Mặt khách quan của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
MẶT KHÁCH QUAN CỦA TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH...
DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015
(SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2017)
LÊ THỊ MINH THƯ*
Bài viết phân tích về mặt khách quan của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
theo quy định của Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung (SĐ, BS) năm 2017)
và một số khó khăn vướng mắc trên thực tế khi xác định các yếu tố thuộc mặt khách quan
để định tội đối với tội danh này.
Từ khóa: Cho vay lãi nặng, giao dịch dân sự, mặt khách quan, tội phạm.
Ngày nhận bài: 07/9/2020; Biên tập xong: 14/9/2020; Duyệt đăng: 15/9/2020
The article analyzes actus reus (objective element) of the Crime of usury in civil
transactions according to the 2015 Penal Code (amended and supplemented in 2017) as
well as several difficulties in identifying factors in actus reus to convict for usury in civil
transactions.
Keywords: Usury, civil transactions, actus reus, crimes.
1. Dẫn nhập
lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới
100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi
phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị
kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà
còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000
đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải
tạo không giam giữ đến 03 năm. Phạm tội
mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở
lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến
1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng
đến 03 năm”. Mặt khách quan của tội cho
vay lãi nặng trong giao dịch dân sự cũng
như của các tội phạm khác bao gồm: hành
vi khách quan nguy hiểm cho xã hội; hậu
quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi đó
gây ra; mối quan hệ nhân quả giữa hành
vi và hậu quả; những điều kiện bên ngoài
của việc thực hiện hành vi phạm tội như
công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ
đoạn thực hiện tội phạm và thời gian,
“Mặt khách quan của tội phạm là mặt
bên ngoài của tội phạm, bao gồm những
biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc
tồn tại bên ngoài thế giới khách quan”1.
Tội phạm cụ thể nào cũng đều phải có
những biểu hiện bên ngoài, nếu không
có những biểu hiện bên ngoài thì không
có những yếu tố khác của tội phạm và
cũng sẽ không có tội phạm. Cũng như
các dấu hiệu khác trong cấu thành tội
phạm, mặt khách quan chứa đựng trong
quy định của pháp luật. Mặt khách quan
của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch
dân sự được mô tả tại Điều 201 BLHS
năm 2015 (SĐ, BS năm 2017): “Người
nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với
lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất
cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu
hoàn cảnh, địa điểm xảy ra tội phạm,…
2
1ꢀ Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình
Luật hình sự Việt Nam, tập 1, NXB Công an nhân
dân, tr 99.
* ꢀThạc sĩ, Khoa Luật - Trường Đại học Công nghệ
Thành phố Hồ Chí Minh
10 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 03 - 2020
LÊ THỊ MINH THƯ
2. Những biểu hiện của mặt khách
quan của tội cho vay lãi nặng trong giao
dịch dân sự theo quy định của BLHS
năm 2015 (SĐ, BS năm 2017)
việc cho vay được thực hiện một cách tinh
vi hơn, người cho vay lợi dụng hoàn cảnh
khó khăn của người vay để ép họ ký vào
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất hay mua bán tài sản để khi đến hạn
mà người vay chưa trả được số tiền gốc
và lãi thì người cho vay làm thủ tục sang
tên quyền sử dụng đất hoặc tài sản và bán
tài sản đó. Thậm chí, hiện nay có những
trường hợp người cho vay dùng những
hợp đồng đó để khởi kiện ra Tòa án để đòi
nợ hay tố cáo người vay tại cơ quan Công
an. Tuy nhiên, hành vi này chỉ cấu thành
tội phạm nếu người phạm tội thu lợi bất
chính từ 30.000.000 đồng trở lên hoặc đã
bị xử phạt vi phạm hành chính về hành
vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa
được xóa án tích mà còn vi phạm.
Theo quy định của pháp luật hình
sự, yếu tố quyết định để xác định hành
vi nhằm định tội đối với tội cho vay lãi
nặng trong giao dịch dân sự là “Cho vay
với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức
lãi suất cao nhất quy định trong BLDS”.
Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự (BLDS)
năm 2015 quy định mức lãi suất trong
hợp đồng vay như sau: “Lãi suất vay do
các bên thꢀa thuận. Trường hợp các bên có
thꢀa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thꢀa
thuận không được vượt quá 20%/năm của
khoản tiền vay, trừ trường hợp pháp luật liên
quan có quy định khác. Căn cứ tình hình thực
tế và theo đề xuất của Chính phủ, ꢁy ban
thường vụ Quốc hội quyết định điều chꢂnh
mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại
kꢃ họp gần nhất. Trường hợp lãi suất theo
thꢀa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được
quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt
quá không có hiệu lực”. Theo quy định này,
Nhà nước cho phép các bên thỏa thuận
lãi suất vay nhưng mức lãi suất đó không
được vượt quá mức trần lãi suất tối đa
là 20%/năm hoặc 1,666%/tháng (20%/12
tháng) của khoản tiền vay.
2.1. Hành vi khách quan của tội cho
vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Trong mặt khách quan, hành vi khách
quan là biểu hiện cơ bản nhất và là dấu
hiệu bắt buộc. Những biểu hiện khác của
mặt khách quan như công cụ, phương
tiện, địa điểm, thời gian phạm tội,… chỉ
có ý nghĩa khi có hành vi khách quan. Bên
cạnh đó, “những nội dung biểu hiện của mặt
chủ quan là lỗi, mục đích, động cơ cũng luôn
2
1
gắn với hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể” .
Trong khoa học luật hình sự, “hành vi được
hiểu là những “biểu hiện” của con người ra
bên ngoài thế giới khách quan dưới những
hình thức cụ thể nhằm đạt những mục đích có
3
2
chủ định và mong muốn” . Theo quy định
tại Điều 201 BLHS năm 2015 (SĐ, BS năm
2017), hành vi khách quan của tội cho vay
lãi nặng trong giao dịch dân sự là “hành vi
cho người khác vay (tiền, vàng, ngoại tệ) với
lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao
4
3
nhất quy định trong Bộ luật dân sự” . Hành
vi cho vay có thể được thể hiện bằng nhiều
dạng khác nhau, người cho vay và người
vay có thể thỏa thuận bằng một hợp đồng
viết, nhưng cũng có thể chỉ bằng một hợp
đồng miệng. Nếu tồn tại hợp đồng viết
thường cũng chỉ đơn giản là giấy viết tay
xác nhận việc vay nợ mà không được công
chứng. Hiện nay, trong một số trường hợp
2
PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa (2005), Tội phạm và
cấu thành tội phạm (sách chuyên khảo), NXB Công
an nhân dân, Hà Nội, tr.59.
3ꢀ Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình
Luật hình sự Việt Nam, tập 1, NXB Công an nhân
dân, tr 101 - 102.
4ꢀ TS. Nguyễn Đức Mai (chủ biên) (2018), Bình
luận khoa học Bộ luật hình sự hiện hành (sửa đổi, bổ
sung năm 2017), NXB Chính trị quốc gia sự thật,
Hà Nội, tr 520.
Số chuyên đề 03 - 2020
Khoa học Kiểm sát 11
MẶT KHÁCH QUAN CỦA TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH...
Như vậy, lãi suất cao nhất quy định trong quản lý nhà nước đối với hoạt động
trong BLDS là 20%/năm hoặc 1,666%/
tháng. Từ đó có thể hiểu, lãi suất gấp 05 lần
trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định
trong BLDS là lãi suất ở mức 100%/năm
hoặc 8,33%/tháng trở lên. Nếu hành vi cho
vay được thực hiện với lãi suất vay ở mức
này trở lên thì có thể cấu thành tội cho vay
lãi nặng trong giao dịch dân sự khi và chỉ
khi kết hợp với một trong ba yếu tố khác
theo quy định tại Điều 201 BLHS năm
2015 (SĐ, BS năm 2017). Các yếu tố đó bao
gồm: người phạm tội thu lợi bất chính từ
30.000.000 đồng trở lên; người phạm tội
đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành
vi này; người phạm tội đã bị kết án về
tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi
phạm. Như vậy, ba hành vi cấu thành tội
danh này sẽ là: cho vay với lãi suất 100%/
năm hoặc 8,33%/tháng trở lên và thu lợi
bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên; cho
vay với lãi suất 100%/năm hoặc 8,33%/
tháng trở lên mà trước đó đã bị xử phạt vi
phạm hành chính về hành vi này; cho vay
với lãi suất 100%/năm hoặc 8,33%/tháng
trở lên mà trước đó đã bị kết án về tội này,
chưa được xóa án tích. Trong đó, khoản
tiền thu lợi bất chính để xác định trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội là
số tiền lãi thu được sau khi trừ đi số tiền
lãi tương ứng với mức lãi suất theo quy
định của BLDS. Trường hợp người phạm
tội thực hiện hành vi cho vay lãi nặng đối
với nhiều người thì khoản tiền thu lợi bất
chính để xác định trách nhiệm hình sự là
tổng số tiền lãi mà người phạm tội thu
được của tất cả những người vay, nếu các
hành vi cho vay lãi nặng được thực hiện
một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời
gian; tình tiết đã bị xử phạt vi phạm hành
chính về hành vi cho vay lãi nặng mà còn
vi phạm hiện tại còn tương đối khó khăn
để áp dụng vì chưa có văn bản để quản lý
và xem xét xử lý hành chính đối với hành
tín dụng phi chính thức này; “đã bị kết án
về tội này, chưa được xóa án tích mà còn
vi phạm” nghĩa là người thực hiện hành
vi cho vay lãi nặng đã bị kết án về Tội cho
vay lãi nặng theo quy định tại Điều 163
BLHS năm 1999 (SĐ, BS năm 2009) hoặc
Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân
sự theo quy định tại Điều 201 BLHS năm
2015 (SĐ, BS năm 2017) chưa được xóa án
tích theo quy định tại các Điều 70, Điều 71
và Điều 72 BLHS.
Hiện nay, các đối tượng cho vay lãi
nặng thường thực hiện thông qua các
đường dây một cách chuyên nghiệp, cho
vay số tiền không lớn nhưng thực hiện
nhiều lần, cho nhiều người vay như vụ
án sau:
Khi cho vay, các bị can quy định 08 cách
thức cho vay trả góp được tính như sau: vay
trả góp các gói 31 ngày, 35 ngày, 38 ngày, 41
ngày, 42 ngày, 50 ngày, 52 ngày, 53 ngày. Tùy
vàonhucầucủangườivaynhưngsốtiềncho
vay thấp nhất là năm triệu đồng, cao nhất là
ba mươi triệu đồng. Hình thức cho vay trả
góp: Nếu vay số tiền 5.000.000 đồng, người
vay phải trả góp trong vòng 31 ngày, mỗi
ngày 200.000 đồng gồm tiền gốc là 162.000
đồng/ngày và tiền lãi là 38.000 đồng/ngày.
Tổng số tiền gốc và lãi người vay phải trả
trong vòng 31 ngày là số tiền 6.200.000 đồng.
Nếu vay số tiền 20.000.000 đồng, người vay
trả góp từ 31 ngày đến 42 ngày. Tức là từ
600.000 đồng/ngày đến 800.000 đồng/ngày.
Như vậy, Nguyễn Văn C và Phạm Văn T
cho vay tiền với mức lãi suất là 23,23%/
tháng, tương đương 278,76%/năm, tức là
cao gấp 13,94 lần của mức lãi suất cao nhất
mà pháp luật quy định là 1,666%/tháng. Khi
đưa tiền cho người vay, nếu vay 5.000.000
đồng thì T và C thu trước 02 ngày với số
tiền 400.000 đồng, số tiền còn lại người vay
phải trả trong thời gian 29 ngày tiếp theo,
vi cho vay lãi nặng. Đây là một hạn chế mỗi ngày 200.000 đồng. Còn vay 20.000.000
12 Khoa học Kiểm sát Số chuyên đề 03 - 2020
LÊ THỊ MINH THƯ
đồng thì T và C thu trước 2 ngày với số tiền độ nguy hiểm của hành vi cho vay lãi
nặng khi quyết định hình phạt.
1.600.000 đồng, số tiền còn lại người vay
phải trả trong vòng 29 ngày tiếp theo. Trong
thời gian từ tháng 4 năm 2018 đến ngày 02
tháng 4 năm 2019, tại huyện Lộc Ninh các bị
can Nguyễn Văn C, Phạm Văn T đã cho 21
2.3. Các dấu hiệu khác của mặt khách
quan của tội cho vay lãi nặng trong giao
dịch dân sự
Ngoài những hành vi nguy hiểm cho
xã hội thì mặt khách quan của tội phạm
này còn có các dấu hiệu khác như phương
tiện phạm tội, phương pháp, thủ đoạn,
thời gian, địa điểm và hoàn cảnh phạm
tội. Các hình thức cho vay lãi nặng có
thể được biểu hiện qua nhiều dạng khác
nhau, người cho vay và người vay có thể
bằng một hợp đồng viết (rất ít được thực
hiện trên thực tế) hoặc có thể cho vay tiền
chỉ bằng một hợp đồng miệng hoặc chỉ
ghi số tiền vay vào sổ và người vay ký
nhận. Nếu có biên nhận thì thường không
ghi lãi suất, không ghi thời gian vay mà
chỉ ghi một ngày bao nhiêu tiền lãi, ví dụ:
vay 1.000.000 đồng thì lãi suất 5.000 đồng
(tương đương lãi suất 180%/năm hay 15%/
tháng) hoặc vay 8.000.000 đồng thì lãi suất
40.000 đồng (tương đương lãi suất 180%/
năm hay 15%/tháng)…
Trên thực tế, người vay tiền chỉ cần
một khoảng thời gian rất ngắn đã có tiền
mà không phải mất nhiều thời gian, thủ
tục hết sức đơn giản chỉ cần phô tô chứng
minh nhân dân, hộ khẩu, bằng lái xe, giấy
khai sinh, giấy đăng ký kết hôn, thẻ sinh
viên,… Ngoài ra, người vay không cần
công chứng hợp đồng hay chứng minh thu
nhập, không cần thế chấp tài sản, đang có
nợ xấu ở các công ty tài chính thì vẫn tiếp
tục được vay. Đối với những khách hàng
có uy tín, trả tiền vay đúng hạn thì trong
các lần vay tiếp theo các đối tượng này
sẽ cho vay với số tiền cao hơn nhiều lần,
áp dụng hình thức cho vay trả góp với lãi
suất rất cao. Đây là những ưu đãi cần thiết,
dễ dàng cho những người cần tiền kinh
doanh, để đáo hạn khoản vay trước hoặc
để tiêu dùng cá nhân trong cuộc sống.
người dân vay tiền, tổng cộng 47 lần vay.5
1
2.2. Hậu quả của hành vi cho vay lãi
nặng trong giao dịch dân sự
Hậu quả của hành vi cho vay lãi nặng
có thể là những thiệt hại vật chất hoặc
phi vật chất. Thiệt hại về vật chất của
hành vi cho vay lãi nặng là gây thiệt hại
cho người vay, làm cho người vay phải
chịu mức lãi suất quá cao, số tiền lãi quá
lớn, có thể dẫn đến không có tiền để trả.
Khi người vay không trả được nợ, người
cho vay sẽ có những hành vi phạm pháp
để đòi nợ như cố ý gây thương tích, hủy
hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản,…
hoặc có hành vi khủng bố tinh thần như
tạt sơn, chất bẩn,… Điều này khiến cho
người đi vay và người thân của họ luôn
trong tình trạng lo lắng, áp lực trả nợ,
túng quẫn, gây ra các hành vi phạm
pháp khác, thậm chí dẫn đến người đi
vay phải tự tử. Hành vi cho vay lãi nặng
còn gây ra những thiệt hại phi vật chất
rất lớn cho xã hội, gây bất an đối với
người dân, bất lực đối với nhà quản lý,
ngoài ra còn đưa đến nhiều hệ lụy khôn
lường khác cho người dân, cho xã hội
như các băng nhóm “xã hội đen”, đòi nợ
thuê liên tục được mở rộng tràn lan, trật
tự trị an xã hội bị ảnh hưởng,… Đối với
tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân
sự thì hậu quả không phải là dấu hiệu
bắt buộc trong cấu thành tội phạm này.
Tuy nhiên, việc xác định hậu quả có ý
nghĩa trong việc đánh giá tính chất, mức
5ꢀ Bản án 77/2019/HSST ngày 17/10/2019 của Tòa án
nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước về tội
cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Số chuyên đề 03 - 2020
Khoa học Kiểm sát 13
MẶT KHÁCH QUAN CỦA TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH...
Một hình thức cho vay lãi nặng nữa bị xử lý rất ít, có nhiều địa phương tuy
được xác định có hành vi phạm tội này
xảy ra nhưng hàng năm không có vụ án
nào về tội danh này được xử lý. Điều này
làm cho loại tội phạm này ngày càng lan
rộng trong xã hội, gây ra hậu quả ngày
càng lớn và trở thành “vấn nạn” của xã
hội. Trước tình hình đó, một loạt các văn
bản pháp luật mới được các cơ quan có
thẩm quyền ban hành nhằm mục đích
giải quyết vấn nạn về loại tội phạm này
một cách đồng bộ. Trong đó, Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 12/CT-
TTg ngày 25/4/2019 về tăng cường phòng
ngừa, đấu tranh với tội phạm và vi phạm
pháp luật liên quan đến hoạt động “tín
dụng đen”. Ngay sau đó, các cơ quan
có thẩm quyền có liên quan cũng đã ban
hành các văn bản để triển khai như: Quyết
định số 1178/QĐ-NHNN của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước về kế hoạch hành
động của ngành Ngân hàng triển khai Chỉ
thị 12/CT-TTg; Kế hoạch số 3501/KH-BNV
ngày 31/7/2019 của Bộ Nội vụ về phòng
ngừa, đấu tranh với tội phạm và vi phạm
pháp luật liên quan đến hoạt động “tín
dụng đen”; Viện kiểm sát nhân dân tối
cao ban hành Chỉ thị số 3402/VKSTC-V2
ngày 31/7/2019 về triển khai thực hiện Chỉ
thị số 12/CT-TTg về tăng cường phòng
ngừa, đấu tranh với tội phạm và vi phạm
pháp luật liên quan đến hoạt động “tín
dụng đen”. Hiện nay, việc xử lý đối với
loại tội phạm này đã được chú trọng hơn,
số vụ án đã tăng lên nhưng thực tế vẫn
chưa tương xứng với số lượng vụ việc
xảy ra trên thực tế. Tình trạng này xuất
phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có
nguyên nhân là việc xác định các yếu tố
thuộc mặt khách quan của tội cho vay lãi
nặng trong giao dịch dân sự trên thực tế
không dễ dàng mặc dù quy định của pháp
luật hình sự đã có nhiều sửa đổi, bổ sung.
mà hiện nay khá phổ biến là thông qua
các hình thức hụi, họ, biêu, phường.
Phương pháp thủ đoạn cho vay lãi nặng
hiện nay được thực hiện hết sức tinh vi và
phức tạp. Bên cho vay thường hoạt động
công khai dưới vỏ bọc của hoạt động kinh
doanh được cấp phép hợp pháp như dịch
vụ cầm đồ, công ty tư vấn đầu tư, dịch
vụ tài chính với những chiêu trò quảng
cáo “kết nối khách hàng – ngân hàng”, hỗ
trợ vay vốn, cho vay tiêu dùng, cho thuê
tài sản, thông qua việc in các tờ rơi quảng
cáo cho vay tiền rồi tiến hành đi treo, dán,
thả trên các tuyến đường; sử dụng mạng
xã hội hoặc tạo ứng dụng phần mềm trên
điện thoại nhằm mục đích quảng cáo và
cho vay tiền; tạo ra các ứng dụng chạy
trên điện thoại di động để cho vay tiền qua
mạng như “Vaytocdo”, “Moreloan”, “VD
online”… Các đối tượng cho vay thường
không thể hiện mức lãi suất cụ thể trên các
hợp đồng. Khi người vay không trả được
nợ theo thỏa thuận, các đối tượng không
từ bỏ thủ đoạn nào để có thể đòi tiền vay.
Hành vi cho vay lãi nặng hiện nay không
chỉ tập trung vào các thành phố lớn, nơi
kinh tế phát triển mà đã len lỏi vào mọi
ngóc ngách, từ thành thị tới nông thôn với
các “chân rết” ở khắp các tỉnh thành trên
cả nước. Thủ đoạn mà người phạm tội sử
dụng thường là lợi dụng hoàn cảnh khó
khăn đột xuất của người đi vay như bị
thiệt hại do thiên tai, bệnh tật hoặc những
khó khăn khác cần gấp một số tiền để
trang trải nên người cho vay đã ép buộc
để người đi vay phải chịu lãi suất rất cao,
gấp nhiều lần so với lãi suất do Nhà nước
quy định.
3. Thực tiễn xác định mặt khách quan
và khó khăn, vướng mắc
Trong những năm vừa qua, hành vi
cho vay lãi nặng trên thực tế xảy ra tương
Trước hết, việc phát hiện, chứng minh
đối nhiều nhưng số vụ án về tội danh này hành vi phạm tội trên thực tế gặp nhiều
14 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 03 - 2020
LÊ THỊ MINH THƯ
khó khăn. Việc cho vay thường chỉ có hai cũng như mức lãi suất và số tiền lãi mà
bên biết với nhau, nếu người vay không tố người vay phải trả. Khi đến thời hạn trả
cáo thì cơ quan có thẩm quyền rất khó để đã ngầm thỏa thuận hoặc đến một thời
phát hiện, xử lý. Tuy nhiên, tâm lý chung
của người vay là e sợ, không dám tố cáo vì
sợ thế lực của người cho vay, sợ bị trả thù
hoặc nghĩ rằng mình đã tự thỏa thuận vay
thì mình phải chịu. Vì vậy, số trường hợp
người dân tố cáo về hành vi cho vay lãi
nặng không nhiều. Chỉ khi sự việc bị phát
hiện, khi người vay bị đe dọa, bắt giữ,
đánh đập, khủng bố tinh thần, bị đe dọa
về tính mạng,… mới tố cáo đến cơ quan có
thẩm quyền, trên cơ sở đó mới có thể xử
lý được hành vi vi phạm. Ngoài ra, phần
lớn nạn nhân vẫn lẳng lặng trả nợ, tự thu
xếp với nhau nên cơ quan có thẩm quyền
không thể xử lý. Bên cạnh đó, khi biết về
vụ việc thì việc phát hiện, thu thập, củng
cố chứng cứ để chứng minh hành vi phạm
tội cũng gặp nhiều khó khăn do các bên
thường thỏa thuận việc vay mượn bằng
miệng hoặc các hợp đồng giả không thể
hiện lãi suất thực tế, nếu có hợp đồng thì
các đối tượng thường cất giấu hợp đồng ở
những nơi kín đáo, dễ tiêu hủy, sử dụng
mạng xã hội để chốt hợp đồng. Hơn nữa,
các đối tượng còn sử dụng nhiều “chiêu
trò” để lách luật như: thu tiền gốc trước,
nếu người vay trả hết gốc thì chuyển lãi
thành gốc nên khi bị phát hiện không thể
kết luận các đối tượng thu lời từ lãi; hoặc
sử dụng thủ đoạn trong lập hợp đồng
vay: không thể hiện lãi suất; lợi dụng công
nghệ thông tin, phần mềm, ứng dụng điện
thoại để cho vay nên khó xác định người
cho vay,…
gian nhất định mà người vay chưa trả nợ
thì người cho vay yêu cầu người vay phải
ký tiếp hợp đồng vay. Trường hợp này sẽ
có nhiều hợp đồng được ký thay thế nhau
mà số tiền vay ghi trong hợp đồng sau
chính là số tiền gốc cho vay của hợp đồng
trước cộng với số tiền lãi mà người vay
chưa trả. Trong những trường hợp như
vậy, số tiền lãi thực tế người vay phải trả
là rất lớn với lãi suất rất cao, vượt quá quy
định của pháp luật rất nhiều lần nhưng
hợp đồng vay không hề ghi nhận. Điều
này gây khó khăn cho việc xác định lãi
suất cho vay, tính số tiền thu lợi bất chính
cũng như việc thu thập chứng cứ để xác
định căn cứ truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với người phạm tội dù trên thực tế
họ đã thực hiện hành vi cho vay lãi nặng
thỏa mãn quy định của pháp luật hình
sự. Thậm chí, trong một số trường hợp,
người vay còn bị người cho vay lãi nặng
khởi kiện ngược lại để đòi số tiền đã cho
vay lãi nặng. Tức là, họ vừa có thể không
bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
hành vi phạm tội của mình, vừa có khả
năng đòi được số tiền đã cho vay lãi nặng
cùng với số tiền lãi thu lợi bất chính. Điều
này làm cho việc xử lý loại tội phạm này
càng khó khăn hơn trên thực tế.
Mặt khác, cho vay lãi nặng thường
diễn ra trên phạm vi rộng liên xã, huyện,
thậm chí ở nhiều tỉnh khác nhau nên việc
điều tra gặp nhiều khó khăn, nhất là trong
những trường hợp hành vi cho vay ở mỗi
địa phương không đủ định lượng về giá
trị tiền thu lợi bất chính thì việc chứng
minh hành vi phạm tội lại càng khó khăn
hơn. Ngoài ra, thông thường người phạm
tội cho vay đối với nhiều người, không
ghi lại địa chỉ cụ thể đối với người vay;
Phổ biến hiện nay là trường hợp trong
hợp đồng vay tài sản không ghi thỏa thuận
về lãi suất, chỉ ghi ngày vay mà không ghi
thời hạn trả, số tiền lãi được gộp luôn vào
với tiền gốc thành số tiền ghi trong hợp
đồng, tức là thực tế người vay phải trả
lãi suất với mức rất cao nhưng hợp đồng
không thể hiện là có thỏa thuận về lãi suất có trường hợp chứng cứ chỉ là lời khai
Số chuyên đề 03 - 2020 Khoa học Kiểm sát 15
MẶT KHÁCH QUAN CỦA TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH...
của người vay, không đối chất được với mặt thời gian”. Bởi vì, hành vi cho vay lãi
đối tượng cho vay vì sau khi bị phát hiện nặng được thực hiện với thời gian, mức
thì đối tượng đã bỏ đi khỏi địa phương,... độ, tần suất như thế nào để được coi là
Đồng thời, tội cho vay nặng lãi là loại tội ít “liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian”
nghiêm trọng nên thời gian tạm giam các thì văn bản hướng dẫn này cũng như các
đối tượng hoạt động này để điều tra cũng văn bản pháp luật khác đều chưa nêu rõ.
bị hạn chế, do đó một số vụ án phải tạm Vì vậy, việc áp dụng quy định này sẽ phụ
đình chỉ điều tra vì chưa làm việc được thuộc vào nhận định chủ quan của các cơ
với bị can do không biết rõ địa chỉ của bị quan, người tiến hành tố tụng ở mỗi địa
can. Việc chứng minh hành vi phạm tội vì phương. Điều này dẫn đến việc áp dụng
vậy không thể thực hiện được hoặc thực không thống nhất về cùng một quy định.
hiện chưa đầy đủ.
Do đó, việc giải thích rõ thuật ngữ này
chính là yêu cầu cấp thiết đặt ra cho các
cơ quan có thẩm quyền.
Bên cạnh đó, còn có khó khăn trong
việc xác định số tiền thu lợi bất chính
để xác định trách nhiệm hình sự. Giải
quyết vướng mắc này, Công văn số 212/
TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của Tòa án
nhân dân tối cao thông báo kết quả giải
đáp trực tuyến một số vướng mắc trong
xét xử đã nêu rõ: Khoản tiền thu lợi bất
chính để xác định trách nhiệm hình sự
là khoản tiền lãi thu được sau khi trừ đi
tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự
năm 2015 mà không phải là tổng số tiền
lãi thu được từ việc cho vay. Như vậy,
tiền thu lợi bất chính để buộc người cho
vay phải chịu trách nhiệm hình sự được
xác định là số tiền lãi thu được từ mức
lãi suất trên 20%/năm trở lên. Công văn
này cũng đã xác định, trong trường hợp
người phạm tội cho nhiều người khác vay
tiền thì khoản tiền thu lợi bất chính để xác
định trách nhiệm hình sự là tổng số tiền
lãi mà người phạm tội thu được của tất cả
những người vay nếu hành vi cho vay lãi
nặng được thực hiện một cách liên tục, kế
tiếp nhau về mặt thời gian,... Tuy nhiên,
hướng dẫn này đặt ra một vấn đề gây ra
nhiều cách hiểu và dẫn đến cách áp dụng
không thống nhất trên thực tế, đó là quy
định “hành vi cho vay lãi nặng được thực
hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về
3. Kết luận
Chỉ khi xác định trong hành vi có dấu
hiệu khách quan của tội phạm thì vấn đề
xem xét mặt chủ quan và các yếu tố khác
của cấu thành tội phạm mới được đặt ra.
Việc nghiên cứu mặt khách quan có ý
nghĩa quyết định trong việc định tội đối
với tội cho vay lãi nặng trong giao dịch
dân sự./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật hình sự năm 1999.
2. Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ
sung năm 2017).
3. Bộ luật dân sự năm 2015.
4. TS. Nguyễn Đức Mai (chủ biên) (2018),
Bình luận khoa học Bộ luật hình sự hiện hành (sửa
đổi, bổ sung năm 2017), NXB Chính trị quốc gia
sự thật, Hà Nội.
5. PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa (2005), Tội
phạm và cấu thành tội phạm (sách chuyên khảo),
NXB Công an nhân dân, Hà Nội.
6. Trường Đại học Luật Hà Nội (2010),
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, tập 1, NXB
Công an nhân dân.
7. Bản án 77/2019/HSST ngày 17/10/2019
của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh
Bình Phước về tội cho vay lãi nặng trong giao
dịch dân sự.
16 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 03 - 2020
Bạn đang xem tài liệu "Mặt khách quan của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mat_khach_quan_cua_toi_cho_vay_lai_nang_trong_giao_dich_dan.pdf

