Mặt khách quan của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

MẶT KHÁCH QUAN CỦA TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH...  
DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015  
(SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2017)  
LÊ THỊ MINH THƯ*  
Bài viết phân tích về mặt khách quan của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự  
theo quy định của Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung (SĐ, BS) năm 2017)  
và một số khó khăn vướng mắc trên thực tế khi xác định các yếu tố thuộc mặt khách quan  
để định tội đối với tội danh này.  
Từ khóa: Cho vay lãi nặng, giao dịch dân sự, mặt khách quan, tội phạm.  
Ngày nhận bài: 07/9/2020; Biên tập xong: 14/9/2020; Duyệt đăng: 15/9/2020  
The article analyzes actus reus (objective element) of the Crime of usury in civil  
transactions according to the 2015 Penal Code (amended and supplemented in 2017) as  
well as several difficulties in identifying factors in actus reus to convict for usury in civil  
transactions.  
Keywords: Usury, civil transactions, actus reus, crimes.  
1. Dẫn nhập  
lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới  
100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi  
phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị  
kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà  
còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000  
đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải  
tạo không giam giữ đến 03 năm. Phạm tội  
mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở  
lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến  
1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng  
đến 03 năm”. Mặt khách quan của tội cho  
vay lãi nặng trong giao dịch dân sự cũng  
như của các tội phạm khác bao gồm: hành  
vi khách quan nguy hiểm cho xã hội; hậu  
quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi đó  
gây ra; mối quan hệ nhân quả giữa hành  
vi và hậu quả; những điều kiện bên ngoài  
của việc thực hiện hành vi phạm tội như  
công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ  
đoạn thực hiện tội phạm và thời gian,  
“Mặt khách quan của tội phạm là mặt  
bên ngoài của tội phạm, bao gồm những  
biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc  
tồn tại bên ngoài thế giới khách quan”1.  
Tội phạm cụ thể nào cũng đều phải có  
những biểu hiện bên ngoài, nếu không  
có những biểu hiện bên ngoài thì không  
có những yếu tố khác của tội phạm và  
cũng sẽ không có tội phạm. Cũng như  
các dấu hiệu khác trong cấu thành tội  
phạm, mặt khách quan chứa đựng trong  
quy định của pháp luật. Mặt khách quan  
của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch  
dân sự được mô tả tại Điều 201 BLHS  
năm 2015 (SĐ, BS năm 2017): “Người  
nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với  
lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất  
cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu  
hoàn cảnh, địa điểm xảy ra tội phạm,…  
2
1ꢀ Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình  
Luật hình sự Việt Nam, tập 1, NXB Công an nhân  
dân, tr 99.  
* ꢀThạc sĩ, Khoa Luật - Trường Đại học Công nghệ  
Thành phố Hồ Chí Minh  
10 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
LÊ THỊ MINH THƯ  
2. Những biểu hiện của mặt khách  
quan của tội cho vay lãi nặng trong giao  
dịch dân sự theo quy định của BLHS  
năm 2015 (SĐ, BS năm 2017)  
việc cho vay được thực hiện một cách tinh  
vi hơn, người cho vay lợi dụng hoàn cảnh  
khó khăn của người vay để ép họ ký vào  
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng  
đất hay mua bán tài sản để khi đến hạn  
mà người vay chưa trả được số tiền gốc  
và lãi thì người cho vay làm thủ tục sang  
tên quyền sử dụng đất hoặc tài sản và bán  
tài sản đó. Thậm chí, hiện nay có những  
trường hợp người cho vay dùng những  
hợp đồng đó để khởi kiện ra Tòa án để đòi  
nợ hay tố cáo người vay tại cơ quan Công  
an. Tuy nhiên, hành vi này chỉ cấu thành  
tội phạm nếu người phạm tội thu lợi bất  
chính từ 30.000.000 đồng trở lên hoặc đã  
bị xử phạt vi phạm hành chính về hành  
vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa  
được xóa án tích mà còn vi phạm.  
Theo quy định của pháp luật hình  
sự, yếu tố quyết định để xác định hành  
vi nhằm định tội đối với tội cho vay lãi  
nặng trong giao dịch dân sự là “Cho vay  
với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức  
lãi suất cao nhất quy định trong BLDS”.  
Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự (BLDS)  
năm 2015 quy định mức lãi suất trong  
hợp đồng vay như sau: “Lãi suất vay do  
các bên thꢀa thuận. Trường hợp các bên có  
thꢀa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thꢀa  
thuận không được vượt quá 20%/năm của  
khoản tiền vay, trừ trường hợp pháp luật liên  
quan có quy định khác. Căn cứ tình hình thực  
tế và theo đề xuất của Chính phủ, ꢁy ban  
thường vụ Quốc hội quyết định điều chꢂnh  
mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại  
kꢃ họp gần nhất. Trường hợp lãi suất theo  
thꢀa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được  
quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt  
quá không có hiệu lực”. Theo quy định này,  
Nhà nước cho phép các bên thỏa thuận  
lãi suất vay nhưng mức lãi suất đó không  
được vượt quá mức trần lãi suất tối đa  
là 20%/năm hoặc 1,666%/tháng (20%/12  
tháng) của khoản tiền vay.  
2.1. Hành vi khách quan của tội cho  
vay lãi nặng trong giao dịch dân sự  
Trong mặt khách quan, hành vi khách  
quan là biểu hiện cơ bản nhất và là dấu  
hiệu bắt buộc. Những biểu hiện khác của  
mặt khách quan như công cụ, phương  
tiện, địa điểm, thời gian phạm tội,… chỉ  
có ý nghĩa khi có hành vi khách quan. Bên  
cạnh đó, “những nội dung biểu hiện của mặt  
chủ quan là lỗi, mục đích, động cơ cũng luôn  
2
1
gắn với hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể” .  
Trong khoa học luật hình sự, “hành vi được  
hiểu là những “biểu hiện” của con người ra  
bên ngoài thế giới khách quan dưới những  
hình thức cụ thể nhằm đạt những mục đích có  
3
2
chủ định và mong muốn” . Theo quy định  
tại Điều 201 BLHS năm 2015 (SĐ, BS năm  
2017), hành vi khách quan của tội cho vay  
lãi nặng trong giao dịch dân sự là “hành vi  
cho người khác vay (tiền, vàng, ngoại tệ) với  
lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao  
4
3
nhất quy định trong Bộ luật dân sự” . Hành  
vi cho vay có thể được thể hiện bằng nhiều  
dạng khác nhau, người cho vay và người  
vay có thể thỏa thuận bằng một hợp đồng  
viết, nhưng cũng có thể chỉ bằng một hợp  
đồng miệng. Nếu tồn tại hợp đồng viết  
thường cũng chỉ đơn giản là giấy viết tay  
xác nhận việc vay nợ mà không được công  
chứng. Hiện nay, trong một số trường hợp  
2
PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa (2005), Tội phạm và  
cấu thành tội phạm (sách chuyên khảo), NXB Công  
an nhân dân, Hà Nội, tr.59.  
3ꢀ Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình  
Luật hình sự Việt Nam, tập 1, NXB Công an nhân  
dân, tr 101 - 102.  
4ꢀ TS. Nguyễn Đức Mai (chủ biên) (2018), Bình  
luận khoa học Bộ luật hình sự hiện hành (sửa đổi, bổ  
sung năm 2017), NXB Chính trị quốc gia sự thật,  
Hà Nội, tr 520.  
Số chuyên đề 03 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 11  
MẶT KHÁCH QUAN CỦA TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH...  
Như vậy, lãi suất cao nhất quy định trong quản lý nhà nước đối với hoạt động  
trong BLDS là 20%/năm hoặc 1,666%/  
tháng. Từ đó có thể hiểu, lãi suất gấp 05 lần  
trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định  
trong BLDS là lãi suất ở mức 100%/năm  
hoặc 8,33%/tháng trở lên. Nếu hành vi cho  
vay được thực hiện với lãi suất vay ở mức  
này trở lên thì có thể cấu thành tội cho vay  
lãi nặng trong giao dịch dân sự khi và chỉ  
khi kết hợp với một trong ba yếu tố khác  
theo quy định tại Điều 201 BLHS năm  
2015 (SĐ, BS năm 2017). Các yếu tố đó bao  
gồm: người phạm tội thu lợi bất chính từ  
30.000.000 đồng trở lên; người phạm tội  
đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành  
vi này; người phạm tội đã bị kết án về  
tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi  
phạm. Như vậy, ba hành vi cấu thành tội  
danh này sẽ là: cho vay với lãi suất 100%/  
năm hoặc 8,33%/tháng trở lên và thu lợi  
bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên; cho  
vay với lãi suất 100%/năm hoặc 8,33%/  
tháng trở lên mà trước đó đã bị xử phạt vi  
phạm hành chính về hành vi này; cho vay  
với lãi suất 100%/năm hoặc 8,33%/tháng  
trở lên mà trước đó đã bị kết án về tội này,  
chưa được xóa án tích. Trong đó, khoản  
tiền thu lợi bất chính để xác định trách  
nhiệm hình sự đối với người phạm tội là  
số tiền lãi thu được sau khi trừ đi số tiền  
lãi tương ứng với mức lãi suất theo quy  
định của BLDS. Trường hợp người phạm  
tội thực hiện hành vi cho vay lãi nặng đối  
với nhiều người thì khoản tiền thu lợi bất  
chính để xác định trách nhiệm hình sự là  
tổng số tiền lãi mà người phạm tội thu  
được của tất cả những người vay, nếu các  
hành vi cho vay lãi nặng được thực hiện  
một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời  
gian; tình tiết đã bị xử phạt vi phạm hành  
chính về hành vi cho vay lãi nặng mà còn  
vi phạm hiện tại còn tương đối khó khăn  
để áp dụng vì chưa có văn bản để quản lý  
và xem xét xử lý hành chính đối với hành  
tín dụng phi chính thức này; “đã bị kết án  
về tội này, chưa được xóa án tích mà còn  
vi phạm” nghĩa là người thực hiện hành  
vi cho vay lãi nặng đã bị kết án về Tội cho  
vay lãi nặng theo quy định tại Điều 163  
BLHS năm 1999 (SĐ, BS năm 2009) hoặc  
Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân  
sự theo quy định tại Điều 201 BLHS năm  
2015 (SĐ, BS năm 2017) chưa được xóa án  
tích theo quy định tại các Điều 70, Điều 71  
và Điều 72 BLHS.  
Hiện nay, các đối tượng cho vay lãi  
nặng thường thực hiện thông qua các  
đường dây một cách chuyên nghiệp, cho  
vay số tiền không lớn nhưng thực hiện  
nhiều lần, cho nhiều người vay như vụ  
án sau:  
Khi cho vay, các bị can quy định 08 cách  
thức cho vay trả góp được tính như sau: vay  
trả góp các gói 31 ngày, 35 ngày, 38 ngày, 41  
ngày, 42 ngày, 50 ngày, 52 ngày, 53 ngày. Tùy  
vàonhucầucủangườivaynhưngsốtiềncho  
vay thấp nhất là năm triệu đồng, cao nhất là  
ba mươi triệu đồng. Hình thức cho vay trả  
góp: Nếu vay số tiền 5.000.000 đồng, người  
vay phải trả góp trong vòng 31 ngày, mỗi  
ngày 200.000 đồng gồm tiền gốc là 162.000  
đồng/ngày và tiền lãi là 38.000 đồng/ngày.  
Tổng số tiền gốc và lãi người vay phải trả  
trong vòng 31 ngày là số tiền 6.200.000 đồng.  
Nếu vay số tiền 20.000.000 đồng, người vay  
trả góp từ 31 ngày đến 42 ngày. Tức là từ  
600.000 đồng/ngày đến 800.000 đồng/ngày.  
Như vậy, Nguyễn Văn C và Phạm Văn T  
cho vay tiền với mức lãi suất là 23,23%/  
tháng, tương đương 278,76%/năm, tức là  
cao gấp 13,94 lần của mức lãi suất cao nhất  
mà pháp luật quy định là 1,666%/tháng. Khi  
đưa tiền cho người vay, nếu vay 5.000.000  
đồng thì T và C thu trước 02 ngày với số  
tiền 400.000 đồng, số tiền còn lại người vay  
phải trả trong thời gian 29 ngày tiếp theo,  
vi cho vay lãi nặng. Đây là một hạn chế mỗi ngày 200.000 đồng. Còn vay 20.000.000  
12 Khoa học Kiểm sát Số chuyên đề 03 - 2020  
LÊ THỊ MINH THƯ  
đồng thì T và C thu trước 2 ngày với số tiền độ nguy hiểm của hành vi cho vay lãi  
nặng khi quyết định hình phạt.  
1.600.000 đồng, số tiền còn lại người vay  
phải trả trong vòng 29 ngày tiếp theo. Trong  
thời gian từ tháng 4 năm 2018 đến ngày 02  
tháng 4 năm 2019, tại huyện Lộc Ninh các bị  
can Nguyễn Văn C, Phạm Văn T đã cho 21  
2.3. Các dấu hiệu khác của mặt khách  
quan của tội cho vay lãi nặng trong giao  
dịch dân sự  
Ngoài những hành vi nguy hiểm cho  
xã hội thì mặt khách quan của tội phạm  
này còn có các dấu hiệu khác như phương  
tiện phạm tội, phương pháp, thủ đoạn,  
thời gian, địa điểm và hoàn cảnh phạm  
tội. Các hình thức cho vay lãi nặng có  
thể được biểu hiện qua nhiều dạng khác  
nhau, người cho vay và người vay có thể  
bằng một hợp đồng viết (rất ít được thực  
hiện trên thực tế) hoặc có thể cho vay tiền  
chỉ bằng một hợp đồng miệng hoặc chỉ  
ghi số tiền vay vào sổ và người vay ký  
nhận. Nếu có biên nhận thì thường không  
ghi lãi suất, không ghi thời gian vay mà  
chỉ ghi một ngày bao nhiêu tiền lãi, ví dụ:  
vay 1.000.000 đồng thì lãi suất 5.000 đồng  
(tương đương lãi suất 180%/năm hay 15%/  
tháng) hoặc vay 8.000.000 đồng thì lãi suất  
40.000 đồng (tương đương lãi suất 180%/  
năm hay 15%/tháng)…  
Trên thực tế, người vay tiền chỉ cần  
một khoảng thời gian rất ngắn đã có tiền  
mà không phải mất nhiều thời gian, thủ  
tục hết sức đơn giản chỉ cần phô tô chứng  
minh nhân dân, hộ khẩu, bằng lái xe, giấy  
khai sinh, giấy đăng ký kết hôn, thẻ sinh  
viên,… Ngoài ra, người vay không cần  
công chứng hợp đồng hay chứng minh thu  
nhập, không cần thế chấp tài sản, đang có  
nợ xấu ở các công ty tài chính thì vẫn tiếp  
tục được vay. Đối với những khách hàng  
có uy tín, trả tiền vay đúng hạn thì trong  
các lần vay tiếp theo các đối tượng này  
sẽ cho vay với số tiền cao hơn nhiều lần,  
áp dụng hình thức cho vay trả góp với lãi  
suất rất cao. Đây là những ưu đãi cần thiết,  
dễ dàng cho những người cần tiền kinh  
doanh, để đáo hạn khoản vay trước hoặc  
để tiêu dùng cá nhân trong cuộc sống.  
người dân vay tiền, tổng cộng 47 lần vay.5  
1
2.2. Hậu quả của hành vi cho vay lãi  
nặng trong giao dịch dân sự  
Hậu quả của hành vi cho vay lãi nặng  
có thể là những thiệt hại vật chất hoặc  
phi vật chất. Thiệt hại về vật chất của  
hành vi cho vay lãi nặng là gây thiệt hại  
cho người vay, làm cho người vay phải  
chịu mức lãi suất quá cao, số tiền lãi quá  
lớn, có thể dẫn đến không có tiền để trả.  
Khi người vay không trả được nợ, người  
cho vay sẽ có những hành vi phạm pháp  
để đòi nợ như cố ý gây thương tích, hủy  
hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản,…  
hoặc có hành vi khủng bố tinh thần như  
tạt sơn, chất bẩn,… Điều này khiến cho  
người đi vay và người thân của họ luôn  
trong tình trạng lo lắng, áp lực trả nợ,  
túng quẫn, gây ra các hành vi phạm  
pháp khác, thậm chí dẫn đến người đi  
vay phải tự tử. Hành vi cho vay lãi nặng  
còn gây ra những thiệt hại phi vật chất  
rất lớn cho xã hội, gây bất an đối với  
người dân, bất lực đối với nhà quản lý,  
ngoài ra còn đưa đến nhiều hệ lụy khôn  
lường khác cho người dân, cho xã hội  
như các băng nhóm “xã hội đen”, đòi nợ  
thuê liên tục được mở rộng tràn lan, trật  
tự trị an xã hội bị ảnh hưởng,… Đối với  
tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân  
sự thì hậu quả không phải là dấu hiệu  
bắt buộc trong cấu thành tội phạm này.  
Tuy nhiên, việc xác định hậu quả có ý  
nghĩa trong việc đánh giá tính chất, mức  
5ꢀ Bản án 77/2019/HSST ngày 17/10/2019 của Tòa án  
nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước về tội  
cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.  
Số chuyên đề 03 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 13  
MẶT KHÁCH QUAN CỦA TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH...  
Một hình thức cho vay lãi nặng nữa bị xử lý rất ít, có nhiều địa phương tuy  
được xác định có hành vi phạm tội này  
xảy ra nhưng hàng năm không có vụ án  
nào về tội danh này được xử lý. Điều này  
làm cho loại tội phạm này ngày càng lan  
rộng trong xã hội, gây ra hậu quả ngày  
càng lớn và trở thành “vấn nạn” của xã  
hội. Trước tình hình đó, một loạt các văn  
bản pháp luật mới được các cơ quan có  
thẩm quyền ban hành nhằm mục đích  
giải quyết vấn nạn về loại tội phạm này  
một cách đồng bộ. Trong đó, Thủ tướng  
Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 12/CT-  
TTg ngày 25/4/2019 về tăng cường phòng  
ngừa, đấu tranh với tội phạm và vi phạm  
pháp luật liên quan đến hoạt động “tín  
dụng đen”. Ngay sau đó, các cơ quan  
có thẩm quyền có liên quan cũng đã ban  
hành các văn bản để triển khai như: Quyết  
định số 1178/QĐ-NHNN của Thống đốc  
Ngân hàng Nhà nước về kế hoạch hành  
động của ngành Ngân hàng triển khai Chỉ  
thị 12/CT-TTg; Kế hoạch số 3501/KH-BNV  
ngày 31/7/2019 của Bộ Nội vụ về phòng  
ngừa, đấu tranh với tội phạm và vi phạm  
pháp luật liên quan đến hoạt động “tín  
dụng đen”; Viện kiểm sát nhân dân tối  
cao ban hành Chỉ thị số 3402/VKSTC-V2  
ngày 31/7/2019 về triển khai thực hiện Chỉ  
thị số 12/CT-TTg về tăng cường phòng  
ngừa, đấu tranh với tội phạm và vi phạm  
pháp luật liên quan đến hoạt động “tín  
dụng đen”. Hiện nay, việc xử lý đối với  
loại tội phạm này đã được chú trọng hơn,  
số vụ án đã tăng lên nhưng thực tế vẫn  
chưa tương xứng với số lượng vụ việc  
xảy ra trên thực tế. Tình trạng này xuất  
phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có  
nguyên nhân là việc xác định các yếu tố  
thuộc mặt khách quan của tội cho vay lãi  
nặng trong giao dịch dân sự trên thực tế  
không dễ dàng mặc dù quy định của pháp  
luật hình sự đã có nhiều sửa đổi, bổ sung.  
mà hiện nay khá phổ biến là thông qua  
các hình thức hụi, họ, biêu, phường.  
Phương pháp thủ đoạn cho vay lãi nặng  
hiện nay được thực hiện hết sức tinh vi và  
phức tạp. Bên cho vay thường hoạt động  
công khai dưới vỏ bọc của hoạt động kinh  
doanh được cấp phép hợp pháp như dịch  
vụ cầm đồ, công ty tư vấn đầu tư, dịch  
vụ tài chính với những chiêu trò quảng  
cáo “kết nối khách hàng – ngân hàng”, hỗ  
trợ vay vốn, cho vay tiêu dùng, cho thuê  
tài sản, thông qua việc in các tờ rơi quảng  
cáo cho vay tiền rồi tiến hành đi treo, dán,  
thả trên các tuyến đường; sử dụng mạng  
xã hội hoặc tạo ứng dụng phần mềm trên  
điện thoại nhằm mục đích quảng cáo và  
cho vay tiền; tạo ra các ứng dụng chạy  
trên điện thoại di động để cho vay tiền qua  
mạng như “Vaytocdo”, “Moreloan”, “VD  
online”… Các đối tượng cho vay thường  
không thể hiện mức lãi suất cụ thể trên các  
hợp đồng. Khi người vay không trả được  
nợ theo thỏa thuận, các đối tượng không  
từ bỏ thủ đoạn nào để có thể đòi tiền vay.  
Hành vi cho vay lãi nặng hiện nay không  
chỉ tập trung vào các thành phố lớn, nơi  
kinh tế phát triển mà đã len lỏi vào mọi  
ngóc ngách, từ thành thị tới nông thôn với  
các “chân rết” ở khắp các tỉnh thành trên  
cả nước. Thủ đoạn mà người phạm tội sử  
dụng thường là lợi dụng hoàn cảnh khó  
khăn đột xuất của người đi vay như bị  
thiệt hại do thiên tai, bệnh tật hoặc những  
khó khăn khác cần gấp một số tiền để  
trang trải nên người cho vay đã ép buộc  
để người đi vay phải chịu lãi suất rất cao,  
gấp nhiều lần so với lãi suất do Nhà nước  
quy định.  
3. Thực tiễn xác định mặt khách quan  
và khó khăn, vướng mắc  
Trong những năm vừa qua, hành vi  
cho vay lãi nặng trên thực tế xảy ra tương  
Trước hết, việc phát hiện, chứng minh  
đối nhiều nhưng số vụ án về tội danh này hành vi phạm tội trên thực tế gặp nhiều  
14 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
LÊ THỊ MINH THƯ  
khó khăn. Việc cho vay thường chỉ có hai cũng như mức lãi suất và số tiền lãi mà  
bên biết với nhau, nếu người vay không tố người vay phải trả. Khi đến thời hạn trả  
cáo thì cơ quan có thẩm quyền rất khó để đã ngầm thỏa thuận hoặc đến một thời  
phát hiện, xử lý. Tuy nhiên, tâm lý chung  
của người vay là e sợ, không dám tố cáo vì  
sợ thế lực của người cho vay, sợ bị trả thù  
hoặc nghĩ rằng mình đã tự thỏa thuận vay  
thì mình phải chịu. Vì vậy, số trường hợp  
người dân tố cáo về hành vi cho vay lãi  
nặng không nhiều. Chỉ khi sự việc bị phát  
hiện, khi người vay bị đe dọa, bắt giữ,  
đánh đập, khủng bố tinh thần, bị đe dọa  
về tính mạng,… mới tố cáo đến cơ quan có  
thẩm quyền, trên cơ sở đó mới có thể xử  
lý được hành vi vi phạm. Ngoài ra, phần  
lớn nạn nhân vẫn lẳng lặng trả nợ, tự thu  
xếp với nhau nên cơ quan có thẩm quyền  
không thể xử lý. Bên cạnh đó, khi biết về  
vụ việc thì việc phát hiện, thu thập, củng  
cố chứng cứ để chứng minh hành vi phạm  
tội cũng gặp nhiều khó khăn do các bên  
thường thỏa thuận việc vay mượn bằng  
miệng hoặc các hợp đồng giả không thể  
hiện lãi suất thực tế, nếu có hợp đồng thì  
các đối tượng thường cất giấu hợp đồng ở  
những nơi kín đáo, dễ tiêu hủy, sử dụng  
mạng xã hội để chốt hợp đồng. Hơn nữa,  
các đối tượng còn sử dụng nhiều “chiêu  
trò” để lách luật như: thu tiền gốc trước,  
nếu người vay trả hết gốc thì chuyển lãi  
thành gốc nên khi bị phát hiện không thể  
kết luận các đối tượng thu lời từ lãi; hoặc  
sử dụng thủ đoạn trong lập hợp đồng  
vay: không thể hiện lãi suất; lợi dụng công  
nghệ thông tin, phần mềm, ứng dụng điện  
thoại để cho vay nên khó xác định người  
cho vay,…  
gian nhất định mà người vay chưa trả nợ  
thì người cho vay yêu cầu người vay phải  
ký tiếp hợp đồng vay. Trường hợp này sẽ  
có nhiều hợp đồng được ký thay thế nhau  
mà số tiền vay ghi trong hợp đồng sau  
chính là số tiền gốc cho vay của hợp đồng  
trước cộng với số tiền lãi mà người vay  
chưa trả. Trong những trường hợp như  
vậy, số tiền lãi thực tế người vay phải trả  
là rất lớn với lãi suất rất cao, vượt quá quy  
định của pháp luật rất nhiều lần nhưng  
hợp đồng vay không hề ghi nhận. Điều  
này gây khó khăn cho việc xác định lãi  
suất cho vay, tính số tiền thu lợi bất chính  
cũng như việc thu thập chứng cứ để xác  
định căn cứ truy cứu trách nhiệm hình  
sự đối với người phạm tội dù trên thực tế  
họ đã thực hiện hành vi cho vay lãi nặng  
thỏa mãn quy định của pháp luật hình  
sự. Thậm chí, trong một số trường hợp,  
người vay còn bị người cho vay lãi nặng  
khởi kiện ngược lại để đòi số tiền đã cho  
vay lãi nặng. Tức là, họ vừa có thể không  
bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với  
hành vi phạm tội của mình, vừa có khả  
năng đòi được số tiền đã cho vay lãi nặng  
cùng với số tiền lãi thu lợi bất chính. Điều  
này làm cho việc xử lý loại tội phạm này  
càng khó khăn hơn trên thực tế.  
Mặt khác, cho vay lãi nặng thường  
diễn ra trên phạm vi rộng liên xã, huyện,  
thậm chí ở nhiều tỉnh khác nhau nên việc  
điều tra gặp nhiều khó khăn, nhất là trong  
những trường hợp hành vi cho vay ở mỗi  
địa phương không đủ định lượng về giá  
trị tiền thu lợi bất chính thì việc chứng  
minh hành vi phạm tội lại càng khó khăn  
hơn. Ngoài ra, thông thường người phạm  
tội cho vay đối với nhiều người, không  
ghi lại địa chỉ cụ thể đối với người vay;  
Phổ biến hiện nay là trường hợp trong  
hợp đồng vay tài sản không ghi thỏa thuận  
về lãi suất, chỉ ghi ngày vay mà không ghi  
thời hạn trả, số tiền lãi được gộp luôn vào  
với tiền gốc thành số tiền ghi trong hợp  
đồng, tức là thực tế người vay phải trả  
lãi suất với mức rất cao nhưng hợp đồng  
không thể hiện là có thỏa thuận về lãi suất có trường hợp chứng cứ chỉ là lời khai  
Số chuyên đề 03 - 2020 Khoa học Kiểm sát 15  
MẶT KHÁCH QUAN CỦA TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH...  
của người vay, không đối chất được với mặt thời gian”. Bởi vì, hành vi cho vay lãi  
đối tượng cho vay vì sau khi bị phát hiện nặng được thực hiện với thời gian, mức  
thì đối tượng đã bỏ đi khỏi địa phương,... độ, tần suất như thế nào để được coi là  
Đồng thời, tội cho vay nặng lãi là loại tội ít “liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian”  
nghiêm trọng nên thời gian tạm giam các thì văn bản hướng dẫn này cũng như các  
đối tượng hoạt động này để điều tra cũng văn bản pháp luật khác đều chưa nêu rõ.  
bị hạn chế, do đó một số vụ án phải tạm Vì vậy, việc áp dụng quy định này sẽ phụ  
đình chỉ điều tra vì chưa làm việc được thuộc vào nhận định chủ quan của các cơ  
với bị can do không biết rõ địa chỉ của bị quan, người tiến hành tố tụng ở mỗi địa  
can. Việc chứng minh hành vi phạm tội vì phương. Điều này dẫn đến việc áp dụng  
vậy không thể thực hiện được hoặc thực không thống nhất về cùng một quy định.  
hiện chưa đầy đủ.  
Do đó, việc giải thích rõ thuật ngữ này  
chính là yêu cầu cấp thiết đặt ra cho các  
cơ quan có thẩm quyền.  
Bên cạnh đó, còn có khó khăn trong  
việc xác định số tiền thu lợi bất chính  
để xác định trách nhiệm hình sự. Giải  
quyết vướng mắc này, Công văn số 212/  
TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của Tòa án  
nhân dân tối cao thông báo kết quả giải  
đáp trực tuyến một số vướng mắc trong  
xét xử đã nêu rõ: Khoản tiền thu lợi bất  
chính để xác định trách nhiệm hình sự  
là khoản tiền lãi thu được sau khi trừ đi  
tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự  
năm 2015 mà không phải là tổng số tiền  
lãi thu được từ việc cho vay. Như vậy,  
tiền thu lợi bất chính để buộc người cho  
vay phải chịu trách nhiệm hình sự được  
xác định là số tiền lãi thu được từ mức  
lãi suất trên 20%/năm trở lên. Công văn  
này cũng đã xác định, trong trường hợp  
người phạm tội cho nhiều người khác vay  
tiền thì khoản tiền thu lợi bất chính để xác  
định trách nhiệm hình sự là tổng số tiền  
lãi mà người phạm tội thu được của tất cả  
những người vay nếu hành vi cho vay lãi  
nặng được thực hiện một cách liên tục, kế  
tiếp nhau về mặt thời gian,... Tuy nhiên,  
hướng dẫn này đặt ra một vấn đề gây ra  
nhiều cách hiểu và dẫn đến cách áp dụng  
không thống nhất trên thực tế, đó là quy  
định “hành vi cho vay lãi nặng được thực  
hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về  
3. Kết luận  
Chỉ khi xác định trong hành vi có dấu  
hiệu khách quan của tội phạm thì vấn đề  
xem xét mặt chủ quan và các yếu tố khác  
của cấu thành tội phạm mới được đặt ra.  
Việc nghiên cứu mặt khách quan có ý  
nghĩa quyết định trong việc định tội đối  
với tội cho vay lãi nặng trong giao dịch  
dân sự./.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ luật hình sự năm 1999.  
2. Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ  
sung năm 2017).  
3. Bộ luật dân sự năm 2015.  
4. TS. Nguyễn Đức Mai (chủ biên) (2018),  
Bình luận khoa học Bộ luật hình sự hiện hành (sửa  
đổi, bổ sung năm 2017), NXB Chính trị quốc gia  
sự thật, Hà Nội.  
5. PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa (2005), Tội  
phạm và cấu thành tội phạm (sách chuyên khảo),  
NXB Công an nhân dân, Hà Nội.  
6. Trường Đại học Luật Hà Nội (2010),  
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, tập 1, NXB  
Công an nhân dân.  
7. Bản án 77/2019/HSST ngày 17/10/2019  
của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh  
Bình Phước về tội cho vay lãi nặng trong giao  
dịch dân sự.  
16 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 03 - 2020  
pdf 7 trang Thùy Anh 13860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mặt khách quan của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmat_khach_quan_cua_toi_cho_vay_lai_nang_trong_giao_dich_dan.pdf