Vận dụng quan điểm phát triển của Triết học Mác – Lê-nin trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Phan Thị Bích Trâm  
VẬN DỤNG QUANĐIỂMPHÁTTRIỂN CỦA TRIẾTHỌC MÁC –LÊ-NIN  
TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
TO APPLY THE DEVELOPMENT PERSPECTIVE OF MARXIST LENINIST  
PHILOSOPHY IN SUSTAINABLE DEVELOPMENT IN VIETNAM  
PHAN THỊ BÍCH TRÂM  
TÓM TẮT: Bài viết tập trung vào các vấn đề: tìm hiểu quan điểm phát triển của triết học Mác –  
Lê-nin; vận dụng quan điểm phát triển trong phát triển bền vững ở Việt Nam. Từ đó, trình bày một  
số giải pháp định hướng nhằm góp phần giải quyết vấn đề phát triển bền vững theo định hướng xã  
hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.  
Từ khóa: quan điểm phát triển; triết học Mác – Lê-nin; phát triển bền vững; xã hội chủ nghĩa.  
ABSTRACT: The article focuses on the following issues: understanding the development perspective of  
Marxist-Leninist philosophy; applying the development perspective in sustainable development in  
Vietnam. In which, the article will mention some solutions aim to contribute to solve the issue of  
sustainable development in sustainable development by socialist orientation in VietNam.  
Key words: development perspective; Marxist-Leninist philosophy; sustainable development; socialist.  
Vì vậy, trên quan điểm phát triển của triết học  
Mác – Lê-nin là nền tảng và cơ sở lý luận cho  
phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Phát triển bền vững là định hướng chiến  
lược của các quốc gia trên thế giới trong thời  
đại cách mạng khoa học - công nghệ, cũng như  
trong bối cảnh của quá trình toàn cầu hóa, là  
niềm hy vọng lớn của toàn thể loài người nói  
chung và Việt Nam nói riêng. Nhằm hướng tới  
phát triển bền vững, Việt Nam đã xây dựng  
nhiều chương trình và kế hoạch phát triển bền vững  
như: chương trình Nghị sự 21; chiến lược phát  
triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020;  
Quyết định số 681/QĐ-TTg về lộ trình thực hiện  
các mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam  
đến năm 2030… Phát triển bền vững đất nước  
là tất yếu khách quan, phản ánh ý chí, nguyện  
vọng, lợi ích của nhân dân, quốc gia, dân tộc, là  
sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.  
Phát triển bền vững sẽ củng cố và tạo dựng  
niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước  
với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội và  
khẳng định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội.  
2. NỘI DUNG  
2.1.Quanđiểmpháttriểncủatriếthọc Mác–Lê-nin  
Chủ nghĩa duy vật biện chứng là một trong  
ba phát minh quan trọng nhất của chủ nghĩa  
Mác. Nội dung của phép biện chứng duy vật hết  
sức phong phú, bao gồm những vấn đề cơ bản:  
nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý  
về sự phát triển, đây là nội dung bao quát toàn bộ  
phép biện chứng; những quy luật cơ bản của sự  
phát triển, vạch rõ nguồn gốc, động lực, cách thức  
và khuynh hướng của sự phát triển; các cặp phạm  
trù cơ bản phản ánh các mối liên hệ cơ bản và  
quan trọng của thế giới. Ph. Ăngghen định nghĩa  
“Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ  
biến” có “những quy luật chủ yếu: sự chuyển  
hóa lượng thành chất, sự xâm nhập lẫn nhau  
của các mâu thuẫn đối cực và sự chuyển hóa từ  
mâu thuẫn này sang mâu thuẫn khác khi mâu  
 ThS. Trường Đại học Công nghệ Sài Gòn, [email protected], Mã số: TCKH28-23-2021  
24  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 28, Tháng 7 - 2021  
thuẫn đó lên tới cực độ, sự phát triển bằng mâu  
thuẫn hoặc phủ định của phủ định, phát triển  
theo hình xoáy trôn ốc” [3, tr.455]. V.I.Lê-nin  
viết: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng  
là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối  
lập. Nắm được hạt nhân của phép biện chứng,  
nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải  
thích và một sự phát triển thêm” [9, tr.379].  
Trong phép biện chứng duy vật, nguyên lý về  
sự phát triển khẳng định vạn vật trong vũ trụ ở  
trạng thái động, nằm trong khuynh hướng  
chung là vận động biến đổi và phát triển. Sự  
phát triển biểu hiện thông qua ba quy luật cơ  
bản của phép biện chứng. Sự phát triển của các  
sự vật, hiện tượng không chỉ tăng lên về mặt số  
lượng, mà điều quan trọng là chúng luôn biến  
đổi, chuyển hóa lẫn nhau, cái cũ mất đi cái mới  
ra đời thay thế cho cái cũ, quá trình tiến lên  
không ngừng. Bản chất khách quan của quá  
trình vận động và phát triển đòi hỏi tư duy con  
người phải nhận thức, phản ánh đúng hiện thực  
khách quan. Trong sự phát triển của xã hội loài  
người, đó là sự thay thế các hình thái kinh tế -  
xã hội, trong đó hình thái kinh tế - xã hội sau  
bao giờ cũng cao hơn về chất so với hình thái  
kinh tế - xã hội trước. Sự phát triển trong nhận  
thức con người thể hiện ở khả năng sáng tạo và  
cải tạo thế giới của con người. Từ việc con  
người là sản phẩm của tự nhiên thông qua hoạt  
động thực tiễn và sản xuất vật chất con người  
trở thành chủ thể của lịch sử. Khi nghiên cứu  
“phát triển” C. Mác và Ph. Ăngghen đã so sánh  
khái niệm vận động và khái niệm phát triển.  
Hai ông cho rằng hai khái niệm này không đồng  
nhất với nhau. Theo Ph.Ăngghen “Vận động – là  
phương thức tồn tại của vật chất. Bất kỳ ở đâu  
và bất cứ lúc nào không có và không thể có vật  
chất mà không vận động… Vật chất không có  
vận động, cũng như vận động không có vật chất,  
đều không hình dung nổi” [3, tr.84]. Ph.Ăngghen  
viết: “Khi chúng ta dùng tư duy để xem xét giới  
tự nhiên, lịch sử loài người, hay hoạt động tinh  
thần của bản thân chúng ta thì trước mắt,  
chúng ta thấy một bức tranh về sự chằng chịt vô  
tận của những mối liên hệ và những tác động qua  
lại trong đó không có cái gì đứng nguyên,  
không thay đổi, mà tất cả đều vận động, biến đổi,  
phát sinh và mất đi” [3, tr.35]. Còn “phát triển” là  
sự vận động, đó là sự vận động theo khuynh  
hướng đi lên. Song, không phải mọi sự vận  
động đều là phát triển. Sự phát triển một mặt là  
sự vận động đi lên, mặt khác, bao hàm trong đó  
tính kế thừa, lặp lại cái cũ nhưng ở mức độ cao  
hơn và có sự xuất hiện của cái mới. Phép biện  
chứng duy vật khẳng định tất cả mọi sự vật,  
hiện tượng đều có quá trình phát sinh, phát  
triển và tiêu vong, rằng “… Toàn bộ thế giới tự  
nhiên, từ cái nhỏ nhất cho đến cái lớn nhất, từ  
hạt cát cho đến mặt trời, từ những sinh vật  
nguyên thủy cho đến con người, đều nằm trong  
tình trạng không ngừng sinh ra và diệt vong,  
lưu động không ngừng, vận động và biến hóa bất  
tận” [3,tr.417].  
Phát triển tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen  
về phát triển, V.I. Lê-nin viết: “Sự phát triển là  
một cuộc “đấu tranh giữa các mặt đối lập”  
[10, tr.379]. Sự phát triển là tự phát triển do sự  
đấu tranh của các mặt đối lập trong bản thân  
các sự vật, hiện tượng. Nếu không có sự đấu  
tranh của các mặt đối lập - tức là không có sự  
xuất hiện và tồn tại và giải quyết mâu thuẫn, thì  
không thể có sự vận động và phát triển của các  
sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư  
duy. Trong lĩnh vực xã hội và tư duy đều có sự  
tồn tại và đấu tranh thường xuyên giữa các mặt  
đối lập, tạo nên sự vận động và phát triển của xã  
hội và tư duy. Phát triển không theo đường  
thẳng, không theo vòng tròn khép kín mà theo  
đường xoắn ốc. Hệ thống cũ mất đi, hệ thống  
mới ra đời, chất cũ mất đi, chất mới ra đời.  
Nhưng trong sự phát triển ấy thì cái mới cũng  
kế thừa tinh hoa của cái cũ để tiếp tục phát triển  
và lại kế thừa. Phát triển phải có cái mới ra đời  
và phát triển bao giờ cũng xuất phát từ thực tế.  
Quan điểm phát triển yêu cầu, khi xem xét,  
đánh giá hay nghiên cứu sự vật, hiện tượng,  
25  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Phan Thị Bích Trâm  
chúng ta phải đặt nó trong hoàn cảnh và điều  
kiện mà nó đang tồn tại, vận động, biến đổi và  
phát triển; phải vạch được xu hướng biến đổi  
và chuyển hóa của chúng. Ðây là một quá trình  
tích lũy và chuyển hóa không ngừng giữa  
lượng và chất, thông qua sự đấu tranh giữa các  
mặt đối lập theo con đường phủ định của phủ  
định. Quan điểm phát triển còn đòi hỏi chúng ta  
không chỉ vạch ra khuynh hướng phát triển tiến  
lên của sự vật, mà còn phải thấy rõ được sự  
quanh co, phức tạp và đầy mâu thuẫn của phát  
triển. Đó là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái  
cũ, giữa cái nảy sinh và cái đang lụi tàn để đến  
sự chuyển hóa, cái mới ra đời. Trong cuộc  
sống, phải phát hiện ra cái mới, bảo vệ cái mới,  
tạo điều kiện cho cái mới phát triển. Quan điểm  
phát triển còn góp phần quan trọng vào cuộc  
đấu tranh chống chủ nghĩa chủ quan duy ý chí;  
khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến.  
Cần thấy rõ việc vận dụng quan điểm phát triển  
vào hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực, đòi  
hỏi phải phát huy cao độ nỗ lực con người  
trong quá trình “chủ quan hóa khách quan” và  
“khách quan hóa chủ quan” [6, tr.123]. Hồ Chí Minh  
chỉ dẫn: “Xã hội bây giờ ngày một phát triển. Tư  
tưởng hành động cũng phát triển. Nếu cứ giữ  
lấy cái kẹp giấy cũ không thay đổi là không đi  
đến đâu cả” [5, tr.35].  
hiện lần đầu tiên với nội dung, sự phát triển bền  
vững của nhân loại là sự phát triển không chỉ  
chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn  
trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự  
tác động đến môi trường sinh thái học.  
Năm 1987, khái niệm này được phổ biến  
rộng rãi, nhờ Báo cáo Brundtland của Ủy ban môi  
trường và phát triển thế giới - WCED. Trong báo  
cáo, khái niệm phát triển bền vững được ghi cụ  
thể như sau: “Phát triển bền vững là sự phát triển  
có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà  
không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng  
đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai...” [4].  
Phát triển bền vững là sự phát triển phải  
bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã  
hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn  
giữ. Trong thực tiễn phải xác định mối quan hệ  
biện chứng giữa ba lĩnh vực chính: kinh tế, xã  
hội, môi trường, ba lĩnh vực này thống nhất, ảnh  
hưởng nhau và góp phần quy định sự tồn tại và  
phát triển lẫn nhau. Đây là sự kết hợp chặt chẽ,  
hợp lý, hài hòa giữa phát triển kinh tế nhanh,  
bền vững với phát triển xã hội và bảo vệ tài  
nguyên môi trường, chủ động ứng phó với biến  
đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật  
tự an toàn xã hội và bảo vệ vững chắc độc lập,  
chủ quyền quốc gia. Phát triển bền vững vì mục  
tiêu con người, dựa vào con người, do con người,  
người dân đều được quan tâm phát triển toàn  
diện. Vì con người là mục tiêu, động lực, là  
nguồn lực quan trọng cho phát triển bền vững.  
Chiến lược phát triển bền vững trở thành  
chủ trương nhất quán trong lãnh đạo, quản lý,  
điều hành tiến trình phát triển của Đảng. Sự phát  
triển bền vững không phải là của một ngành, một  
lĩnh vực, đó là sự tổng hòa giữa các yếu tố như  
kinh tế, văn hóa, giáo dục, môi trường. Việc thành  
lập Cục môi trường vào năm 1990 là bước đầu  
tiên thực hiện chiến lược phát triển bền vững ở  
Việt Nam. Năm 1993, Nhà nước ban hành Luật  
bảo vệ môi trường và sửa đổi vào năm 2005.  
Năm 2003 thành lập Bộ Tài nguyên và Môi  
trường. Việt Nam là một trong những quốc gia  
Hướng đến phát triển bền vững ở Việt Nam  
hiện nay, việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa duy  
vật biện chứng vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của  
Việt Nam là tất yếu khách quan. Triết học Mác  
– Lê-nin không những là phương pháp tiếp cận  
khoa học để chúng ta luận giải con đường đi  
lên chủ nghĩa xã hội mà còn là thế giới quan,  
phương pháp luận khoa học để triển khai chiến  
lược phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay.  
2.2. Vấn đề phát triển bền vững ở Việt Nam  
hiện nay  
Năm 1980, trong ấn phẩm Chiến lược bảo  
tồn thế giới (công bố bởi Hiệp hội bảo tồn thiên  
nhiên và tài nguyên thiên nhiên Quốc tế -  
IUCN), Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất  
26  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 28, Tháng 7 - 2021  
có nhiều nỗ lực và đã đạt được nhiều thành quả  
trên hành trình phát triển bền vững. Việt Nam  
đã ban hành chương trình quốc gia về phát triển  
bền vững, thành lập hội đồng quốc gia về phát  
triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh  
tranh: chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia  
giai đoạn 1991-2000; chương trình Nghị sự 21  
quốc gia; Nghị quyết về phát triển bền vững do  
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ký vào năm  
2020, với 5 quan điểm chỉ đạo, xuyên suốt.  
Trong chiến lược phát triển bền vững Việt Nam  
giai đoạn 2011-2020, Thủ tướng Chính phủ đã  
chỉ rõ: “Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên  
suốt trong quá trình phát triển đất nước; kết  
hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển  
kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ tài  
nguyên, môi trường, bảo đảm quốc phòng, an  
ninh và trật tự an toàn xã hội” [8]. Quan điểm  
phát triển xã hội bền vững lần đầu tiên được  
đưa vào Đại hội lần thứ XII của Đảng Cộng sản  
Việt Nam: “Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và  
dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh toàn diện,  
đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế  
nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ  
bản trở thành nước công nghiệp theo hướng  
hiện đại. Nâng cao đời sống vật chất và tinh  
thần của nhân dân. Kiên quyết, kiên trì đấu  
tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền,  
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo  
vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội  
chủ nghĩa. Giữ gìn hòa bình, ổn định, chủ động  
và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất  
nước; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam  
trong khu vực và trên thế giới” [1, tr.54].  
chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần;  
bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu,  
thường xuyên” [2, tr.110]. Yêu cầu đặt ra trong  
các chính sách phát triển là phải gắn kết chặt  
chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội,  
phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc  
sống của nhân dân, bảo đảm để nhân dân được  
hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của công  
cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước.  
Các thành quả của phát triển xã hội phải được  
bảo đảm vững chắc bằng các thành quả về phát  
triển kinh tế. Các chính sách liên quan trực tiếp  
đến phát triển các lĩnh vực xã hội luôn được cải  
thiện. Tính bền vững xã hội còn thể hiện ở việc  
đảm bảo về dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe  
cộng đồng, tăng tỷ lệ dân cư được học hành,  
giảm tình trạng đói nghèo và làm cho khoảng  
cách giữa các tầng lớp giàu, nghèo trong xã  
hội, đảm bảo sự công bằng xã hội và tạo cơ hội  
bình đẳng cho mọi thành viên trong xã hội tiếp  
cận các cơ hội phát triển của cá nhân. Các chính  
sách, văn bản pháp luật hoàn thiện hơn, xây dựng,  
phát triển tổ chức quản lý môi trường tăng cường  
hơn, các hoạt động ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm,  
cải thiện môi trường ngày càng hiệu quả hơn, đầu  
tư ngân sách cho công tác bảo vệ môi trường tăng  
lên. Tuy nhiên, do những hạn chế khách quan  
và chủ quan, phát triển bền vững về mặt môi  
trường còn nhiều vấn đề tồn tại như: biến đổi  
khí hậu, sa mạc hóa, đất bị thoái hóa, hạn hán  
và lũ lụt... Để đạt được kết quả trong phát triển  
bền vững đòi hỏi phải tạo được sự chuyển biến  
có tính cách mạng, thấu suốt về nhận thức, đổi  
mới mạnh mẽ về tư duy, quán triệt trong mọi chính  
sách, quy hoạch, dự án và chương trình hành  
động; tổ chức thực hiện quyết liệt ở tất cả các  
ngành, các cấp với sự đồng thuận tham gia của  
cả hệ thống chính trị, của cộng đồng doanh  
nghiệp và mọi người dân trong cả nước…  
Kế thừa và phát triển quan điểm của Đại  
hội XII, Đại hội XIII của Đảng khẳng định:  
“Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên  
cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương  
Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng,  
hợp tác, cùng có lợi. Tiếp tục phát triển nhanh và  
bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai  
đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế  
- xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then  
Trong hơn 35 năm đổi mới (1986-2021),  
việc triển khai tổ chức thực hiện chiến lược phát  
triển bền vững ở Việt Nam đã đạt được một số  
kết quả đáng khích lệ, tạo điều kiện thuận lợi tiếp  
27  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Phan Thị Bích Trâm  
tục cho phát triển bền vững giai đoạn tới. Đặc  
biệt là sau thành công của Đại hội đại biểu toàn  
quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam,  
mục tiêu phát triển bền vững định hướng xã hội  
chủ nghĩa ở Việt Nam càng được khẳng định.  
Đại hội nhấn mạnh: “Qua 35 năm tiến hành công  
cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây  
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa  
xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa  
xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở  
nước ta ngày càng hoàn thiện và từng bước được  
thực hiện hóa. Chúng ta đã đạt được những  
thành tựu to lớn, có ý nghĩa trong lịch sử, phát  
triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm  
trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta  
vẫn có thể nói rằng: đất nước ta chưa bao giờ có  
được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như  
ngày nay…” [7, tr.25-26]. Năm 2019, chỉ số  
phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt  
mức 0,704, thuộc nhóm có HDI cao của thế  
giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ  
phát triển; tuổi thọ trung bình của người dân  
tăng lên 73,7 tuổi năm 2020; khoảng 70% dân  
số sử dụng Internet [7]. Kinh tế, xã hội có  
những chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu sắc và  
tích cực: “Kinh tế phát triển, lực lượng sản  
xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh,  
liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện,  
nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị,  
xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo  
đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng  
được mở rộng; thế và lực quốc gia được tăng  
cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo  
của Đảng được củng cố” [7, tr.14-15].  
công cuộc đổi mới và đảm bảo cho đất nước  
phát triển bền vững. Vấn đề này được thể hiện  
sâu sắc và cô đọng trong bài viết của Tổng Bí  
thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản  
Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng.  
Đây là tổng kết tư duy lý luận của Đảng nhận  
thức về chủ nghĩa xã hội, về con đường đi lên  
chủ nghĩa xã hội, góp phần vào công cuộc xây  
dựng và phát triển đất nước bền vững theo định  
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.  
Thứ hai, kiên định và vững vàng tư tưởng  
lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Tư tưởng  
Hồ Chí Minh. Trong hoạt động thực tiễn và  
nhận thức cần nắm rõ nguyên tắc toàn diện, lịch  
sử - cụ thể và nguyên tắc phát triển. Phân biệt rõ  
các định hướng, chiến lược, kế hoạch phát triển  
xã hội bền vững ở Việt Nam với các định hướng,  
chiến lược, quy hoạch tổng thể và kế hoạch  
phát triển kinh tế - xã hội hiện có. Xây dựng  
chiến lược, quy hoạch tổng thể và kế hoạch  
phát triển cụ thể đối với các ngành, địa phương  
để có sự phù hợp và phát huy tiềm năng lợi thế  
vùng miền. Kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa  
giữa phát triển xã hội với phát triển kinh tế, bảo  
vệ môi trường, bảo đảm sự phát triển bền vững  
đất nước; đứng vững trên lập trường duy vật  
khoa học và tư duy biện chứng sáng tạo khi giải  
quyết vấn đề phát triển bền vững. Nắm vững  
mối quan hệ biện chứng giữa phát triển xã hội  
bền vững gắn với phát triển kinh tế bền vững  
và bảo vệ môi trường. Đây là một mối quan hệ  
không tách rời nhau, thống nhất với nhau, tiền  
đề để cùng nhau phát triển.  
Thứ ba, đẩy mạnh công tác tuyên truyền  
chính sách, luật pháp, Nhà nước phải tổ chức  
quá trình chuyển sang con đường phát triển bền  
vững, gồm các hoạt động như huy động toàn  
dân tham gia thực hiện phát triển bền vững,  
tăng cường vai trò lãnh đạo của Nhà nước trong  
việc tổ chức thực hiện phát triển bền vững và  
hợp tác vì sự phát triển bền vững.  
2.3. Những giải pháp phát triển xã hội bền vững  
theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
Thứ nhất, nhận thức đúng đắn, sâu sắc hơn  
về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ lên chủ  
nghĩa xã hội, từ đó, từng bước hoàn thiện đường  
lối, quan điểm, tổ chức thực hiện, để vừa theo  
đúng quy luật chung, vừa phù hợp với điều kiện  
cụ thể của Việt Nam. Nhận thức sâu sắc về xã  
hội chủ nghĩa là nhân tố quyết định thắng lợi  
Thứ tư, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực,  
phát triển lực lượng sản xuất để tiếp tục đẩy  
28  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 28, Tháng 7 - 2021  
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.  
Từng bước xây dựng nền kinh tế tri trức ở Việt  
Nam. Tạo mọi điều kiện và thời cơ để đổi mới sáng  
tạo, phát triển lực lượng sản xuất trên nền tảng trình  
độ khoa học kỹ thuật, công nghệ cao và hiện đại.  
Việc phát triển nguồn nhân lực là nền tảng phát triển  
bền vững và tăng lợi thế cạnh tranh quốc gia.  
với môi trường xã hội nhân văn trên tiền đề cải  
cách có hiệu quả các thể chế chính trị - pháp lý  
nhằm phát triển chất lượng con người và chất  
lượng cuộc sống con người.  
3. KẾT LUẬN  
Nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa  
duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin,  
Tư tưởng Hồ Chí Minh, giúp nhìn rõ bản chất  
sự vận động và phát triển của thế giới trong  
tình hình hiện nay. Đây là cơ sở lý luận cho  
việc hoạch định, tổ chức và thực hiện đường lối  
phát triển, chính sách đối nội, đối ngoại của  
Đảng và Nhà nước. Xây dựng chủ nghĩa xã hội  
ở Việt Nam nói chung và phát triển bền vững  
nói riêng là một cuộc cách mạng triệt để, sâu  
sắc, lâu dài, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực,  
là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên  
chủ nghĩa xã hội. Phát triển bền vững là sự phát  
triển hài hòa cả về kinh tế, chính trị, văn hóa,  
xã hội, quốc phòng và môi trường, tập trung  
xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, nhân tố  
trung tâm, quyết định nhất.  
Thứ năm, chủ động và tích cực hội nhập  
quốc tế. Trong thế giới toàn cầu hóa, sự phát  
triển của Việt Nam không thể tách biệt đứng  
bên ngoài những tác động của thế giới và thời  
đại. Việt Nam phải chủ động và tích cực hội  
nhập quốc tế, thực hiện đường lối đối ngoại độc  
lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa  
phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế  
trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn  
vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội  
bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi. Gắn kết  
phát huy nội lực và ngoại lực để thúc đẩy và  
phát triển kinh tế. Chiến lược phát triển bền  
vững ở Việt Nam đòi hỏi giải quyết hài hòa các  
vấn đề kinh tế - xã hội với văn hóa, khoa học  
và giáo dục, giữa môi trường tự nhiên sinh thái  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính  
trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.  
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb  
Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.  
[3] C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị Quốc gia.  
[4] Phạm Thị Thanh Bình (2014), Phát triển bền vững ở Việt Nam: Tiêu chí đánh giá và định  
hướng phát triển, Tạp chí Cộng sản, số 1.  
[5] Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[6] Nguyễn Thế Nghĩa (2007), Những chuyên đề Triết học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.  
[7] Nguyễn Phú Trọng (2021), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường  
đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.  
[8] Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 432/QĐ-TTg về phê duyệt Chiến lược phát triển  
bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020, ngày 12 tháng 4 năm 2012, Hà Nội.  
[9] V.I.Lê-nin, Bút ký Triết học, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[10] V.I.Lê-nin (1981), Toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.  
Ngày nhận bài: 15-6-2021. Ngày biên tập xong: 12-7-2021. Duyệt đăng: 24-7-2021  
29  
pdf 6 trang Thùy Anh 20360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vận dụng quan điểm phát triển của Triết học Mác – Lê-nin trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_dung_quan_diem_phat_trien_cua_triet_hoc_mac_le_nin_trong.pdf