Trách nhiệm của doanh nghiệp trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay

VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 60-67  
Original Article  
The Liabilities of Enterprises to Adapt  
to Climate Change in Vietnam  
Le Kim Nguyet*, Pham Nguyen Hoang Long  
VNU School of Law, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
Received 27 January 2021  
Revised 15 February 2021; Accepted 27 March 2021  
Abstract: These days many legal documents regarding to climate change in Vietnam have been  
issued and implemented. Many measures to strengthen and promote the adaptation of enterprises  
to cope with climate change have been applied, however it remains many shortcomings and  
inadequacies that have not been addressed, for example, the legal document system in the field is  
not sufficient and is not concretized in term of adaptation activities to climate change in  
businesses; tasks of Ministries, govermental organs at all level to respond to climate change are not  
clear and overlapping, especially the implementation of the current responsibilities of enterprises  
of which many chanllenges need to be discussed and resolved. Therefore, within the framework of  
this article, the author will mention about the liabilities of enterprises to adapt to climate change,  
on that basis, to point out some proposals for amending law in adapting to climate change which  
are relevant to practical context and for obtaining current sustainable development goals.  
Keywords: Climate change; Adapt to climate change; Law in adapting to climate change; Liabilities  
of enterprises; Proposals for amending law in adapting to climate change.  
D*  
_______  
* Corresponding author.  
E-mail address: [email protected]m  
60  
N.D. Duc et al. / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 2 (2019) 60-67  
61  
Trách nhiệm của doanh nghiệp trong ứng phó  
với biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay  
Lê Kim Nguyệt*, Phạm Nguyễn Hoàng Long  
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội  
Nhận ngày 27 tháng 01 năm 2021  
Chỉnh sửa ngày 15 tháng 02 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 27 tháng 3 năm 2021  
Tóm tắt: Thời gian gần đây, nhiều văn bản quy phạm pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu ở  
Việt Nam đã được ban hành và tổ chức thực hiện. Nhiều biện pháp tăng cường, thúc đẩy công tác  
ứng phó với biến đổi khí hậu tại các doanh nghiệp đã được áp dụng, tuy nhiên còn nhiều bất cập,  
hạn chế chưa được giải quyết như hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này còn  
thiếu, chưa cụ thể hóa cho hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu tại các doanh nghiệp; chức năng  
nhiệm vụ về ứng phó với biến đổi khí hậu của các Bộ, Ngành và địa phương chưa rõ ràng và còn  
chồng chéo và đặc biệt là việc thực hiện trách nhiệm ứng phó với biến đổi khí hậu của các doanh  
nghiệp hiện nay đang còn rất nhiều vấn đề nan giải cần được bàn và giải quyết. Vì vậy, trong  
khuôn khổ bài viết này, tác giả sẽ đề cập đến trách nhiệm của doanh nghiệp trong ứng phó với biến  
đổi khí hậu, trên cơ sở đó chỉ ra được những định hướng hoàn thiện pháp luật về ứng phó với biến  
đổi khí hậu phù hợp với những yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn đồng thời đạt được mục đích phát  
triển bền vững của đất nước trong giai đoạn hiện nay.  
Từ khóa: Biến đổi khí hậu, ứng phó với biến đổi khí hậu, pháp luật về ứng phó với biến đổi khí  
hậu, trách nhiệm của doanh nghiệp, hoàn thiện pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu.  
người cần phải được xem xét cùng với các vấn  
đề khác. Khí hậu thường được định nghĩa là  
trung bình theo thời gian của thời tiết (thường là  
30 năm). Sự thay đổi, dao động của khí hậu  
trong năm hoặc từ năm này qua năm khác luôn  
tồn tại và được xem xét như là một vấn đề bình  
thường trong kế hoạch phát triển. Khí hậu thay  
đổi, một sự thay đổi trong thông số trung bình  
khí hậu đo trong nhiều thập kỷ chứ không phải  
là năm, có tiềm năng tương tác và có khả năng  
phóng đại hiện tượng môi trường khác liên  
quan đến phát triển, chẳng hạn như sa mạc hóa,  
mất đa dạng sinh học, ô nhiễm không khí, hoặc  
khan hiếm tăng lên của nước ngọt [1]. Theo  
nghĩa thông thường người ta hiểu khái niệm  
biến đổi khí hậu hiện nay gắn liền với sự nóng  
lên toàn cầu, bắt đầu xuất hiện trên thế giới vài  
thập kỷ trước. Nó được đặc trưng bởi sự gia  
tăng nhiệt độ trung bình và chủ yếu gây ra sự  
tan chảy của sông băng và dẫn đến hiện tượng  
nước biển dâng cao. Nguyên nhân của những  
1. Nhận thức về ứng phó với biến đổi khí hậu  
*
Biến đổi khí hậu luôn là một trong những  
vấn đề “nóng” mà con người dù ở bất cứ đâu  
cũng phải tìm cách đối phó. Một trong những  
thách thức nghiêm trọng nhất đối với nhân loại  
hiện nay chính là biến đổi khí hậu. Những tác  
động tiêu cực của nó ngày càng trở nên khó  
lường ở khắp các châu lục trên thế giới. Chúng  
ta nhắc nhiều tới biến đổi khí hậu, vậy biến đổi  
khí hậu thực chất là gì và phát sinh từ đâu thì  
nhiều người còn rất mơ hồ và không hiểu một  
cách sâu sắc về tác hại nghiêm trọng của nó.  
Có thể thấy khí hậu tạo thành một khía cạnh  
quan trọng trong môi trường sống của con  
_______  
* Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]m  
L.K. Nguyet, P.N.H. Long / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 60-67  
62  
biến đổi này có thể là hậu quả của các hiện  
mặn, rạn san hô..; biến đổi khí hậu có thể làm  
giảm 17,5% diện tích đất của Bangladesh và  
1% của Ai Cập; biến đổi khí hậu làm thúc đẩy  
sự hồi sinh của bệnh sốt rét và sự lây lan của  
các bệnh truyền nhiễm như salmonella hoặc  
bệnh tả. Ngoài ra, biến đổi khí hậu còn có thể  
đẩy nhanh sự suy giảm đa dạng sinh học: sự  
biến mất của các loài động vật hoặc thực vật;  
Ngân hàng Thế giới cảnh báo rằng các nước  
đang phát triển dễ bị tổn thương bởi biến đổi  
khí hậu hơn các nước giàu và người nghèo phải  
đối mặt với sự tàn phá ngày càng tăng do sự  
khắc nghiệt của thời tiết gây ra như lũ lụt, hạn  
hán, bão… Thách thức của biến đổi khí hậu đặt  
ra hai vấn đề lớn: lượng khí thải carbon toàn  
cầu phải giảm, đồng thời đáp ứng nhu cầu năng  
lượng của người nghèo. Giải quyết vấn đề biến  
đổi khí hậu là điều cần thiết để đạt được mục  
tiêu giảm nghèo và phát triển. Các nước nghèo  
nhất thực sự có thể là nạn nhân đầu tiên và  
đồng thời là nạn nhân chính từ hậu quả của biến  
đổi khí hậu. Một phương pháp phòng chống và  
thích ứng với biến đổi khí hậu hiệu quả phải  
liên quan đến cả việc giảm thiểu phát thải khí  
nhà kính và quá trình thích ứng ở cấp khu vực,  
quốc gia và địa phương.  
Nhìn chung các quan niệm và nhận thức về  
biến đổi khí hậu của các quốc gia trên thế giới  
hay các tổ chức quốc tế đều có những nội dung  
tương tự như nhau đó là sự biến đổi trạng thái  
của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động  
của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian  
dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn; có thể  
là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các  
tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con  
người làm thay đổi thành phần của khí quyển.  
Việt Nam đang bị ảnh hưởng nặng nề của biến  
đổi khí hậu do đặc thù địa lý có bờ biển dài  
chạy dọc đất nước. Những năm gần đây Việt  
Nam đã phải đối mặt với rất nhiều thiên tai bất  
thường như hạn hán, bão, lũ, ngập lụt, sạt lở,...  
Thời tiết trở nên khắc nghiệt hơn và có diễn  
biến phức tạp, khó lường gây ảnh hưởng  
nghiêm trọng đến các hoạt động sản xuất, kinh  
doanh, dịch vụ trong nước, bảo vệ môi trường  
và đảm bảo an sinh xã hội. Để ứng phó với biến  
đổi khí hậu có hiệu quả, ngăn ngừa và giảm  
tượng tự nhiên hoặc có thể do các hoạt động vì  
mục tiêu phát triển của con người. Đại diện của  
các quốc gia khác nhau trên thế giới đang cố  
gắng thực hiện chính sách đấu tranh chống lại  
sự nóng lên toàn cầu. Năm 1997, họ đã cùng  
nhau ký kết Nghị định thư Kyoto và một thỏa  
thuận đã được phê chuẩn tại hội nghị thượng  
đỉnh Copenhagen nhằm giảm phát thải khí nhà  
kính (GHG). Biến đổi khí hậu thế kỷ XXI xảy  
ra phần lớn là do hoạt động xâm lấn của con  
người. Tỉ lệ mà con người phải chịu trách  
nhiệm về vấn đề nóng lên toàn cầu từ năm 1995  
là hơn 90% (theo số liệu thống kê của Uỷ ban  
liên chính phủ về biến đổi khí hậu  
(Intergovernmental Panel on Climate Change –  
IPCC), nơi quy tụ hơn 2.500 nhà khoa học trên  
toàn thế giới [2]. Nguyên nhân của biến đổi khí  
hậu là do ảnh hưởng rất lớn từ nạn phá rừng;  
sản xuất carbon dioxide và đặc biệt là hiện  
tượng đốt nhiên liệu hóa thạch. Hoạt động năng  
lượng mặt trời hoặc khí thải phát ra từ núi lửa là  
những hiện tượng tự nhiên cũng ảnh hưởng đến  
sự thay đổi nhiệt độ. Các chuyên gia ước tính  
sự nóng lên toàn cầu sẽ tiếp tục tăng trong thế  
kỷ 21, tăng từ 1,8 đến 3,4°C trong năm mươi  
năm tới. BĐKH thể hiện ở nhiều dạng khác  
nhau như các biến đổi về đặc điểm khí hậu  
(nóng lên hoặc hạ nhiệt) tại một nơi hay theo  
một thời gian nhất định nào đó. Một số dạng ô  
nhiễm không khí do các hoạt động của con  
người gây ra cũng có nguy cơ làm biến đổi khí  
hậu một cách đáng kể dẫn đến sự nóng lên của  
toàn cầu. Hiện tượng này có thể mang đến  
những rủi ro cho môi trường và con người  
thông qua một số biểu hiện như mực nước biển  
dâng cao, thời tiết khắc nghiệt: hạn hán, lũ lụt,  
lốc xoáy, sóng thần,... mất ổn định rừng, đe dọa  
tài nguyên nước ngọt, khó khăn trong sản xuất  
nông nghiệp, sa mạc hóa, giảm thiểu đa dạng  
sinh học, làm gia tăng các loại bệnh tật nhiệt  
đới.. Theo IPCC (1995), biến đổi khí hậu sẽ làm  
xáo trộn nguồn nước; làm gia tăng tần suất và  
cường độ của các thảm họa thiên nhiên liên  
quan đến khí hậu như hạn hán, lũ lụt, bão, lốc  
xoáy..; biến đổi khí hậu cũng luôn là mối đe  
dọa về sự biến mất của một số khu vực ven  
biển, đặc biệt là đồng bằng châu thổ, rừng ngập  
, L.K. Nguyet, P.N.H. Long / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 60-67  
63  
thiểu đến mức tối đa các tác động tiêu cực của  
nó đến sức khoẻ cộng đồng, Nhà nước với tư  
cách là chủ thể của quyền lực chính trị, thông  
qua hệ thống các quy phạm pháp luật để thể chế  
các quan điểm, đường lối, chính sách của mình  
liên quan đến biến đổi khí hậu, quy định quy  
trình thực hiện ứng phó với biến đổi khí hậu;  
quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể  
trong quan hệ ứng phó với biến đổi khí hậu và  
trách nhiệm pháp lý khi thực hiện những vi  
phạm pháp luật về ứng phó với biến đổi khí  
hậu,... Dưới tác động của biến đổi khí hậu, các  
hiện tượng thời tiết cực đoan gia tăng, các đợt  
lũ ống, lũ quét, mưa bão trong những năm gần  
đây tại các tỉnh miền núi phía Bắc và miền  
Trung ở nước ta đã gây ra nhiều thiệt hại về  
người và tài sản. Các doanh nghiệp Việt nam đã  
và đang tích cực triển khai, thực hiện nhiều giải  
pháp ứng phó với biến đổi khí hậu. Hệ thống  
pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và  
ứng phó với biến đổi khí hậu nói riêng không  
ngừng được hoàn thiện. Chiến lược quốc gia về  
biến đổi khí hậu, Chiến lược tăng trưởng xanh,  
Nghị quyết số 24-NQ/TW năm 2013 của Ban  
chấp hành Trung ương Đảng về ứng phó với  
biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ  
môi trường; Đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ đã  
ban hành Nghị quyết 120/NQ-CP, ngày 17  
tháng 11 năm 2017 về “Phát triển bền vững  
đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến  
đổi khí hậu”,… đã đề ra những định hướng  
chiến lược nhằm giải quyết các vấn đề biến đổi  
khí hậu một cách có hiệu quả. Để giải quyết vấn  
đề biến đổi khí hậu đòi hỏi nỗ lực của toàn cầu  
và hành động quyết liệt của mỗi quốc gia, trong  
đó việc phát triển các ngành kinh doanh thích  
ứng với biến đổi khí hậu có vai trò và ý nghĩa  
hết sức quan trọng. Nghị quyết 120/NQ-CP của  
Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng  
sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu  
được ban hành ngày 17 tháng 11 năm 2017, để  
triển khai thực hiện, tỉnh Bến Tre đã chuyển từ  
tư duy sản xuất nông nghiệp thuần túy sang tư  
duy phát triển kinh tế nông nghiệp đa dạng, đáp  
ứng nhu cầu thị trường, chuyển từ phát triển  
theo số lượng sang đáp ứng nhu cầu cao về chất  
lượng của thị trường. Cùng với đó, xây dựng  
nông thôn mới gắn với phát triển mạnh mẽ  
nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông  
nghiệp hữu cơ và nông nghiệp sạch gắn với  
chuỗi giá trị và xây dựng thương hiệu; chú  
trọng phát triển công nghiệp chế biến và công  
nghiệp hỗ trợ gắn với phát triển kinh tế nông  
nghiệp. Mô hình sản xuất thích ứng với biến đổi  
khí hậu tại tỉnh Bến Tre ngày càng được nhân  
rộng. Qua đó, diện tích canh tác lúa giảm hơn  
10.000 ha để chuyển sang nuôi trồng thủy sản ở  
vùng mặn, trồng cây ăn trái có giá trị kinh tế  
cao hơn, trồng cỏ phục vụ chăn nuôi [3]. Thúc  
đẩy việc phát triển các ngành kinh doanh thích  
ứng với biến đổi khí hậu ở Việt Nam đóng vai  
trò quan trọng vì các lý do: Các doanh nghiệp,  
các cơ sở sản xuất kinh doanh vừa là chủ thể  
chịu tác động của biến đổi khí hậu, vừa là đối  
tượng quan trọng trực tiếp tham gia, chuyển các  
thách thức thành cơ hội từ tác động của biến đổi  
khí hậu và tạo ra nguồn lực để thúc đẩy hoạt  
động ứng phó với biến đổi khí hậu, triển khai  
nội dung kế hoạch, góp phần giảm phát thải khí  
nhà kính, thúc đẩy tăng trưởng xanh, phát triển  
bền vững.  
Trong thời gian qua việc ứng phó với biến  
đổi khí hậu đã được lồng ghép vào chính sách,  
pháp luật, chương trình, kế hoạch phát triển của  
đất nước và đã được luật hóa trong Luật Bảo vệ  
Môi trường năm 2014 và mới đây là Luật Bảo  
vệ Môi trường năm 2020 vừa được Quốc hội  
thông qua ngày 17/11/2020. Theo đó, khung  
pháp lý về ứng phó với biến đổi khí hậu đã  
được bổ sung, hoàn thiện hơn để không chỉ giải  
quyết được những thách thức của biến đổi khí  
hậu, tạo tính liên kết vùng trong ứng phó với  
biến đổi khí hậu mà còn tận dụng những lợi thế,  
cơ hội biến đổi khí hậu có thể mang lại, cũng  
như thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam  
đã tham gia. Trong khuôn khổ bài viết này, tác  
giả sẽ đề cập đến trách nhiệm của doanh nghiệp  
trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam  
hiện nay, trên cơ sở đó chỉ ra được những  
những định hướng hoàn thiện pháp luật về ứng  
phó với biến đổi khí hậu phù hợp với những  
yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn đồng thời đạt  
L.K. Nguyet, P.N.H. Long / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 60-67  
64  
2011) và Chiến lược quốc gia về tăng trưởng  
xanh của Việt Nam (Chiến lược TTX: Quyết  
định số 1393/QĐ-TTg, 2012). Và được cụ thể  
hoá trong Luật bảo vệ môi trường 2014, Luật  
bảo vệ môi trường 2020… Có thể nhận thấy,  
các quy định về trách nhiệm ứng phó với biến  
đổi khí hậu của các doanh nghiệp cũng đã có  
bước tiến lớn, những thay đổi phù hợp hơn với  
thực tế phát triển ở Việt Nam. Trách nhiệm ứng  
phó với biến đổi khí hậu của các doanh nghiệp,  
các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đã được  
nâng cao, vai trò cũng đang dần được khẳng  
định ngay trong các quy định pháp luật trong  
lĩnh vực này. Luật bảo vệ môi trường 2014 và  
gần đây là Luật bảo vệ môi trường năm 2020 là  
văn bản được xem là kim chỉ nam quan trọng  
nhất về pháp lý dành cho bảo vệ môi trường nói  
chung và ứng phó với biến đổi khí hậu nói  
riêng.  
Nhiều doanh nghiệp tại các tỉnh, thành phố  
trong cả nước đã nhận thức rõ ràng về các tác  
động cũng như ảnh hưởng của biến đổi khí hậu  
và bắt đầu xây dựng năng lực ứng phó với biến  
đổi khí hậu như: sử dụng tiết kiệm và hiệu quả  
tài nguyên, công nghệ, thiết bị bảo đảm nguyên  
tắc thân thiện với môi trường, đầu tư phát triển  
vốn tự nhiên, tích cực ngăn ngừa và xử lý ô  
nhiễm môi trường… Tại Hà Nội, các quy định  
về giảm phát thải khí nhà kính đang được tích  
cực áp dụng. Uỷ ban nhân dân Thành phố đã  
giao Sở Tài nguyên và Môi trường tiếp tục  
thống kê phát thải khí nhà kính ở các lĩnh vực  
năng lượng, nông nghiệp, công nghiệp... Triển  
khai chương trình hành động sản xuất sạch hơn  
trong công nghiệp; chương trình sử dụng năng  
lượng tiết kiệm trên địa bàn; hướng dẫn các  
doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch  
vụ sử dụng năng lượng trọng điểm trên địa bàn  
thành phố thực hiện trách nhiệm theo quy định  
của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu  
quả. Các hoạt động trên nhằm góp phần quan  
trọng vào tiến trình xây dựng và thực thi hiệu  
quả các quy định về ứng phó với biến đổi khí  
hậu tại Việt Nam trong thời gian tới. Tại Đà  
Nẵng, hiện thành phố này đã ban hành các quy  
định, quy trình, thủ tục, hồ sơ vay vốn để tiếp  
cận với nguồn vốn, thực hiện các giải pháp đầu  
tư về nhà xưởng, các giải pháp về công nghệ  
được mục đích phát triển bền vững của đất  
nước trong giai đoạn hiện nay.  
2. Trách nhiệm của doanh nghiệp trong ứng  
phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam  
Những năm gần đây, một loạt các văn bản  
quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường nói  
chung và ứng phó với biến đổi khí hậu của các  
doanh nghiệp ở Việt Nam nói riêng đã được  
ban hành và thực hiện. Có thể thấy, doanh  
nghiệp vừa là chủ thể chịu tác động trực tiếp  
của biến đổi khí hậu, vừa đóng vai trò rất quan  
trọng trong việc trực tiếp tham gia, chuyển các  
thách thức thành cơ hội từ tác động của biến đổi  
khí hậu và tạo ra nguồn lực để thúc đẩy công  
tác ứng phó với biến đổi khí hậu, triển khai thực  
hiện các hoạt động giảm phát thải khí nhà kính,  
thúc đẩy tăng trưởng xanh. Thực hiện các chủ  
trương, chính sách của Chính phủ về biến đổi  
khí hậu cũng tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh  
nghiệp như nghiên cứu, sáng tạo và đầu tư vào  
các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính,  
thích ứng với biến đổi khí hậu Trách nhiệm của  
.
doanh nghiệp trong ứng phó với biến đổi khí  
hậu bao gồm các nội dung chủ yếu như quản lý  
chất thải, thu hồi năng lượng từ chất thải hay  
các chủ trương điều tiết thông qua chính sách  
thuế, các ưu đãi hỗ trợ… đây là những nội dung  
pháp lý quan trọng để giải quyết các vấn đề liên  
quan đến biến đổi khí hậu trong quá trình phát  
triển kinh tế xã hội ở nước ta trong giai đoạn  
hiện nay.  
Doanh nghiệp đã và đang khẳng định được  
vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường và  
trở thành một nhân tố cơ bản thúc đẩy phát triển  
kinh tế và xã hội ở nước ta. Đạt được điều đó  
cần nhiều yếu tố, trong đó, không thể không kể  
đến trách nhiệm ứng phó với biến đổi khí hậu.  
Khuôn khổ pháp lý cho việc nâng cao hiệu quả  
ứng phó với biến đổi khí hậu của các doanh  
nghiệp về cơ bản đã được đề cập trong các  
Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với  
BĐKH (Quyết định 158/2008/QĐ-TTg, 2008  
và 1183/QĐ-TTg, 2012 cho giai đoạn 2012–  
2015), Chiến lược quốc gia về BĐKH (Chiến  
lược BĐKH, Quyết định số 2139/QĐ-TTg,  
, L.K. Nguyet, P.N.H. Long / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 60-67  
65  
sản xuất, trang thiết bị giảm phát thải khí nhà  
kính nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu tại  
đơn vị. Quỹ đầu tư phát triển thành phố đã và  
đang tiến hành cho vay các dự án phục vụ sản  
xuất nông lâm ngư nghiệp, đầu tư xe taxi chạy  
nhiên liệu gaz; cấp điện phục vụ xử lý môi  
trường ô nhiễm dioxin tại sân bay. Các công  
trình dịch vụ gắn với bảo vệ môi trường đều  
được vay với lãi suất ưu đãi 8,5%. Ngoài ra, có  
thể tham khảo các giải pháp rất hiệu quả trong  
ứng phó với biến đổi khí hậu như tại Công ty  
Nippon Koei, Nhật Bản: Công ty đang thực  
hiện cơ chế tín chỉ JCM (cơ chế giảm phát thải  
cacbon) được đề xuất bởi Nhật Bản nhằm thúc  
đẩy hợp tác song phương giữa Nhật Bản với các  
nước đang phát triển như Việt Nam để thực  
hiện các hành động giảm phát khí thải nhà kính  
thông qua việc chuyển giao công nghệ sạch và  
tiên tiến từ Nhật Bản. Cụ thể, khi tham gia cơ  
chế tín chỉ JCM, doanh nghiệp Việt Nam sẽ  
được Bộ Môi trường Nhật Bản hoặc Bộ Kinh tế  
Thương mại và Công thương Nhật Bản hỗ trợ  
về công nghệ và tài chính, lên đến 50% tổng chi  
phí đầu tư. Đây sẽ là cơ hội về nguồn vốn cho  
doanh nghiệp khi liên kết với các doanh nghiệp  
Nhật Bản để áp dụng các giải pháp công nghệ  
của Nhật Bản liên quan đến tiết kiệm năng  
lượng, giảm lượng phát thải khí nhà kính, góp  
phần tuân thủ các quy chuẩn xả thải ra môi  
trường [4].  
Các lĩnh vực ưu tiên đã được xác định trong  
thực hiện Kế hoạch Paris tại Việt Nam, nhiều  
cơ hội cũng được tạo ra cho các doanh nghiệp,  
đó là các cơ hội cho nghiên cứu, sáng tạo và  
đầu tư vào các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí  
nhà kính, thích ứng với biến đổi khí hậu. Những  
lĩnh vực đầy hứa hẹn gồm năng lượng tái tạo;  
đô thị thông minh, thân thiện hệ sinh thái; giao  
thông thông minh; công trình và giải pháp thích  
ứng hoặc tăng khả năng thích nghi với biến đổi  
khí hậu,... Pháp luật quy định các hoạt động  
nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công  
nghệ về ứng phó với biến đổi khí hậu được ưu  
tiên gồm: Phát triển ngành và liên ngành khoa  
học về quản lý, đánh giá, giám sát và dự báo tác  
động của biến đổi khí hậu đối với phát triển  
kinh tế - xã hội, môi trường, sức khỏe cộng  
đồng; Hoạt động điều tra, nghiên cứu khoa học  
cơ bản và ứng dụng, phát triển và chuyển giao  
công nghệ hiện đại trong giảm nhẹ khí nhà  
kính, thích ứng với biến đổi khí hậu; tăng  
cường sức cạnh tranh của các ngành kinh tế,  
sản xuất trọng điểm, phát triển nền kinh tế các-  
bon thấp và tăng trưởng xanh. Cơ quan, tổ  
chức, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có  
trách nhiệm thực hiện hoặc tham gia hoạt động  
nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học  
công nghệ nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu.  
Hoạt động phát triển các ngành kinh doanh  
thích ứng với biến đổi khí hậu ở Việt Nam đang  
dần khẳng định được vai trò của mình và trở  
thành một nhân tố cơ bản thúc đẩy phát triển  
kinh tế - xã hội ở Việt Nam.  
Nhiều quy định về ứng phó với biến đổi khí  
hậu tại các doanh nghiệp đã được áp dụng, tuy  
nhiên còn nhiều bất cập, hạn chế đang tồn tại,  
chưa được giải quyết như hệ thống văn bản quy  
phạm pháp luật về lĩnh vực này còn chưa đầy  
đủ, chưa cụ thể hóa cho hoạt động ứng phó với  
biến đổi khí hậu tại các doanh nghiệp; chức  
năng nhiệm vụ về ứng phó với biến dổi khí hậu  
của các Bộ, Ngành và địa phương chưa rõ ràng  
và còn chồng chéo; Các quy định về giảm nhẹ  
phát thải khí nhà kính còn phân tán; các quy  
định về thích ứng chủ yếu về phòng chống và  
giảm nhẹ thiên tai. Phần lớn quy hoạch phát  
triển kinh tế - xã hội của các ngành, lĩnh vực,  
địa phương chưa được bổ sung yếu tố biến đổi  
khí hậu. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước mới  
được thiết lập ở Trung ương với đội ngũ cán bộ  
còn mỏng, chưa đáp ứng về chuyên môn,  
nghiệp vụ. Công tác nghiên cứu khoa học cơ  
bản về biến đổi khí hậu còn nhiều hạn chế và  
đặc biệt là việc thực hiện trách nhiệm ứng phó  
với biến đổi khí hậu của các doanh nghiệp hiện  
nay đang còn rất nhiều vấn đề nan giải cần  
được bàn và giải quyết. Hơn nữa, việc tuân thủ  
các quy định về ứng phó với biến đổi khí hậu  
hiện nay chưa thực sự hiệu quả, hàng loạt  
những hạn chế, bất cập liên quan đến bảo đảm  
quyền và lợi ích về môi trường của các chủ thể,  
công khai hoá thông tin và các lợi ích có liên  
quan, các quy định về phát triển các ngành nghề  
mới thích ứng với biến đổi khí hậu... Điều này  
do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan  
khác nhau, mà một trong những nguyên nhân  
L.K. Nguyet, P.N.H. Long / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 60-67  
66  
chính là khung pháp lý về ứng phó với biến đổi  
khí hậu được ban hành và tuân thủ chưa đầy đủ  
làm cơ sở để bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể  
có liên quan và ngăn ngừa các xung đột lợi ích  
về môi trường một cách có hiệu quả. Có thể  
thấy, Việt Nam có rất ít công cụ pháp luật để  
thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu. Một  
khó khăn nữa là sự thiếu nhận thức về biến  
đổi khí hậu trong cộng đồng, đặc biệt là  
doanh nghiệp dẫn đến những khó khăn nhất  
định trong thực thi và tuân thủ pháp luật trong  
lĩnh vực này.  
một số nguyên nhân như những quy định về  
lĩnh vực này còn sơ sài, còn thiếu vắng các quy  
định hướng dẫn thi hành và do đó, dù muốn áp  
dụng nhưng các doanh nghiệp vẫn lúng túng đi  
tìm những nguồn hướng dẫn khác. Chính sự  
khó khăn này đã làm nản lòng các doanh nghiệp  
dẫn đến điều dễ hiểu là quy định này không  
được họ đón nhận. Năm là, chúng tôi cho rằng  
giải pháp khuyến khích áp dụng khoa học kỹ  
thuật tiên tiến trong sản xuất, kinh doanh là rất  
cần thiết. Khuyến khích việc triển khai áp dụng  
khoa học công nghệ kỹ thuật tiên tiến nhằm  
khống chế ô nhiễm môi trường như công nghệ  
“sản xuất sạch hơn“, các “nhãn xanh” hay đề  
xuất các chính sách ưu đãi đối với các doanh  
nghiệp, các cơ sở tuân thủ tốt các quy định pháp  
luật về ứng phó với biến đổi khí hậu. Cần có  
chính sách ưu đãi về thuế (miễm hoặc giảm  
thuế) đối với những doanh nghiệp, các cơ sở có  
hoạt động kinh tế lần đầu áp dụng thành tựu  
khoa học công nghệ, sáng kiến kỹ thuật hay có  
các giải pháp hữu ích vào dây truyền sản xuất  
sạch, đầu tư đổi mới công nghệ, áp dụng hệ  
thống quản lý chất lượng tiên tiến, dây truyền  
công nghệ khép kín... Sáu là, tăng cường hợp  
tác quốc tế trong việc xây dựng và ban hành  
pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu ở  
Việt Nam. Hoàn thiện các quy định về trách  
nhiệm của các doanh nghiệp trong ứng phó với  
biến đổi khí hậu ở Việt nam phải phù hợp với  
các thông lệ quốc tế. Cần đẩy mạnh việc khảo  
sát, hội thảo, học tập kinh nghiệm về xây dựng  
và ban hành pháp luật ứng phó với biến đổi khí  
hậu ở các nước có điều kiện tương đồng như  
Việt Nam. Như chúng ta đã biết, hiện nay xu  
hướng “toàn cầu hoá” đang là một vấn đề thời  
sự nóng bỏng ở nhiều khu vực, nhiều quốc gia  
trên thế giới. Tạm đặt sang một bên những nguy  
cơ, những thách thức có thể gặp phải trong việc  
hội nhập, chúng ta không khỏi thừa nhận những  
lợi ích to lớn mà xu thế đó đem lại. Đó là việc  
tạo động lực thúc đẩy sự phát triển trong nhiều  
lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội của đất  
nước mà môi trường là một trong những lĩnh  
vực được hưởng lợi nhiều nhất. Trong hoàn  
cảnh hiện nay khi các nguồn lực và kinh  
Từ những phân tích trên đây, chúng tôi cho  
rằng việc hoàn thiện các quy định về trách  
nhiệm của các doanh nghiệp trong ứng phó với  
biến đổi khí hậu phải được tiến hành theo các  
định hướng sau đây: Một là, hoàn thiện các quy  
định về trách nhiệm của các doanh nghiệp trong  
ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam phải  
trên cơ sở quán triệt quan điểm, đường lối của  
Đảng và chiến lược xây dựng pháp luật của Nhà  
nước về bảo vệ tài nguyên môi trường và ứng  
phó với biến đổi khí hậu; Hai là, hoàn thiện các  
quy định về trách nhiệm của các doanh nghiệp  
trong ứng phó với biến đổi khí hậu phải trên cơ  
sở vận dụng linh hoạt các lý thuyết hiện đại về  
phát triển bền vững; về phòng ngừa ô nhiễm  
môi trường; Những quan điểm đường lối của  
Đảng và Nhà nước về ý nghĩa của hoạt động  
ứng phó với biến đổi khí hậu nhằm phát triển  
kinh tế bền vững ở Việt Nam; Nâng cao nhận  
thức về ứng phó với biến đổi khí hậu của doanh  
nghiệp và các chủ thể khác; Ba là, hoàn thiện  
các quy định về trách nhiệm của các doanh  
nghiệp trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở  
Việt Nam phải trên cơ sở sửa đổi, bổ sung, phát  
triển những quy định hiện hành về vấn đề này;  
Bốn là, cần chú trọng tuyên truyền các quy định  
về trách nhiệm của các doanh nghiệp trong ứng  
phó với biến đổi khí hậu. Những quy định về  
trách nhiệm của các doanh nghiệp trong ứng  
phó với biến đổi khí hậu hiện nay vẫn chưa  
nhận được sự quan tâm đúng mức từ phía các  
doanh nghiệp. Điều đó được thể hiện thông qua  
việc không tuân thủ đầy đủ các quy định pháp  
luật về ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt  
Nam. Sự không tuân thủ này có thể lý giải bởi  
, L.K. Nguyet, P.N.H. Long / VNU Journal of Science: Legal Studies, Vol. 37, No. 1 (2021) 60-67  
67  
phó kịp thời trước khi các vấn đề về môi trường  
trở nên quá trầm trọng.  
nghiệm ứng phó với biến đổi khí hậu còn hạn  
chế, nếu thiếu sự hợp tác quốc tế thì đất nước ta  
khó có thể giải quyết các vấn đề môi trường  
một cách triệt để. Vì vậy, có thể khẳng định  
việc cùng tham gia hội nhập với các quốc gia  
trong lĩnh vực ứng phó với biến đổi khí hậu là  
một xu thế tất yếu.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Tô Thúy Nga, Tích hợp bảo vệ môi trường và  
ứng phó với biến đổi khí hậu", Tạp chí Tài  
nguyên và Môi trường, Hà Nội, 2015, 21,  
[2] Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu  
(Intergovernmental Panel on Climate Change -  
IPCC) đã xuất bản hàng loạt các báo cáo kỹ thuật  
liên quan đến BĐKH, tiêu biểu là 5 báo cáo đánh  
giá tổng hợp gồm: Báo cáo đánh giá IPCC thứ  
nhất năm 1990 (FAR); Báo cáo đánh giá IPCC  
thứ 2 năm 1995: Biến đổi khí hậu (SAR); Báo  
cáo đánh giá IPCC thứ 3 năm 2001: Biến đổi khí  
hậu (TAR); Báo cáo đánh giá IPCC thứ 4 năm  
2007: Biến đổi khí hậu (AR4); Báo cáo đánh giá  
IPCC thứ 5 năm 2014.  
3. Kết luận  
Có thể khẳng định vai trò to lớn của các  
doanh nghiệp trong việc tạo ra nhiều việc làm,  
sản xuất, kinh doanh nhiều sản phẩm, hàng hóa  
có giá trị kinh tế cao cho đất nước. Tuy nhiên,  
với quá trình phát triển kinh tế đất nước trong  
những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp đã gây  
ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, có nguy cơ  
làm biến đổi khí hậu một cách đáng kể dẫn đến  
sự nóng lên của toàn cầu, ảnh hưởng xấu đến  
sức khỏe và cuộc sống của người dân và cộng  
đồng. Hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu  
là một yêu cầu hết sức cấp bách, đòi hỏi phải có  
sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước, của toàn xã  
hội và đặc biệt là của các doanh nghiệp để đối  
[3] Diệp Anh, Sản xuất nông nghiệp thích ứng với  
biến đổi khí hậu, 2019, link:  
ngày 7/8/2019  
[4] Công tâm, Tìm kiếm giải pháp cho các doanh  
nghiệp ứng phó với biến đổi khí hậu, 2019, link:  
cập ngày 20/10/2019.  
K
p
pdf 8 trang Thùy Anh 14160 Free
Bạn đang xem tài liệu "Trách nhiệm của doanh nghiệp trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftrach_nhiem_cua_doanh_nghiep_trong_ung_pho_voi_bien_doi_khi.pdf