành bại của  
cách mạng. Người chỉ rõ, “Cách mệnh… Trước  
hết phải có đảng cách mệnh... Đảng có vững  
cách mệnh mới thành công, cũng như người  
Bên cạnh đó, niềm tin chính trị là một bộ  
phận cấu thành quan trọng trong văn hóa chính  
trị Hồ Chí Minh. Tri thức chính trị vững chắc là  
cơ sở để Người xây dựng niềm tin chính trị  
mang tính khoa học, cách mạng. Với mục tiêu,  
lý tưởng và nhận thức chính trị của mình, Hồ  
Chí Minh luôn có một niềm tin chính trị sâu  
sắc: Đó là niềm tin vào quy luật khách quan và  
xu thế thời đại; tin vào học thuyết Mác – Lê-  
nin, tin vào sứ mệnh lịch sử của giai cấp công  
nhân; tin vào mục tiêu, động lực, phương pháp  
của con đường cách mạng vô sản; tin vào sức  
mạnh của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên  
thế giới và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tin  
vào những phẩm chất tốt đẹp và khả năng  
hướng thiện của con người. Nhờ có niềm tin  
chính trị vững chắc, Hồ Chí Minh đã vững  
bước, kiên định lập trường trước biết bao gian  
khổ, thử thách trong quá trình hoạt động cách  
mạng, từ đó đưa cách mạng Việt Nam vượt qua  
nhiều giai đoạn khó khăn. Đồng thời, nhờ có  
niềm tin chính trị mà Hồ Chí Minh đã đưa ra  
những dự báo chính xác trong việc xác định  
phương hướng, đường lối cho cách mạng Việt  
Nam. Trước những diễn biến phức tạp của tình  
hình chính trị thế giới và trong nước, Hồ Chí Minh  
luôn giữ một niềm tin mãnh liệt rằng, “Dù phải  
gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên  
15  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Bùi Thị Thu Hiền  
quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta” [4,  
t.4, tr.534]. Niềm tin chính trị Hồ Chí Minh có sức  
lan tỏa mạnh mẽ đến các thế hệ cách mạng và  
quần chúng nhân dân, đã khích lệ ý chí, nghị lực,  
niềm tin và sức sáng tạo của nhân dân, tạo nên sức  
mạnh tổng hợp bảo đảm cho cách mạng Việt Nam  
đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.  
2.2. Giá trị hành vi trong văn hóa chính trị  
Hồ Chí Minh  
Bên cạnh giá trị tư tưởng, văn hóa chính  
trị Hồ Chí Minh còn bao gồm giá trị hành vi.  
Đó chính là những hoạt động xây dựng hệ  
thống chính trị bảo đảm mọi quyền lực thuộc  
về nhân dân; Xây dựng văn hóa lãnh đạo, văn  
hóa cầm quyền và văn hóa thực hành dân chủ.  
Giá trị hành vi của văn hóa chính trị Hồ Chí  
Minh trước hết thể hiện ở việc Người xây dựng  
hệ thống chính trị bảo đảm mọi quyền lực thuộc  
về nhân dân, trong đó, xây dựng Đảng Cộng sản  
Việt Nam trở thành đảng vững mạnh; xây dựng  
nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân;  
xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất nhằm thực  
hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân.  
Cách mạng muốn thành công phải có các  
quyết sách chính trị đúng đắn trong từng giai  
đoạn cách mạng cũng như toàn bộ tiến trình  
cách mạng. Để đưa ra một quyết sách chính trị  
đúng đắn cần phải có một phương pháp chính  
trị phù hợp cùng với một phong cách chính trị  
nhất quán nhằm đảm bảo cho phương pháp  
chính trị được triển khai trong thực tiễn.  
Phương pháp chính trị là tổng hợp các cách  
thức, biện pháp để thực hiện thắng lợi các mục  
tiêu, lý tưởng chính trị. Phương pháp chính trị  
Hồ Chí Minh bao gồm một hệ thống các  
phương pháp cách mạng đó là: lấy thực tiễn  
Việt Nam làm cơ sở xuất phát để hướng đến  
mục tiêu cải tạo và phát triển đời sống chính trị  
của nhân dân; động lực cách mạng là toàn dân  
nên phải huy động lực lượng của toàn dân; kiên  
định về chiến lược nhưng linh hoạt, mềm dẻo  
về sách lược “dĩ bất biến ứng vạn biến”; tích  
cực, chủ động tạo lực, lập thế và nắm bắt thời  
cơ cách mạng, đi từ nhỏ đến lớn, từ bộ phận  
đến toàn thể, giành thắng lợi từng phần để đi  
đến thắng lợi hoàn toàn. Với việc sáng tạo các  
phương pháp cách mạng, Hồ Chí Minh đã từng  
bước hiện thực hóa các mục tiêu chính trị đã  
xác định và đưa ra những quyết sách chính trị  
đúng đắn cho sự thắng lợi của cách mạng Việt  
Nam. Phương pháp kết hợp với phong cách trở  
thành một yếu tố quan trọng cấu thành văn hóa  
chính trị Hồ Chí Minh. Phong cách chính trị Hồ  
Chí Minh thể hiện tập trung nhất ở nguyên tắc  
hành động là “việc gì có lợi cho dân phải hết  
sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức  
tránh” [4, t.4, tr.51]. Nguyên tắc đó luôn được  
quán triệt và thể hiện xuyên suốt, nhất quán, chỉ  
đạo mọi ứng xử chính trị của Người.  
Để giữ vai trò lãnh đạo cách mạng, theo  
Hồ Chí Minh, Đảng phải trong sạch, vững  
mạnh và việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải  
được tiến hành thường xuyên là điều hệ trọng,  
cốt tử liên quan đến vận mệnh của Đảng và sự  
thành bại của cách mạng. Người nói: “Một dân  
tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua  
là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định  
ngày hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người  
yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong  
sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” [4,  
t.15, tr.672]. Vì vậy, Đảng đặc biệt quan tâm  
đến việc chỉnh đốn và đổi mới để hạn chế, ngăn  
chặn, đẩy lùi và tẩy trừ mọi tệ nạn do thoái hóa,  
biến chất gây ra, trong điều kiện Đảng lãnh đạo  
chính quyền nhà nước. Nói cách khác, để đạt  
được mục tiêu cao nhất là vì lợi ích của nhân  
dân, của dân tộc, Đảng phải luôn có đường lối  
đúng, phải trong sạch, vững mạnh và phải  
thường xuyên liên hệ, gắn bó với quần chúng.  
Để thực sự giải phóng nhân dân, Hồ Chí Minh  
chủ trương sau khi đất nước giành được nền  
độc lập, tự do, phải thiết lập, xây dựng một nhà  
nước kiểu mới - nhà nước của dân, do dân, vì  
dân với nhiệm vụ trọng yếu nhất là đoàn kết  
toàn dân, lo làm lợi cho nhân dân, trước hết là  
nhân dân lao động; làm cho trong xã hội không  
16  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 21, Tháng 5 - 2020  
còn tình trạng người bóc lột người và quan hệ  
giữa người với người là quan hệ thân ái, bình  
đẳng… Tính nhất quán trong chủ trương xây  
dựng nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh  
thể hiện ở cả mục đích, nguyên tắc tổ chức lẫn  
phương thức hoạt động của Nhà nước. Nhà  
nước đó phải được tổ chức một cách hợp hiến,  
hợp pháp và có sự phân quyền trong thực hiện  
quyền lực nhà nước; Nhà nước hoạt động trong  
khuôn khổ pháp luật và quản lý xã hội bằng  
pháp luật, thể hiện sự kết hợp giữa đức trị và  
pháp trị… Nó phải thực sự là công cụ quyền  
lực của nhân dân lao động; phản ánh, thực hiện  
và bảo vệ lợi ích của nhân dân. Người nói:  
“Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên  
chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém  
phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến  
pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự  
do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp  
dân chủ” [4, t.4, tr.7]. Đồng thời, rất nhiều lần  
Hồ Chí Minh đã chỉ ra một cách nghiêm khắc  
những tiêu cực trong bộ máy nhà nước mới và  
đề ra những biện pháp khắc phục. Trong đó,  
Người coi tham ô, lãng phí, quan liêu là “giặc  
nội xâm” làm nhức nhối xã hội và là nguy cơ  
phá hoại bản chất giai cấp công nhân của nhà  
nước. Theo Hồ Chí Minh “Tham ô là lấy của  
công làm của tư. Là gian lận tham lam. Là  
không tôn trọng của công. Là không thương  
tiếc tiền gạo do mồ hôi nước mắt của đồng bào  
làm ra, do xương máu của chiến sĩ làm ra” [4,  
t.7, tr.296-297]. Cùng với tham ô, lãng phí  
cũng bị Hồ Chí Minh coi là một tội lỗi đối với  
đất nước, đối với nhân dân. Lãng phí là những  
việc làm của cán bộ cơ quan nhà nước, quân  
đội, xí nghiệp và nhân dân làm hao tổn, tốn  
kém vô ích sức lao động, thời giờ, tiền của.  
Người viết: “Có người nói tham ô mới có tội,  
còn lãng phí thì không có tội. Thực ra việc khác  
nhau nhưng kết quả vẫn hao tổn của công, của  
Chính phủ, của nhân dân” [4, t.7, tr.345]. Từ  
đó, Người kết luận: “Tham ô, lãng phí và bệnh  
quan liêu dù cố ý hay không cũng là bạn đồng  
minh của thực dân và phong kiến… Tội lỗi ấy  
cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám” [4,  
t.7, tr.358]. Vì vậy, cần phải đấu tranh chống  
tham ô, lãng phí, quan liêu để giữ gìn bộ máy  
nhà nước trong sạch. Bên cạnh đó, để bảo đảm  
sự tham gia ngày càng sâu, rộng của nhân dân  
vào đời sống chính trị và tạo điều kiện để người  
dân đóng góp sức lực, trí tuệ của mình cho sự  
nghiệp cách mạng, Người đã rất quan tâm đến  
việc xây dựng các tổ chức, đoàn thể phù hợp  
với lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp của nhân  
dân. Mặt trận dân tộc thống nhất là hình thức  
phù hợp để đoàn kết và phát huy sức mạnh toàn  
dân tộc, “đem hết sức dân, tài dân, của dân…  
làm lợi cho dân” [4, t.5, tr.75]. Như vậy, tư  
tưởng đại đoàn kết toàn dân của Hồ Chí Minh  
trong mặt trận đã tạo nên lực lượng cách mạng  
rộng lớn - nhân tố thường xuyên đảm bảo thắng  
lợi của cách mạng Việt Nam.  
Không chỉ chú trọng xây dựng hệ thống  
chính trị, Hồ Chí Minh còn chú trọng xây dựng  
văn hóa lãnh đạo, văn hóa cầm quyền và văn hóa  
thực hành dân chủ - đây chính là những giá trị  
nhằm đảm bảo cho hệ thống chính trị hoạt động  
hiệu quả trong việc thực hiện quyền lực chính trị  
của nhân dân. Hệ thống chính trị thực sự vững  
mạnh khi nó mang trong mình các giá trị văn hóa.  
Đồng thời, hệ thống chính trị chỉ có thể thu hút  
được sự tham gia của nhân dân, khơi dậy tính tích  
cực chính trị của nhân dân khi nó thấm nhuần  
những giá trị chân, thiện, mỹ.  
Văn hóa lãnh đạo được Hồ Chí Minh xây  
dựng là một hệ thống quan điểm sâu sắc của  
Người về những giá trị trong hoạt động lãnh  
đạo, quản lý, thể hiện trí tuệ, bản lĩnh của Đảng  
cầm quyền và người lãnh đạo, quản lý. Các giá  
trị đó tạo nên bản chất và sức sống của Đảng  
cầm quyền, là chất kết dính giữa Đảng với nhân  
dân tạo nên sức mạnh cho Đảng và cho cách  
mạng. Quan niệm về văn hóa lãnh đạo của Hồ  
Chí Minh thể hiện một cách khúc chiết ở luận  
đề mang tính tổng kết chiều sâu lịch sử hoạt  
động của Đảng, khi Người cho rằng: “Đảng ta  
17  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Bùi Thị Thu Hiền  
là đạo đức, là văn minh” [4, t.12, tr.403]. Trong  
“Di chúc”, Người viết: “Đảng ta là một đảng  
cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật  
sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự  
cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ  
gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là  
người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung  
thành của nhân dân” [4, t.12, tr.403]. Bên cạnh  
xây dựng văn hóa lãnh đạo, Hồ Chí Minh còn  
chú trọng xây dựng văn hóa cầm quyền. Cầm  
quyền được hiểu là một chủ thể (lực lượng  
chính trị, hay đảng phái) nắm giữ chính quyền,  
quyền lực nhà nước. Đây là khái niệm biểu  
hiện mối quan hệ giữa đảng chính trị và nhà  
nước trong xã hội hiện đại. Khi Đảng Cộng sản  
Việt Nam trở thành đảng cầm quyền, Hồ Chí  
Minh chú trọng xây dựng văn hóa cầm quyền  
trên các mặt: Một là, tính chính đáng về sự cầm  
quyền của đảng; Hai là, sự tuân thủ, tôn trọng  
luật pháp của đảng cầm quyền; Ba là, ý thức  
trách nhiệm của đảng viên. Trong văn hóa cầm  
quyền, Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng đến  
việc xây dựng tính chính đáng của đảng cầm  
quyền và xem đây là điều kiện sống còn của  
Đảng. Để giữ vai trò cầm quyền, trước hết  
Đảng phải được lòng dân, phải được dân ủng  
hộ. Khi đã trở thành Đảng cầm quyền, Hồ Chí  
Minh thường xuyên nhắc nhở đến nguy cơ xa  
rời quần chúng của cán bộ, đảng viên, và coi đó  
là nguyên nhân dẫn đến bệnh quan liêu, tham ô,  
lãng phí, đặc quyền đặc lợi. Đây chính là các  
thứ bệnh nguy hiểm nhất của một đảng cầm  
quyền, không những làm mất uy tín của Đảng  
mà còn phá vỡ Đảng từ bên trong. Chính vì  
vậy, Người đặt ra yêu cầu đối với mỗi cán bộ,  
đảng viên là phải gắn bó với nhân dân, liên hệ  
chặt chẽ với nhân dân. Trong mối quan hệ với  
dân, trước hết, Đảng tôn trọng, lắng nghe ý  
kiến của nhân dân là để lấy các ý kiến đó làm  
cơ sở cho việc hoạch định đường lối, chủ  
trương đúng đắn của mình. Hồ Chí Minh đã chỉ  
rõ: “Khi đặt ra khẩu hiệu và chỉ thị, luôn phải  
dựa vào điều kiện thiết thực và kinh nghiệm  
cách mạng ở các nước, điều kiện ở trong nước  
và ở địa phương. Phải luôn luôn do nơi quần  
chúng mà kiểm soát những khẩu hiệu và chỉ thị  
có đúng hay không” [4, t.5, tr.289]. Như vậy,  
tính chính đáng của đảng cầm quyền thể hiện ở  
niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Đảng phải  
nhận được sự ủng hộ của nhân dân. Chỉ khi ấy,  
đảng cầm quyền mới có thể giữ được vai trò, vị  
trí cầm quyền. Không chỉ chú trọng xây dựng  
văn hóa lãnh đạo, văn hóa cầm quyền, Hồ Chí  
Minh còn chủ trọng xây dựng văn hóa thực  
hành dân chủ. Văn hóa thực hành dân chủ là  
những nguyên tắc, chuẩn mực, những giá trị  
chính trị của một công dân tốt: không chỉ có  
quan hệ xử thế đúng mực trong cộng đồng,  
chấp hành luật pháp của nhà nước, thực hiện  
hài hòa quyền lợi với nghĩa vụ, mà còn thể hiện  
ở năng lực, khả năng của họ khi tham dự vào  
mọi công việc của quốc gia thông qua trưng  
cầu dân ý, thực hiện sáng kiến pháp luật, bầu  
cử, kiểm tra và giám sát người đại diện và cơ  
quan đại diện. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Nước ta  
là nước dân chủ, nghĩa là nhà nước do nhân dân  
làm chủ. Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì  
phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân,  
giữ đúng đạo đức công dân” [4, t.9, tr.258].  
Trong mối quan hệ với Nhà nước, Hồ Chí  
Minh coi dân là người “chủ”, nhân dân có  
quyền ứng cử, đề cử đại biểu vào cơ quan nhà  
nước, đồng thời có quyền bãi miễn đại biểu  
Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu  
những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với  
sự tín nhiệm của nhân dân. Trong chế độ dân  
chủ, dân không chỉ bầu ra nhà nước mà còn là  
người kiểm soát nhà nước. Người viết: “Muốn  
chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn  
biết các nghị quyết có được thi hành không, thi  
hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm,  
ai làm qua chuyện, chỉ có một cách là khéo  
kiểm soát. Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết  
điểm lòi ra hết, hơn nữa, kiểm tra khéo về sau  
khuyết điểm nhất định bớt đi” [4, t.5, tr.327].  
Như vậy, văn hóa thực hành dân chủ mà Hồ  
18  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 21, Tháng 5 - 2020  
Chí Minh xây dựng thể hiện ở trách nhiệm và  
quyền lợi của dân. Trong xã hội dân chủ, dân  
có quyền với nhà nước, đồng thời cũng phải có  
trách nhiệm, nghĩa vụ với nhà nước, với xã hội.  
2.3. Giá trị nhân cách trong văn hóa chính  
trị Hồ Chí Minh  
Giá trị nhân cách trong văn hóa chính trị  
Hồ Chí Minh thể hiện ở các nội dung: 1) Hồ  
Chí Minh luôn đề cao vai trò của nhân dân,  
trọng dân, thân dân, mọi suy nghĩ và hành động  
cách mạng đều vì quyền lợi của dân; 2) Hồ Chí  
Minh luôn chú trọng xây dựng đạo đức chính  
trị; 3) Hồ Chí Minh suốt đời tu dưỡng đạo đức  
chính trị, luôn hài hòa giữa đạo đức chính trị  
với cách thức đạt được các mục tiêu chính trị,  
luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên  
lợi ích cá nhân.  
việc Hồ Chí Minh trọng dân, tin dân, thấy được  
sức mạnh của dân mà Hồ Chí Minh còn chú  
trọng xây dựng đạo đức cách mạng. Chính trị  
chỉ thực sự trở thành văn hóa, có giá trị văn hóa  
khi tất cả hệ thống cùng các yếu tố cấu thành  
của nó như: mục tiêu, lý tưởng, phương pháp,  
phương tiện và mỗi chủ thể có đạo đức cách  
mạng. Hồ Chí Minh xem đạo đức là cái gốc của  
người cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, mỗi  
người đều phải thấm nhuần đạo đức cách mạng,  
nhất là phải có và thường xuyên rèn luyện 5  
đức tính tốt: Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm.  
Trau dồi đạo đức cách mạng là yêu cầu nền  
tảng của mỗi con người, trước hết là đối với  
người cán bộ cách mạng. Người căn dặn người  
cán bộ cách mạng phải có và luôn giữ vững đạo  
đức cách mạng, bởi vì, “tính xấu của một người  
thường chỉ có hại cho người đó, còn tính xấu  
của một đảng viên, một cán bộ sẽ có hại đến  
Đảng, có hại đến nhân dân” [4, t.5, tr.294].  
Chính vì vậy, việc bồi dưỡng phẩm chất chính  
trị, đạo đức, tạo nên những nhân cách mẫu mực  
phải là công việc thường xuyên đối với người  
cách mạng. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên phải  
luôn nêu cao tinh thần tự giác trong tự giáo  
dục, tự rèn luyện, toàn tâm, toàn ý phục vụ  
Đảng, phục vụ nhân dân. Người cán bộ phải thể  
hiện đạo đức cách mạng qua hành động thực  
tiễn, phải trở thành mẫu mực trong mọi công  
việc: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn  
một trăm bài diễn văn tuyên truyền” [4, t.1,  
tr.284]. Hồ Chí Minh đã hy sinh cả cuộc đời để  
làm cách mạng nhưng không vì bản thân mình  
mà chỉ có một mục đích là đem lại độc lập cho  
dân tộc, tự do cho nhân dân. Vì vậy, Người  
không chỉ chú trọng việc xây dựng đạo đức  
cách mạng mà còn để lại một tấm gương sáng  
ngời về đạo đức cách mạng.  
Tư tưởng và hành động cụ thể trong ứng  
xử với nhân dân không chỉ là nguồn gốc sâu xa  
tạo nên sự nghiệp chính trị Hồ Chí Minh mà  
còn là một giá trị nổi bật của văn hóa chính trị  
của Người. “Nhân dân” theo quan niệm của Hồ  
Chí Minh, là cộng đồng người bao gồm nhiều  
giai cấp, tầng lớp khác nhau nhưng đều là gốc  
của quốc gia, dân tộc, vừa là cơ sở cho sự ra  
đời, tồn tại và phát triển của chính trị vừa là  
chủ thể của chính trị. Với quan điểm “Trong  
bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế  
giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết  
của nhân dân” [4, t.10, tr.453], Hồ Chí Minh  
luôn đề cao vai trò của nhân dân, tôn trọng dân,  
học hỏi dân, xuất phát từ dân để xác định lực  
lượng và phương pháp cách mạng. Hồ Chí  
Minh chủ trương phải dựa vào nhân dân, khơi  
dậy sức mạnh tiềm tàng trong nhân dân để phục  
vụ cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng đời sống  
mới trong nhân dân. Đồng thời, Chính phủ phải  
nắm bắt và giải quyết kịp thời những nhu cầu  
chính đáng của nhân dân như: ăn, mặc, ở, học  
hành, chữa bệnh… Nếu dân đói, dân rét, dân  
không được học hành thì đó là lỗi của Đảng và  
Chính phủ. Giá trị nhân cách trong văn hóa  
chính trị Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện ở  
Trong hệ thống chính trị, văn hóa chính trị  
của người cán bộ lãnh đạo, quản lý có ý nghĩa  
quan trọng để góp phần vận hành hệ thống  
chính trị theo những mục tiêu đã đề ra. Nội  
dung của nó được thể hiện rõ nét ở thái độ,  
19  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Bùi Thị Thu Hiền  
cách thức hành xử của người cán bộ lãnh đạo,  
quản lý đối với quyền lực được trao để thực  
hiện nhiệm vụ. Nếu người cán bộ lãnh đạo,  
quản lý có thái độ đúng đắn đối với quyền lực  
được giao để thực hiện các mục tiêu chính trị vì  
lợi ích chung của tập thể, xã hội thì sẽ trở thành  
động lực lớn cho sự phát triển của đất nước.  
Ngược lại, nếu xem quyền lực đó là đặc quyền  
riêng mà mình được hưởng nên có những ứng  
xử theo hướng quan liêu, lạm quyền, ích kỷ, vụ  
lợi cho bản thân hay những người cùng phe  
cánh, đi ngược lại với lợi ích của quốc gia, dân  
tộc thì sẽ trở thành những nguy cơ tai hại cho  
sự tồn vong và phát triển của chế độ chính trị  
và sự vững mạnh của đất nước. Sử dụng quyền  
lực chính trị và đặc biệt là quyền lực nhà nước  
cần phải được thực hiện trên nền tảng văn hóa,  
đảm bảo tính chân - thiện - mỹ mới có thể đảm  
bảo tính chính đáng của việc sử dụng quyền  
lực. Với những giá trị truyền thống, những  
chuẩn mực tốt đẹp mà thế hệ đi trước đã để lại,  
hệ thống chính trị Việt Nam cũng như mỗi  
người cán bộ lãnh đạo, quản lý đã cùng toàn  
thể nhân dân thực hiện thắng lợi các cuộc cách  
mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước  
và xây dựng đất nước phát triển lên những nấc  
thang mới tiến bộ hơn về mọi phương diện từ  
kinh tế đến chính trị, xã hội, ngoại giao… Tuy  
nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng trong quá trình đó  
vẫn có những biểu hiện suy thoái về văn hóa chính  
trị trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý như hiện  
tượng tham ô, tham nhũng, quan liêu, sách nhiễu  
nhân dân, lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm thất  
thoát tiền của nhà nước… Nghị quyết Trung ương  
4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng  
Đảng hiện nay”, nhận định: “Một bộ phận không  
nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng  
viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán  
bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo  
đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự  
phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích  
kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài,  
kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy  
tiện, vô nguyên tắc…” [1, tr.22]. Những hành vi  
tiêu cực này sẽ tác động đến sự tồn vong của chế  
độ, đến sự phát triển bền vững của đất nước.  
Trước tình hình đó, nhận thức được vai trò  
trụ cột của người cán bộ lãnh đạo, quản lý trong  
hệ thống chính trị, Đại hội XII của Đảng xác  
định nhiệm vụ: “Nâng cao bản lĩnh chính trị,  
trình độ trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và  
của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ  
lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp; không dao  
động trong bất cứ tình huống nào”; và “Chú  
trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, tính chuyên  
nghiệp, tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ,  
công chức, viên chức” [2, tr.199]. Xây dựng văn  
hóa chính trị Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ  
lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay là một  
quá trình tác động có chủ đích, nhằm làm cho  
các giá trị của văn hóa chính trị Hồ Chí Minh  
không chỉ thấm vào nhân cách mỗi cá nhân cán  
bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, mà phải được biểu  
hiện ra ở việc biết vận dụng sáng tạo và phát huy  
cao độ các giá trị đó trong đời sống chính trị  
hiện nay của đất nước. Theo đó, nâng cao văn  
hóa chính trị người cán bộ lãnh đạo, quản lý  
chính là làm cho người cán bộ lãnh đạo, quản lý  
đạt các yêu cầu: kiên định và nhất quán mục tiêu  
độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; có  
năng lực, phương pháp và phong cách chính trị  
đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ; đồng thời, người  
cán bộ lãnh đạo, quản lý thực sự tiêu biểu về đạo  
đức cách mạng. Nâng cao văn hóa chính trị của  
người cán bộ lãnh đạo, quản lý theo văn hóa  
chính trị Hồ Chí Minh cần thực hiện đồng bộ  
các giải pháp:  
Thứ nhất, mỗi cán bộ cần tự giác tu dưỡng,  
bồi dưỡng tri thức chính trị, niềm tin chính trị, bản  
lĩnh chính trị nhằm nâng cao năng lực đáp ứng yêu  
cầu công tác, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi  
mới và hội nhập quốc tế. Một khi hình thành giá trị  
văn hóa chính trị cá nhân, mỗi cán bộ sẽ khắc phục  
được hạn chế, tiêu cực, phát huy những ưu điểm,  
hình thành những phẩm chất mới do yêu cầu  
nhiệm vụ đặt ra. Đồng thời, mỗi cán bộ lãnh đạo,  
20  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 21, Tháng 5 - 2020  
quản lý phải nêu gương sáng về phẩm chất đạo  
đức cách mạng, hết lòng hết sức phụng sự Tổ  
quốc, phục vụ nhân dân, luôn “dĩ công vi thượng”,  
đặt lợi ích quốc gia, dân tộc và mục tiêu, lý tưởng  
cách mạng của Đảng lên trên hết.  
không còn tỏ ra xứng đáng. Khi trình độ văn  
hóa chính trị được nâng cao, người dân sẽ hoàn  
thiện khả năng hiểu biết và sử dụng tổng thể  
các quy phạm pháp luật mang giá trị dân chủ để  
tự bảo vệ các lợi ích hợp pháp của nhà nước và  
công dân, họ biết dùng pháp luật như một công  
cụ hữu hiệu để đấu tranh không khoan nhượng  
chống mọi hành vi phạm pháp, trực tiếp là  
tham nhũng, quan liêu, lộng quyền và lạm  
quyền trong hoạt động thực thi quyền lực chính  
trị. Hai nhóm giải pháp này có mối quan hệ mật  
thiết với nhau và cần phải được thực hiện đồng  
bộ mới có thể nâng cao văn hóa chính trị của  
người cán bộ lãnh đạo, quản lý.  
Thứ hai, cần tạo lập môi trường văn hóa  
chính trị để người cán bộ thực hiện tốt chức  
trách, nhiệm vụ của mình, trong đó, cần tiếp tục  
xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững  
mạnh; nâng cao văn hóa lãnh đạo, văn hóa cầm  
quyền của Đảng và nâng cao văn hóa chính trị  
của quần chúng nhân dân. Hệ thống chính trị  
trong sạch, vững mạnh sẽ chi phối tính chất,  
mục tiêu, nhiệm vụ, hiệu quả hoạt động của đội  
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đến lượt nó, hiệu  
lực, hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ  
chính là thước đo năng lực lãnh đạo, uy tín, vị  
thế và sự vững mạnh của hệ thống chính trị.  
Đồng thời, nâng cao văn hóa chính trị của cán  
bộ lãnh đạo, quản lý gắn liền với việc nâng cao  
văn hóa chính trị của quần chúng nhân dân. Khi  
trình độ văn hóa chính trị của nhân dân lao  
động được nâng cao sẽ tạo ra những thách thức  
cần thiết đòi hỏi người cán bộ phải có bước  
trưởng thành cao hơn, vì tư cách của họ là chủ  
thể lãnh đạo mang tính tiên phong, dẫn đường.  
Điều quan trọng là khi trình độ văn hóa chính  
trị được nâng cao, quần chúng nhân dân sẽ có  
khả năng góp phần quản lý, giám sát đội ngũ  
cán bộ. Đồng thời cùng với sự lớn mạnh của  
các thể chế, người dân có thể tạo sức ép thay  
đổi những người nắm vị trí lãnh đạo một khi họ  
3. KẾT LUẬN  
Với những giá trị có tính bền vững của tư  
tưởng, hành vi và nhân cách chính trị, văn hóa  
chính trị Hồ Chí Minh đang tiếp tục phát huy  
giá trị trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và  
nhân dân Việt Nam hiện nay. Đặc biệt, với tính  
cách là một mẫu mực của văn hóa lãnh đạo,  
quản lý, văn hóa chính trị Hồ Chí Minh có ý  
nghĩa thiết thực đối với việc nâng cao văn hóa  
chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở  
Việt Nam hiện nay. Việc xây dựng văn hóa  
chính trị Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ lãnh  
đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay nhằm giữ  
vững và phát huy những giá trị đó trong đời  
sống chính trị hiện tại là vấn đề có ý nghĩa thiết  
thực trong quá trình đẩy mạnh việc “Học tập và  
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Văn kiện Hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành Trung ương  
khóa XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính  
trị Quốc gia, Hà Nội.  
[3] Phạm Văn Đồng (1990), Hồ Chí Minh - tinh hoa và khí phách của dân tộc, lương tâm của thời  
đại, Nxb Sự thật, Hà Nội.  
[4] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 1, 2, 4, 5, 7, 12, 15, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
Ngày nhận bài: 11-5-2020. Ngày biên tập xong: 13-5-2020. Duyệt đăng: 26-5-2020  
21  
pdf 8 trang Thùy Anh 19600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh với việc nâng cao văn hóa chính trị trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_hoa_chinh_tri_ho_chi_minh_voi_viec_nang_cao_van_hoa_chin.pdf