Lịch sử lập hiến Trung Quốc từ thời kỳ Cộng hoà đến hiện nay

VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 21-29  
Review Article  
The Constitutional History of China From  
the Republic Era to Today  
Nguyen Minh Tam*  
VNU School of Law, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
Received 29 August 2021  
Revised 12 September 2021; Accepted 21 September 2020  
Abstract: Constitutional history is always a vivid picture, reflecting the socio-political context of a  
country in each certain historical period. By analyzing the historical context and constitutional text,  
the article outlines three ups and downs periods of China’s constitutional history from 1949 to the  
present. The article points out some features of the Chinese Constitution, namely personalization of  
leaders, affirming and consolidating the leadership of the Communist Party of China, adopting  
Western constitutional values, making efforts to reform the state system.  
Keywords: Constitutionalism, constitutional history, rule-of-law based state.*  
________  
* Corresponding author.  
E-mail address: [email protected]n  
21  
N. M. Tam / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 21-29  
22  
Lịch sử lập hiến Trung Quốc từ thời kỳ cộng hoà đến hiện nay  
Nguyễn Minh Tâm*  
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 29 tháng 8 năm 2021  
Chỉnh sửa ngày 12 tháng 9 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 21 tháng 9 năm 2021  
Tóm tắt: Lịch sử lập hiến luôn là một bức tranh sinh động, phản ánh bối cảnh xã hội, chính trị của  
một quốc gia trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Bằng việc phân tích bối cảnh lịch sử và lời văn  
hiến pháp, bài viết phác thảo ba giai đoạn thăng trầm trong lịch sử lập hiến Trung Quốc từ năm 1949  
đến hiện nay. Bài viết chỉ ra một số đặc trưng của Hiến pháp Trung Quốc: cá nhân hoá các nhà lãnh  
đạo, củng cố và khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, tiếp nhận các giá trị hợp  
hiến phương Tây, và nỗ lực cải cách hoàn thiện cơ cấu quốc gia.  
Từ khóa: Chủ nghĩa hiến pháp, lịch sử lập hiến, quốc gia pháp trị.  
1. Giai đoạn từ năm 1949 đến trước năm 1954*  
có tính hợp pháp cho sự kiến lập và vận hành của  
chính quyền quốc gia mới. Ngày 1/10/1949,  
nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tuyên bố  
thành lập, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử  
quốc gia này2.  
Cương lĩnh chung bao gồm 7 chương với 60  
điều [1]. Lời mở đầu tuyên bố thực hành “chuyên  
chính dân chủ nhân dân”, tức “chính quyền của  
Mặt trận Thống nhất dân chủ nhân dân của giai  
cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu  
tư sản, giai cấp tư sản dân tộc và phần tử dân chủ  
yêu nước khác, và dựa trên liên minh công nông  
là nền tảng, dựa vào giai cấp công nhân là lãnh  
đạo”. Chính Hiệp là “phương thức tổ chức của  
Ngay sau khi giành được chính quyền đại lục  
năm 1949, Đảng Cộng sản Trung Quốc  
(ĐCSTQ) đã triệu tập Hội nghị Hiệp thương  
Chính trị Nhân dân Trung Quốc (hay Chính  
Hiệp) để bàn luận việc lớn của đất nước1, bao  
gồm 635 đại biểu đến từ các đảng phái dân chủ,  
nhân sĩ dân chủ không đảng phái, đoàn thể nhân  
dân, giải phóng quân, các khu vực, dân tộc thiểu  
số và Hoa kiều. Ngày 29/9, Hội nghị toàn thể  
Chính Hiệp khoá I thông qua (hiến pháp lâm  
thời) Cương lĩnh chung Hội nghị Hiệp thương  
Chính trị Nhân dân Trung Quốc cung cấp cơ sở  
________  
* Tác giả liên hệ.  
và chưa từng thực hiện chức năng quyền hạn của NĐTQ.  
Uỷ ban toàn quốc là “cơ quan hiệp thương của các đảng  
phái, đoàn thể nhân dân bên ngoài chính quyền quốc  
gia”, là tổ chức Mặt trận Thống nhất.  
Địa chỉ email: [email protected]  
1 Chính Hiệp được tổ chức từ ngày 21-30/9/1949, được  
thiết kế bao gồm 3 tầng thứ: Hội nghị toàn thể, Uỷ ban  
toàn quốc, Uỷ ban thường vụ. Theo quy định, Hội nghị  
toàn thể được tổ chức 3 năm một lần do Uỷ ban toàn  
quốc triệu tập, thực hiện chức năng quyền hạn của Nhân  
Đại toàn quốc (NĐTQ) trước khi tổng tuyển cử. Tuy  
nhiên, sau lần tổ chức đầu tiên, Hội nghị toàn thể không  
tiếp tục được triệu tập nữa. Chính Hiệp mà ngày nay  
được triệu tập mỗi kỳ “Lưỡng Hội” thực tế là Uỷ ban  
toàn quốc - là cơ quan thường trực của Hội nghị toàn thể  
2 Hiến pháp năm 1982 hiện hành tổng kết: “Năm 1949…  
nhân dân các dân tộc Trung Quốc sau khi trải qua đấu  
tranh vũ trang và các hình thức đấu tranh khác gian nan  
khúc khuỷu trường kỳ, cuối cùng đã lật đổ sự thống trị  
của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa phong kiến và chủ  
nghĩa tư bản quan liêu, giành được thắng lợi vĩ đại của  
cách mạng chủ nghĩa dân chủ mới, kiến lập nước Cộng  
hoà Nhân dân Trung Hoa. Từ đây, nhân dân Trung Quốc  
nắm được quyền lực của quốc gia, trở thành chủ nhân  
của quốc gia” (Lời mở đầu, đoạn thứ 5).  
N. M. Tam / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 21-29  
23  
Mặt trận Thống nhất”, là “đại biểu ý chí của nhân  
dân toàn quốc”. Nhiệm vụ của chuyên chính dân  
chủ nhân dân là phản đối chủ nghĩa đế quốc, chủ  
nghĩa phong kiến và chủ nghĩa tư bản quan liêu,  
đấu tranh vì độc lập, dân chủ, hoà bình, thống  
nhất và phú cường của Trung Quốc [2 - 4].  
Chương I Nguyên tắc chung. Điều 3 tuyên bố  
“thủ tiêu tất cả đặc quyền của quốc gia chủ nghĩa  
đế quốc tại Trung Quốc, tịch thu tư bản quan liêu  
trả lại sở hữu quốc gia của nhân dân”, thay đổi  
có trình tự chế độ sở hữu đất đai, “bảo hộ tài sản  
công cộng của quốc gia và tài sản của hợp tác xã,  
bảo hộ lợi ích kinh tế của giai cấp công nhân,  
nông dân, tiểu tư sản và giai cấp tư sản dân tộc  
cùng với tài sản tư hữu”. “Nhân dân theo luật có  
quyền bầu cử và quyền được bầu” (Điều 4).  
“Nhân dân có quyền tự do tư tưởng, ngôn luận,  
xuất bản, hội họp, lập hội, thông tin, nhân thân,  
cư trú, đi lại, tôn giáo tín ngưỡng và thị uy diễu  
hành” (Điều 5). Thực hành bình đẳng nam nữ, tự  
do hôn nhân (Điều 6). Đồng thời, “trấn áp tất cả  
hoạt động phản cách mạng”, trừng phạt và cải  
tạo phần tử phản cách mạng (Điều 7).  
Chương II Cơ quan chính quyền. Điều 12 quy  
định: “Chính quyền quốc gia thuộc về nhân dân”.  
Hình thức tổ chức chính quyền là chế độ (chính  
trị cơ bản) Đại hội Đại biểu Nhân dân (Nhân  
Đại), cơ quan để nhân dân hành sử [thực hiện]  
chính quyền quốc gia là Nhân Đại và Chính phủ  
nhân dân các cấp. Chính Hiệp thực hiện chức  
năng và quyền hạn của Nhân Đại toàn quốc  
(NĐTQ) trước khi tổng tuyển cử, Hội nghị Đại  
biểu Nhân dân các khu vực địa phương từng  
bước thay mặt thực hiện chức năng và quyền hạn  
của Nhân Đại địa phương các cấp trước khi bầu  
cử. Từ Chương III đến Chương VII quy định về  
chế độ quân sự, chính sách kinh tế, chính sách  
văn hoá giáo dục, chính sách dân tộc, và chính  
sách ngoại giao.  
khác [5]. Như đề cập ở trên, theo Cương lĩnh  
chung, trước khi tổng tuyển cử, Hội nghị toàn thể  
Chính Hiệp thực hiện chức năng và quyền hạn  
của NĐTQ (Điều 13). Tuy nhiên, sau lần tổ chức  
đầu tiên để thông qua Cương lĩnh chung và một  
số đạo luật, Hội nghị toàn thể Chính Hiệp đã  
không còn tiếp tục tồn tại và thực hiện chức  
năng, quyền hạn của NĐTQ, mà quyền lực quốc  
gia được giao phó cho Uỷ ban Chính phủ Nhân  
dân trung ương (UBCP), khiến cho UBCP trở  
thành cơ quan hành sử quyền lực cao nhất quốc  
gia, là chủ thể thực hiện quyền lập pháp trên thực  
tế, như quyền “xây dựng và giải thích pháp luật”,  
“ban hành pháp lệnh” (Luật tổ chức, Điều 7).  
Nhìn chung, trong thời gian phát sinh hiệu lực  
(từ 1949 đến 1954), Cương lĩnh chung cung cấp  
cơ sở có tính hợp pháp cho chính quyền quốc gia  
mới của giai đoạn cách mạng chủ nghĩa dân chủ  
mới. Cương lĩnh chung cũng đặt ra nguyên tắc  
cơ bản cho các bản hiến pháp sau này - đặc biệt  
là Hiến pháp năm 1954 và năm 1982. Ngày  
20/9/1954, NĐTQ khoá I thông qua bản Hiến  
pháp chủ nghĩa xã hội đầu tiên của giai đoạn chủ  
nghĩa xã hội (CNXH). Nhiệm vụ và sứ mệnh lịch  
sử của Cương lĩnh chung hoàn thành và chấm  
dứt. Hội nghị toàn thể Chính Hiệp sau lần tổ chức  
thứ nhất đã không còn tiếp tục tồn tại, chỉ thành  
lập Uỷ ban toàn quốc và Uỷ ban thường vụ - là  
tổ chức Mặt trận Thống nhất, tức “cơ quan hiệp  
thương của các đảng phái, đoàn thể nhân dân bên  
ngoài chính quyền quốc gia”; quyền lực được  
giao phó cho UBCP [2].  
2. Giai đoạn từ năm 1954 đến trước năm 1982  
2.1. Hiến pháp năm 1954  
Tháng 1/1953, UBCP quyết định thành lập  
“Uỷ ban khởi thảo hiến pháp” do Mao Trạch  
Đông là Chủ tịch.3 Cũng trong năm này, UBCP  
xây dựng Luật bầu cử và căn cứ vào Luật này,  
bầu cử diễn ra trên phạm vi toàn quốc để hình  
thành Nhân Đại các cấp, từ đó bầu cử gián tiếp  
Ngoài Cương lĩnh chung, Hội nghị toàn thể  
Chính Hiệp cũng thông qua Luật tổ chức Chính  
phủ Nhân dân trung ương và một số đạo luật  
________  
3
Quyết định xây dựng hiến pháp của Trung Quốc một  
Trạch Đông lần đầu tiên thăm Liên Xô đầu năm 1950;  
(3) lần thứ ba khi Lưu Thiếu Kỳ dẫn đoàn Đoàn đại  
biểu ĐCSTQ tham gia Đại hội 19 Đảng Cộng sản  
Liên Xô tháng 10/1952.  
phần là do Liên Xô thúc giục. Stalin đã ba lần kiến nghị  
Trung Quốc triệu tập NĐTQ và thông qua hiến pháp: (1)  
lần thứ nhất khi Lưu Thiếu Kỳ bí mật thăm Liên Xô  
khoảng tháng 6 đến 8/1949; (2) lần thứ hai khi Mao  
N. M. Tam / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 21-29  
24  
hình thành nên NĐTQ. Tháng 3/1954, Mao  
Trạch Đông trình bản sơ thảo Dự thảo hiến pháp  
do ĐCSTQ trung ương chuẩn bị trước Uỷ ban  
khởi thảo, làm cơ sở của hiến pháp khởi thảo.  
Qua trưng cầu ý kiến và sửa đổi, đến tháng  
9/1954, UBCP quyết định đem bản Dự thảo trình  
NĐTQ nghiên cứu và xem xét. Ngày 20/9/1954,  
Hội nghị lần thứ nhất NĐTQ khoá I thông qua  
bản Hiến pháp chủ nghĩa xã hội đầu tiên.  
viên cao cấp khác, phát hành lệnh giới nghiêm,  
tuyên bố trạng thái chiến tranh (Điều 40); đại  
diện quốc gia đối ngoại, “thống soái lực lượng  
vũ trang toàn quốc, đảm nhiệm Chủ tịch Uỷ ban  
quốc phòng” (Điều 41); phụ trách triệu tập “Hội  
nghị quốc vụ tối cao” do Phó Chủ tịch nước, Chủ  
tịch UBTVNĐTQ, Tổng lí,… hợp thành và đảm  
nhiệm Chủ tịch Hội nghị (Điều 43).  
Chương III Quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của  
công dân. Trong số 19 Điều thì có 15 Điều về  
bảo đảm quyền lợi và tự do. “Công dân đều bình  
đẳng trước pháp luật” (Điều 85). Công dân được  
hưởng quyền bầu cử và quyền được bầu bình  
đẳng, ngoại trừ người bệnh tâm thần và người  
theo luật bị tước quyền bầu cử và quyền được  
bầu (Điều 86). Công dân còn có tự do khác rộng  
rãi, bao gồm tự do ngôn luận, xuất bản, hội họp,  
lập hội, diễu hành, thị uy, tôn giáo tín ngưỡng,  
nhân thân, cư trú, bí mật thông tin, đi lại, quyền  
lao động, nghỉ ngơi, quyền được giáo dục,… (từ  
Điều 87 đến 96). Công dân đồng thời phải tuân  
thủ pháp luật, bảo vệ vật công, theo luật nộp thuế  
và phục vụ quân dịch (từ Điều 100 đến 103).  
Hiến pháp năm 1954 được xem là bản tổng  
kết của lịch sử Trung Quốc, kinh nghiệm thực thi  
Cương lĩnh chung, kinh nghiệm xây dựng hiến  
pháp và chế độ hiến pháp của quốc gia CNXH  
và quốc gia tiên tiến khác trên thế giới, tổng kết  
giai đoạn lịch sử xã hội Trung Quốc đương thời,  
căn cứ vào các nhiệm vụ mà chính quyền mới  
phải hoàn thành, đã hình thành một tập hợp quy  
phạm hiến pháp cần thiết. Hiến pháp năm 1954  
có tư tưởng chỉ đạo và nguyên tắc cơ bản đúng  
đắn, lí luận hiến pháp tiên tiến, thể hiện và phản  
ánh sự tham gia của quảng đại nhân dân; là bản  
hiến pháp khoa học, dân chủ, phản ánh thực tế  
xã hội Trung Quốc đương thời, từ nội dung đến  
quy phạm tương đối hoàn chỉnh, cơ bản phù hợp  
với lí luận hiến pháp. Do đó, Hiến pháp năm  
1954 được tổ chức xây dựng tương đối tốt, các  
quy phạm tương đối hoàn chỉnh và đạt được hiệu  
quả xã hội tương đối cao [2 - 4].  
Hiến pháp năm 1954 bao gồm 4 Chương với  
106 Điều [6]. Lời mở đầu thể hiện rõ, Hiến pháp  
lấy Cương lĩnh chung là cơ sở, nhưng “vừa là sự  
phát triển của Cương lĩnh chung”. Chương I  
Nguyên tắc chung xác lập chế độ sở hữu CNXH  
và nguyên tắc dân chủ nhân dân, quy định chế độ  
chính trị cơ bản của quốc gia là chế độ Nhân Đại.  
Trung Quốc là “Quốc gia dân chủ nhân dân của  
giai cấp công nhân lãnh đạo, dựa trên liên minh  
công nông là cơ sở” (Điều 1). “Tất cả quyền lực  
thuộc về nhân dân”, cơ quan hành sử quyền lực  
là NĐTQ và Nhân Đại các cấp địa phương (Điều  
2). Chế độ kinh tế của thời kỳ quá độ CNXH, tức  
chế độ sở hữu tư liệu sản xuất, bao gồm chế độ  
sở hữu toàn dân, chế độ sở hữu tập thể, chế độ sở  
hữu người lao động cá thể và chế độ sở hữu nhà  
tư bản, kinh tế quốc doanh giữ địa vị lãnh đạo,  
“Quốc gia bảo đảm ưu tiên phát triển kinh tế  
quốc doanh” (Điều 6). Là thời kỳ quá độ, Hiến  
pháp năm 1954 thừa nhận đa dạng chế độ sở hữu  
cùng tồn tại, cho thấy tính linh hoạt nhất định.  
Nhưng nó đồng thời quy định, phương pháp và  
trình tự quá độ là dựa vào cơ quan nhà nước và  
lực lượng xã hội, thông qua công nghiệp hoá và  
cải tạo CNXH, “từng bước tiêu diệt giai cấp bóc  
lột”, kiến lập CNXH.  
Chương II Cơ cấu quốc gia quy định hình  
thức tổ chức của NĐTQ và Uỷ ban thường vụ  
(UBTVNĐTQ), Chủ tịch nước, Quốc vụ viện,  
Nhân Đại và “Uỷ ban nhân dân” các cấp địa  
phương, Cơ quan tự trị của dân tộc tự trị địa  
phương, Pháp viện và Viện kiểm sát. Tất cả cơ  
quan nhà nước đều thực hành nguyên tắc tập  
trung dân chủ. Theo Hiến pháp năm 1954, Chủ  
tịch nước có thực quyền tương đối lớn, bao gồm:  
quyền căn cứ vào Nghị quyết của NĐTQ và  
UBTVNĐTQ công bố pháp luật và pháp lệnh,  
miễn nhiệm Tổng lí Quốc vụ viện và các quan  
Tuy nhiên, từ sau năm 1957, chính sách kinh  
tế của Trung Quốc xuất hiện sai lầm tả khuynh,  
khuếch đại hoá đấu tranh giai cấp, đã phá hoại  
nghiêm trọng nguyên tắc dân chủ, xâm phạm  
quyền lợi và tự do của công dân mà Hiến pháp  
N. M. Tam / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 21-29  
25  
ghi nhận. Cơ sở xã hội thực thi Hiến pháp và  
pháp luật ngày càng xuống thấp, thậm chí Hiến  
pháp trở thành đối tượng bị phê phán. Năm 1966,  
“Đại cách mạng văn hoá” (Văn Cách) bộc phát,  
Hiến pháp và pháp luật ở vào trạng thái đình chỉ  
[2]: i) NĐTQ và Nhân Đại các cấp đình chỉ tất  
cả hoạt động; ii) Uỷ ban nhân dân bị thay thế bởi  
“Uỷ ban cách mạng” - cơ quan không có căn cứ  
Hiến pháp và có tính chất phức tạp; iii) hình thức  
đại dân chủ “đại minh, đại phóng, đại biện luận,  
đại tự báo” thay thế quyền lợi và tự do của công  
dân mà Hiến pháp quy định; iv) đại phê phán của  
quần chúng nhân dân thay thế phương thức xử  
án theo trình tự pháp luật của Pháp viện và Viện  
kiểm sát; v) các chế độ cơ bản của quốc gia được  
chấp hành thực thi ở mức độ khác nhau.  
chỉ có hai Điều về Quốc vụ viện, một Điều về Cơ  
quan xét xử, thủ tiêu bảo đảm của Hiến pháp năm  
1954 đối với xét xử công khai (Điều 76) và xét  
xử độc lập (Điều 78) của Pháp viện. Công xã  
nhân dân thay thế cho hương trấn làm tổ chức  
chính quyền cơ sở của nông thôn (Điều 7).  
Hiến pháp quy định “Quốc gia bảo hộ quyền  
sở hữu thu nhập từ lao động, để dành, nhà ở và  
các tư liệu sinh hoạt của công dân” (Điều 9),  
nhưng phủ định sự tồn tại của kinh tế cá thể, thủ  
tiêu quyền thừa kế của công dân đối với tài sản  
tư hữu (Điều 7); Chương III Quyền lợi và nghĩa  
vụ cơ bản của công dân chỉ còn lại 4 Điều, cắt  
giảm từ 15 Điều bảo đảm của Hiến pháp năm  
1954 xuống thành 3 Điều, thể hiện hết sức đơn  
giản: “Quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công  
dân là ủng hộ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản  
Trung Quốc, ủng hộ chế độ chủ nghĩa xã hội,  
phục tùng Hiến pháp và pháp luật của Cộng hoà  
nhân dân Trung Hoa” (Điều 26); thủ tiêu quy  
định công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thủ  
tiêu tự do tiến hành sáng tạo khoa học, nghệ thuật  
và hoạt động văn hoá khác của công dân, thủ tiêu  
thực hiện bảo đảm vật chất của quyền lợi, bổ  
sung tự do “bãi công”, nhưng thủ tiêu tự do “đi  
lại” (Điều 28).  
Tháng 10/1976, “Tứ Nhân Bang” (bè lũ bốn  
tên) bị lật đổ. Tháng 8/1977, Hội nghị lần thứ  
mười một NĐTQ tuyên bố Văn Cách kết thúc.  
Ngày 5/3/1978, Hội nghị lần thứ nhất NĐTQ  
khoá V thông qua Hiến pháp mới, bao gồm 4  
Chương 60 Điều với kết cấu tương tự hai bản  
Hiến pháp trước [2, 4, 8]. Hiến pháp năm 1978  
thể hiện nỗ lực “lập lại trật tự” ở mức độ cao  
nhất: Lời mở đầu đã thủ tiêu quy định của Hiến  
pháp năm 1975 về “chuyên chính toàn diện”, và  
xem kiến thiết “bốn hiện đại hoá” là nhiệm vụ  
tổng quát của thời kỳ mới, đồng thời khôi phục  
lại Cơ quan kiểm sát (Điều 43, nhưng không khôi  
phục Chủ tịch nước); gia tăng các bảo đảm quyền  
lợi và tự do của công dân thành 13 Điều trong  
tổng số 16 Điều của Chương III Quyền lợi và  
nghĩa vụ cơ bản của công dân.  
2.2. Hiến pháp năm 1975 và 1978  
Ngày 17/01/1975, Hội nghị lần thứ nhất  
NĐTQ khoá IV thông qua Hiến pháp mới, bao  
gồm 4 Chương với kết cấu tương tự Hiến pháp  
năm 1954, nhưng chỉ có 30 Điều. Là sản vật dưới  
sự ảnh hưởng trào lưu tư tưởng cực “tả” của  
“mười năm động loạn”, Hiến pháp năm 1975  
mang theo dấu tích của Văn Cách rất rõ ràng và  
bị xem là một sự thụt lùi [2, 4, 7]: cường điệu  
“đấu tranh giai cấp” (Lời mở đầu), mở rộng  
“chuyên chính toàn diện” của giai cấp vô sản đối  
với giai cấp tư sản đến toàn bộ lĩnh vực kiến trúc  
thượng tầng (Điều 12); bốn đại tự do “đại minh,  
đại phóng, đại biện luận, đại tự báo” được xem  
là hình thức mới của cách mạng CNXH (Điều  
13); nhiều điều văn trong Hiến pháp trực tiếp thể  
hiện lời nói của lãnh đạo với một hàm ý thâm  
sâu: “lời nói của lãnh đạo chính là điều văn hiến  
pháp có hiệu lực cao nhất”.  
Hiến pháp gia tăng chức năng của ĐCSTQ,  
trao quyền cho Chủ tịch Uỷ ban trung ương  
ĐCSTQ “thống soái lực lượng vũ trang toàn  
quốc” (Điều 15); thủ tiêu chế độ Chủ tịch nước  
và Cơ quan kiểm sát; thiết lập “Uỷ ban cách  
mạng” là cơ quan thường trực của Nhân Đại các  
cấp địa phương và là cơ quan hành chính, hành  
sử tất cả quyền lực ở địa phương (Điều 22-23),  
Cơ quan công an thay thế Cơ quan kiểm sát thực  
hiện quyền giám sát pháp luật (Điều 25). Quy  
định đối với cơ cấu quốc gia cũng rất giản lược,  
Tuy nhiên, đánh giá tổng quát, do xây dựng  
không lâu sau khi Văn Cách kết thúc, Hiến pháp  
năm 1978 vẫn tiếp tục thể hiện tư duy “tả  
khuynh”: Lời mở đầu vẫn cường điệu “chuyên  
N. M. Tam / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 21-29  
26  
chính giai cấp vô sản” và “đấu tranh giai cấp”,  
cho rằng đây là “con đường cơ bản” của toàn bộ  
giai đoạn lịch sử CNXH; Lời mở đầu không  
những khẳng định “thắng lợi vĩ đại” của Văn  
Cách đã kết thúc, mà còn khẳng định đây chỉ là  
Đại cách mạng văn hoá giai cấp vô sản “lần thứ  
nhất”; bảo lưu chế độ Công xã nhân dân và Uỷ  
ban cách mạng (Điều 7 và 34); bảo lưu “bốn đại  
tự do”, xem đây là một quyền lợi cơ bản của công  
dân; không khôi phục bảo đảm tính độc lập của  
Pháp viện và Viện kiểm sát (nhưng Điều 41 quy  
định nguyên tắc công khai xét xử và bị cáo được  
quyền biện hộ).  
Hiến pháp năm 1978 được NĐTQ sửa đổi hai  
lần bằng phương thức nghị quyết. Sửa đổi năm  
1979 bao gồm nội dung chủ yếu sau đây: “Uỷ  
ban cách mạng” đổi tên là “Chính phủ nhân  
dân”; “Uỷ ban cách mạng công xã nhân dân” đổi  
tên là “Uỷ ban quản lí công xã nhân dân”; Nhân  
Đại địa phương cấp huyện trở lên thiết lập Uỷ  
ban thường vụ là cơ quan thường trực, đồng thời  
Chính phủ nhân dân cùng cấp không tiếp tục là  
cơ quan thường vụ của Nhân Đại địa phương;  
Nhân Đại cấp huyện do bầu cử gián tiếp mà ra  
sửa thành bầu cử trực tiếp; Quan hệ giám sát  
trong nội bộ hệ thống Viện kiểm sát sửa thành  
quan hệ lãnh đạo. Sửa đổi năm 1980 thủ tiêu quy  
định về “bốn đại tự do”. Những biện pháp cải  
cách này đã đặt cơ sở cho việc xây dựng Hiến  
pháp năm 1982.  
Hiến pháp năm 1982 được xem là sự kế thừa  
và phát triển các nguyên tắc cơ bản của Hiến  
pháp năm 1954, khắc phục thiếu sót của Hiến  
pháp năm 1978, tổng kết 30 năm kinh nghiệm  
phong phú phát triển CNXH, tập trung ý chí của  
nhân dân các dân tộc toàn quốc, xem xét cả tình  
hình hiện thực trước mắt và viễn cảnh phát triển  
tương lai, là bản Hiến pháp có đặc sắc Trung  
Quốc, thích ứng yêu cầu kiến thiết hiện đại hoá  
CNXH thời kỳ lịch sử mới, là bản Hiến pháp  
hoàn thiện và ổn định nhất của Trung Quốc từ  
ngày lập quốc cho đến hiện nay [2].  
Hiến pháp năm 1982 bao gồm 4 Chương với  
138 Điều [2, 4, 9]. Lời mở đầu biểu đạt “bốn  
nguyên tắc cơ bản”: kiên trì ĐCSTQ lãnh đạo,  
chủ nghĩa Marx Lenin và tư tưởng Mao Trạch  
Đông, chuyên chính dân chủ nhân dân, con  
đường CNXH. Lời mở đầu cũng chỉ rõ, Hiến  
pháp là “luật cơ bản của quốc gia, có hiệu lực  
pháp luật cao nhất”. Chương I Nguyên tắc chung  
bao gồm 32 Điều, trong đó Điều 1 quy định  
Trung Quốc là “quốc gia chủ nghĩa xã hội  
chuyên chính dân chủ nhân dân của giai cấp công  
nhân lãnh đạo, dựa trên liên minh công nông là  
cơ sở”, chế độ CNXH là “chế độ cơ bản” của  
quốc gia. Điều 2 quy định “tất cả quyền lực” của  
quốc gia thuộc về nhân dân, cơ quan để nhân dân  
hành sử quyền lực quốc gia là NĐTQ và Nhân  
Đại các cấp địa phương. Điều 3 quy định nguyên  
tắc “tập trung dân chủ”, Nhân Đại toàn quốc và  
địa phương đều do bầu cử mà ra, chịu trách  
nhiệm trước nhân dân và chịu giám sát của nhân  
dân; Cơ quan hành chính, giám sát, xét xử, kiểm  
sát đều do Nhân Đại bầu ra, chịu trách nhiệm  
trước Nhân Đại và chịu giám sát của Nhân Đại.  
Điều 5 quy định rõ: “Tất cả pháp luật, pháp quy  
hành chính và pháp quy có tính địa phương đều  
không được mâu thuẫn với Hiến pháp” - cùng  
với Lời mở đầu, chúng biểu đạt địa vị cao nhất  
của Hiến pháp trong toàn bộ hệ thống pháp luật  
quốc gia.  
3. Giai đoạn từ năm 1982 đến hiện nay  
3.1. Hiến pháp năm 1982  
Tháng 9/1980, Hội nghị lần thứ ba NĐTQ  
khoá V thông qua Nghị quyết thành lập “Uỷ ban  
sửa đổi hiến pháp” cùng danh sách 106 thành  
viên. Tháng 2/1982, Uỷ ban đưa ra bản thảo luận  
Dự thảo sửa đổi. Ngày 26/4/1982, Dự thảo được  
công bố để thảo luận toàn dân. Sau hơn bốn  
tháng lấy ý kiến, Dự thảo được Uỷ ban tiếp tục  
thảo luận, sửa đổi tương đối thận trọng và kĩ  
lưỡng căn cứ vào ý kiến thu thập được, và đến  
tháng 11 thông qua Dự thảo. Ngày 4/12, Hội  
nghị lần thứ năm NĐTQ khoá V chính thức  
thông qua và công bố Hiến pháp hiện hành.  
Một khác biệt của Hiến pháp năm 1982 so với  
các bản Hiến pháp trước là quy định về Quyền  
lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân đưa lên  
Chương II, đứng trước Chương III Cơ cấu quốc  
gia, từ đó cho thấy địa vị quan trọng của quyền  
công dân. Phạm vi bảo vệ quyền lợi cũng mở  
N. M. Tam / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 21-29  
27  
rộng và gia tăng lên thành 24 Điều, trong đó Điều  
33 quy định: “Công dân đều bình đẳng trước  
pháp luật. Bất kỳ công dân được hưởng quyền  
lợi Hiến pháp và pháp luật quy định, đồng thời  
phải thực hiện nghĩa vụ Hiến pháp và pháp luật  
quy định”. Công dân còn được hưởng các tự do  
khác rộng rãi, bao gồm tự do ngôn luận, xuất  
bản, hội họp, lập hội, diễu hành, thị uy, tôn giáo  
tín ngưỡng, nhân thân (từ Điều 35 đến 37); quyền  
lao động, nghỉ ngơi, quyền được giáo dục, quyền  
của nhóm yếu thế,… (từ Điều 42 đến 50).  
Hiến pháp năm 1982 bổ sung thêm bốn Điều  
mới không có trong các bản Hiến pháp trước, cho  
thấy quyền lợi công dân được bảo vệ đầy đủ hơn.  
Điều 38 quy định: “Tôn nghiêm nhân cách của  
công dân không bị xâm phạm. Cấm dùng bất kỳ  
phương pháp tiến hành làm nhục, phỉ báng và vu  
cáo hãm hại đối với công dân”. Điều 39 và Điều  
40 lần lượt bảo vệ quyền nơi ở, tự do và bí mật  
thông tin của công dân. Điều 41 quy định:  
“Người do cơ quan và nhân viên công tác nhà  
nước xâm phạm quyền công dân mà chịu tổn  
hại, có quyền căn cứ theo pháp luật thủ đắc  
bồi thường”.  
Chương III Cơ cấu quốc gia. Điều 57 quy  
định NĐTQ là “cơ quan quyền lực quốc gia cao  
nhất”, NĐTQ và UBTVNĐTQ hành sử quyền  
lập pháp (Điều 58) với thẩm quyền được phân  
định như sau: NĐTQ “xây dựng và sửa đổi pháp  
luật cơ bản về hình sự, dân sự, cơ cấu quốc gia  
và pháp luật cơ bản khác” (Điều 62 khoản 3),  
UBTVNĐTQ xây dựng và sửa đổi các pháp luật  
khác ngoài “pháp luật cơ bản” mà phải do NĐTQ  
xây dựng (Điều 67 khoản 2). Điều 79 quy định  
Chủ tịch nước và Phó Chủ tịch nước do NĐTQ  
bầu ra, phải là công dân Trung Quốc từ đủ 45  
tuổi trở lên và có quyền bầu cử và quyền được  
bầu. Điều 85 quy định Quốc vụ viện, tức Chính  
phủ Nhân dân trung ương, là cơ quan chấp hành  
của cơ quan quyền lực quốc gia cao nhất, là cơ  
quan hành chính quốc gia cao nhất; Quốc vụ viện  
có quyền xây dựng pháp quy hành chính, ban  
hành quyết định và mệnh lệnh, trình dự án luật  
trước NĐTQ và UBTVNĐTQ (Điều 89 khoản 1  
và 2). Điều 123 quy định Pháp viện nhân dân là  
cơ quan xét xử của quốc gia, bao gồm Pháp viện  
nhân dân tối cao, Pháp viện nhân dân các cấp địa  
phương và Pháp viện quân sự (Điều 124). Ngoại  
trừ tình huống đặc biệt pháp luật quy định, Pháp  
viện tiến hành xét xử công khai (Điều 125); độc  
lập hành sử quyền xét xử theo pháp luật quy  
định, không chịu sự can thiệp của cơ quan hành  
chính, đoàn thể xã hội và cá nhân (Điều 126).  
Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan giám sát pháp  
luật của quốc gia (Điều 129), bao gồm Viện kiểm  
sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân các  
cấp địa phương và Viện kiểm sát quân sự (Điều  
130); độc lập hành sử quyền kiểm sát theo pháp  
luật quy định, không chịu sự can thiệp của cơ  
quan hành chính, đoàn thể xã hội và cá nhân  
(Điều 131) [9].  
3.2. Tu chính án hiến pháp  
Sự phát triển sâu rộng của cải cách mở cửa  
dẫn đến quan niệm kinh tế, chính trị và pháp luật  
của Trung Quốc không ngừng thay đổi, đồng  
thời vấn đề mới cũng không ngừng sản sinh, đòi  
hỏi phải giải quyết thông qua hình thức pháp  
luật. Tích luỹ đến một giai đoạn nhất định, những  
thay đổi quan trọng như vậy dẫn đến yêu cầu sửa  
đổi hiến pháp. Cho đến hiện nay, Hiến pháp năm  
1982 đã trải qua 5 lần sửa đổi bằng phương thức  
tu chính án lần lượt vào các năm 1988, 1993,  
1999, 2004 và 2018, tổng cộng đã sửa đổi 52  
Điều, chủ yếu ở Lời mở đầu và Nguyên tắc  
chung, và chủ yếu tập trung điều chỉnh chế độ  
kinh tế [2, 4, 9, 10].  
Ngày 12/4/1988, Hội nghị lần thứ nhất  
NĐTQ khoá VII thông qua 2 tu chính án liên  
quan đến phương diện kinh tế: i) bổ sung tại Điều  
11: “Quốc gia cho phép kinh tế tư doanh tồn tại  
và phát triển trong phạm vi của pháp luật quy  
định. Kinh tế tư doanh là bổ sung của kinh tế chế  
độ công hữu chủ nghĩa xã hội. Quốc gia bảo hộ  
quyền lợi và lợi ích hợp pháp của kinh tế tư  
doanh, thực hành dẫn dắt, giám sát và quản lí đối  
với kinh tế tư doanh”; ii) bổ sung tại Điều 10  
khoản 4: “quyền sử dụng đất có thể chuyển  
nhượng theo quy định của pháp luật”.  
Ngày 29/3/1993, Hội nghị lần thứ nhất  
NĐTQ khoá VIII thông qua 9 tu chính án, bao  
gồm nội dung chính sau đây: i) Lời mở đầu nhấn  
mạnh Trung Quốc đang ở “giai đoạn sơ cấp chủ  
nghĩa xã hội”, “nhiệm vụ cơ bản của quốc gia”  
N. M. Tam / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 21-29  
28  
là kiến thiết “lí luận chủ nghĩa xã hội đặc sắc  
Trung Quốc”, dựa vào đó làm kim chỉ nam để  
xây dựng kinh tế, và thêm đoạn “hợp tác đa đảng  
[do] Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo và chế  
độ hiệp thương chính trị sẽ tồn tại và phát triển  
trường kỳ”; ii) “kinh tế quốc doanh, xí nghiệp  
quốc doanh” trong Điều 7 sửa thành “kinh tế  
quốc hữu, xí nghiệp quốc hữu”, thể hiện tư duy  
tách rời quyền sở hữu và quyền kinh doanh; iii)  
sửa định nghĩa về chế độ sở hữu tập thể trong  
Điều 8 khoản 1 liên quan đến chế độ nhận khoán  
sản phẩm liên gia đình nông thôn; iv) chế độ kinh  
tế kế hoạch trong Điều 15 sửa thành “Quốc gia  
thực hành kinh tế thị trường chủ nghĩa xã hội”,  
“tăng cường lập pháp kinh tế, hoàn thiện điều tiết  
khống chế vĩ mô”; v) thủ tiêu Điều 16 và Điều  
17 quy định về xí nghiệp quốc gia, kinh tế tập thể  
liên quan đến “kế hoạch quốc gia”; vi) nhiệm kỳ  
của Nhân Đại cấp huyện 3 năm sửa thành 5 năm.  
Ngày 15/3/1999, Hội nghị lần thứ hai NĐTQ  
khoá IX thông qua 6 tu chính án, bao gồm nội  
dung chính sau đây: i) Lời mở đầu xác định rõ  
Trung Quốc sẽ “trường kỳ ở giai đoạn sơ cấp chủ  
nghĩa xã hội”, bổ sung “lí luận Đặng Tiểu Bình”  
là lí luận cơ sở của kiến thiết hiện đại hoá; ii)  
Điều 5 bổ sung Trung Quốc “thực hành y pháp  
trị quốc, kiến thiết quốc gia pháp trị chủ nghĩa xã  
hội”, khẳng định nhiệm vụ xây dựng pháp trị  
trong hiến pháp; iii) Điều 6 bổ sung “Quốc gia ở  
giai đoạn sơ cấp chủ nghĩa xã hội, kiên trì chế độ  
kinh tế cơ bản chế độ công hữu là chính, đa dạng  
chế độ sở hữu kinh tế cùng phát triển, kiên trì chế  
độ phân phối theo lao động phân phối là chính,  
đa dạng phương thức phân phối cùng tồn tại”; iv)  
tiếp tục sửa đổi Điều 8 khoản 1 về tổ chức kinh  
tế tập thể nông thôn; v) đề cao địa vị hiến pháp  
của kinh tế chế độ phi công hữu trong hệ thống  
kinh tế quốc dân ở Điều 11, từ vai trò “bổ sung”  
của chế độ công hữu CNXH sửa thành “bộ phận  
hợp thành trọng yếu của kinh tế thị trường chủ  
nghĩa xã hội”; vi) “hoạt động phản cách mạng”  
sửa thành khái niệm phù hợp hơn là “hoạt động  
phạm tội gây nguy hiểm cho an toàn quốc gia”.  
Ngày 14/3/2004, Hội nghị lần thứ hai NĐTQ  
khoá X thông qua 14 tu chính án, bao gồm nội  
dung chính sau đây: i) Lời mở đầu bổ sung tư  
tưởng trọng yếu “ba đại diện”, xác định “thúc  
đẩy phát triển hài hoà văn minh vật chất, văn  
minh chính trị và văn minh tinh thần” là mục tiêu  
của kiến thiết hiện đại hoá CNXH; quy định  
“người kiến thiết sự nghiệp chủ nghĩa xã hội” là  
bộ phận hợp thành quan trọng của Mặt trận  
Thống nhất; ii) Điều 10 khoản 3 “thực hành  
trưng dụng đối với đất đai” sửa thành “thực hành  
trưng thu hoặc trưng dụng đối với đất đai và đưa  
ra đền bù”; iii) Điều 11 khoản 2 “kinh tế cá thể,  
kinh tế tư doanh” sửa thành “kinh tế chế độ phi  
công hữu như kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh”,  
và bổ sung quy định “bảo hộ và khuyến khích”;  
iv) Điều 13 “Quốc gia bảo hộ quyền sở hữu thu  
nhập, để dành hợp pháp, nhà ở và tài sản hợp  
pháp khác” sửa thành “Quyền tài sản tư hữu hợp  
pháp của công dân không bị xâm phạm”, và bổ  
sung quy định “Quốc gia do đòi hỏi của lợi ích  
công cộng có thể theo pháp luật quy định thực  
hành trưng thu hoặc trưng dụng đối với tài sản tư  
hữu của công dân và đưa ra đền bù”; v) Điều 14  
bổ sung khoản 4: “Quốc gia xây dựng kiện toàn  
chế độ bảo đảm xã hội thích ứng với trình độ phát  
triển kinh tế”; vi) Điều 33 bổ sung nguyên tắc cơ  
bản “Quốc gia tôn trọng và bảo đảm nhân  
quyền”; vii) Điều 67 “giới nghiêm” sửa thành  
“trạng thái khẩn cấp”; viii) Điều 81 bổ sung  
quyền hạn của Chủ tịch nước “tiến hành hoạt  
động quốc sự”; ix) nhiệm kỳ Nhân Đại cấp  
hương trấn từ 3 năm sửa thành 5 năm.  
Ngày 11/3/2018, Hội nghị lần thứ nhất  
NĐTQ khoá XIII thông qua 21 tu chính án, bao  
gồm nội dung chính sau đây: i) Lời mở đầu bổ  
sung tư tưởng “quan điểm phát triển khoa học, tư  
tưởng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc thời  
đại mới Tập Cận Bình”; “kiện toàn pháp chế chủ  
nghĩa xã hội” sửa thành “kiện toàn pháp trị chủ  
nghĩa xã hội”; bổ sung nội hàm của tư tưởng  
CNXH đặc sắc Trung Quốc thời đại mới Tập  
Cận Bình, như quan niệm phát triển mới, mục  
tiêu phát triển quốc gia, Mặt trận Thống nhất,  
nguyên tắc giải quyết quan hệ quốc tế trong tình  
hình mới, cộng đồng vận mệnh chung nhân loại,  
quan hệ dân tộc trong tình hình mới; ii) Điều 1  
bổ sung quy định “Đảng Cộng sản Trung Quốc  
lãnh đạo là đặc trưng bản chất nhất của chủ nghĩa  
xã hội đặc sắc Trung Quốc”; iii) Điều 24 bổ sung  
quy định “Quốc gia khởi xướng giá trị quan hạch  
N. M. Tam / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 21-29  
29  
tâm chủ nghĩa xã hội”; iv) Điều 27 bổ sung quy  
định “công khai tiến hành tuyên thệ Hiến pháp”  
khi nhậm chức; v) Uỷ ban pháp luật đổi tên thành  
“Uỷ ban hiến pháp và pháp luật”; vi) Điều 79 xoá  
bỏ quy định Chủ tịch nước “nhậm chức liên tiếp  
không được vượt quá hai khoá”; vii) Điều 100 bổ  
sung quyền xây dựng pháp quy có tính địa  
phương của Nhân Đại và Uỷ ban thường vụ cấp  
thành phố; viii) Chương III Cơ cấu quốc gia bổ  
sung Mục VII Uỷ ban giám sát, quy định tính  
chất, địa vị, thành phần, chức năng quyền hạn và  
mối quan hệ tương hỗ của Uỷ ban giám sát, đồng  
thời sửa đổi các điều khoản của Hiến pháp có  
liên quan.  
lãnh đạo của ĐCSTQ chỉ được thể hiện trong Lời  
mở đầu, thì với sửa đổi năm 2018, Hiến pháp  
khẳng định “Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản  
Trung Quốc là đặc trưng bản chất nhất của chủ  
nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc” (Điều 1).  
Thứ ba, các sửa đổi hiến pháp cho thấy sự tiếp  
nhận các giá trị hiến pháp tiến bộ phương Tây:  
chuyển từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị  
trường (1993); khẳng định mục tiêu xây dựng quốc  
gia pháp trị (1999); thừa nhận nghĩa vụ “Quốc gia  
tôn trọng và bảo đảm nhân quyền” (2004).  
Thứ tư, các sửa đổi hiến pháp cho thấy nỗ lực cải  
cách hoàn thiệncơ cấu quốc gia:nhiệmkỳ của Nhân  
Đại cấp huyện và hương trấn tăng từ 3 năm lên 5  
năm(1993 và 2004); đổi tên Uỷ ban pháp luật thành  
Uỷ ban hiến pháp và pháp luật, xoá bỏ giới hạn hai  
nhiệm kỳ đối với Chủ tịch nước, thiết lập Uỷ ban  
giám sát (2018).  
4. Một số nhận xét  
Lịch sử lập hiến của một quốc gia luôn là một  
bức tranh sinh động, phản ánh bối cảnh xã hội và  
những giải pháp chính trị cụ thể trong mỗi giai  
đoạn lịch sử nhất định. Ở Trung Quốc, từ thời kỳ  
cộng hoà (1949) đến hiện nay, lịch sử lập hiến  
phản ánh rõ ba giai đoạn thăng trầm chính trị  
trong lịch sử quốc gia này: i) giai đoạn lập quốc  
với Cương lĩnh chung năm 1949 và Hiến pháp  
năm 1954, tạo cơ sơ có tính hợp pháp và chính  
đáng cho sự kiến lập và vận hành của chính  
quyền quốc gia mới; ii) giai đoạn suy thoái với  
Hiến pháp năm 1975, phản ánh thời kỳ “vô  
pháp” diễn ra trong mười năm Văn Cách; iii) giai  
đoạn cải cách-phục hưng với “nỗ lực lập lại  
trật tự” trong Hiến pháp năm 1978 và Hiến  
pháp năm 1982 của thời kỳ “gaige kaifang”.  
Hiến pháp năm 1982 cũng là bản hiện hành và  
đã trải qua 5 lần sửa đổi. Qua các lần sửa đổi,  
có thể thấy một số đặc trưng của hiến pháp ở  
Trung Quốc như sau:  
Tài liệu tham khảo  
[1] Cương lĩnh chung năm 1949,  
09181327976.shtml (truy cập ngày 22/7/2021).  
[2] H. J. Guang, H. D. Yuan, Hiến pháp Trung Quốc  
(bản thứ 4), NXB. Pháp luật, 2018.  
[3] W. T. Xian (chủ biên), Hiến pháp học Trung Quốc  
(bản thứ 2), NXB. Pháp luật, 2016.  
[4] Z. Q. Fan, Dẫn luận hiến pháp học: Nguyên lí và  
Ứng dụng (bản thứ 3), NXB. Pháp luật, 2014.  
[5] Luật tổ chức Chính phủ Nhân dân trung ương 1949,  
12/10/content_4237.htm.  
[6] Hiến pháp năm 1954,  
12/26/content_4264.htm (truy cập ngày 4/8/2021).  
[7] Hiến pháp năm 1975,  
84513758.shtml. (truy cập ngày 4/8/2021).  
[8] Hiến pháp năm 1978,  
12/06/content_4365.htm (truy cập: 4/8/2021).  
[9] Hiến pháp năm 1982,  
12/06/content_4421.htm (truy cập: 8/8/2021).  
[10] Hiến pháp năm 1982 (sửa đổi 1988, 1993, 1999,  
03/22/content_5276318.htm.  
Thứ nhất, ở phần tư tưởng dẫn dắt, Hiến pháp  
thể hiện sự cá nhân hoá các nhà lãnh đạo: Chủ  
nghĩa Marx Lenin và tư tưởng Mao Trạch Đông  
(1982), “lí luận Đặng Tiểu Bình” (1999), tư tưởng  
“ba đại diện” của Giang Trạch Dân (2004), “quan  
điểm phát triển khoa học” của Hồ Cẩm Đào và “tư  
tưởng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc thời  
đại mới của Tập Cận Bình” (2018).  
Thứ hai, Hiến pháp củng cố và khẳng định sự  
lãnh đạo của ĐCSTQ: trước năm 2018, vai trò  
pdf 9 trang Thùy Anh 16420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Lịch sử lập hiến Trung Quốc từ thời kỳ Cộng hoà đến hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdflich_su_lap_hien_trung_quoc_tu_thoi_ky_cong_hoa_den_hien_nay.pdf