Thuế thu nhập cá nhân - So sánh một số điểm trong pháp luật Việt Nam và pháp cùng một số đề xuất
THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN -
SO SÁNH MỘT SỐ ĐIỂM TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP
CÙNG MỘT SỐ ĐỀ XUẤT
Nguyễn Hoàng Duy Linh
TÓM TẮT :
Bài viết trình bày một số nét khái quát về lịch sử pháp luật Thuế thu nhập cá
nhân của Việt Nam và Pháp, đồng thời so sánh một vài quy định chi tiết trong pháp
luật của hai nước về sắc thuế này. Trên cơ sở những so sánh đó, tác giả đưa ra một số
nhận định, đánh giá và một số kinh nghiệm mà pháp luật Việt Nam có thể áp dụng để
hoàn thiện chế định thuế thu nhập cá nhân.
Từ khóa : pháp luật, thuế thu nhập cá nhân, Pháp, Việt Nam.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Như chúng ta đã biết, thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách quốc gia. Ở Việt
Nam, từ năm 2006, tỉ trọng thu thuế trong tổng thu ngân sách của Việt Nam
giữ vững ở mức từ 75 đến trên 80%23. Trong các sắc thuế hiện hành, Thuế thu nhập
cá nhân (TNCN) đóng một vai trò quan trọng. Dù đã qua nhiều lần điều chỉnh, thay
đổi, các quy định về thuế TNCN vẫn còn những hạn chế nhất định. Bài viết này so
sánh chế độ thuế TNCN hiện hành của pháp luật Việt Nam và Pháp để từ đó rút ra
một số kinh nghiệm mà Việt Nam có thể áp dụng để hoàn thiện chế độ thuế TNCN.
1. Tổng quan về thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Ở nhiều nước trên thế giới, thuế TNCN đã tồn tại từ cách đây rất lâu. Ví dụ,
thuế thu nhập ra đời ở Anh từ năm 1799, ở Mỹ từ năm 1861, ở Pháp từ năm 1914,
v.v. Ở Việt Nam, trước năm 1975, chính quyền miền Nam Việt Nam cũng đã ban
hành sắc thuế lợi tức lương bổng từ năm 1962. Thời gian đầu sau ngày thống nhất đất
nước, với nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung và bao cấp, thuế thu nhập cá nhân không
tồn tại ở nước ta. Trong thời kỳ đổi mới, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường
Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng, Email: Linhnhd @due.edu.vn
23 Báo cáo tại Hội thảo công bố kết quả nghiên cứu « Phân tích cấu trúc, xu hướng và gánh nặng thuế tại Việt
Nam – hướng tới một hệ thống thuế công bằng », Hà Nội, tháng 12, 2020.
33
đòi hỏi phải có một công cụ để Nhà nước có thể điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp
dân cư, động viên một phần thu nhập của bộ phận dân cư có thu nhập cao vào ngân
sách nhà nước. Do đó, vào năm 1990, Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu
nhập cao được Hội đồng nhà nước ban hành. Pháp lệnh này sau đó được sửa đổi, bổ
sung, thay thế nhiều lần vào các năm 1994, 1997, 1999, 2001, 2004. Năm 2007, Quốc
hội khóa 12 đã ban hành Luật số 04/2007/QH12 về thuế thu nhập cá nhân, tên gọi
của sắc thuế được thay đổi và được điều chỉnh bởi một văn bản có hiệu lực pháp lý
cao hơn. Từ đó đến nay, sắc thuế này đã được nhiều lần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện.
Hiện nay, thuế thu nhập cá nhân được điều chỉnh bởi Luật thuế thu nhập cá nhân số
04/2007/QH12 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 26/2012/QH13 và Luật số
71/2014/QH13)24.
2. Giới thiệu về thuế thu nhập cá nhân của Pháp
So với Mỹ hay các quốc gia phương tây phát triển khác như Anh và Đức, thuế
TNCN ở Pháp ra đời muộn hơn rất nhiều. Vào cuối thế XIX, đầu thế kỷ XX, trong
khi các nước Mỹ, Anh, Đức đã phát triển một hệ thống thuế đánh vào các nguồn thu
nhập, một cách hiệu quả và công bằng hơn, việc thu thuế ở Pháp về cơ bản vẫn dựa
trên hệ thống các sắc thuế cũ, gồm thuế về đất đai, nhà cửa và các loại giấy phép25.
Sau nhiều lần kiến nghị với nhiều bản dự thảo khác nhau, năm 1914, đạo luật về tài
chính được ban hành, thiết lập chính thức chế độ thuế thu nhập ở Pháp (tiếng Pháp :
l’impôt sur le revenu – IR). Thời gian đầu, mặc dù đã được quốc hội Pháp thông qua,
sắc thuế này vấp phải nhiều sự phản đối, nhất là của giới bảo thủ. Các quan điểm
phản đối chủ yếu dựa trên những lập luận về tính bảo mật thông tin cá nhân (vì người
nộp thuế phải công khai thu nhập của mình) và tính công bằng (vì việc áp dụng thuế
lũy tiến sẽ khiến người giàu nộp nhiều thuế hơn)26. Đến năm 1950, thuế thu nhập cá
nhân được điều chỉnh bởi Bộ luật chung về các sắc thuế (Code général des impôts –
CGI). Bộ luật này quy định khung pháp lý chung cho tất cả các loại thuế, phí do chính
24 Riêng mức giảm trừ gia cảnh được tăng lên theo Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14.
25 Assemblée nationale, Institution de l’impôt sur le revenu, https://www2.assemblee-nationale.fr/decouvrir-l-
assemblee/histoire/1914-1918/institution-de-l-impot-sur-le-revenu
26 Touzery Mireille, Les origines de l'impôt sur le revenu en France: de la monarchie aux républicains radicaux
(XVIIIe-XIXe siècles), In: Revue belge de philologie et d'histoire, tome 75, fasc. 4, 1997. Histoire medievale,
moderne et contemporaine - Middeleeuwse, moderne en hedendaagse geschiedenis. pp. 1027-1044.
34
quyền trung ương và địa phương tiến hành thu. Việc ban hành một bộ luật chung cho
các khoản thu của ngân sách nhà nước khiến cho bộ luật này là một trong những văn
bản đồ sộ nhất trong hệ thống các văn bản pháp luật của Cộng hòa Pháp, với gần 2000
điều luật. Thêm vào đó, bộ luật này cũng được thường xuyên sửa đổi, bổ sung một
cách trực tiếp, khiến cho hệ thống các điều luật càng thêm phức tạp, khó tiếp cận và
khó vận dụng27. Ví dụ, trong bộ luật này có điều luật chứa đến hơn 6000 từ, hoặc một
điều luật nhưng sau nhiều lần được bổ sung (thêm vào trước hoặc sau) trở thành nhiều
điều luật với hệ thống đánh số phức tạp28.
Hiện nay, vẫn có nhiều ý kiến từ phía các chuyên gia, yêu cầu cần tiếp tục có
những sự thay đổi, hoàn thiện để bộ luật này trở nên rõ ràng, dễ áp dụng hơn.
3. So sánh một số quy định về thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam và
Pháp
Trong phần này, chúng tôi sẽ so sánh một số quy định về thuế TNCN theo pháp
luật của Việt Nam và của Pháp, từ đó chỉ ra những điểm tương đồng cũng như một
số khác biệt nhất định. Trong phạm vi của bài trình bày này, chúng tôi không thể so
sánh tất cả các quy định có liên quan mà chỉ dừng lại ở việc so sánh một số nội dung
cơ bản của thuế TNCN.
3.1. Đối tượng nộp thuế
3.1.1. Theo quy định của Việt Nam
Đối tượng nộp thuế TNCN được quy định tại Điều 3 luật Thuế TNCN. Theo đó,
đối tượng nộp thuế được phân thành cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú. Khoản
2, điều 3 của luật này quy định :
Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc
tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam;
b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú
hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn.
27 Taly, Michel, Le code général des impôts, Elephant Man juridique, Pouvoirs, vol. 151, no. 4, 2014, pp. 87-
97.
35
Những người này phải nộp thuế TNCN đối với các khoản thu nhập chịu thuế
của mình, bất kể thu nhập đó phát sinh trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam. Ngược
lại, đối với những cá nhân không cư trú (không đáp ứng các điều kiện kể trên), họ chỉ
phải nộp thuế TNCN đối với những khoản thu nhập chịu thuế phát sinh trên lãnh thổ
Việt Nam. Tuy nhiên, quy định này còn chịu sự tác động của các điều ước quốc tế
mà Việt Nam là thành viên, nhất là các hiệp định song phương về tránh đánh thuế hai
lần giữa Việt Nam và các nước (trong đó có Pháp29).
3.1.2. Theo quy định của Pháp
Tương tự như pháp luật Việt Nam, pháp luật của Pháp cũng quy định đối tượng
đánh thuế dựa vào yếu tố cư trú. Theo đó, cá nhân có « nơi cư trú tính thuế » (domicile
fiscale) ở Pháp sẽ phải nộp thuế thu nhập đối với các khoản thu nhập chịu thuế của
mình, bất kể khoản thu nhập đó phát sinh trong hay ngoài nước Pháp. Ngược lại, cá
nhân có nơi cư trú tính thuế bên ngoài nước Pháp chỉ phải chịu thuế đối với những
thu nhập phát sinh trên lãnh thổ nước Pháp. Việc xác định một cá nhân có nơi cư trú
tính thuế ở Pháp cũng không phụ thuộc vào yếu tố quốc tịch, mà chỉ cần đáp ứng một
trong các điều kiện sau :
-
Có nơi cư trú chính ở Pháp : nếu cá nhân đó cư trú ở Pháp nhiều hơn 6 tháng
trong năm tính thuế.
-
Có công việc chính tại Pháp : được xem là công việc chính nếu đó là công việc
mà người nộp thuế phải làm nhiều thời gian nhất hoặc đem lại thu nhập nhiều nhất.
-
Có lợi ích kinh tế chính nằm ở Pháp : trong trường hợp cá nhân có các khoản
đầu tư chính, hoặc có trụ sở doanh nghiệp được đặt ở Pháp.
Như vậy, có thể thấy, pháp luật của Pháp quy định cụ thể hơn về đối tượng nộp
thuế, nhất là đối với cá nhân là người cư trú. Nếu pháp luật Việt Nam chỉ xác định
đối tượng nộp thuế dựa vào yếu tố « cư trú » theo đúng nghĩa trực tiếp (ở tại Việt
Nam trong một thời gian nhất định), thì pháp luật của Pháp mở rộng với nhiều điều
kiện hơn để xác định đối tượng này.
29
Việt Nam và Pháp đã ký hiệp định song phương về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn và lậu
thuế đối với thuế đánh vào tài sản và thu nhập vào năm 1993.
36
3.2. Thu nhập chịu thuế
3.2.1. Theo quy định của Việt Nam
Thu nhập chịu thuế được quy định tại Điều 13 Luật thuế TNCN, bao gồm các
khoản thu nhập sau :
1.Thu nhập từ kinh doanh;
2. Thu nhập từ tiền lương, tiền công ;
3. Thu nhập từ đầu tư vốn ;
4. Thu nhập từ chuyển nhượng vốn;
5. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản ;
6. Thu nhập từ trúng thưởng ;
7. Thu nhập từ bản quyền ;
8. Thu nhập từ nhượng quyền thương mại ;
9. Thu nhập từ nhận thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh
tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký
sử dụng.
10. Thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh
tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký
sử dụng.
3.2.2. Theo quy định của Pháp
Theo quy định từ điều 14 đến điều 155B, Bộ luật chung về các sắc thuế của
Pháp, các khoản thu nhập chịu thuế về cơ bản được chia thành các nhóm sau :
1. Tiền công, tiền lương (bao gồm cả các khoản thưởng, trợ cấp, bồi thường,
trợ cấp bằng hiện vật, trợ cấp bằng tiền, trợ cấp ốm đau, tai nạn, thai sản) ;
2. Trợ cấp hưu trí và trợ cấp đối với người cao tuổi ;
3. Trợ cấp thương tật ;
4. Tiền cấp dưỡng ;
5. Thu nhập từ vốn lưu động (cổ phần và các loại chứng khoán khác, các sản
phẩm đầu tư có thu nhập cố định);
6. Thu nhập từ bất động sản ;
37
7. Thu nhập từ giá trị tăng thêm (từ việc chuyển nhượng bất động sản, động
sản hoặc chứng khoán) ;
8. Lợi nhuận từ công nghiệp và thương mại ;
9. Lợi nhuận ngoài kinh doanh ;
10. Lợi nhuận từ nông nghiệp.
Trong các loại thu nhập chịu thuế kể trên, có những điểm mà pháp luật Pháp có
quy định khác biệt so với pháp luật Việt Nam.
Thu nhập từ tiền công, tiền lương
Liên quan đến thu nhập từ tiền công, tiền lương, theo khoản 10 Điều 4 Luật thuế
TNCN, tiền lương hưu do Quỹ bảo hiểm xã hội chi trả ; tiền lương hưu do quỹ hưu
trí tự nguyện chi trả hàng tháng được xem là thu nhập miễn thuế. Trong khi đó, theo
quy định của Pháp, khoản thu nhập này vẫn phải chịu thuế TNCN. Một ví dụ khác là
khoản chi trả mà người lao động nhận được khi chấm dứt hợp đồng (hợp đồng kết
thúc, chấm dứt hợp đồng trước thời hạn, bồi thường do vi phạm nghĩa vụ báo trước,
v.v.), khi bị cho thôi việc (không phải do lỗi nghiêm trọng của ngươi lao động) hay
khi nghỉ hưu cũng được xem là thu nhập chịu thuế. Trong trường hợp đối với khoản
tiền nhận được khi bị cho thôi việc, người lao động chỉ phải chịu thuế đối với số tiền
vượt quá một mức trần nhất định30. Tương tự như vậy, các khoản trợ cấp đối với
người lao động phải nghỉ do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc nghỉ thai sản
cũng có thể phải chịu thuế tùy vào từng trường hợp cụ thể. Ví dụ, các khoản trợ cấp
đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sẽ được miễn thuế 50%.
Đối với trợ cấp thai sản, người lao động chỉ được miễn thuế đối với những khoản trợ
cấp bổ sung do Quỹ bảo hiểm y tế chi trả, trong trường hợp công việc không phù hợp
với tình trạng sức khỏe của người lao động, trong khi các khoản trợ cấp thai sản khác
vẫn phải chịu thuế.
Ngoài ra, khi xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công, pháp luật
Pháp quy định một khoản giảm trừ đối với các chi phí liên quan đến công việc (như
30 Mức trần này được xác định theo một trong hai cách, tùy theo cách nào có lợi hơn cho người lao động :
-
-
2 lần số tiền lương mà người lao động nhận được trong năm trước khi bị cho thôi việc ; hoặc
½ số tiền bồi thường mà người lao động được nhận.
Theo quy định năm 2020, mức được miễn thuế tối đa không quá 246.816 €.
38
chi phí đi lại, tiền ăn trưa, chi phí văn phòng, chi phí để cập nhập trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ, v.v). Khoản giảm trừ này sẽ được tính bằng 10% tiền lương hoặc
dựa vào chi phí thực tế.
Đối với tiền lương làm thêm giờ, pháp luật Việt Nam quy định miễn thuế TNCN
đối với phần tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền
lương làm việc ban ngày, làm trong giờ theo quy định của pháp luật. Pháp luật Pháp
cũng có quy định tương tự, tuy nhiên, thu nhập được miễn chỉ nằm trong một giới
hạn nhất định. Trong năm 2020, giới hạn này là 5000 €, và có thể lên đến 7500 € nếu
số giờ làm việc ngoài giờ được thực hiện trong khoảng thời gian từ từ ngày 16/3/2020
đến ngày 10/7/2020. Ngoài mức này, số tiền lương làm thêm giờ vẫn phải chịu thuế
như bình thường.
Như vậy, nhìn chung, đối với các khoản thu nhập từ tiền công, tiền lương, pháp
luật của Pháp quy định chi tiết hơn, với nhiều khoản thu nhập phải chịu thuế hơn so
với pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, các khoản thu nhập chịu thuế này cũng đã được
tính toán, quy định hợp lý, đảm bảo lợi ích của người lao động.
Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản
Pháp luật Việt Nam quy định, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản là một
loại thu nhập chịu thuế, trừ một số trường hợp sau :
- Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ
với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha
vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu
ngoại; anh, chị, em ruột với nhau.
- Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền
với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất.
Theo các quy định của pháp luật Pháp, các trường hợp được miễn thuế TNCN
khi chuyển nhượng bất động sản được chia thành 3 nhóm chính sau :
-
Các trường hợp miễn thuế liên quan đến tài sản. Ví dụ, tài sản chuyển
nhượng là nơi ở chính, tài sản được chuyển nhượng không phải là nơi ở chính nhưng
số tiền thu được sẽ được dùng để mua hoặc xây dựng nơi ở chính trong thời hạn 2
39
năm ; tài sản có giá trị không vượt quá 15000 € ; tài sản thuộc sở hữu của người
chuyển nhượng trên 22 năm ; v.v.
-
Các trường hợp miễn thuế liên quan đến người chuyển nhượng. Ví dụ :
người đang nhận trợ cấp tuổi già hoặc trợ cấp đối với người khuyết tật, có thu nhập
không vượt quá 10.988 € (trong năm 2020) ; người đang sống trong các trung tâm
bảo trợ y tế - xã hội dành cho người già và người khuyết tật, có thu nhập không vượt
quá 25.839 € (trong năm 2020) ; v.v.
-
Các trường hợp miễn thuế liên quan đến người nhận chuyển nhượng. Ví
dụ, tài sản được chuyển nhượng trực tiếp cho các tổ chức để xây dụng nhà ở xã hội ;
số tiền bồi thường do nhà nước thu hồi tài sản, với điều kiện người chuyển nhượng
sử dụng toàn bộ số tiền đó để mua, xây dựng, sửa chữa hoặc mở rộng nhà ở của mình
trong thời hạn 12 tháng ; v.v.
Như vậy, khác với pháp luật Việt Nam, theo quy định của Pháp, thu nhập có
được chuyển nhượng bất động sản giữa các cá nhân có quan hệ gia đình, huyết thống
không phải là thu nhập được miễn thuế TNCN. Điều này cũng được áp dụng trong
trường hợp thừa kế bất động sản.
Một điểm khác biệt nữa giữa pháp luật hai nước liên quan đến thu nhập từ
chuyển nhượng bất động sản là cách xác định thu nhập tính thuế. Theo quy định tại
Điều 14, Điều 23 Luật Thuế TNCN, thu nhập này sẽ chịu thuế suất 2% trên giá chuyển
nhượng bất động sản đó. Ngược lại, theo quy định của pháp luật Pháp, thuế TNCN
trong trường hợp này chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của tài sản, với thuế suất
19%. Cụ thể hơn, thuế TNCN sẽ được tính theo công thức :
[Giá bán - (giá mua + các chi phí hợp lý) - khoản giảm trừ] x thuế suất 19%
Trong đó :
-
Các chi phí hợp lý có thể tính đến như chi phí hoàn thành các thủ tục pháp
lý khi mua ; chi phí sửa chữa, bảo trì, tôn tạo sau khi mua (có thể lên tới 15% giá
mua) ; chi phí đo đạc, kiểm tra khi bán ; v.v ;
-
Khoản giảm trừ : được tính theo thời gian sở hữu tài sản và giá bán (dưới
6 năm : giảm trừ 0% ; từ 6-21 năm : giảm trừ 6%/năm ; năm thứ 22 : 4% ; trên 22
năm : 100%)
40
Ngoài ra, ở Pháp, người chuyển nhượng bất động sản còn phải trích từ thu nhập
của mình một khoản đóng góp xã hội (mức cao nhất có thể lên tới 17,2%)31.
Có thể thấy, pháp luật ở Pháp quy định cụ thể hơn về thu nhập tính thuế khi
chuyển nhượng bất động sản, đảm bảo đúng tính chất của sắc thuế là tính trên thu
nhập chịu thuế của người dân. Thực ra, trước đây, Luật Thuế TNCN năm 2007 và
Luật sửa đổi, bổ sung năm 2012 cũng quy định « thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng
bất động sản được xác định bằng giá chuyển nhượng bất động sản theo từng lần
chuyển nhượng trừ giá mua bất động sản và các chi phí liên quan » và áp dụng mức
thuế suất 25%. Tuy nhiên, do khó khăn trong thực tế triển khai khi xác định giá mua,
giá bán và các chi phí liên quan, Luật sửa đổi bổ sung một số luật thuế năm 2014 đã
thay đổi cách tính thuế đối với loại thu nhập này.
3.3. Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền công, tiền lương
3.3.1. Theo quy định của Việt Nam
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, đối với cá nhân cư trú, thuế TNCN từ
kinh doanh, tiền công, tiền lương được áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần với thuế
suất cụ thể như sau :
Bậc
Phần thu nhập tính thuế/năm
(triệu đồng)
Phần thu nhập tính
thuế/tháng
Thuế
thuế
suất (%)
(triệu đồng)
Đến 5
1
2
3
4
5
6
7
Đến 60
5
Trên 60 đến 120
Trên 120 đến 216
Trên 216 đến 384
Trên 384 đến 624
Trên 624 đến 960
Trên 960
Trên 5 đến 10
Trên 10 đến 18
Trên 18 đến 32
Trên 32 đến 52
Trên 52 đến 80
Trên 80
10
15
20
25
30
35
31 Khoản đóng góp xã hội này sẽ giảm dần theo thời gian sở hữu tài sản, cho đến mức trên 30 năm thì không
phải đóng khoản này.
41
Thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công là tổng
thu nhập chịu thuế theo quy định, trừ các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành,
nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, quỹ hưu trí tự nguyện, giảm trừ gia cảnh và
các khoản giảm trừ khác do pháp luật quy định. Ngoài ra, theo quy định tại Nghị
quyết số 954/2020/UBTVQH14, từ ngày 01/07/2020, mức giảm trừ đối với đối tượng
nộp thuế là 11 triệu đồng/tháng (132 triệu đồng/năm), mức giảm trừ đối với mỗi người
phụ thuộc là 4,4 triệu đồng/tháng. Mức điều chỉnh này được đưa ra dựa vào tốc độ
tăng của chỉ số giá tiêu dùng, nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân.
3.3.2. Theo quy định của Pháp
Về cơ bản, pháp luật của Pháp cũng áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần khi
tính thuế TNCN từ kinh doanh, tiền công, tiền lương. Biểu thuế lũy tiến từng phần
cho năm tính thuế 2021 được quy định cụ thể như sau :
Phần thu nhập theo năm
10 084 €
Mức thuế suất áp dụng (%)
0
Từ 10 085 € đến 25 710 €
Từ 25 711 € đến 73 516 €
Từ 73 517 € đến 158 122 €
Trên 158 122 €
11
30
41
45
Tuy nhiên, khi tính thuế, pháp luật của Pháp áp dụng mức giảm trừ gia cảnh
theo cách khác với pháp luật Việt Nam. Theo đó, thuế TNCN được gắn liền với khái
niệm « hộ gia đình tính thuế » (foyer fiscal). Ở mỗi hộ tính thuế, tùy vào số lượng
thành viên trong gia đình mà hộ đó có số phần tính thuế (part fiscal) và khác nhau.
Và tùy vào số phần tính thuế của mỗi hộ gia đình mà thương số tính thuế (quotient
familial – bằng tổng thu nhập chia cho số phần tính thuế) sẽ khác nhau. Ví dụ:
-
-
Một người độc thân sẽ được tính 1 phần tính thuế ;
2 người có kết hôn hoặc có hợp đồng sống chung (PACS) : 2 phần tính
thuế ;
42
-
phần ;
-
2 người có kết hôn hoặc có hợp đồng sống chung (PACS) + 1 con nhỏ : 2.5
2 người có kết hôn hoặc có hợp đồng sống chung (PACS) + 2 con nhỏ : 3
2 người có kết hôn hoặc có hợp đồng sống chung (PACS) + 3 con nhỏ : 4
phần ;
-
phần ;
Số thuế phải nộp sau đó sẽ được tính theo công thức :
Số thuế phải nộp = [(tổng thu nhập tính thuế của hộ gia đình : số phần tính
thuế) x thuế suất] x số phần tính thuế
Ví dụ. Một gia đình gồm 2 vợ chồng, có 2 con nhỏ, thu nhập tính thuế là 60000€
trong năm thì thu nhập tính thuế của hộ gia đình đó phải nộp sẽ được tính như sau :
-
-
Thương số tính thuế : 60.000€ : 3(phần) = 20.000€
Áp dụng biểu thuế lũy tiến :
+ Đến 10 084 € : 0 %
+ Từ 10.085 € đến 20.000 € : (20.000 € - 10.084 €) x 11 % = 1.090,76 €
-
Tổng số thuế phải nộp : 1.090,76 € x 3 = 3.272,28 €
Có thể thấy, cách tính thuế của Pháp phức tạp hơn nhiều so với của Việt Nam,
khi phải dựa trên nhiều tham số khác nhau. Ngoài ra, biểu thuế của Pháp ít bậc hơn
(5 bậc so với 7 bậc)32. Ngược lại, mức thuế suất cao nhất theo pháp luật hiện hành
của Pháp cao hơn hẳn so với của Việt Nam (45% so với 35%). Các mức thuế suất
như hiện nay của Pháp (gồm 11%, 30%, 41% và 45%) được giữ ổn định từ 2013 đến
nay. Trong khi đó, phần thu nhập tính thuế tương ứng với từng mức thuế suất lại được
điều chỉnh hằng năm (theo hướng tăng lên), phù hợp với tình hình biến động giá cả.
Ví dụ, phần thu nhập được tính thuế 0% từ năm 2014 đến năm 2021 tăng lần lượt từ
6.011€, 6.960€, 9.700€, 9.710€, 9.807€, 9.964€, 10.064€ và 10.084€. Những điều
chỉnh này phản ánh sự thích ứng một cách hợp lý của việc thu thuế TNCN đối với
những biến động của cuộc sống. Về phía Việt Nam, từ 2007 đến nay, luật Thuế TNCN
32 Thật ra, nếu tính bậc thuế theo cách của Việt Nam thì Pháp chỉ có 4 bậc, do bậc 1 trong biểu thuế của Pháp
là phần thu nhập chưa phải tính thuế (thuế suất 0%).
43
mới chỉ có 2 lần điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh (vào các năm 2012 và 2020), trong
khi tốc độ lạm phát, trượt giá tăng rất nhanh. Đây cũng là điều mà các nhà làm chính
sách của Việt Nam cần quan tâm hơn.
4. Một số nhận xét và kiến nghị
4.1. Về xác định đối tượng nộp thuế
Như chúng tôi đã phân tích, pháp luật Việt Nam và Pháp đều phân biệt đối tượng
nộp thuế là và nguồn thu nhập chịu thuế dựa vào yếu tố « cư trú ». Tuy nhiên, pháp
luật Việt Nam chỉ xác định yếu tố cư trú theo nghĩa cá nhân ở tại Việt Nam trong một
thời hạn nhất định, trong khi theo pháp luật của Pháp, yếu tố được xác theo nghĩa
rộng hơn, bao gồm cả trường hợp « có công việc chính ở Pháp » và « có lợi ích kinh
tế chính nằm ở Pháp ». Cách quy định này cho phép Pháp mở rộng đối tượng nộp
thuế một cách hợp lý, tăng thêm nguồn thu từ thuế TNCN. Tuy nhiên, pháp luật Pháp
chỉ phân biệt yếu tố cư trú hay không cư trú để xác định nguồn thu nhập chịu thuế,
mà không hề có sự khác biệt trong cách tính thuế hay thuế suất. Đây là điểm mà theo
chúng tôi, pháp luật Việt Nam cũng nên áp dụng, tạo sự bình đẳng cho người nộp
thuế, nhất là trong điều kiện chúng ta đang ngày càng hội nhập sâu và rộng hơn vào
môi trường toàn cầu hóa.
4.2. Về một số loại thu nhập chịu thuế
Từ những khác biệt trong xác định các thu nhập chịu thuế giữa pháp luật hai
nước, chúng tôi nhận thấy :
- Quy định như pháp luật Việt Nam hiện tại về các khoản thu nhập không chịu
thuế liên quan đến trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi
sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp hưu trí một lần, trợ cấp thôi việc, trợ cấp
mất việc làm, v.v, là hoàn toàn hợp lý. Mặc dù theo quy định của pháp luật Pháp, các
khoản kể trên chỉ phải chịu thuế nếu vượt quá một mức nhất định, nhưng xét về tính
chất, đây là những khoản nhà nước hỗ trợ cho người lao động trong những trường
hợp đặc biệt, khi thu nhập của họ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Do đó, không nên áp
dụng thuế TNCN đối với những khoản thu nhập kể trên.
- Ngược lại, khi xác định thu nhập chịu thuế từ tiền công, tiền lương, pháp luật
Việt Nam có thể bổ sung thêm quy định các khoản giảm trừ đối với các chi phí liên
44
quan đến công việc (như chi phí đi lại, tiền ăn trưa, chi phí văn phòng, chi phí để cập
nhập trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, v.v). Đây là những khoản giảm trừ hợp lý, giúp
người lao động thực hiện tốt hơn công việc của mình, từ đó nâng cao năng suất lao
động.
4.3. Về thuế suất và mức giảm trừ đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công
Việt Nam đang áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần với 7 bậc thuế (từ 5%-
35%) và khoảng cách giữa các bậc thuế khá sát nhau. Điều này khiến cho thuế TNCN
hiện nay chủ yếu đánh vào nhóm đối tượng có thu nhập trung bình khá. Bên cạnh đó,
biểu thuế dày cũng tạo ra sự bất bình đẳng nhất định, khi chỉ cần bước qua một
ngưỡng thu nhập khác, dù không chênh lệch bao nhiêu, cũng đã phải chỉu một mức
thuế suất khác. So với quy định trên của Việt Nam thì biểu thuế TNCN của Pháp chỉ
gồm có 4 bậc (hay nhiều nước châu Âu khác, ví dụ như Đức cũng chỉ có 4 bậc, Anh
thậm chí chỉ có 3 bậc) mang tính hợp lý và công bằng cao hơn.
Một vấn đề khác được đặt ra là ngưỡng chịu thuế. Theo pháp luật của Pháp,
ngưỡng chịu thuế được xem xét hằng năm dựa vào tình hình đời sống xã hội.Theo
quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, trường hợp chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
biến động trên 20% so với thời điểm Luật có hiệu lực thi hành hoặc thời điểm điều
chỉnh mức giảm trừ gia cảnh gần nhất thì Chính phủ trình Ủy ban thường vụ Quốc
hội điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh. Theo chúng tôi, quy định như trên không thực
sự hợp lý, trong bối cảnh lạm phát ở Việt Nam trong những năm vừa qua liên tục
tăng. Vì vậy, để mức giảm trừ này thích hợp với thực tế cuộc sống, chúng tôi kiến
nghị cần xem xét lại sau mỗi 3 năm, hoặc khi chỉ số giá tiêu dùng biến động trên 10%.
Bên cạnh đó, mức giảm trừ cho người phụ thuộc cũng cần tăng lên, ít nhất bằng 50%
mức giảm trừ của người nộp thuế.
KẾT LUẬN
Về cơ bản, pháp luật của 2 nước có nhiều điểm chung như : phân biệt đối tượng
nộp thuế và nguồn thu nhập chịu thuế dựa vào yếu tố cư trú ; xác định rất nhiều khoản
thu nhập chịu thuế giống nhau ; áp dụng đồng thời biểu thuế lũy tiến từng phần và
biểu thuế toàn phần tùy vào loại thu nhập. Bên cạnh đó, pháp luật về Thuế TNCN của
Pháp cũng có rất nhiều điểm khác biệt so với Việt Nam. Trong phạm vi bài viết này,
45
một số điểm khác biệt được chỉ ra trong cách xác định yếu tố cư trú, trong việc xác
định các loại thu nhập chịu thuế cũng như những khác biệt rất rõ ràng trong cách tính
thuế TNCN từ tiền công, tiền lương. Chúng ta cũng có thể tham khảo kinh nghiệm
của Pháp trong việc xác định yếu tố cư trú, điều chỉnh biểu thuế một cách kịp thời,
phù hợp với nhu cầu cuộc sống cũng như việc giảm số bậc thuế và tăng biên độ giữa
các bậc thuế này, đảm bảo hài hòa giữa lợi ích của nhà nước và của người nộp thuế.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Văn bản pháp luật
-
Luật số 04/2007/QH12 về Thuế thu nhập cá nhân ;
-
Luật số 26/2012/QH13 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập
cá nhân ;
-
-
Luật số 71/2014/QH13 sửa đổi các luật về thuế ;
Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14 về điều chỉnh mức giảm trừ gia
cảnh của Thuế thu nhập cá nhân;
-
-
-
Các Nghị định và thông tư hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân ;
Bộ luật chung về các sắc thuế của Pháp (Code général des impôts) ;
Các Văn bản hướng dẫn chính thức của Tổng cục tài chính công (Bulletin
Officiel des Finances Publiques) về Thuế thu nhập cá nhân.
2. Các tài liệu tham khảo khác
-
Assemblée nationale. (n.d.). Institution de l’impôt sur le revenu.
-
Báo cáo tại Hội thảo công bố kết quả nghiên cứu «ꢀPhân tích cấu trúc, xu hướng
và gánh nặng thuế tại Việt Nam – hướng tới một hệ thống thuế công bằngꢀ». (2020).
Mireille, T. (1997). Les origines de l’impôt sur le revenu en France: De la
-
monarchie aux républicains radicaux (XVIIIe-XIXe siècles). In Revue belge de philologie
et d’histoire, Histoire medievale, moderne et contemporaine (pp. 1027–1044).
-
Tayly, M. (2014). Le code général des impôts, Elephant Man juridique.
Pouvoirs, 151(4), 87–97.
46
Bạn đang xem tài liệu "Thuế thu nhập cá nhân - So sánh một số điểm trong pháp luật Việt Nam và pháp cùng một số đề xuất", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thue_thu_nhap_ca_nhan_so_sanh_mot_so_diem_trong_phap_luat_vi.pdf

