Nhóm La Lutte trong phong trào chính trị và cách mạng Nam Kỳ (1933-1935)

45  
CHUYÊN MỤC  
SỬ HỌC - KHẢO CỔ HỌC - DÂN TỘC HỌC  
NHÓM LA LUTTE TRONG PHONG TRÀO CHÍNH TRỊ  
VÀ CÁCH MẠNG NAM KỲ (1933-1935)  
HUỲNH BÁ LỘC*  
Nhóm La Lutte ra đời vào năm 1933 tại Nam Kỳ, là nhóm trí thức hoạt động ở  
lĩnh vực báo chí, biểu tình, diễn thuyết và vận động nghị trường đòi dân sinh,  
dân chủ công khai trước chính quyền thực dân  Nh ng hoạt động của nhóm trở  
thành nguồn động viên tinh thần đấu tranh cho nhân dân lao động và trí thức  
Nam Kỳ lúc bấy giờ, nhất là cho phong trào đấu tranh chống Pháp ở Nam Kỳ  
trước 1945.  
Từ khóa: La Lutte, Nam Kỳ, trí thức  
Nhận bài ngày: 18/5/2020; đưa vào biên tập: 25/5/2020; phản biện: 8/7/2020; duyệt  
đăng: 24/9/2020  
1. DẪN NHẬP  
địa, tăng cường kiểm soát các vấn đề  
an ninh, chính trị. Mặt trận Bình dân  
Pháp lên cầm quyền, ban hành một số  
chính sách tích cực cho thuộc địa. Trí  
thức Việt Nam nói chung, trí thức Nam  
Kỳ nói riêng nhận ra ảnh hưởng của  
quốc tế đối với vận mệnh dân tộc nên  
thường xuyên theo dõi tình hình, bàn  
luận và phân tích những mối liên hệ  
với Việt Nam.  
Vào thập niên 1930, cuộc Đại khủng  
hoảng (Garraty, 1986) đã làm cho thế  
giới có nhiều biến động; quan hệ giữa  
các nước Liên Xô với các nước Anh,  
Pháp, Mỹ ngày càng căng thẳng, có  
nguy cơ xảy ra chiến tranh. Trong tình  
hình như vậy, nhiều nước buộc phải  
điều chỉnh chính sách kinh tế - xã hội,  
chính trị trong nước cũng như quan  
hệ quốc tế. Chính phủ Pháp nỗ lực  
giữ Đông Dương trong quỹ đạo thuộc  
Bên cạnh đó, Đảng Cộng sản Đông  
Dương ra đời (1930) lãnh đạo các  
phong trào đấu tranh đã đẩy nhanh  
tiến trình giải phóng dân tộc và thúc  
đẩy hoạt động chính trị của tầng lớp  
trí thức.  
* Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân  
văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí  
Minh.  
HUỲNH BÁ LỘC – NHÓM LA LUTTE TRONG PHONG TRÀO…  
46  
2. ĐẶC TRƯNG CỦA PHONG TRÀO nghị trường, tự do ngôn luận, tự do  
YÊU NƯỚC VÀ TRÍ THỨC NAM KỲ  
TỪ SAU NĂM 1930  
hội họp, nữ quyền. Đảng có những  
quan điểm tiến bộ về nữ quyền, tôn  
giáo. Về nghị trường, chỉ thị của Đảng  
là: “vô luận là cuộc tuyển cử gì, Đảng  
ta có thể tham gia được là nên tham  
gia...” (Đảng Cộng sản Việt Nam,  
2000: 213).  
Sau khi các phong trào 1930-1931 bị  
thất bại, cách mạng Việt Nam từng  
bước xây dựng lại cơ sở, mở rộng  
hình thức đấu tranh. Đảng Cộng sản  
Đông Dương xác lập những quan  
điểm và phương thức đấu tranh cách  
mạng mới nhằm tập hợp lực lượng  
quần chúng, trong đó có quan điểm  
tạo điều kiện cho giới trí thức tham gia  
vào công cuộc cách mạng của Đảng.  
Các quan điểm này thường xuyên  
được phổ biến trên các báo bí mật  
hoặc công khai. Nhờ đó, Đảng Cộng  
sản Đông Dương dần dần lan rộng  
ảnh hưởng trong trí thức.  
Trong Chính cương vắn tắt (1930),  
Đảng xác định: “Đảng phải hết sức  
liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung  
nông, Thanh niên, Tân Việt... để kéo  
họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối  
với bọn phú nông trung, tiểu địa chủ  
và tư sản An Nam mà chưa rõ mặt  
phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít  
Tư tưởng và thái độ chính trị của  
người trí thức xuất phát từ yêu cầu  
giải phóng dân tộc, nên tinh thần đấu  
tranh của chủ nghĩa cộng sản được  
nhiều trí thức tin tưởng. Phan Trọng  
Quản, một trong những người trí thức  
cộng sản đầu tiên của Nam Kỳ cho  
biết: “tên tuổi, đường lối cứu nước,  
lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ cứu dân của Đảng đã nhanh chóng  
phận nào đã ra mặt phản cách mạng chinh phục được trái tim khối óc hàng  
(Đảng Lập Hiến...) thì phải đánh đổ” triệu con người” (dẫn theo Ban chấp  
(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002: 4). hành Đảng bộ TPHCM, 2014: 94).  
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Trung  
(1963: 219) nhận xét: “Đảng Cộng sản  
đã đi xa hơn các đảng quốc gia ở chỗ  
đã đề ra một chủ nghĩa hẳn hoi, một  
đường lối tranh đấu rõ rệt”.  
Quan điểm này đã tạo điều kiện cho  
Đảng Cộng sản Đông Dương thu hút  
đông đảo trí thức tham gia.  
Đảng Cộng sản Đông Dương cũng  
khẳng định: “các báo của Đảng là  
những cơ quan liên lạc của Đảng với  
quần chúng lao khổ” (Đảng Cộng sản  
Việt Nam, 1999: 111). Chính vì vậy, từ  
trước và ngay khi Đảng Cộng sản  
Từ năm 1930, thái độ chính trị của trí  
thức phân hóa thành các xu hướng,  
như: xu hướng của những người  
hướng mục tiêu đấu tranh giải phóng  
Đông Dương ra đời, một số báo chí bí bằng cách mạng; xu hướng của trí  
mật đã được lưu hành(1). Trong những thức ôn hòa - trung lập và xu hướng  
mục tiêu đấu tranh cụ thể, Đảng Cộng thỏa hiệp - thân Pháp. Riêng những  
sản Đông Dương cũng từng bước mở  
rộng các mục tiêu về dân chủ như  
người yêu nước hoạt động cách mạng,  
họ nhận thức rõ ràng về thực trạng  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (265) 2020  
47  
“què quặt, yếu ớt, lệ thuộc” của kinh tế pháp lý để tập hợp một lực lượng  
xã hội đất nước, và day dứt, trăn trở chính trị hướng đến mục tiêu giải  
trước vận nước, trước sự cùng cực phóng dân tộc. Nhóm La Lutte hầu hết  
của các tầng lớp thấp bé trong xã hội. là giáo viên trường tư, nhà báo hoạt  
Nhiều trí thức đồng cảm với các tầng động tư nhân: Nguyễn An Ninh,  
lớp nhân dân, có những quan điểm Nguyễn Văn Tạo, Dương Bạch Mai,  
tích cực về nhân dân lao động. Các trí Nguyễn Văn Nguyễn, Tạ Thu Thâu,  
thức tranh đấu xích lại gần nhau và Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch,  
xích lại gần với nông dân và phong Phan Văn Chánh, Hồ Hữu Tường...;  
trào của họ như Nguyễn Văn Tạo, Tạ đều là những người có chuyên môn  
Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Nguyễn cao, đều đã hoạt động tích cực trong  
Văn Nguyễn... Văn học nghệ thuật, giai đoạn 1924-1926 ở Nam Kỳ, một  
báo chí cũng nỗ lực khai thác ở nông số sau đó sang Pháp hoặc Liên Xô du  
thôn, nông dân những đề tài nóng hổi, học (từ 1926-1928), một số từng bị  
tích cực. Các tổ chức chống Pháp tìm trục xuất khỏi Pháp (1930) do tham  
kiếm và thiết lập cơ sở của mình trong gia biểu tình trước điện Elysée (Paris)  
lòng quần chúng. Phản ánh sự để ủng hộ khởi nghĩa Yên Bái.  
chuyển hướng này, Phan Văn Hùm  
Trong quá trình ở Pháp hoặc Liên Xô,  
(1934) nhận định: “ngày trước người  
những người này tin tưởng và gia  
trong nước còn ít nghe thấy, thời nhựt  
nhập “hai xu hướng cộng sản” lúc bấy  
trình còn đánh một cái giọng „dìu dắt  
giờ trên thế giới là Quốc tế Cộng sản  
quốc dân lên đường văn minh tấn bộ‟.  
(Đệ tam, Stalinist) và Phe Tả đối lập  
Lần lần phong trào dồn tới, lôi cuốn cả  
(Đệ tứ quốc tế, Trotskyist). Trên thế  
lớp đàn anh đó xuống khỏi tượng đài  
giới, hai xu hướng này đã phân ly với  
của mình. Lớp kế theo, hết rọi đuốc  
việc Trotsky, lãnh tụ nhóm Đệ tứ  
văn minh, hết soi đường tấn bộ, mà  
tuyên bố ly khai Quốc tế Cộng sản và  
chỉ vừa theo cái dục vọng của quốc  
thành lập tổ chức riêng. Những người  
dân”.  
Trotskyist tuyên bố rằng họ là những  
3. SỰ RA ĐỜI VÀ THÀNH PHẦN CỦA  
NHÓM LA LUTTE  
người cộng sản, nhưng họ chủ yếu  
tập trung chống Stalin, chống Quốc tế  
Cộng sản. Tại Nam Kỳ, từ năm 1930,  
các tài liệu của người Pháp đã phân  
biệt những người “cộng sản công  
khai” (hay “cộng sản hợp pháp”) thành  
hai nhóm, là nhóm “Stalinens” và  
“Trotskyist”. Cùng tham gia thành lập  
Trước tác động từ những chuyển biến  
về quan điểm và hoạt động của tầng  
lớp trí thức nhóm La Lutte ra đời  
(1933). Ý hướng của nhóm là tìm  
kiếm một phương thức hoạt động  
công khai, qua báo chí, tranh cử nghị  
trường, đòi trả tự do cho chính trị nhóm La Lutte, hai thành phần này  
phạm, xây dựng phong trào quần phối hợp với nhau trên nguyên tắc  
chúng, tận dụng những khả năng  
cùng chia sẻ một mục tiêu đấu tranh  
HUỲNH BÁ LỘC – NHÓM LA LUTTE TRONG PHONG TRÀO…  
48  
chung và phối hợp trên mặt trận công và Nguyễn An Ninh. Dương Bạch Mai  
khai. Họ đã thống nhất sử dụng tờ La sau khi tham gia bãi khóa và bị đuổi  
Lutte để làm vũ khí ngôn luận, đứng khỏi Trường Chasseloup - Laubat đã  
sang Pháp du học và tốt nghiệp Cao  
đẳng Thương mại Đông Dương. Ở  
Pháp, Dương Bạch Mai tham gia  
Đảng Việt Nam Độc lập, Đảng Cộng  
sản Pháp, hoạt động cùng Nguyễn  
Văn Tạo; năm 1929, sang Liên Xô  
học Đại học Phương Đông cùng Bùi  
Công Trừng, Nguyễn Văn Trân, Trần  
Ngọc Danh, Hà Huy Tập (Nhiều tác  
giả, 2015: 320). Năm 1931, Dương  
Bạch Mai về nước hoạt động cùng  
nhóm Nguyễn Văn Tạo và Nguyễn An  
Ninh. Nguyễn Văn Nguyễn cũng bị  
buộc rời khỏi Trường Chasseloup -  
Laubat do tham gia bãi khóa. Năm  
1928, Nguyễn Văn Nguyễn tham gia  
phong trào “vô sản hóa” của Hội Việt  
Nam Cách mạng Thanh niên tại Mỹ  
Tho. Năm 1930, ông trở thành đảng  
viên Đảng Cộng sản Đông Dương,  
hoạt động ở Bến Tre và làm chủ  
nhiệm tờ Búa Liềm của Tỉnh ủy (1931).  
chung liên danh trong các cuộc tranh  
cử nghị trường và không công kích  
nhau trên các phương tiện truyền  
thông hay trong tổ chức.  
Những người cộng sản Đệ tam có  
người là du học sinh tại Pháp, tham  
gia phong trào cách mạng và trở  
thành chiến sĩ cộng sản (Nguyễn Văn  
Tạo, Dương Bạch Mai); có người lại  
tham gia các phong trào tại Nam Kỳ  
(như năm 1926) và trưởng thành với  
hoạt động của Hội Việt Nam Cách  
mạng Thanh niên, từng bị Pháp bắt và  
đày ra Côn Đảo (Nguyễn Văn Nguyễn).  
Nguyễn Văn Tạo được xem là một  
trong những người quan trọng nhất  
của nhóm La Lutte. Về Sài Gòn năm  
1931, Nguyễn Văn Tạo hoạt động vừa  
bí mật vừa công khai với tư cách một  
nhà báo. Khoảng 161 bài trên báo  
Trung Lập của Nguyễn Văn Tạo tập  
trung vào: những chuyện bất công,  
khốn khổ của thợ thuyền, công nhân;  
công kích những người trong Đảng  
Lập Hiến; đưa độc giả nhìn ra các  
nước trên thế giới như Anh, Mỹ; cổ  
động thành lập Quỹ Tương tế (Thu  
Thủy, Nguyễn Quế, Nguyễn Quế Lâm,  
2007: 26). Trong bài Giá trị của nghề  
làm báo (1932) Nguyễn Văn Tạo cho  
rằng: “Viết báo vì tư tưởng, vì chủ  
nghĩa. Nếu đạt đến mục đích tốt, mà  
Thành phần Trostkyist có Tạ Thu  
Thâu, Hồ Hữu Tường, Trần Văn  
Thạch, Phan Văn Hùm..., và cũng sử  
dụng báo chí làm phương tiện tuyên  
truyền (báo Đồng Nai).  
Sau khi có bằng tú tài (1926) Tạ Thu  
Thâu sang Pháp du học. Tại Pháp,  
ông gia nhập Đảng Việt Nam Độc lập  
của Nguyễn Thế Truyền (thành lập  
năm 1926), Tạ Thu Thâu về Sài Gòn  
rủi phải bị thiệt hại đến tính mạng năm 1931 và được xem là thủ lĩnh của  
cũng cam” (dẫn theo Nguyễn Đình nhóm Trotskyist ở Việt Nam. Nhóm  
Thống, 2012: 188). Hoạt động cùng còn có Hồ Hữu Tường cũng từng là  
du học sinh. Năm 1932, ông bí mật in  
Nguyễn Văn Tạo có Dương Bạch Mai  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (265) 2020  
49  
báo Tháng Mười (cùng Đào Hưng chia hoạt động của nhóm thành ba  
Long, Huệ Minh), tuyên bố “trung thời đoạn ngắn: 1933-1935: tích cực  
hoạt động và xác lập vai trò trong  
phong trào yêu nước; 1936: dẫn dắt  
phong trào Đông Dương đại hội tại  
Nam Kỳ; 1936-1937: mâu thuẫn, phân  
hóa và đấu tranh tư tưởng giữa các  
thành viên. Trong đó, những năm  
1933-1935 là thời đoạn khởi đầu của  
nhóm trong nỗ lực thực hiện phương  
thức hoạt động công khai và tập hợp  
lực lượng trí thức với tư tưởng khác  
nhau cùng hoạt động trong một tổ  
chức. Đó là việc hợp tác giữa những  
người cộng sản Đệ tam và nhóm  
Trotskyist, và đây là một sáng tạo độc  
đáo của trí thức Nam Kỳ. Daniel  
Hémery (2005) (nhà sử học người  
Pháp) đã xem đây là “một liên minh  
đáng ngạc nhiên, dưới ảnh hưởng  
đạo đức của Nguyễn An Ninh, những  
trí thức trẻ, rất xuất chúng, đến từ  
những chân trời khác nhau”. Tuy  
nhiên, do những khác biệt về quan  
điểm, ngay từ khi bắt đầu hợp tác, họ  
phải cam kết không chỉ trích lẫn nhau,  
không được nêu lên những bất đồng  
giữa hai bên, nguyên tắc là các bài  
viết trên báo phải được cả hai bên  
đồng ý trước (Nhiều tác giả, 1988:  
47). Bà Phương Lan (1974: 151) cho  
rằng tờ La Lutte (1933) là sự “nhân  
nhượng chính trị khéo léo” của  
Nguyễn An Ninh, Nguyễn Văn Tạo và  
Tạ Thu Thâu. Tuy hợp tác và có  
nguyên tắc thống nhất, nhưng đó là  
sự thống nhất đối với tính đại diện của  
thành” với kinh nghiệm của Cách  
mạng tháng Mười do Lênin và Trotsky  
“cùng lãnh đạo”, chống lại những  
người cộng sản Đông Dương mà họ  
gọi là những người theo Stalin. Cùng  
nhóm Trotskyist, nhưng giữa Hồ Hữu  
Tường và Tạ Thu Thâu có mâu thuẫn.  
Phan Văn Hùm có quan hệ với  
Nguyễn An Ninh, Mai Bạch Ngọc,  
Nguyễn Văn Bá... từ sớm; ông đã viết  
các cuốn sách Ngồi tù Khám lớn, Biện  
chứng pháp phổ thông (1936), Nỗi  
lòng Đồ Chiểu (1938). Còn Trần Văn  
Thạch là một nhà báo chuyên viết về  
đề tài nông dân và những bất công,  
áp bức tại các vùng thôn quê(2).  
Nhân vật đóng vai trò nòng cốt và kết  
nối các thành phần trong nhóm, cũng  
như kết nối nhóm với sự ủng hộ của  
quốc tế là Nguyễn An Ninh, người có  
ảnh hưởng tinh thần rất lớn đối với trí  
thức lúc bấy giờ (Hémery, 2005).  
Nguyễn An Ninh là người đã bàn bạc,  
trao đổi với Nguyễn Văn Tạo để cho  
ra tờ báo La Lutte với mục đích chuẩn  
bị cho việc vận động cho Sổ Lao động  
trong cuộc tranh cử vào Hội đồng  
Thành phố Sài Gòn (1933), dẫn đến  
việc hình thành Nhóm La Lutte.  
Nguyễn An Ninh tự nhận mình là  
người trong nhóm La Lutte “không  
đứng dưới trướng của ai cả” (Trung  
tâm Nghiên cứu Quốc học, 2009: 798).  
Nhóm La Lutte ra đời và hoạt động từ  
năm 1933 đến năm 1937(3) như là một báo La Lutte, còn bên ngoài, mỗi bên  
sự kết hợp đầy sáng tạo của các  
thành phần trí thức Nam Kỳ, có thể  
vẫn tích cực phát triển lực lượng của  
nhóm mình, đảng mình.  
HUỲNH BÁ LỘC – NHÓM LA LUTTE TRONG PHONG TRÀO…  
50  
4. HOẠT ĐỘNG CỦA NHÓM LA đình công của hơn 2.000 công nhân  
LUTTE TRONG PHONG TRÀO CÁCH  
MẠNG CỦA TRÍ THỨC NAM KỲ  
gốm Lái Thiêu, Bình Dương của Trần  
Văn Thạch đã phản ánh sự bất công  
của chính quyền và lên tiếng bảo vệ  
chính trị phạm và công nhân.  
Gồm nhiều người giỏi, nhóm La Lutte  
hoạt động chính trị đa dạng và hiệu  
quả, đặc biệt dưới hình thức công  
khai như: báo chí, biểu tình, diễn  
thuyết và vận động nghị trường để  
đấu tranh cho dân sinh, dân chủ.  
Sức ảnh hưởng chính trị của tờ La  
Lutte đã được nhiều người so sánh  
với tờ La Travail ở Hà Nội. Năm 1935,  
Julien Godart, Bộ trưởng thuộc Đảng  
Cấp tiến sang điều tra Đông Dương  
đã nhận xét: “Tôi phải nói lên ở đây ý  
kiến của tôi về những nhà báo, những  
trí thức mà tôi vừa kể. Đó là những  
thanh niên xuất bản tờ Le Travail ở  
Hà Nội và tờ La Lutte ở Sài Gòn, và tổ  
chức bênh vực thợ thuyền. Báo của  
họ rất hay, tương phản hẳn với báo  
chí chánh trị Pháp ngữ mà trình độ  
quá thấp. Đó là những tờ báo chiến  
đấu, do những người trẻ tuổi đầy nhiệt  
huyết làm ra, khi họ bình luận về  
những xác thực đã làm cho người lao  
động bị thiệt thòi, thì họ không nương  
tay” (dẫn theo Nguyễn Đình Thống,  
2012: 193). Năm 1935, Thống đốc  
Nam Kỳ viết về tờ La Lutte: “nó còn đe  
dọa phát triển trong giới cộng sự  
người bản địa làm việc trong các cơ  
quan hành chính và các xí nghiệp tư  
nhân”; ông ta cũng phát hiện ra “có sự  
cộng tác vô điều kiện của Chủ tịch  
Phòng Nông nghiệp với báo La Lutte”  
(Thống đốc Nam Kỳ, 1935). Phía cảnh  
sát thì nhận định “tất cả các báo bản  
địa đều hăng say bước vào cuộc  
Hoạt động báo chí  
La Lutte cũng là tên của một tờ báo,  
cơ quan ngôn luận của nhóm. Với  
những tuyên ngôn về chính trị, tờ La  
Lutte thực sự tấn công trực diện vào  
chế độ thực dân: “Chế độ thực dân  
chuyên quyền không chấp nhận cho  
người ta phê phán những sự lộng  
quyền và tội ác của nó” (số ngày  
31/8/1935); “báo chí tiếng Nam bị  
thống trị nặng nề, hiếm khi nào dám  
lên tiếng phản đối, mà phản đối thì  
cũng rất nhỏ nhẹ. Không bao giờ họ  
dám phê phán những sai lầm, những  
sự lộng hành của giới cầm quyền.  
Bọn Robin và Pagè cũng luôn luôn  
được tán dương qua ngòi bút của bè  
lũ nịnh thần, những trí thức hay nửa  
trí thức có của, hãnh diện được các  
ông chủ ban cho tí chút ân sủng” (dẫn  
theo Hémery, 2005).  
Nhóm La Lutte cũng quan tâm tìm  
hiểu, đưa lên báo đời sống của các  
tầng lớp nhân dân để tố cáo chế độ  
thực dân, đòi quyền lợi cho người dân  
với các cây bút tiêu biểu như Nguyễn chiến, theo sau tờ La Lutte” (Cảnh sát  
Văn Nguyễn, Trần Văn Thạch. Các  
bài ký sự như Côn Lôn hòn đảo địa  
ngục, Tình trong tù (Nguyễn Văn  
Nguyễn) hay bài tường thuật về cuộc  
Đông Dương, 1936). Tuy có cường  
điệu nhưng nhận định này đã phản  
ánh không khí đấu tranh của các báo  
quốc ngữ ở Sài Gòn.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (265) 2020  
51  
Đến số 63 ra ngày 7/12/1935, thực quốc tế sang Đông Dương. Tháng  
dân Pháp cho rằng báo La Lutte có 2/1934, nhóm La Lutte(5) phân công  
nhiệm vụ đón tiếp phái đoàn Quốc tế  
Cứu tế đỏ do Gabriel Péri dẫn đầu, và  
tổ chức biểu tình với nhiều thành phần  
trí thức Pháp, Việt. Cảnh sát Nam Kỳ  
phát hiện mối liên hệ giữa Đảng Cộng  
sản Đông Dương và nhóm La Lutte và  
gửi Thông tư số 867-S ngày 7/3/1934  
thông tin cho Thống đốc: “Trần Văn  
Giàu đã gợi ý cho Nguyễn An Ninh  
nên dẫn phái đoàn (phái đoàn của  
Gabriel Péri sang Đông Dương năm  
1934 - HBL) đến những nơi đã xảy ra  
các cuộc biểu tình trong năm 1930-  
1931” (Phạm Thị Huệ, 2013: 92-93).  
Mối quan hệ với Đảng Cộng sản Đông  
Dương cũng được bộc lộ rõ trong đợt  
bầu cử Hội đồng Thành phố năm  
1935 và một số vấn đề về nhân sự  
của nhóm La Lutte, như sự xuất hiện  
của Nguyễn Văn Nguyễn và vai trò  
của Nguyễn Văn Trân (một cán bộ  
của Đảng Cộng sản Đông Dương tại  
miền Tây Nam Kỳ). Trong Công văn  
số 821C (20/8/1935) của Thống đốc  
gửi Toàn quyền Pháp nhận định: “các  
tên cộng sản đã hiểu rằng, họ đã vô  
ích khi thách thức luật pháp và các  
chiến thuật mới để đi đến đích mà họ  
theo đuổi với các tổ chức bí mật, là  
hoàn thành nhiệm vụ một cách yên  
bình dưới ngôi nhà pháp lý” (Thống  
đốc Nam Kỳ, 1935). Nhận định này có  
phần sai lệch so với chiến lược và  
phương pháp cách mạng linh hoạt mà  
Đảng Cộng sản Đông Dương vận  
dụng, tuy nhiên nó cũng cho thấy rằng  
người Pháp đã nhận ra sự kết hợp  
giữa công khai và bí mật trong các  
tính chất phản loạn. Trong Công văn  
số 5245, ngày 27/12/1935, Thống đốc  
Nam Kỳ yêu cầu “tịch thu tờ báo nói  
trên bất cứ nơi nào nhìn thấy”, và “các  
biên bản về quyền sử dụng đã được  
lập, niêm phong và chuyển cho  
Chưởng lý Viện Kiểm sát để truy tố,  
nếu được, có thể truy tố những người  
phân phát, tàng trữ và bán tờ báo nói  
trên” (Thống đốc Nam Kỳ, 1935).  
Công điện số 1311-C cũng yêu cầu  
các đơn vị kiểm soát và thông báo cho  
Thống đốc tất cả các thư đến hoặc đi  
của bảy thành viên báo La Lutte, là Tạ  
Thu Thâu, Trần Văn Thạch, Nguyễn  
Văn Tạo, Dương Bạch Mai, Lê Văn  
Thử, Phan Văn Hùm, Nguyễn An Ninh  
(Thống đốc Nam Kỳ, 1935).  
Hoạt động biểu tình, diễn thuyết:  
Các thành viên của nhóm La Lutte  
cũng trở thành những người đứng  
đầu trong các cuộc biểu tình đón rước  
các đại biểu quốc tế. Ngày 9/8/1933,  
Phái bộ phản đối chiến tranh đến Sài  
Gòn trên tàu André Lebon(4). Tại buổi  
diễn thuyết, Trần Văn Thạch (Hội  
đồng Thành phố) phát biểu, cho rằng  
người An Nam không thể không chú ý  
đến vấn đề chiến tranh. Công văn số  
2831-S ngày 23/8/1933 của Cảnh sát  
Nam Kỳ cũng đã báo cáo việc Nguyễn  
Văn Tạo và Trần Văn Thạch phát tán  
truyền đơn kêu gọi người lao động  
đấu tranh dưới lá cờ công nhân  
(Phạm Thị Huệ, 2013: 74).  
Năm 1934, nhóm La Lutte liên tiếp gửi  
những yêu sách đến các phái đoàn  
HUỲNH BÁ LỘC – NHÓM LA LUTTE TRONG PHONG TRÀO…  
52  
hoạt động tranh đấu của người Việt gia vào đời sống chính trị” (Trung tâm  
Nam. Trong đó, hoạt động chính trị  
của nhóm La Lutte lúc bấy giờ vừa  
hăng hái, sôi nổi vừa có tính tổ chức  
chặt chẽ.  
Nghiên cứu Quốc học, 2003: 708).  
Nguyễn An Ninh giải thích: “tư sản là  
giai cấp có đặc quyền nên rất sợ phải  
tranh đấu. Họ sẵn sàng đầu hàng bất  
cứ lúc nào và trong khi ngoài miệng  
thề thốt bênh vực anh em thì trong  
lòng họ đã nghĩ đến sự phản bội anh  
em rồi” (Trung tâm Nghiên cứu Quốc  
học , 2009: 721). Trong bài Sự trung  
lập vô tư của báo chí là chuyện láo  
khoét (số 2, ngày 29/4/1933), ông viết:  
“Khi một người thợ, từ trước đến nay  
chưa hề tiếp cận với chính trị, biểu lộ  
cảm tình của mình với liên danh  
những ứng cử viên lao động thì chúng  
ta thấy rõ là anh ta đã được thúc đẩy  
bởi bản năng giai cấp của anh ta.  
Cũng chính cái bản năng giai cấp đã  
thúc đẩy một Văn Trinh, một Nam  
Chức, một Diệp Văn Kỳ, một Nguyễn  
Phan Long chĩa mũi dùi tấn công của  
họ vào liên danh Nguyễn Văn Tạo”  
(Trung tâm Nghiên cứu Quốc học,  
2009: 719). Đến khi Sổ Lao động  
giành được thắng lợi, ông coi đây là  
sự trưởng thành và thắng lợi của giai  
cấp vô sản, “đánh tan ảo tưởng” vào  
giai cấp tư sản và các thành phần  
trung lưu có quyền lợi gắn với Pháp  
(Trung tâm Nghiên cứu Quốc học,  
2009: 755).  
Hoạt động vận động nghị trường, tiêu  
biểu là cuộc vận động bầu cử Hội  
đồng Thành phố Sài Gòn (1933, 1935)  
Lợi dụng những quy chế của xứ thuộc  
địa, nhóm La Lutte phát động phong  
trào đấu tranh công khai, hợp pháp  
thông qua các cuộc vận động nghị  
trường. Trường hợp cuộc vận động  
bầu cử Hội đồng Thành phố Sài Gòn  
năm 1933 và năm 1935, nhóm La  
Lutte đưa Nguyễn Văn Tạo, Tạ Thu  
Thâu, Trần Văn Thạch ứng cử.  
Nguyễn An Ninh là người vận động  
tích cực cho nhóm trong cuộc bầu cử.  
Thông qua các bài viết, Nguyễn An  
Ninh kêu gọi tinh thần đấu tranh của  
nhân dân, chỉ ra quyền lợi và sức  
mạnh của nhân dân, đồng thời kêu gọi  
cử tri bỏ phiếu cho các thành viên của  
Sổ Lao động. Trong cuộc bầu cử này,  
ông nêu hai ý tưởng cho thời kỳ mới  
của phong trào đấu tranh: “1. Chỉ có  
áp lực của đám đông quần chúng mới  
bắt buộc được nhà cầm quyền phải  
thực hiện những cải cách xã hội, và  
đám đông quần chúng nầy chúng ta  
cần phải kêu gọi họ đứng lên tranh  
đấu và tự tổ chức thành một lực  
lượng. 2. Những công việc công cộng  
ở cấp độ thành phố hay ở cấp độ của  
cả nước không phải chỉ liên quan đến  
những giới được ưu đãi, những giới  
Nguyễn Văn Tạo, người đắc cử  
(1933), ngay phiên họp đầu tiên của  
Hội đồng đã đưa ra ba chương trình  
hoạt động: 1. Đại xá chính trị phạm; 2.  
Cứu tế thất nghiệp; 3. Chống thuế  
trí thức và những giới nghiệp chủ. thân (Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng,  
Nguyễn Công Bình, 1998: 303).  
Giới thợ thuyền cũng phải được tham  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (265) 2020  
53  
Năm 1935, chính quyền thuộc địa tổ 5. KẾT LUẬN  
chức bầu cử Hội đồng Quản hạt Nam  
Kỳ, Nguyễn Văn Tạo, Dương Bạch  
Mai, Nguyễn Văn Nguyễn đã kêu gọi  
nhân dân phản đối Đảng Lập Hiến và  
các thế lực chính trị thân Pháp. Trong  
cuộc bầu cử Hội đồng Thành phố, Sổ  
Lao động lại do Nguyễn Văn Tạo  
đứng đầu ra tranh cử. Bên cạnh Sổ  
lao động và Sổ Lập hiến, thực dân  
Pháp đưa ra thêm Sổ Thanh niên. Kết  
quả Sổ Lao động có bốn người đắc  
cử: Nguyễn Văn Tạo, Dương Bạch  
Mai, Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch.  
Sau đó, chính quyền thuộc địa lại lấy  
cớ để không công nhận Nguyễn Văn  
Tạo và Dương Bạch Mai. Sổ Lao  
động chống án sang Paris. Nhà cầm  
quyền Paris ra quyết định bầu cử lại.  
Nguyễn Văn Tạo và Dương Bạch Mai  
tiếp tục được tín nhiệm.  
Sau một thời gian thất vọng với các  
nhóm trí thức mang tinh thần thỏa  
hiệp (như Đảng Lập Hiến), trí thức  
Nam Kỳ đã được động viên với những  
sự táo bạo của nhóm La Lutte. Những  
hoạt động đấu tranh vì dân sinh, dân  
chủ của nhóm đã góp phần thúc đẩy  
quần chúng Nam Kỳ nói chung, trí  
thức Nam Kỳ nói riêng tiến lên trong  
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.  
Quá trình đến với lý tưởng cách mạng  
của những người trí thức trong nhóm  
tuy khác nhau, nhưng trong thời đoạn  
đầu mới thành lập (1933-1935) họ đã  
nhanh chóng trở thành một nhóm tiêu  
biểu với quan điểm chính trị rõ ràng,  
có khả năng tập hợp lực lượng lớn  
trong phong trào cách mạng Việt Nam  
tại Nam Kỳ. Nghiên cứu nhóm La  
Lutte trong thời đoạn đầu này có thể  
thấy nhiều bài học về thái độ và  
phương thức hoạt động cách mạng  
của trí thức, từ khả năng tổ chức các  
hoạt động chính trị đa dạng, hữu hiệu  
trong môi trường công khai, hợp pháp  
để tạo ảnh hưởng, thu hút sự ủng hộ  
của quần chúng đến khả năng kết hợp  
các quan điểm khác nhau, hướng đến  
mục tiêu cao nhất là giải phóng dân  
tộc và công bằng, bình đẳng xã hội.  
Những cuộc đấu tranh nghị trường  
của nhóm - một phương thức đấu  
tranh mới, đã tác động mạnh đến  
phong trào chung của cách mạng Việt  
Nam, giành lại quyền và tiếng nói  
chính trị trong các “cơ quan dân biểu”  
cho đông đảo nhân dân, thúc đẩy  
nhân dân dũng cảm tiến lên trên con  
đường đấu tranh chống chế độ thuộc  
địa.  
CHÚ THÍCH  
(1) Như các báo: Lao động, Cờ vô sản, Tiến lên, Người lao khổ, Chỉ đạo, Tạp chí Cộng sản,  
Lao tù tạp chí… Ở Nam Kỳ có các tờ báo như: Tiền phong (L’Avant Garde), Nhân dân (Le  
Peuple), Việt dân, Phổ thông, Lao động, Mới, Đông phương, Dân chúng. Xứ ủy Nam Kỳ  
cũng xuất bản Tạp chí Cộng sản và ấn phẩm Phổ thông Cộng sản tùng thơ, báo Cờ đỏ và  
hàng chục quyển sách nhỏ vào những ngày “kỷ niệm đỏ” hay có sự kiện quan trọng. Các cơ  
quan lãnh đạo địa phương cũng đều có báo: Chợ Lớn có Nhà quê, Mỹ Tho có Nông dân,  
Châu Đốc có Bạn nghèo, Sa Đéc có Dân cày, Bến Tre có Tranh đấu, Vàm Cỏ Đông có Dân  
HUỲNH BÁ LỘC – NHÓM LA LUTTE TRONG PHONG TRÀO…  
54  
nghèo, tỉnh Long Xuyên - Châu Đốc - Rạch Giá - Hà Tiên gọi tắt là Long Châu Rạch Hà có  
Cùng khổ...  
(2)  
Nhóm Trotskyist còn có: Huỳnh Văn Phương (hoạt động tại Hà Nội trong tờ Le Traivail),  
Lý Bình Huê, Phan Văn Chánh, Hồ Văn Ngà, Trần Văn Ân, Trần Văn Chỉ.  
(3)  
Từ tháng 6/1937 đến năm 1939, La Lutte vẫn tồn tại nhưng không còn là của nhóm La  
Lutte với các thành phần như trước mà đơn thuần là tờ báo của thành phần Trotskyist. Sự  
rạn nứt mối quan hệ giữa các thành phần trong nhóm La Lutte xuất hiện từ năm 1936, khi  
giữa những người Đệ tam và Đệ tứ dần bộc lộ những khác biệt về quan điểm, phương thức  
hành động.  
(4)  
Phái bộ phản đối chiến tranh do Lord Marley (người Anh) chỉ huy và Vaillant Couturier  
(cựu Nghị viên Cộng sản Pháp, trạng sư), Dr. Marteaux, Poupy (kỹ sư). Buổi diễn thuyết của  
phái bộ diễn ra ngày 10/8 tại nhà hàng Perroquet.  
(5)  
Gồm Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Lê Văn Thử, Phan Văn Hùm, Lê  
Văn Hổ, Nguyễn Văn Lưỡng, Mai Huỳnh Hoa.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Bà Phương Lan. 1974. Nhà cách mạng Tạ Thu Thâu 1906-1945. Sài Gòn: Khai Trí  
xuất bản.  
2. Ban chấp hành Đảng bộ TPHCM. 2014. Lịch sử Đảng bộ TPHCM. Hà Nội: Nxb.  
Chính trị Quốc gia.  
3. Cảnh sát Đông Dương. 1936. “Thông tin về các hoạt động nổi loạn ở Nam Kỳ từ  
ngày 01 đến 30/11/1936”. Hồ sơ số IIA45/253. Phông Thống đốc Nam Kỳ, Trung tâm  
Lưu trữ Quốc gia II.  
4. Đảng Cộng sản Việt Nam. 1999. Văn kiện Đảng toàn tập - tập 3. Hà Nội: Nxb. Chính  
trị Quốc gia.  
5. Đảng Cộng sản Việt Nam. 2000. Văn kiện Đảng toàn tập - tập 2, 6. Hà Nội: Nxb.  
Chính trị Quốc gia.  
6. Hémery, Daniel. 2005. “A Saigon dans les années trente, un journal militant: „La Lutte‟  
(1933-1937)”. http://virtual-saigon.net/Texts/Articles?ID=88, truy cập ngày 18/8/2020.  
7. Garraty, John A. 1986. The Great Depression. Publisher Harcourt: New York.  
8. Nguyễn Đình Thống. 2012. Trí thức Việt Nam trong tiến trình giải phóng dân tộc đầu  
thế kỷ XX (1900-1945). Đề tài nghiên cứu khoa học. Trường Đại học Khoa học Xã hội  
và Nhân văn - Đại học Quốc gia TPHCM.  
9. Nguyễn Văn Trung. 1963. Chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam - thực chất và huyền  
thoại. Sài Gòn: Nam Sơn xuất bản.  
10. Nhiều tác giả. 1988. Nguyễn An Ninh. TPHCM: Nxb. TPHCM.  
11. Nhiều tác giả. 2015. Một số nhân vật lịch sử đất phương Nam  Hà Nội: Nxb. Hồng  
Đức.  
12. Phạm Thị Huệ. 2013. Phong trào dân tộc dân chủ ở Nam Kỳ 1930-1945 - nghiên  
cứu qua tài liệu lưu tr . Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.  
13. Phan Văn Hùm. 1934. “Nghề nhựt trình cảm thán”. Báo Phụ n  Tân văn, số 247.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (265) 2020  
55  
14. Thống đốc Nam Kỳ. 1935. “Công điện số 1311-C ngày 28/12/1935 của Thống đốc  
Nam Kỳ gửi về việc kiểm soát thư tín nhóm La Lutte”. Hồ sơ số IIA45/245. Phông Thống  
đốc Nam Kỳ, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.  
15. Thống đốc Nam Kỳ. 1935. “Công điện số 5245 ngày 27/12/1935 của Thống đốc  
Nam Kỳ về việc tịch thu báo La Lutte”. Hồ sơ số IIA45/245. Phông Thống đốc Nam Kỳ,  
Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.  
16. Thống đốc Nam Kỳ. 1935. “Công điện số 541-C ngày 20/5/1936 của Thống đốc  
Nam Kỳ gửi Toàn quyền về việc truy tố nhóm La Lutte”. Hồ sơ số IIA45/245. Phông  
Thống đốc Nam Kỳ, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.  
17. Thống đốc Nam Kỳ. 1935. “Công văn số 821C ngày 20/8/1935 của Thống đốc gửi  
Toàn quyền”. Hồ sơ số IIA45/245. Phông Thống đốc Nam Kỳ, Trung tâm Lưu trữ Quốc  
gia II.  
18. Thu Thủy, Nguyễn Quế, Nguyễn Quế Lâm. 2007. Nguyễn Văn Tạo 1908-1970.  
TPHCM: Nxb. Văn hóa Sài Gòn.  
19. Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên). 1998. Địa chí văn  
hóa TPHCM, tập I - Lịch sử. TPHCM: Nxb. TPHCM.  
20. Trung tâm Nghiên cứu Quốc học. 2009. Nguyễn An Ninh - tác phẩm. Hà Nội: Nxb.  
Văn học.  
pdf 11 trang Thùy Anh 15660 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhóm La Lutte trong phong trào chính trị và cách mạng Nam Kỳ (1933-1935)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhom_la_lutte_trong_phong_trao_chinh_tri_va_cach_mang_nam_ky.pdf