Trách nhiệm của chủ thể định giá tài sản góp vốn là giá trị quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

TRÁCH NHIỆM CỦA CHỦ THỂ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN GÓP VỐN LÀ  
GIÁ TRỊ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU  
Trần Cao Thành  
Người phản biện:ThS. Đỗ Thị Diện  
Tóm tắt: Góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu đang đƣợc  
các nhà đầu tƣ quan tâm. Thực tế đã ghi nhận các trƣờng hợp góp vốn bằng giá trị  
quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) đối với nhãn hiệu nhƣ Vinashin, Sông Đà. Pháp  
luật Việt Nam đã ban hành những quy định điều chỉnh vấn đề này, song vẫn còn tồn  
tại nhiều bất cập dẫn đến những khó khăn trong việc thực thi của các chủ thể, trong đó  
có vấn đề định giá tài sản góp vốn bằng giá trị quyền SHCN đối với nhãn hiệu. Định  
giá tài sản trí tuệ nói chung và định giá nhãn hiệu nói riêng là công việc rất khó khăn,  
định giá quá thấp hay quá cao đều không thể hiện đúng giá trị của nhãn hiệu. Trách  
nhiệm của chủ thể đƣợc đặt ra khi có những hệ quả pháp lý phát sinh đối với việc định  
giá nhãn hiệu không đúng giá trị thật của nó. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập  
trung làm rõ trách nhiệm của chủ thể định giá quyền SHCN đối với nhãn hiệu trong  
hoạt động góp vốn tại các doanh nghiệp, phân tích những bất cập của pháp luật và đƣa  
ra một số khuyến nghị.  
Từ khoá: góp vốn, trách nhiệm, chủ thể định giá, quyền sở hữu công nghiệp,  
nhãn hiệu  
Résume: La contribution capitale en valeur de droits de propriété intellectuelle  
sur les marques est laquelle qui qui intéresse les investisseurs en ce moment. En fait, il  
y a eu des cas de la contribution capitale en valeur des droits de la propriété  
industrielle sur les marques telles que Vinashin, Song Da, etc.... La loi vietnamienne a  
également édicté des règlements régissant cet problème, mais il existe encore de  
nombreuses lacunes qui entraînent des difficultés dans la mise en œuvre des sujets, y  
compris le problème de l'évaluation des actifs de la contribution capitale en valeur des  
droits de la propriété industrielle sur les marques. L'évaluation d'un actif de propriété  
intellectuelle en général et l'évaluation de la marque en particulier n'est pas une tâche  
facile, une valeur trop haute ou trop basse ne reflétant pas la valeur de la marque. Et  
ThS.GV Trƣờng Đại học Luật Huế  
155  
bien sûr, la responsabilité du sujet est posée lorsqu'il y a des conséquences juridiques  
découlant de l'évaluation de marque incorrecte de sa valeur. Dans le cadre de cet  
article, l'auteur s'attache à clarifier la responsabilité du sujet de l'évaluation des droits  
de la propriété industrielle sur les marques dans les activités de la contribution capitale  
dans les entreprises, en soulignant les lacunes de la loi et faire des recommandations.  
Mot clés: Contribution capitale, responsabilité, sujet de l'évaluation, droits de la  
propriété industrielle, marques  
1. Đặt vấn đề  
Nhãn hiệu hiện nay có giá trị rất lớn, thậm chí chiếm đa số trong tỷ trọng cơ cấu  
vốn của một doanh nghiệp. Minh chứng: Công ty Bia Huế (Huda) đƣợc thành lập vào  
năm 1990, dƣới tên gọi nhà máy Bia Huế. Năm 1994, nhà máy bia Huế liên doanh góp  
50% vốn với tập đoàn Carlsberg (Đan Mạch) chính thức mang tên Công ty Bia Huế, trở  
thành một trong những thƣơng hiệu bia mạnh trong nƣớc. Cuối năm 2011, Carlsberg đã  
mua lại phần vốn của đối tác Việt Nam là Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, để từ  
liên doanh trở thành công ty 100% vốn nƣớc ngoài. Mức giá bán là 1.800 tỷ đồng, trong  
đó giá trị thƣơng hiệu khoảng 1.100 tỷ đồng còn 700 tỷ đồng là giá trị hữu hình của  
doanh nghiệp.142 Để có cái nhìn toàn diện hơn về giá trị của các thƣơng hiệu, xin mời  
tham khảo bảng dƣới đây  
Bảng 1.1 Giá trị của một số tên thƣơng hiệu nổi tiếng tính đến năm 2019143  
Giá trị (Tỷ  
Stt  
Tên thƣơng hiệu  
USD)  
315,5  
1.  
2.  
3.  
4.  
5.  
6.  
7.  
Amazon  
Apple  
309,5  
309  
Google  
Microsoft  
Visa  
251,2  
177,9  
159  
FaceBook  
Alibaba  
131,2  
142 http://news.zing.vn/Thuong-hieu-Viet-bi-nuot-nhu-the-nao-post492254.html cập nhật lúc 08:56 20/05/2019  
143 https://www.brandsvietnam.com/18578-Vuot-Apple-va-Google-Amazon-tro-thanh-thuong-hieu-gia-tri-nhat-  
156  
8.  
Tencent  
McDonald‟s  
AT&T  
130,9  
130,4  
108,4  
9.  
10.  
Với giá trị ngày càng cao của các nhãn hiệu, các chủ sở hữu có xu hƣớng mang  
nhãn hiệu đi tham gia các hoạt động góp vốn, đầu tƣ, thế chấp, chuyển quyền sở hữu  
công nghiệp, làm tài sản bảo đảm,...Để có thể tiến hành các hoạt động nói trên, nhãn  
hiệu cần đƣợc định giá, song việc định giá nhãn hiệu không phải dễ dàng. Khác với  
các tài sản hữu hình, nhãn hiệu là tài sản vô hình mang trong mình những đặc trƣng  
nhất định. Do đó, để có thể định giá đƣợc tài sản là quyền SHCN đối với nhãn hiệu đòi  
hỏi chủ thể định giá phải có kiến thức chuyên môn cả về kinh tế lẫn kiến thức về sở  
hữu trí tuệ. Việc định giá dù cao hơn hay thấp hơn giá trị thực của nhãn hiệu đều cản  
trở cho hoạt động góp vốn. Do đó, cần thiết phải đặt ra trách nhiệm pháp lý đối với  
chủ thể định giá tài sản góp vốn là quyền SHCN đối với nhãn hiệu để một mặt tạo  
động lực cho các hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu gia tăng, mặt khác để các chủ thể  
định giá có trách nhiệm trong việc định giá nhằm xác định chính xác giá trị của nhãn  
hiệu. Bài viết tập trung phân tích quy định của pháp luật về trách nhiệm của chủ thể  
định giá tài sản góp vốn là nhãn hiệu và đề xuất một số kiến nghị.  
2. Quy định pháp luật về trách nhiệm của chủ thể định giá tài sản góp vốn  
là giá trị quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu  
Khi góp vốn vào doanh nghiệp thì việc xác định giá trị tài sản góp vốn là vấn đề  
quan trọng vì nó liên quan đến lợi ích của doanh nghiệp, chủ sở hữu, chủ nợ… Tại  
Điều 37 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định:  
“Điều 37. Định giá tài sản góp vốn  
1. Tài sản góp vốn không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi,  
vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức thẩm định giá chuyên  
nghiệp định giá và được thể hiện thành Đồng Việt Nam‟  
2. Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ  
đông sáng lập định giá theo nguyên tác nhất trí hoặc do một tổ chức thẩm định giá  
chuyên nghiệp định giá. Trường hợp tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì  
giá trị tài sản góp vốn phải được đa số các thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận.  
157  
Trường hợp tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời  
điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập cùng liên đới góp thêm bằng số  
chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm  
kết thúc định giá; đồng thời liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do cố ý định giá  
tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế.  
3. Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do chủ sở hữu, Hội đồng thành viên  
đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, Hội đồng quản trị đối với  
công ty cổ phần và người góp vốn thỏa thuận định giá hoặc do một tổ chức thẩm định  
giá chuyên nghiệp định giá. Trường hợp tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá  
thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và doanh nghiệp chấp thuận.  
Trường hợp nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời  
điểm góp vốn thì người góp vốn, chủ sở hữu, thành viên Hội đồng thành viên đối với  
công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, thành viên Hội đồng quản trị đối  
với công ty cổ phần cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định  
giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời,  
liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do việc cố ý định giá tài sản góp vốn cao  
hơn giá trị thực tế”.  
Quy định trên đã quy định một cách rõ ràng về vấn đề định giá tài sản khi góp  
vốn vào doanh nghiệp, theo đó thì chủ thể thực hiện định giá tài sản góp vốn là các  
thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp (trong trƣờng hợp  
góp vốn khi thành lập doanh nghiệp) hoặc chủ sở hữu, Hội đồng thành viên đối với  
công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, Hội đồng quản trị đối với công ty  
cổ phần, ngƣời góp vốn, tổ chức định giá chuyên nghiệp (trong trƣờng hợp góp vốn  
trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp).  
Với quy định này đã chỉ ra các chủ thể có thẩm quyền định giá tài sản góp vốn là  
giá trị quyền SHCN đối với nhãn hiệu bao gồm:  
- Chủ thể thứ nhất: thành viên, cổ đông sáng lập hoặc chủ sở hữu, Hội đồng  
thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, Hội đồng quản  
trị đối với công ty cổ phần, ngƣời góp vốn. Đây là chủ thể có sự thống nhất về ý chí  
khi thành lập doanh nghiệp, do vậy họ có sự nhất trí trong việc định giá tài sản góp  
vốn và chịu trách nhiệm về giá trị tài sản mà mình định giá.  
158  
- Chủ thể thứ hai: tổ chức cung ứng dịch vụ định giá, là chủ thể đƣợc thành lập  
hợp pháp với chức năng hoạt động chính là định giá tài sản nên họ hoàn toàn có đủ  
trình độ chuyên môn và năng lực định giá tài sản góp vốn cho doanh nghiệp. Pháp luật  
hiện hành phân loại các tổ chức cung ứng dịch vụ định giá quyền sở hữu trí tuệ (trong  
đó bao gồm định giá quyền sở hữu công nghiệp) thành hai đối tƣợng với quy chế pháp  
lý khác nhau: doanh nghiệp định giá và tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ thực  
hiện định giá tài sản trí tuệ.  
Thứ nhất, về doanh nghiệp định giá đƣợc quy định tại Luật Giá 2012 và Nghị  
định số 89/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Giá về thẩm định giá.  
Và doanh nghiệp tham gia hoạt động định giá phải có các điều kiện:  
+ Doanh nghiệp định giá là doanh nghiệp đƣợc thành lập và hoạt động theo quy  
định của Luật doanh nghiệp và đƣợc Bộ Tài chính cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện  
kinh doanh dịch vụ định giá theo quy định của pháp luật.144  
+ Có ít nhất 03 định giá viên về giá đăng ký hành nghề tại doanh nghiệp.145  
+ Ngƣời đại diện theo pháp luật: Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc của công ty là  
định giá viên về giá đăng ký hành nghề tại doanh nghiệp.146  
+ Tiêu chuẩn định viên về giá: (i) có năng lực hành vi dân sự; (ii) có phẩm chất  
đạo đức, liêm khiết, trung thực, khách quan; (iii) có bằng tốt nghiệp đại học, sau đại  
học chuyên ngành vật giá, định giá và các ngành gồm: Kinh tế, kinh tế - kỹ thuật, kỹ  
thuật, luật liên quan đến nghiệp vụ định giá do các tổ chức đào tạo hợp pháp ở Việt  
Nam hoặc nƣớc ngoài cấp; (iv) có thời gian công tác thực tế theo chuyên ngành đào  
tạo từ 36 (ba mƣơi sáu) tháng trở lên tính từ ngày có bằng tốt nghiệp đại học theo  
chuyên ngành quy định; (v) có Chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ định giá do cơ quan, tổ  
chức có chức năng đào tạo chuyên ngành định giá cấp theo quy định của Bộ Tài chính,  
trừ các trƣờng hợp sau; (vi) có Thẻ định giá viên về giá do Bộ Tài chính cấp.147  
Một số doanh nghiệp có hoạt động trong lĩnh vực định giá tài sản (có bao gồm  
định giá quyền sở hữu công nghiệp nhƣ: Trung tâm Thẩm định giá và Đấu giá là Chi  
144 Xem Điều 3.1 Nghị định số 89/2013/NĐ-CP của Thủ tƣớng Chính phủ ban hành ngày 06.8.2013 quy định chi  
tiết thi hành một số điều của Luật giá về thẩm định giá.  
145 Xem Điều 39 Luật Giá 2012 của Quốc Hội khoá 13 ban hành ngày 20.6.2012.  
146 Xem Điều 39 Luật Giá 2012 của Quốc Hội khoá 13 ban hành ngày 20.6.2012.  
147 Xem Điều 7 Nghị định số 89/2013/NĐ-CP của Thủ tƣớng Chính phủ ban hành ngày 06.8.2013 quy định chi  
tiết thi hành một số điều của Luật giá về thẩm định giá.  
159  
nhánh của Công ty cổ phần Định giá và Dịch vụ Tài chính Việt Nam tại Hà Nội, Công  
ty cổ phần thẩm định giá IVC Việt Nam…  
Thứ hai, về loại hình tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ đƣợc quy định tại  
Thông tƣ số 16/2014/TT-BKHCN quy định về điều kiện thành lập, hoạt động của tổ  
chức trung gian của thị trƣờng khoa học và công nghệ. Thông tƣ này quy định về điều  
kiện thành lập, hoạt động trung tâm hỗ trợ định giá tài sản trí tuệ nhƣ sau:  
+ Điều kiện về nhân lực: (i) có ít nhất 05 ngƣời có trình độ đại học trở lên, trong  
đó có ít nhất 40% làm việc chính thức, 30% có chứng chỉ, chứng nhận hoàn thành  
khóa học về định giá tài sản trí tuệ; (ii) ngƣời đứng đầu tổ chức phải có trình độ đại  
học trở lên, có chứng chỉ, chứng nhận hoàn thành khóa học về định giá tài sản trí tuệ  
và có ít nhất 01 năm kinh nghiệm công tác liên quan đến định giá tài sản trí tuệ.148  
+ Điều kiện về cơ sở vật chất - kỹ thuật: (i) Có hệ thống tƣ liệu, tài liệu chuyên  
môn, phƣơng tiện kỹ thuật cần thiết để thực hiện dịch vụ hỗ trợ định giá tài sản trí tuệ;  
(ii) Có quy trình kỹ thuật định giá tài sản trí tuệ.149  
- Ngoài ra, Theo quy định tại Điều 1.1 Quyết định số 1789/QĐ-BKHCN quyết  
định về việc ban hành Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Viện Khoa học Sở hữu trí tuệ  
thì “Viện Khoa học sở hữu trí tuệ (sau đây gọi tắt là Viện) là đơn vị sự nghiệp khoa  
học và công nghệ công lập trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, giúp Bộ trường  
thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học, huấn luyện, giám định, tư vấn và định giá  
trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ”.  
Định giá quyền sở hữu công nghiệp là một hoạt động phức tạp, đòi hỏi ngƣời  
thực hiện định giá phải có trình độ chuyên môn và sự am hiểu kiến thức nhiều lĩnh vực  
về giá, về khoa học công nghệ, sở hữu trí tuệ… và các lĩnh vực cụ thể liên quan đến  
nhãn hiệu nhƣ makerting, cạnh tranh và một số lĩnh vực khác. Kết quả định giá có vai  
trò quyết định rất lớn tới sự thành công của các giao dịch về tài sản trí tuệ. Chính vì  
vậy, pháp luật đã quy định rất cụ thể về các điều kiện để kinh doanh dịch vụ định giá  
tài sản trí tuệ nhằm đảm bảo năng lực của đội ngũ cán bộ thực hiện định giá tài sản trí  
tuệ, làm cơ sở cho việc phát triển loại hình dịch vụ này ở Việt Nam.  
148 Xem Điều 8.1 Thông tƣ số 16/2014/TT-BKHCN ngày 13.6.2014 của Bộ trƣởng Bộ KH&CN Quy định về  
điều kiện thành lập, hoạt động của tổ chức trung gian của thị trƣờng khoa học và công nghệ.  
149 Xem Điều 8.2 Thông tƣ số 16/2014/TT-BKHCN ngày 13.6.2014 của Bộ trƣởng Bộ KH&CN Quy định về  
điều kiện thành lập, hoạt động của tổ chức trung gian của thị trƣờng khoa học và công nghệ.  
160  
3. Thực tiễn hoạt động định giá tài sản góp vốn là giá trị quyền sở hữu  
công nghiệp đối với nhãn hiệu  
Hoạt động định giá quyền SHCN đối với nhãn hiệu là một hoạt động diễn ra khi  
chủ sở hữu quyền cần dùng quyền SHCN đối với nhãn hiệu của mình để tham gia các  
hoạt động góp vốn, đầu tƣ, chuyển quyền sở hữu công nghiệp, làm tài sản bảo đảm…  
Để tham gia đƣợc hoạt động này, thì quyền SHCN đối với nhãn hiệu cần phải đƣợc  
định giá.  
Thời gian đầu, từ những năm 1990 các tập đoàn đa quốc gia đã tiếp cận thị  
trƣờng Việt Nam thông qua liên doanh, liên kết, mua bán, sáp nhập với các doanh  
nghiệp trong nƣớc. Có một số trƣờng hợp khi liên doanh đã xác định đƣợc giá trị của  
quyền sở hữu công nghiệp, đó là nhãn hiệu, rơi vào trƣờng hợp của công ty bia Việt  
Hà, khi góp vốn liên doanh với nƣớc ngoài đã tính đƣợc giá trị của nhãn bia Halida là  
500.000 USD, hay nhƣ nhãn hiệu bia Sài Gòn của công ty bia Sài Gòn đƣợc tính giá  
trị góp vốn vào liên doanh ở Nghệ An là 9,5 triệu USD.150  
Hoạt động định giá quyền sở hữu công nghiệp để góp vốn vào doanh nghiệp hiện  
nay diễn ra cũng khá phổ biến trên thị trƣờng. Nhiều năm nay, các tập đoàn, tổng công  
ty nhƣ Tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam (Vinaconex),  
Sông Đà, Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin),... đã sử dụng nhãn  
hiệu để góp vốn liên doanh liên kết, coi nhƣ tƣơng đƣơng với tiền thật. Theo báo cáo  
của Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam, tính đến 31/12/2007, Tập đoàn này đã  
sử dụng thƣơng hiệu (nhãn hiệu, tên thƣơng mại) để góp vốn vào 103 công ty cổ phần,  
liên doanh với giá trị quy ra tiền tới 2.067 tỷ đồng, tính bằng 30% tổng vốn điều lệ  
doanh nghiệp nhận góp vốn.151  
Từ năm 2009, tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đã quy định chi phí sử dụng  
nhãn hiệu của tập đoàn ít nhất 1 tỉ đồng mỗi năm, và đã có khoảng 70 công ty đã ký  
hợp đồng nhận “vốn góp” nhƣ vậy.  
150 Dƣơng Thị Thu Nga (2014), Định giá tài sản trí tuệ theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ  
151 Đoàn Thu Hồng (2012), Góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, Luận văn  
thạc sĩ.  
161  
Hay nhƣ trƣờng hợp Công ty Nippon Sheet Glass của Nhật Bản đã góp vốn bằng  
quyền sở hữu “công nghệ kính nổi” để thành lập liên doanh với Công ty Kinh Đô của  
Việt Nam, giá trị công nghệ đƣợc xác định là 2.000.000 USD.152  
Nhƣ vậy, thực tế cho thấy hoạt động góp vốn bằng nhãn hiệu diễn ra khá phổ biến  
và đƣợc ghi nhận. Song để có thể khẳng định nhãn hiệu đã đƣợc định giá chính xác thì  
vẫn là vấn đề còn bỏ ngõ. Trên thực tế, trách nhiệm của các chủ thể định giá đối với các  
nhãn hiệu đã mang đi góp vốn cũng chƣa đƣợc đặt ra bởi lẽ chƣa phát sinh tranh chấp  
nào có liên quan đến trách nhiệm của chủ thể định giá.  
4. Một số bất cập trong quy định của pháp luật về trách nhiệm của chủ  
thể định giá tài sản góp vốn là giá trị quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn  
hiệu  
Thứ nhất, bất cập trong quy định về chủ thể định giá tài sản góp vốn là giá trị  
quyền SHCN đối với nhãn hiệu  
Việc định giá ở đây đƣợc xem xét dƣới hai hình thức: (1) định giá tài sản trong  
góp vốn khi thành lập doanh nghiệp và (2) định giá tài sản trong quá trình hoạt động.  
Trƣờng hợp thứ nhất: định giá tài sản trong góp vốn khi thành lập doanh nghiệp.  
Theo Điều 37.2 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định “Tài sản góp vốn khi thành lập  
doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc  
nhất trí hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá”.  
Trƣờng hợp thứ hai: định giá tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động. Điều  
37.3 Luật Doanh nghiệp 2014 cũng quy định “Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt  
động do chủ sở hữu, Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công  
ty hợp danh, Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần và người góp vốn thỏa thuận  
định giá hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Trường hợp tổ  
chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người  
góp vốn và doanh nghiệp chấp thuận”.  
Với hai quy định trên, pháp luật cho phép khi tài sản góp vốn vào doanh nghiệp  
là quyền sở hữu công nghiệp nói chung và nhãn hiệu nói riêng, ngoài do một tổ chức  
152 Đào Thị Dung (2016), Pháp luật về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam. Thực tiễn pháp lý và  
phương hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội  
162  
định giá chuyên nghiệp định giá thì việc định giá còn do các thành viên, cổ đông sáng  
lập định giá theo nguyên tắc nhất trí.  
Rõ ràng, đây là một quy định thiếu thực tế. Việc nhất trí của thành viên, cổ đông  
sáng lập chỉ nên là quyết định có cho phép nhãn hiệu đó đƣợc góp vốn hay không, còn  
việc nhãn hiệu đó có giá trị bao nhiêu phải do một tổ chức định giá chuyên nghiệp  
quyết định và thành viên/ cổ đông sẽ bỏ phiếu để nhất trí với mức giá do tổ chức định  
giá xác định thì sẽ hợp lý hơn. Nhƣ đã đề cập, việc định giá nhãn hiệu không hề đơn  
giản bởi nhãn hiệu mang những đặc trƣng của tài sản vô hình, khó xác định và dự liệu  
đƣợc giá trị gia tăng trong tƣơng lai. Chủ sở hữu, Hội đồng thành viên đối với công ty  
trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần  
trên thực tế khó có thể định giá chính xác tài sản trí tuệ (nhãn hiệu) bởi nhiều yếu tố  
khác nhau. Trong đó, quan trọng nhất là kiến thức về sở hữu trí tuệ. Các chủ thể không  
chuyên này sẽ định giá trực tiếp mà không phụ thuộc vào các tính toán cụ thể dựa trên  
các yếu tố thị trƣờng, chi phí hay lợi nhuận của quyền sở hữu công nghiệp đó. Rõ  
ràng, việc cho phép các thành viên nói trên có quyền định giá sẽ gây ra hạn chế rất lớn:  
(1) định giá không đúng giá trị thực của nhãn hiệu; (2) kìm hãm sự phát triển của các  
tổ chức định giá chuyên nghiệp (doanh nghiệp không tốn chi phí thuê tổ chức định giá  
chuyên nghiệp).  
Thứ hai, bất cập trong quy định về trách nhiệm khi định giá quyền SHCN đối với  
nhãn hiệu cao hơn giá trị thực tế  
Pháp luật Việt Nam quy định: “Trường hợp tài sản góp vốn được định giá cao  
hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập  
cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế  
của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời liên đới chịu trách  
nhiệm đối với thiệt hại do cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế.”153 Và  
“Trường hợp nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm  
góp vốn thì người góp vốn, chủ sở hữu, thành viên Hội đồng thành viên đối với công ty  
trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, thành viên Hội đồng quản trị đối với công  
153 Xem Điều 37.2 Luật Doanh nghiệp 2014 của Quốc Hội khoá 13 ban hành ngày 26.11.2014 quy định về việc  
thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp, bao gồm công ty  
trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tƣ nhân; quy định về nhóm công ty.  
163  
ty cổ phần cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và  
giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá.”154  
Quy định trên cho thấy, trong cả hai trƣờng hợp góp vốn thành lập doanh nghiệp  
hay góp vốn trong quá trình hoạt động thì pháp luật cũng đặt ra trách nhiệm liên đới,  
mà cụ thể là góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị đƣợc định giá và giá trị thực tế  
của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá. Luật cho phép hai đối tƣợng đƣợc  
định giá tài sản trí tuệ (nhãn hiệu) những chỉ quy định trách nhiệm liên đới cho thành  
viên của doanh nghiệp mà không đề cập đến tổ chức định giá chuyên nghiệp. Điều này  
vô hình chung đã bỏ qua trách nhiệm của tổ chức định giá chuyên nghiệp, tức là định  
giá nhƣ thế nào cũng đƣợc vì không có cơ chế chịu trách nhiệm. Mặc dù các tổ chức  
định giá chuyên nghiệp đã đƣợc pháp luật quy định rất chi tiết về điều kiện thành lập  
và hoạt động song với việc bỏ ngõ trách nhiệm liên đới sẽ dẫn đến tình trạng thiếu  
trách nhiệm trong hoạt động định giá.  
Thứ ba, bất cập trong quy định về trách nhiệm liên đới khi có chênh lệch giữa  
giá trị định giá và giá trị thực của quyền SHCN đối với nhãn hiệu  
Điều 37.3 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định “Trường hợp nếu tài sản góp vốn  
được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì người góp vốn, chủ sở  
hữu, thành viên Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty  
hợp danh, thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần cùng liên đới góp  
thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp  
vốn tại thời điểm kết thúc định giá”. Theo quy định này, trách nhiệm chỉ đặt ra đối với  
ngƣời góp vốn, chủ sở hữu, thành viên Hội đồng thành viên đối với công ty trách  
nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty cổ  
phần khi tài sản góp vốn đƣợc định giá cao hơn giá trị thực tế. Vậy trong trƣờng hợp  
định giá thấp hơn giá trị thực tế thì nhƣ thế nào Luật vẫn chƣa có quy định. Hệ quả của  
quy định này là việc các chủ thể có xu hƣớng định giá thấp hơn giá trị thực tế để khỏi  
chịu trách nhiệm liên đới về sau. Tuy nhiên, điều này ảnh hƣởng lớn để chủ sở hữu  
nhãn hiệu nói riêng và các đối tƣợng của quyền sở hữu trí tuệ nói chung. Nhãn hiệu  
154 Xem Điều 37.3 Luật Doanh nghiệp 2014 của Quốc Hội khoá 13 ban hành ngày 26.11.2014 quy định về việc  
thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp, bao gồm công ty  
trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tƣ nhân; quy định về nhóm công ty.  
164  
đƣợc định giá thấp sẽ hạn chế khả năng tham gia góp vốn kinh doanh cũng nhƣ động  
lực sáng tạo, hình thành và phát triển các nhãn hiệu của chủ thể có liên quan. Những  
trƣờng hợp này tạo thế không công bằng cho những thành viên tham gia góp vốn bằng  
quyền sở hữu công nghiệp hay tài sản góp vốn, bởi lẽ, giá trị tài sản góp của họ không  
đƣợc định giá chính xác, không đúng giá trị mà quyền sở hữu công nghiệp đó có thể  
đem lại. Chính nguyên nhân này khiến cho việc góp vốn bằng quyền sở hữu công  
nghiệp trên thực tế diễn ra không đạt hiệu quả nhƣ mong muốn. Trong khi đó, quyền  
sở hữu công nghiệp đang là một trong những tài sản có giá trị lớn và mang lại hiệu quả  
kinh tế cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế hiện nay.  
5. Kiến nghị  
Trên cơ sở những bất cập đã phân tích ở trên, tác giả đề xuất một số kiến nghị  
hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm  
của chủ thể định giá tài sản là giá trị quyền SHCN đối với nhãn hiệu.  
Thứ nhất, điều chỉnh quy định về chủ thể định giá quyền SHCN đối với nhãn hiệu  
Nhƣ đã phân tích ở trên, việc Luật Doanh nghiệp 2014 giao cho các tổ chức, cá  
nhân không chuyên định giá quyền sở hữu công nghiệp nói chung và nhãn hiệu nói  
riêng có thể bị định giá quá cao hoặc quá thấp so với giá trị thực của quyền sở hữu  
công nghiệp, kết quả đem lại sẽ bất lợi cho chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp. Còn  
khi trao quyền cho những chủ thể là tổ chức định giá chuyên nghiệp là để đảm bảo tính  
chính xác tối đa khi tiến hành định giá, hạn chế đƣợc rủi ro. Vì vậy, để đạt đƣợc hiệu  
quả tốt ta cần quy định về hoạt động định giá đƣợc trao cho tổ chức định giá chuyên  
nghiệp, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao.  
Do đó, cần ban hành nghị định điều chỉnh điều chỉnh riêng về góp vốn bằng  
quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có đối tƣợng là nhãn hiệu, theo đó, có hai chủ thể liên  
quan đến vấn đề định giá, bao gồm:  
Chủ thể định giá: chỉ nên quy định theo hƣớng chỉ trao quyền định giá cho tổ  
chức định giá chuyên nghiệp. Trên thực tế đã có nhiều tổ chức định giá tài sản (bao  
gồm định giá quyền sở hữu công nghiệp) ra đời và hoạt động rất hiệu quả, ví dụ nhƣ:  
Trung tâm Thẩm định giá và Đấu giá là Chi nhánh của Công ty cổ phần Định giá và  
Dịch vụ Tài chính Việt Nam tại Hà Nội, Công ty cổ phần thẩm định giá IVC Việt  
Nam, Công ty Thẩm định giá và tƣ vấn Việt Nam (VNCC).  
165  
Chủ thể chấp thuận định giá: ngƣời góp vốn, chủ sở hữu, thành viên Hội đồng  
thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, thành viên Hội  
đồng quản trị đối với công ty cổ phần sẽ là các chủ thể quyết định đồng ý hoặc không  
đồng ý với giá trị của quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền SHCN đối với nhãn  
hiệu nói riêng sau khi có kết quả định giá từ tổ chức định giá chuyên nghiệp.  
Quy định theo hƣớng này vừa đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn  
hiệu nói riêng đƣợc định giá đúng mà vẫn đảm bảo nguyên tắc nhất trí của các thành  
viên/ cổ đông trong doanh nghiệp.  
Thứ hai, điều chỉnh quy định về trách nhiệm khi định giá tài sản góp vốn là  
quyền sở hữu trí tuệ cao hơn giá trị thực tế  
Quy định của pháp luật hiện hành chỉ phát simnh trách nhiệm liên đới và hậu quả  
pháp lý cho chủ thể là thành viên Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu  
hạn và công ty hợp danh, thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần mà  
không đề cập đến trách nhiệm liên đới của tổ chức định giá chuyên nghiệp. Tác giả bài  
viết kiến nghị điều chỉnh quy định này theo hƣớng ràng buộc trách nhiệm pháp lý đối  
với tổ chức định giá chuyên nghiệp khi định giá quyền sở hữu trí tuệ nói chung và  
nhãn hiệu nói riêng khi định giá cao hơn giá trị thực tế và phải có nghĩa vụ khắc phục  
hậu quả tuỳ theo mức độ.  
Thứ ba, điều chỉnh quy định về trách nhiệm liên đới khi có chênh lệch giữa giá  
trị định giá và giá trị thực tế của quyền sở hữu trí tuệ  
Theo đó, cần quy định trách nhiệm khi định giá tài sản góp vốn là quyền sở hữu  
trí tuệ nói chung và quyền SHCN đối với nhãn hiệu nói riêng cao hơn hoặc thấp hơn  
giá trị thực tế của các đối tƣợng của quyền sở hữu trí tuệ trong đó có nhãn hiệu. Quy  
định nhƣ vậy để ràng buộc trách nhiệm của các chủ thể định giá trong việc xác định  
giá trị của nhãn hiệu nói riêng và quyền sở hữu trí tuệ nói chung. Đảm bảo nhãn hiệu  
và các đối tƣợng khác của quyền sở hữu trí tuệ đƣợc xem trọng và định giá một cách  
chính xác. Ngoài ra, bên cạnh trách nhiệm dân sự nhƣ quy định hiện nay, tác giả cho  
rằng nên quy định trách nhiệm hình sự đối với các chủ thể định giá tài sản trí tuệ tuỳ  
vào mức độ nghiêm trọng. 155  
155 Pháp luật Cộng hoà Pháp quy định cả trách nhiệm dân sự và hình sự đối với những chủ thể tiến hành định giá  
sai. Nếu Hội đồng về góp vốn tiến hành định giá TSTT đƣợc góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, Hội  
đồng này phải chịu trách nhiệm về tính chính xác về giá trị định giá. Nếu không có Hội đồng về góp vốn hoặc  
166  
Thứ tư, xây dựng và ban hành bộ tiêu chí về định giá tài sản là quyền sở hữu trí  
tuệ  
Để có căn cứ và thống nhất trong việc định giá tài sản là quyền sở hữu trí nói  
chung và nhãn hiệu nói riêng, cần thiết ban hành một bộ tiêu chí định giá tài sản trí tuệ  
để các tổ chức định giá chuyên nghiệp áp dụng thống nhất. Để làm đƣợc điều này mất  
nhiều thời gian và công sức, đội ngũ các chuyên gia về định giá tài sản trí tuệ. Dù khó  
vẫn phải thực hiện đƣợc điều này nhất là trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và cách  
mạng công nghiệp lần thứ 4 đang nở rộ.  
6. Kết luận  
Định giá quyền sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu nói riêng là một công việc  
khó khăn và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Những quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề  
này là chƣa đủ để đáp ứng nhu cầu của chủ sở hữu cũng nhƣ các doanh nghiệp. Trách  
nhiệm của chủ thể định giá đặc biệt đƣợc quan tâm khi các hệ quả pháp lý liên quan  
đến việc định giá không đúng giá trị thực của tài sản trí tuệ là hết sức nghiêm trọng.  
Để phát triển một nền kinh tế mà tỉ trọng của kinh tế tri thức gia tăng cần giải quyết  
triệt đề các vấn đề liên quan đến định giá tài sản trí tuệ trong đó có vấn đề trách nhiệm  
của chủ thể định giá tài sản góp vốn là giá trị quyền SHCN đối với nhãn hiệu.  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Đào Thị Dung (2016), Pháp luật về góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ tại  
Việt Nam. Thực tiễn pháp lý và phương hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội  
2. Đoàn Thu Hồng (2012), Góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu  
trí tuệ ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ.  
4. Dƣơng Thị Thu Nga (2014), Định giá tài sản trí tuệ theo quy định của pháp luật  
Việt Nam, Luận văn thạc sĩ  
5. Trần Cao Thành (2016), Khắc phục những bất đồng về nhãn hiệu và chỉ dẫn  
địa lý khi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương được vận hành, Luận văn Thạc sĩ  
Luật học tại Trƣờng Đại học Luật, Đại học Huế.  
khi giá trị đƣợc xác định khác với giá trị do Hội đồng về góp vốn định giá, thì các thành viên chịu trách nhiệm  
liên đới với ngƣời thứ ba trong vòng năm năm về giá trị góp vốn bằng TSTT khi thành lập công ty. Về trách  
nhiệm hình sự, ngƣời có hành vi định giá vƣợt quá giá trị thực tế của tài sản góp vốn thì bị phạt tù năm năm và  
đóng phạt số tiền 350.000 Euro. Hình phạt này áp dụng đối với tất cả những ngƣời tham gia định giá.  
167  
pdf 13 trang Thùy Anh 15900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Trách nhiệm của chủ thể định giá tài sản góp vốn là giá trị quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftrach_nhiem_cua_chu_the_dinh_gia_tai_san_gop_von_la_gia_tri.pdf