Lãi chậm thanh toán trong các giao dịch thương mại, dịch vụ: Những bất cập và giải pháp khắc phục khi sửa đổi, bổ sung luật thương mại năm 2005

LÃI CHẬM THANH TOÁN TRONG CÁC GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI, DỊCH  
VỤ: NHỮNG BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC KHI SỬA ĐỔI, BỔ SUNG  
LUẬT THƯƠNG MẠI NĂM 2005  
TS LS Lương Khải Ân1  
Tóm tắt: Nghiên cứu đánh giá hiệu quả áp dụng Điều 306 Luật thương mại năm  
2005 quy định về quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán và khuyến nghị các giải pháp  
mở rộng phạm vi và thống nhất áp dụng lãi suất bình quân theo định kỳ của các tổ chức tín  
dụng trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật thương mại năm 2005.  
Từ khóa: lãi suất, lãi chậm thanh toán, giao dịch thương mại, luật thương mại năm  
2005  
1. Cơ sở pháp lý để xác định quan hệ thương mại với các căn cứ tính lãi suất theo  
Luật thương mại năm 2005  
Các quy định nhìn chung đề cập đến lãi, lãi suất, phạt vi phạm từ giao dịch vay tài  
sản trong lĩnh vực dân sự (chủ yếu là cho vay tiền), tín dụng ngân hàng và lãi chậm trả  
trong các hợp đồng thương mại, dịch vụ. Điều này tạo ra khoảng trống khá lớn trong các  
quy định về lãi suất trong kinh doanh hoặc đối với các nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền ứng  
trước, phạt chậm thanh toán tiền sau khi các bên đã đối chiếu công nợ2 cả trong lĩnh vực  
thương mại3. Hệ quả là, việc áp dụng quy định về lãi suất giải quyết tranh chấp trong quan  
hệ thương mại tại các cấp tòa các địa phương trên cả nước vẫn còn những khác biệt trong  
nhận thức, cũng như trong việc áp dụng luật. Nếu không có những giải pháp pháp lý kịp  
thời hiệu quả, vô hình trung quy định sẽ không được áp dụng thống nhất, thậm chí áp dụng  
1 Đơn vị công tác: Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh. Điện thoại: 0903 598 062  
2 Sau khi đối chiếu công nợ, các bên thường không phát sinh tranh chấp các điều khoản khác của hợp đồng đã được  
ký kết, chỉ tập trung giải quyết hoàn trả khoản nợ như đối chiếu  
3 Trong quan hệ thương mại các quy định chỉ đề cập đến lãi chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền hàng, dịch vụ và  
chi phí tại Điều 306 Luật thương mại năm 2005  
47  
sai gây thiệt hại cho đương sự (phải trả lãi quá cao so với quy định đối với bên có nghĩa vụ  
hoặc ngược lại).  
Trước đây, thuật ngữ dân sự, kinh tế được đề cập trong các nghiên cứu dựa theo  
khái niệm ghi trong Pháp lệnh hợp đồng dân sự (ban hành năm 1991), Pháp lệnh hợp đồng  
kinh tế (ban hành năm 1989) và các quy định liên quan. Tuy nhiên, khi các Pháp lệnh trên  
được thay thế bằng Bộ luật dân sự và các đạo luật chuyên ngành, thuật ngữ kinh tế ít được  
sử dụng. Thay vào đó là các thuật ngữ kinh doanh, thương mại thường được phân định theo  
các giao dịch có phát sinh tranh chấp được pháp luật tố tụng dân sự ghi nhận4. Điểm chung  
của các quan hệ này (kinh doanh, thương mại), đó chính là yếu tố sinh lợi (lợi nhuận phát  
sinh từ các giao dịch) giữa các chủ thể, trong đó ít nhất một bên là chủ thể kinh doanh được  
thành lập hợp pháp, đúng theo trình tự, thủ tục các quy định của pháp luật.  
Do đó, khi giải quyết “bài toán” chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán (tiền) các nhà  
làm luật thường gắn nghĩa vụ này với các thiệt hại về lãi suất do các tổ chức kinh tế phải  
đi vay từ ngân hàng thương mại để có vốn tiến hành các hoạt động đầu tư, kinh doanh.  
Việc tham chiếu lãi suất theo lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại xét dưới góc  
độ pháp lý, kinh doanh cũng vì lý do này (lợi ích kinh tế của các bên). Vấn đề khó khăn  
đặt ra là tham chiếu lãi suất theo mức lãi cho vay của các ngân hàng như thế nào mới phù  
hợp không phải là dễ dàng. Vì đặc trưng của quan hệ tín dụng ngân hàng, từng chủ thể vay,  
từng loại hình tín dụng, kỳ hạn vay, cũng như mục đích khoản vay thường không đồng  
nhất.  
Thêm vào đó, việc xác định phạm vi của quan hệ thương mại với các biện pháp chế  
tài chậm trả lãi được điều chỉnh theo luật này đến nay vẫn còn những hạn chế, cần có nhận  
thức chung khi áp dụng. Thật vậy, nội hàm quan hệ thương mại theo pháp luật Việt Nam  
khá rộng, đó là quan hệ giữa các chủ thể là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp đã  
tham gia xác lập các hoạt động thương mại (bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch  
vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác), chịu sự  
điều chỉnh của luật thương mại và các quy định của pháp luật dân sự, kinh doanh có liên  
quan. Hoạt động này được xúc tiến trên lãnh thổ, ngoài lãnh thổ trong trường hợp các bên  
có thỏa thuận luật áp dụng hoặt luật nước ngoài, điều ước quốc mà Việt Nam là thành viên  
4 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015  
48  
kể cả hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương  
nhân thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam có lựa chọn áp dụng luật thương mại.5  
Như vậy quan hệ thương mại theo khái niệm này dưới hình thức pháp lý là các hợp  
đồng giao dịch cả trong hoạt động đầu tư hoặc các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.  
Việc áp dụng các quy định của luật thương mại về lãi suất khi pháp luật có quy định hoặc  
có thỏa thuận tự nguyện nếu không trái pháp luật đương nhiên sẽ được áp dụng. Trong khi  
đó các quy định của pháp luật về lãi suất, phạt vi phạm đề cập trong Luật thương mại năm  
2005 rất giới hạn, nếu không có những chỉ dẫn cụ thể, vô hình trung quy định sẽ gây không  
ít khó khăn, thậm chí chồng chéo lẫn nhau như được phân tích.  
2. Bình luận quy định về lãi suất chậm thanh toán tiền hàng, phí dịch vụ và các chi  
phí theo Điều 306 Bộ luật thương mại năm 2005  
2.1. Phạm vi áp dụng điều luật  
Các quy định về lãi, lãi suất theo luật thương mại hiện hành đang phát triển theo  
hướng tính lãi suất chậm thanh toán. Theo đó, Điều 306 Luật thương mại năm 2005 quy  
định về quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán như sau: “Trường hợp bên vi phạm hợp  
đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp  
lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó  
theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với  
thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.  
Theo các quy định này thì lãi suất chỉ áp dụng cho các hành vi “chậm thanh toán tiền hàng  
hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác”, và điều này làm phát sinh  
hai quan điểm khác nhau về phạm vi áp dụng của điều luật:  
Quan điểm thứ nhất: Thuật ngữ “thanh toán” hiểu theo nghĩa “là sự chuyển giao tài  
sản của một bên cho bên kia, thường được sử dụng khi trao đổi sản phẩm hoặc dịch vụ  
trong một giao dịch có ràng buộc pháp lý”6. Nghĩa vụ “thanh toán tiền hàng hay chậm  
thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác” như điều luật viện dẫn phát sinh từ  
các nghĩa vụ song phương, chỉ khi bên có nghĩa vụ nhận được hàng hóa, dịch vụ tương ứng  
với các giá trị trên thị trường, khi đó họ mới thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Bên cạnh đó,  
5 Xem: Điều 1 Luật thương mại năm 2005  
6 Xem tại: https://vi.wikipedia.org/wiki/Thanh_to%C3%A1n  
49  
quy định còn đề cập đến hành vi “chậm thanh toán” về bản chất, đó chính là biện pháp chế  
tài đối với bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phải áp dụng “lãi suất nợ quá  
hạn” là phù hợp.  
Quan điểm thứ hai: Mặc dù Điều 306 Luật thương mại năm 2005 điều chỉnh các  
hành vi thương mại được liệt kê trên song hoạt động thương mại khá rộng, bao gồm “...  
các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác”7. Đồng nghĩa, các nghĩa vụ phát sinh ngoài  
quan hệ thương mại hàng hóa, dịch vụ được điều chỉnh theo Điều 306 Luật thương mại  
năm 2005 nếu có lợi nhuận vẫn có thể áp dụng quy định lãi suất theo Điều 306 Luật thương  
mại năm 2005 (Trường hợp không áp dụng quy định theo Điều 306 Luật thương mại thì  
áp dụng theo pháp luật dân sự về lãi chậm trả để giải quyết).  
Trên thực tiễn, trong quan hệ mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại khi  
các bên có tranh chấp về lãi suất qua việc thực thi các nghĩa vụ thanh toán tiền hàng, cung  
ứng dịch vụ nếu vụ việc được đưa ra tòa án/trọng tài giải quyết thường được vận đúng Điều  
306 Luật thương mại năm 2005.  
Ví dụ: Bản án 08/2017/KDTM-ST ngày 07/06/2017 về Tranh chấp mua bán hàng  
hóa giữa Công ty cổ phần Nông dược H với Công ty trách nhiệm hữu hạn DN và Công ty  
trách nhiệm hữu hạn một thành viên PD. Tòa án nhân dân huyện PT tỉnh An Giang xét xử  
như sau: “...Về tiền lãi: Công ty Nông dược H căn cứ vào hợp đồng sau 50 ngày tính lãi  
chậm trả của từng lần giao hàng, còn đại diện Công ty PD và Công ty DN yêu cầu tính lãi  
từ lúc xác nhận công nợ (Công ty DN ký ngày 31/3/2015, Công ty PD ký ngày 31/3/2016)  
theo mức lãi chậm trả do pháp luật quy định. Hội đồng xét xử nhận thấy trong hoạt động  
thương mại, các bên tự thỏa thuận là chủ yếu, nếu các bên không có thỏa thuận thì điều  
chỉnh lãi theo Điều 306 Luật thương mại, khoản 2, Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật  
dân sự năm 2015.  
Tương tự như vậy, Bản án số 11/2018/KDTM-PT ngày 24/4/2018 về “Tranh chấp  
hợp đồng chuyển nhượng cổ phần” của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh trong  
một vụ án tranh chấp chuyển nhượng cổ phần có ghi nội dung tính lãi như sau: “... tiền lãi  
theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán, tính trên số  
tiền chưa trả tương ứng với thời gian chậm trả”. Ở trường hợp này, quan hệ chuyển nhượng  
7 Khoản 1, Điều 3 Luật thương mại năm 2005  
50  
cổ phần là hoạt động đầu tư sinh lợi, phát sinh trong kinh doanh giữa các doanh nghiệp,  
các tổ chức, cá nhân cũng phải đi vay hoặc sử dụng tiền đầu tư để tiến hành các giao dịch  
kinh tế. Song để xác định mức lãi áp dụng trong các trường hợp như thế nào, thiết nghĩa  
cần có sự phân biệt, làm rõ hơn ý nghĩa của lãi suất quá hạn đã bao gồm phạt vi phạm để  
áp dụng đúng theo tình huống pháp lý tương tự.  
Với các viện dẫn trên, có thể thấy, các bản án tranh chấp trong quan hệ thương mại,  
đầu tư áp dụng quy định Điều 306 Luật thương mại năm 2005 (đã được hướng dẫn cụ thể  
tại Điều 11 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP cho dù các bên không có thỏa thuận lãi  
suất đúng với các nghĩa vụ thanh toán tiền hàng được xác lập giữa các chủ thể thương mại  
như luật định. Song trong việc áp dụng Điều 306 Luật thương mại năm 2015, giao dịch  
chịu sự điều chỉnh của điều luật này vẫn còn những quan điểm trái chiều. Nếu dựa theo các  
khái niệm và đặc điểm pháp lý của quan hệ thương mại như được phân tích từ đó áp dụng  
quy định này lại không hợp lý, cho dù các bên có đăng ký kinh doanh, xúc tiến các hoạt  
động thương mại nhằm mục đích sinh lời. Điều này làm nảy sinh những lúng túng cho các  
cấp tòa khi áp dụng luật (theo luật dân sự, hay luật thương mại) vào hoạt động xét xử.  
Ví dụ: Bản án số 03/2019/KDTM-PT ngày 13/6/2019 về việc: “Tranh chấp hợp  
đồng góp vốn” của Tòa án nhân dân tỉnh HN về việc tranh chấp hợp đồng góp vốn giữa  
công ty với thành viên công ty. Tòa án lại áp dụng tiền lãi theo quy định về lãi suất chậm  
trả của luật dân sự (tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015). Ở trường hợp này nếu  
xét về phạm vi quan hệ theo pháp luật tố tụng thì vẫn được xem là tranh chấp trong lĩnh  
vực kinh doanh thương mại. Song tòa án áp dụng các quy định về lãi suất theo Bộ luật dân  
sự mà không áp dụng Điều 306 Luật thương mại năm 2015 là chưa thuyết phục.  
Tình trạng này không phải là cá biệt mà phổ biến ở nhiều bản án, quyết định giải  
quyết tranh chấp. Qua đó cũng cho thấy, các cấp tòa án vẫn chưa định hình phạm vi áp  
dụng điều luật cho các quan hệ thương mại. Nguyên nhân là do các quy định chưa được  
đồng bộ giữa luật chung và luật chuyên ngành và giữa luật chuyên ngành với nhau. Đây  
cũng là hạn chế trong các quy định của lãi suất trong quan hệ thương mại thiết nghĩ cần  
sửa đổi thay vì chỉ áp dụng riêng đối với các giao dịch mua bán hàng hóa, cung ứng các  
dịch vụ thương mại như đều luật được viện dẫn. Qua đó cũng cho thấy rằng, quan điểm  
thứ hai cần được hoàn thiện tiến đến áp dụng thống nhất, đáp ứng yêu cầu giải quyết quyền  
lợi chính đáng của các doanh nghiệp nếu bên có nghĩa vụ chậm thanh toán.  
51  
2.2. Áp dụng lãi suất cho vay trung bình quá hạn của các ngân hàng thương mại  
2.2.1. Đối với chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền hàng, dịch vụ và các chi phí  
Việc tham chiếu lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại trên địa bàn (nơi  
giải quyết tranh chấp) là hoàn toàn có cơ sở. Điều này giải quyết tốt quyền lợi của các tổ  
chức kinh tế vốn dĩ luôn sử dụng kênh ngân hàng để hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp  
cá nhân kinh doanh. So với các quy định trước khi Luật thương mại năm 2005 ban hành,  
quy định lần này thể hiện những tiến bộ vượt bậc trong việc lựa chọn căn cứ tính lãi suất.  
Thật vậy, Điều 233 Luật thương mại năm 1997 trước đây quy định quyền đòi tiền lãi do  
chậm thanh toán được áp dụng theo “lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng nhà nước Việt Nam  
quy định tương ứng với thời gian chậm trả”. Giai đoạn này, nhà nước điều hành lãi suất  
thông qua việc xác định và công bố lãi suất cơ bản8 (lãi suất làm cơ sở cho các tổ chức tín  
dụng ấn định lãi suất kinh doanh) vốn dĩ bộc lộ nhiều bất cập.  
Lãi suất cơ bản được hình thành dựa trên nhiều yếu tố, không đơn thuần chỉ dựa vào  
cung cầu vốn mà còn có thể tham chiếu lãi suất liên ngân hàng,... Do đó lãi suất cơ bản  
thường thấp hơn lãi suất cho vay theo nhu cầu vốn và năng lực của các ngân hàng thương  
mại. Nếu vận dụng sai quy định về mức lãi theo Điều 306 Luật thương mại năm 2005  
không chỉ gây thiệt hại cho bên có quyền mà còn thể hiện những sai sót trong nhận thức và  
áp dụng luật như Án lệ số 09/2016/AL về xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị  
trường và việc trả lãi trên số tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại do Hội đồng thẩm phán  
Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 (Án lệ số 09/2016/AL) có đề cập.  
Cụ thể, Án lệ số 09/2016/AL đã chỉ rõ những nhầm lẫn của tòa án khi áp dụng quy  
định lãi suất của Luật thương mại năm 1997 và 2005, theo đó: “...Tòa án cấp sơ thẩm đã  
xác định chính xác số tiền và buộc Cꢀng ty HY phải trả lại cho Cꢀng ty VY là đúng. Tuy  
nhiên, khi tính tiền lãi do chậm thanh toán số tiền nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm mặc dù áp  
dụng Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 nhưng khꢀng lấy mức lãi suất quá hạn trung  
bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán (xét xử sơ thẩm) để tính, mà lại áp dụng mức  
lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước cꢀng bố tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo yêu cầu  
của nguyên đơn để áp dụng mức lãi quá hạn (là 10,5%/năm) là khꢀng đúng”. Lãi chậm trả  
được áp dụng cho cả việc bên bán hoàn trả tiền hàng do bên mua không nhận được hàng  
8 Xem: Điều 18 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 1997  
52  
như hợp đồng và việc tính lãi được áp dụng trên cơ sở Điều 306 Luật Thương mại năm  
2005.  
Vấn đề đặt ra là các tổ chức tín dụng có chức năng cho vay, có thể có nhiều loại  
hình hoạt động khác nhau trong đó có các ngân hàng thương mại, công ty tài chính hoạt  
động vì mục đích sinh lời và kể cả tổ chức cho vay vì mục tiêu hỗ trợ tiếp cận vốn thực  
hiện các chính sách xã hội (hợp tác xã tín dụng, tổ chức tài chính vi mô, quỹ tín dụng nhân  
dân). Việc xác định lãi suất dựa theo một ngân hàng cụ thể chắc chắn không phù hợp, kể  
cả đó là lãi suất do các ngân hàng thương mại do nhà nước thành lập. Nghị quyết số  
01/2019/NQ-HĐTP ban hành ngày 11/1/2019 hướng dẫn quy định về lãi, lãi suất, phạt vi  
phạm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP)  
hướng dẫn điểm này khá cụ thể. Đó là lãi suất cho vay của 03 (ba) ngân hàng thương mại  
(Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần  
Công thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam,...) có  
trụ sở, chi nhánh hoặc phòng giao dịch tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tòa án  
đang giải quyết, xét xử có trụ sở tại thời điểm thanh toán (thời điểm xét xử sơ thẩm)9.  
Song các nghiên cứu trong khoa học pháp lý đã phần nào làm rõ những bất hợp lý  
về lãi suất theo pháp luật Việt Nam nói chung, kể cả trong quan hệ thương mại, và đề ra  
giải pháp thuyết phục hơn về lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng thương mại trên  
thị trường. Theo đó, mức lãi suất này được ấn định theo định kỳ 6 tháng hoặc hàng năm do  
Chính Phủ công bố (có dự báo biến động ở kỳ hạn tiếp theo) sẽ tương thích và thuận lợi  
hơn khi áp dụng.10 Đồng nghĩa rằng, khoản lãi phạt quá hạn cũng phải theo mức lãi suất  
cho vay bình quân có điều chỉnh theo định kỳ được tính theo tỷ lệ 150% là phù hợp.  
Đối với các trường hợp thỏa thuận mức lãi phạt, xuất phát từ nhu cầu và mục đích  
riêng của các bên, thỏa thuận lãi suất trong các trường hợp phạt vi phạm có thể cao hoặc  
thấp so với lãi suất quá hạn luật thương mại ấn định. Do đó điều chỉnh lãi suất trong các  
trường hợp này cần được đặt ra nhằm duy trì trật tự hợp đồng, bảo đảm quyền lợi của các  
bên về một mức lãi có thể chấp nhận được, nhưng không trái quy định của pháp luật.  
9 Điều 11 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP  
10 Xem: Lương Khải Ân, Bàn về quy định trần lãi suất 20%/năm trong quan hệ hợp đồng vay tài sản, Tạp chí khoa  
học pháp lý Việt Nam số 03(133)/2020, tr. 27-36  
53  
Về nguyên tắc, nếu các bên có thỏa thuận lãi suất được đề cập bằng văn bản, ghi  
trong hợp đồng thương mại thì phải áp dụng mức lãi đó, cho dù mức lãi suất này thấp hơn  
lãi suất pháp luật thương mại quy định.  
Ví dụ: Hợp đồng số 01/YAM-TMA được giao kết vào ngày 01/12/2020 giữa Công  
ty trách nhiệm hữu hạn giải pháp TM với Công ty trách nhiệm hữu hạn Y, hai bên thỏa  
thuận lãi suất nếu chậm thanh toán bên vi phạm phải gánh chịu mức lãi là 5%/năm, mức  
lãi này thấp hơn khá nhiều so với lãi suất quy định hiện nay. Khi giải quyết tranh chấp, các  
cơ quan tố tụng cũng phải áp dụng theo mức lãi này. Việc xác minh lãi suất cho vay trung  
bình quá hạn của các ngân hàng thương mại trên địa bàn cũng phải được tiến hành nhằm  
để đối chiếu, chứ không được phép áp dụng. Như vậy ranh giới giữa lãi suất thỏa thuận và  
lãi suất theo quy định của pháp luật được các nhà làm luật đề cập tương tự như các quy  
định về lãi suất vay tài sản trong quan hệ dân sự.  
Song, trường hợp các bên có thỏa thuận lãi suất nhưng phát sinh tranh chấp thì xử  
lý thế nào? Đây là vấn đề khá phức tạp, không tránh những quan điểm trái chiều khi áp  
dụng quy định nào cho phù hợp nhưng vẫn bảo đảm tôn trọng quyền tự thỏa thuận của các  
bên. Nếu như các quy định của pháp luật dân sự quy định khá rõ (áp dụng theo khoản 2,  
Điều 468 Bộ luật dân sự 201511) thì các quy định theo luật thương mại không đề cập đến.  
Ở trường hợp này theo tác giả, cần áp dụng các quy định về chứng cứ và nghĩa vụ chứng  
minh tố tụng dân sự để làm sáng tỏ mức lãi các bên đã thống nhất thỏa thuận đang có tranh  
chấp. Trường hợp không xác định được thì áp dụng lãi quá hạn theo Điều 306 Bộ luật  
thương mại.  
2.2.2. Đối với khoản tiền ứng trước, hoặc khi hai bên đã đối chiếu cꢀng nợ  
11 Điều 11 Nghị quyết 01/2019/HĐTP về Xác định lãi suất trung bình quy định tại Điều 306 của Luật thương mại năm  
2005 quy định: “Trường hợp hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh tại Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005 thì khi  
xác định lãi suất chậm trả đối với số tiền chậm trả, Tòa án căn cứ vào mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị  
trường của ít nhất 03 (ba) ngân hàng thương mại (Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng  
thương mại cổ phần Công thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam,...) có trụ sở,  
chi nhánh hoặc phòng giao dịch tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Tòa án đang giải quyết, xét xử có trụ sở  
tại thời điểm thanh toán (thời điểm xét xử sơ thẩm) để quyết định mức lãi suất chậm trả, trừ trường hợp các bên có  
thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”  
54  
Trên thực tiễn, nghĩa vụ chậm thanh toán trong các quan hệ thương mại hiện diện  
dưới nhiều hình thức. Điều này gây không ít khó khăn khi áp dụng thống nhất các quy định.  
Qua nghiên cứu, tác giả thấy cần xác định rõ lãi suất áp dụng theo các trường hợp sau:  
(1) Lãi suất chậm trả đối với khoản tiền hàng (dịch vụ) ứng trước  
Giao dịch thương mại, việc các bên ứng trước một khoản tiền trong tổng giá hợp  
đồng để bảo đảm cho nghĩa vụ hợp đồng thương mại thường xuyên xảy ra. Khoản tiền này  
cũng có thể được dùng để trang trải các chi phí, mua sắm vật tư, nguyên liệu để tạo ra sản  
phẩm hàng hóa như cam kết hợp đồng. Song không ít trường hợp bên nhận tiền ứng trước  
không thực hiện như cam kết vì nhiều lý do chủ quan hoặc khách quan khác nhau. Việc  
giải quyết hậu quả khoản tiền này được đặt ra như thế nào trong trường hợp các bên không  
có thỏa thuận điều kiện thực hiện và các biện pháp chế tài?  
Án lệ số 09/2016/AL có phần nhận định, giải quyết khoản tiền ứng trước hoàn trả  
cho chủ sở hữu tài sản như sau: “Đối với số tiền ứng trước mà khꢀng nhận hàng... Tòa án  
... khꢀng lấy mức lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán (xét  
xử sơ thẩm) để tính... là khꢀng đúng”. Theo tác giả, trong quan hệ tranh chấp hợp đồng  
thương mại quy định cho phép phạt vi phạm nghĩa vụ giao hàng nếu bên có nghĩa vụ không  
thực thi nghĩa vụ này thì cũng phải chịu chế tài. Trên thực tế, Án lệ đã xác định mức phạt  
vi phạm hợp đồng (2%) giá trị đơn hàng giao không đúng chủng loại, không giao hàng  
(vận dụng theo Điều 300, Điều 301 Luật thương mại năm 2005). Vì vậy, khoản tiền này có  
được áp dụng mức lãi phạt bằng lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán hay không?  
Ở tình huống của Án lệ, nghĩa vụ hoàn trả ngay và đầy đủ khoản tiền ứng trước là  
trách nhiệm của các bên nếu bên vi phạm phải gánh chịu các chế tài tương ứng. Biện pháp  
chế tài do vi phạm nghĩa vụ giao hàng và chế tài do chậm thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tiền  
ứng trước là riêng biệt. Việc xác định thời điểm hoàn trả khoản tiền ứng trước nhưng không  
giao hàng dựa trên nhiều yếu tố. Đó có thể là thời điểm bên có nghĩa vụ biết được không  
có hàng để giao hoặc ngay khi nhận tiền ứng trước nếu người có nghĩa vụ có ý chiếm dụng  
vốn, không muốn thực hiện hợp đồng. Như vậy, khoản tiền bên mua hàng ứng trước là  
khoản tiền thuộc sở hữu của người mua hàng (hoặc là của bên chủ đầu tư trong quan hệ thi  
công, xây dựng công trình,...) để bảo đảm một phần nghĩa vụ hợp đồng thương mại dịch  
vụ. Giao dịch này không phải là quan hệ theo các hợp đồng dân sự thông dụng và chịu sự  
55  
điều chỉnh của các quy định pháp luật dân sự. Nếu khoản tiền ứng trước bị chiếm dụng,  
bên có nghĩa vụ phải chịu lãi quá hạn như tương tự theo như Điều 306 Luật thương mại  
năm 2005 có đề cập.  
(2) Lãi suất chậm trả đối với khoản tiền hàng, dịch vụ hai bên đã đối chiếu cꢀng nợ  
Quan hệ thương mại có thể được chấm dứt một phần hoặc toàn bộ dưới các hình  
thức pháp lý khác nhau. Thông thường văn bản đối chiếu công nợ được các bên xác lập,  
tiến hành thực hiện trước khi thanh lý toàn bộ hợp đồng như một biện pháp xác định lại kết  
quả của quá trình thực thi hợp đồng thương mại, dịch vụ đã được kéo dài trước đó. Thủ tục  
đối chiếu công nợ thường do bộ phận kế toán doanh nghiệp kết hợp với các phòng ban  
chuyên môn khác trong doanh nghiệp đó soạn thảo dựa trên các chứng từ lưu trữ, báo cáo  
kết quả thực hiện hợp đồng,... Sau khi đối chiếu, nếu phù hợp, các bên cùng ngồi lại ký văn  
bản đối chiếu công nợ do người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền hợp pháp xác  
lập để thực thi. Theo đó, doanh nghiệp trả nợ phải hoàn trả một khoản tiền được xác định  
tại biên bản này.  
Biên bản đối chiếu công nợ thường được lập trong thực tiễn quan hệ thương mại  
nhằm xác định khoản nợ cụ thể, tránh việc lưu giữ các chứng từ nằm rải rác trong quá trình  
giao dịch và không ít trường hợp doanh nghiệp xem đây như một khoản nợ trong dân sự  
được chuyển hóa từ các quan hệ thương mại ban đầu. Điều này đặt ra trách nhiệm đánh giá  
và áp dụng các quy định về phạt vi phạm bằng một mức lãi suất sao cho phù hợp.  
Các quy định theo Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 có đề đến thanh lý hợp  
đồng, cho phép chuyển nghĩa vụ thanh toán phát sinh quan hệ hợp đồng kinh tế (tên gọi  
lúc bấy giờ) như một khoản nợ dân sự.12 Khi đó việc khởi kiện đòi lại nợ (công nợ đã được  
xác định sau khi thanh lý hợp đồng) thường không bị chi phối thời hiệu kiện, và phải giải  
quyết khoản lãi chậm trả theo quy định. Song hiện nay, cho dù các bên có đối chiếu công  
nợ, tòa án khi giải quyết tranh chấp vẫn xác định quan hệ thương mại có phát sinh nghĩa  
vụ trả nợ, thay vì đơn thuần chỉ là vụ kiện đòi nợ để tránh bỏ sót những tranh chấp điều  
khoản khác của hợp đồng thương mại.  
12  
Theo Điều 28, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989, các bên phải cùng nhau thanh lý hợp đồng kinh tế trong  
trường hợp: 1- Hợp đồng kinh tế được thực hiện xong; 2- Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng kinh tế đã hết và không  
có sự thoả thuận kéo dài thời hạn đó;...  
56  
Như vậy, biên bản đối chiếu công nợ, kể cả văn bản thanh lý hợp đồng, cho dù đã  
được hai bên ký kết nhưng không phải là chứng cứ pháp lý duy nhất để tòa án/trọng tài xác  
định số tiền bên có nghĩa vụ phải hoàn trả, mà còn phải phụ thuộc vào nhiều chứng cứ  
khác, trong đó có thể bao gồm cả những nghĩa vụ hợp đồng thương mại, dịch vụ chưa được  
thực hiện xong. Do đó khi các bên có đối chiếu công nợ, các tòa không được tự ý chuyển  
sang áp dụng các quy định về lãi suất theo luật dân sự để giải quyết.  
Khuyến nghị  
Các nghiên cứu đã nêu lên những hạn chế khi áp dụng Điều 306 Luật thương mại  
năm 2005 cả về phạm vi áp dụng, cách tính lãi chậm thanh toán và các tình huống phát  
sinh từ quan hệ kinh doanh, thương mại. Do đó, trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật  
thương mại năm 2005, tác giả đề xuất mở rộng phạm vi áp dụng quy định lãi chậm thanh  
toán trong các giao dịch có mục đích lợi nhuận theo lãi suất bình quân định kỳ của các tổ  
chức tín dụng, thay vì chỉ giới hạn ở thanh toán tiền hàng, dịch vụ theo lãi suất trung bình  
quá hạn của các ngân hàng thương mại như được phân tích./.  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ luật Dân sự năm 2015  
2. Luật Thương mại năm 2005  
3. Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 1997  
4. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989  
5. Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ban hành ngày 11/1/2019 hướng dẫn quy định về  
lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao  
57  
6. Lương Khải Ân, Bàn về quy định trần lãi suất 20%/năm trong quan hệ hợp đồng vay  
tài sản, Tạp chí khoa học pháp lý Việt Nam số 03(133)/2020  
7. Án lệ số 09/2016/AL về xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường và việc  
trả lãi trên số tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại do Hội đồng thẩm phán Tòa án  
nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016  
8. Bản án số 11/2018/KDTM-PT ngày 24/4/2018 về Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng  
cổ phần của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh  
9. Bản án số 03/2019/KDTM-PT ngày 13/6/2019 về việc Tranh chấp hợp đồng góp vốn  
của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam  
58  
pdf 12 trang Thùy Anh 13380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Lãi chậm thanh toán trong các giao dịch thương mại, dịch vụ: Những bất cập và giải pháp khắc phục khi sửa đổi, bổ sung luật thương mại năm 2005", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdflai_cham_thanh_toan_trong_cac_giao_dich_thuong_mai_dich_vu_n.pdf