Những yêu cầu của pháp luật hợp đồng trong hội nhập quốc tế và cách mạng công nghệ 4.0

NHỮNG YÊU CẦU CỦA PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG TRONG HỘI NHẬP  
QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ 4.0  
Hồ Ngọc Hiển*  
Nguyễn Văn Quân**  
Người phản biện: PGS.TS. Đoàn Đức Lương  
Tóm tắt: Pháp luật hợp đồng có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã  
hội của mỗi quốc gia, là cơ sở pháp lý để bảo đảm lợi ích riêng của mỗi cá nhân cũng  
nhƣ duy trì lợi ích chung của cộng đồng và toàn xã hội. Trong bối cảnh hội nhập quốc  
tế, pháp luật hợp đồng phải đáp ứng một số tiêu chí nhất định. Bài viết phân tích các  
yêu cầu của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cách  
mạng 4.0. Từ đó, bài viết đƣa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật hợp đồng  
Việt Nam.  
Từ khoá: Pháp luật hợp đồng; hội nhập quốc tế; cách mạng công nghiệp 4.0; an  
toàn pháp lý; tính ổn định; tính thống nhất.  
Résume:  
Le droit du contrat joue un rôle important dans la vie socio-économique de  
chaque pays et constitue un fondement juridique pour garantir les intérêts individuels  
ainsi que pour préserver les intérêts communs de la communauté. Dans le contexte de  
l'intégration international et de la revolution industrielle 4.0, le droit des contrats doit  
répondre à certains critères. L‟article analyse les exigences du droit Vietnamien des  
contrats dans le contexte de l'intégration internationale et de la revolution industrielle 4  
et à partir desquelles, l‟article propose quelques suggestions pour améliorer le droit du  
contrat.  
Mots-clés : Droit du contrat; intégration internationalele ; révolution industrielle  
4.0 ; sécurité juridique ; stabilité ; cohérence  
1. Hội nhập quốc tế, cách mạng công nghiệp 4.0 và thách thức đặt ra  
Hội nhập quốc tế thúc đẩy sự tham gia ngày càng sâu rộng trong nền kinh tế thế  
giới, cũng nhƣ chịu sự tác động của các xu hƣớng phát triển của khoa học, công nghệ.  
Một trong những biến đổi của khoa học, công nghệ có tác động mạnh mẽ tới pháp luật  
* TS., Học viện Khoa học xã hội  
** TS., Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội  
281  
hiện nay là cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ, với sự bùng nổ của ứng dụng trí tuệ  
nhân tạo vào trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.  
Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ đang làm biến đổi phƣơng thức sống và cách  
con ngƣời quan hệ với nhau303 trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Điểm nổi bật  
của cách mạng 4.0 là sự phát triển không ngừng của robot và trí tuệ nhân tạo trong mọi  
lĩnh vực:304 tài chính, tƣ pháp, vận tải, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, đào tạo, dịch vụ  
công…  
Với tính cách là tổng thể các quy tắc xử sự đƣợc chắt lọc từ đối sống xã hội để  
điều chỉnh các quan hệ phát sinh, pháp luật phải có những thay đổi khi phƣơng thức  
sống của con ngƣời biến đổi305. Luật hợp đồng là công cụ pháp lý đƣợc sử dụng phổ  
biến trong đời sống hằng ngày cũng nhƣ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, phải có  
những điều chỉnh phù hợp để đáp ứng các đòi hỏi của cách mạng công nghiệp 4.0.  
Có thể nêu ra vài ví dụ điển hình có tác động sâu sắc tới pháp luật hợp đồng nhƣ  
nhƣ sau:  
- Hợp đồng điện tử là hình thức phổ biến hiện nay, thay thế cho các hình thức  
truyền thống, buộc pháp luật hợp đồng phải ghi nhận và điều chỉnh các loại hình hợp  
đồng dạng này  
- Robot và trí tuệ nhân tạo hiện nay có thể thực hiện những nhiệm vụ một cách  
“độc lập” không cần sự tham gia trực tiếp của con ngƣời, ví dụ nhƣ có thể gửi các lời  
quảng cáo tới ngƣời tiêu dùng, giao tiếp ảo với khách hàng và thậm chí có thể ký kết  
hợp đồng306. Nói cách khác là tạo ra một nhóm chủ thể của quan hệ hợp đồng (trƣớc  
đây robot đƣợc xem là một vật-đối tƣợng của hợp đồng). Sự thay đổi này đặt ra những  
thách thức cho pháp luật hợp đồng.  
- Robot và các ứng dụng trí tuệ nhân tạo có thể là nguồn gốc của các thiệt hại  
gây ra cho bên thứ ba, ví dụ nhƣ xe hơi tự hành gây ra tai nạn trong quá trình vận hành  
hay robot công nghiệp làm bị thƣơng ngƣời lao động… Những hiện tƣợng mới này sẽ  
303 Ngô Huy Cƣơng, Cáỉ cách pháp luật Việt Nam đáp ứng các yêu cầu của cách mạng công nghiệp lần thứ tư,  
trong sách Nguyễn Thị Quế Anh, Ngô Huy Cƣơng (Chủ biên), Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn  
đề đặt ra đối với cải cách pháp luật Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật 2018, tr.14.  
304 Hervé Jacquemin et Jean-Benoît Hubin, Aspects contractuels et de responsabilité civile en matière  
d‟intelligence artificielle, in Le droit et l‟intelligence artificielle, Larcer, 2017, tr.73.  
305 Ngô Huy Cƣơng, Cáỉ cách pháp luật Việt Nam đáp ứng các yêu cầu của cách mạng công nghiệp lần thứ tư,  
Nhƣ trên.  
306 Hervé Jacquemin et Jean-Benoît Hubin, Aspects contractuels et de responsabilité civile en matière  
d‟intelligence artificielle, Sđd, tr.76.  
282  
tạo ra các vấn đề pháp lý nhƣ trách nhiệm dân sự theo hợp đồng (giữa nhà sản xuất  
robot với ngƣời sử dụng), cũng nhƣ trách nhiệm ngoài hợp đồng.  
- Phân loại hợp đồng: giữa hợp đồng dân sự thông thƣờng và hợp đồng lao động  
trong trƣờng hợp liên quan đến các giải pháp công nghệ có ứng dụng trí tuệ nhân tạo.  
Với tƣ cách là khuôn khổ pháp lý cho các giao dịch giữa các chủ thể, pháp luật  
hợp đồng Việt Nam phải đáp ứng đƣợc những thách thức đó đòi hỏi của hội nhập quốc  
tế và cách mạng công nghiệp 4.0. Các đòi hỏi đó bao gồm: tính ổn định, tính tƣơng  
thích với pháp luật quốc tế, tính thống nhất và hệ thống.  
2. Yêu cầu về tính ổn định của pháp luật hợp đồng  
Tính ổn định là một trong những điều kiện căn bản của hệ thống pháp luật, nhằm  
bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch và tình trạng của các chủ thể trong đời sống  
xã hội307. Sự ổn định của pháp luật thực định liên quan đến sự ổn định của nguồn pháp  
luật – nơi tìm thấy các giải pháp cho các vấn đề pháp lý”308. Đối với hệ thống pháp  
luật Việt Nam, thì đó là sự ổn định của luật thành văn. Bởi vì, hệ thống pháp luật Việt  
Nam ngày nay cơ bản vẫn dựa trên nền tảng hệ thống pháp luật của các nƣớc XHCN309  
(Soviet Law), và ít nhiều thừa hƣởng một số yếu tố của hệ thống dân luật (Civil law) -  
di sản của hơn 80 năm ngƣời Pháp cai trị. Về cơ bản, pháp luật XHCN có nhiều nét  
tƣơng đồng với hệ thống dân luật - vốn đề cao pháp luật thành văn, đề cao pháp điển  
hóa và xem văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là nguồn pháp luật chính310.  
René Demogue cho rằng: “không có gì nguy hại cho sự tôn trọng luật pháp và ý  
niệm về luật pháp hơn sự thiếu ổn định về mặt pháp luật. Pháp luật là khuôn khổ vững  
chắc của xã hội loài ngƣời. Chỉ đƣa vào luật pháp những thay đổi một cách khôn  
ngoan, sau khi có những suy ngẫm và nghiên cứu chuyên sâu”311. Điều này cũng đúng  
với sự ổn định và yên ổn của các chủ thể pháp luật, vì không thể nắm bắt và thích ứng  
307 Xem: Nguyễn Văn Quân (2016), “Yêu cầu về an toàn pháp lý trong nhà nƣớc pháp quyền”, Tạp chí Luật học,  
số 9 (196).  
308 Jacques Ghestin (1994), Gilles Goubeaux avec le concours de Muriel Fabre-Magnan, Traité de Droit civil:  
Introduction générale, Nxb. LGDJ, 4ème édition, n 236 ; tr.192.  
309 Đào Trí Úc (2003), “Basic Information of Legal Research – A Case Study of Vietnam”, Project of Doing  
Legal Research in Asian Countries: China, India, Malaysia, Philippines, Thailand and Vietnam, Conducted by  
the Institute of Developing Economies (IDE-JETRO), Japan, tr.206.  
310 René David, Camille Jauffret-Spinosi, Marie Goré (2015), Les grands systèmes de droit contemporains,  
Dalloz, 2016, tr.176; Gilles Cuniberti, Grands systèmes de droit contemporain: Introduction au droit comparé,  
LGDJ, 3ème éd., tr.53-54.  
311 Référence à Courcelles-Seneuil, in Les notions fondamentales du droit privé. Essai critique, éd. A. Rousseau,  
Paris, 1911, tr.110. (R. DEMOGUE, Les notions fondamentales du droit privé. Essai critique, éd. A. Rousseau,  
Paris, 1991, p. 110 : citant COURCELLES-SENEUIL.  
283  
với những thay đổi quá thƣờng xuyên. Georges Ripert đề cao tính ổn định của luật  
pháp. Theo ông, giá trị của luật pháp nằm ở sự liên tục, và nhờ sự liên tục đó mà luật  
pháp có đƣợc tính chính danh của mình312, luật pháp là một thứ gắn liền trật tự và tính  
liên tục, “thế giới chỉ không thể sống trong hạnh phúc nếu thiếu sự an toàn do luật  
pháp tạo ra313. Nhƣ vậy, có thể thấy rằng, tính ổn định của pháp luật là một trong  
những đòi hỏi căn bản của pháp luật trong nhà nƣớc pháp quyền. Trong đó, sự ổn định  
của pháp luật hợp đồng – với tƣ cách là các quy tắc pháp lý điều chỉnh các quan hệ  
phổ biến giữa các cá nhân trong đời sống hằng ngày là một đòi hỏi tất yếu.  
Pháp luật hợp đồng Việt Nam có sự thay đổi, xáo trộn thƣờng xuyên. Trong vòng  
20 năm, có tới 3 bộ luật dân sự đƣợc ra đời. Đây là một minh chứng cho sự thiếu ổn  
định của pháp luật hợp đồng nói riêng và của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung.  
Để so sánh, Bộ luật Dân sự Pháp hiện hành có từ năm 1804 và Bộ luật Dân sự của Đức  
có từ năm 1900.  
3. Yêu cầu về tính tƣơng thích với pháp luật quốc tế  
Pháp luật hợp đồng với tƣ cách là nền tảng pháp lý của hệ thống luật tƣ cần phải  
tƣơng thích với pháp luật quốc tế liên quan đến hợp đồng, đặc biệt là các công ƣớc  
quốc tế mà Việt Nam là thành viên.  
Sự tƣơng thích của pháp luật hợp đồng quốc gia với các quy tắc quốc tế góp phần  
đảm bảo an toàn pháp lý cho các giao dịch có yếu tố nƣớc ngoài, cụ thể là giúp cho các  
chủ thể pháp luật tránh đƣợc các rủi ro, tranh chấp pháp lý xuất phát từ các xung đột  
pháp luật do sự khác biệt giữa pháp luật hợp đồng Việt Nam với các quy định của đối  
tác.  
Sự tƣơng thích của pháp luật hợp đồng quốc gia với pháp luật quốc tế cũng đảm  
bảo cho việc tuân thủ các cam kết của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế cũng nhƣ  
các quốc gia khác, các cam kết này đƣợc thể hiện trong các cam kết mang tính đa  
phƣơng (WTO, TPP) cũng nhƣ song phƣơng (các hiệp định thƣơng mại ký kết giữa  
Việt Nam và các quốc gia khác).  
Theo quy định của Khoản 1 Điều 683 BLDS năm 2015: “Các bên trong quan hệ  
hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng, trừ trường  
312 Ripert (1955), Les forces créatrices du droit, LGDJ, 2 édition, n 1, tr.2.  
313 Ripert (1949), Le déclin du droit: études sur la législation contemporaine, LGDJ, n 50, tr.154.  
284  
hợp quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều này. Trường hợp các bên không có thỏa  
thuận về pháp luật áp dụng thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp  
đồng đó được áp dụng”. Đây là quy định kế thừa Điều 769 Bộ luật Dân sự 2005.  
Nhƣ vậy, trong một quan hệ hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài, các bên có quyền  
lựa chọn nhiều hệ thống pháp luật điều chỉnh một quan hệ hợp đồng hay không? Thực  
tiễn cho thấy có những hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài, nhƣ: hợp đồng mua bán hàng  
hóa quốc tế, có nội dung rất dài và bao gồm nhiều vấn đề khác nhau. Chính vì vậy, đôi  
khi phát sinh nhu cầu thực tế là các bên cần thỏa thuận chọn nhiều hệ thống pháp luật  
và một hệ thống pháp luật chỉ áp dụng điều chỉnh một phần của hợp đồng. Thậm chí  
ngay cả khi thỏa thuận chọn luật áp dụng cho toàn bộ hợp đồng vẫn có trƣờng hợp các  
bên lựa chọn nhiều luật áp dụng cho hợp đồng để phòng ngừa tình huống một hệ thống  
pháp luật không điều chỉnh hết các vấn đề của hợp đồng. BLDS năm 2015 không có  
quy định về vấn đề này, nhƣng một số văn bản pháp luật chuyên ngành lại quy định  
hợp đồng có thể đƣợc chi phối bởi hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau. Ví  
dụ, Khoản 1 Điều 17 Luật Ngƣời lao động Việt Nam đi làm việc ở nƣớc ngoài theo  
hợp đồng, năm 2006 có quy định: “Hợp đồng cung ứng lao động phải phù hợp với  
pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước tiếp nhận lao động…”. Nhƣ vậy, Hợp đồng  
cung ứng lao động đồng thời chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam và pháp luật  
của nƣớc tiếp nhận lao động.  
Tham khảo Công ƣớc Rome 1980 về luật áp dụng cho nghĩa vụ hợp đồng và Quy  
tắc Rome I, tại Điều 3 của cả hai văn bản đều quy định: “Bằng thỏa thuận của mình,  
các bên có thể chọn luật áp dụng cho toàn bộ hoặc chỉ một phần của hợp đồng”. Thực  
tiễn các nƣớc cũng nhƣ Việt Nam cho thấy hiện tƣợng này thƣờng xuyên xảy ra.  
Nếu hệ thống pháp luật về hợp đồng của Việt Nam không tƣơng thích với các  
thông lệ quốc tế, sẽ dẫn tới trƣờng hợp các bên của hợp đồng, đặc biệt là bên ký kết  
nƣớc ngoài sẽ chọn luật nƣớc ngoài để áp dụng.  
4. Tính thống nhất và hệ thống của pháp luật hợp đồng  
Bộ phận quan trọng nhất của pháp luật kinh tế, thƣơng mại của bất kỳ quốc gia  
nào cũng là pháp luật hợp đồng314. Tuy nhiên, pháp luật về hợp đồng Việt Nam hiện  
314 Phạm Duy Nghĩa (2003), Cơ sở pháp luật kinh tế Việt Nam vì một nền kinh tế phát triển bền vững và toàn  
cầu hoá, Nxb. Chính trị Quốc gia, tr.73.  
285  
nay nằm rải rác trong rất nhiều văn bản pháp luật có giá trị cao thấp khác nhau và cũng  
chƣa có bất kỳ thử nghiệm nào nhằm thống nhất hoá hệ thống các văn bản pháp luật về  
hợp đồng, cũng nhƣ chỉ ra sự liên kết, liên thông hoặc tính hệ thống của pháp luật hợp  
đồng315.  
Bộ luật Dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017, đƣợc đánh  
giá là bộ luật nền, có vị trí, vai trò là luật chung của hệ thống pháp luật điều chỉnh các  
quan hệ đƣợc hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu  
trách nhiệm; có tính khái quát và tính khả thi để một mặt, bảo đảm tính ổn định của Bộ  
luật, mặt khác, đáp ứng đƣợc kịp thời sự phát triển thƣờng xuyên, liên tục của các  
quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự. Trên cơ sở bảo đảm  
tính kế thừa và phát triển các quy định còn phù hợp với thực tiễn và các giá trị văn  
hóa, tập quán, truyền thống đạo đức tốt đẹp của Việt Nam, BLDS năm 2015 là một  
đạo luật có ý nghĩa to lớn không chỉ về mặt bảo đảm quyền con ngƣời, quyền công  
dân, phát triển kinh tế - xã hội mà còn cả về mặt xây dựng pháp luật.  
Xuất phát từ yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng đòi hỏi nhiệm vụ xây  
dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mà theo đó, pháp luật phải có tính nhất  
quán, thể hiện ở chỗ các văn bản pháp luật trong cùng một lĩnh vực, có khi trong nhiều  
lĩnh vực khác nhau đều phải bảo đảm thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể.  
So sánh với quy định của BLDS năm 2015 với một số quy định của pháp luật có liên  
quan, đang tồn tại một thực trạng đó là, chƣa có sự tƣơng thích, còn chồng chéo, thiếu  
thống nhất khi điều chỉnh về cùng một vấn đề giữa các văn bản quy phạm pháp luật  
hoặc quy định hƣớng dẫn (văn bản hƣớng dẫn chi tiết thi hành) chƣa phù hợp với quy  
định của luật tƣơng ứng… Ở đây, chúng tôi đƣa ra một ví dụ về sự chƣa tƣơng thích  
giữa các quy định về hợp đồng của BLDS 2015 và của Luật Thƣơng mại năm 2005  
liên quan đến hình thức bắt buộc của hợp đồng.  
Tự do ý chí, tự do thoả thuận là một trong những nguyên tắc quan trọng trong  
giao kết hợp đồng. Điều này có nghĩa là các bên đƣợc phép lựa chọn hình thức thích  
hợp khi giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, để bảo đảm an toàn pháp lý trong các giao dịch  
giữa các bên cũng nhƣ để bảo vệ trật tự pháp luật và lợi ích công cộng, đối với một số  
315 Phạm Duy Nghĩa (2003), Cơ sở pháp luật kinh tế Việt Nam vì một nền kinh tế phát triển bền vững và toàn  
cầu hoá, Sđd, tr.73.  
286  
loại hợp đồng, luật đòi hỏi chủ thể giao kết hợp đồng phải tuân theo những hình thức  
và thủ tục nhất định316.  
Khoản 2 Điều 119 BLDS 2015 quy định: Trƣờng hợp luật quy định giao dịch  
dân sự phải đƣợc thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải  
tuân theo quy định đó”. Trong khi đó, Khoản 2 Điều 24 Luật Thƣơng mại 2005 quy  
định: Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải đƣợc  
lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó”; Khoản 2 Điều 74 quy định:  
“Đối với các loại hợp đồng dịch vụ mà pháp luật quy định phải đƣợc lập thành văn bản  
thì phải tuân theo các quy định đó”. Nhƣ vậy, để phù hợp với BLDS 2015, cần sửa đổi  
các quy định của Luật Thƣơng mại 2005 về hình thức bắt buộc đối với một số loại hợp  
đồng mà các bên phải tuân thủ là trong trƣờng hợp luật quy định317.  
Trên đây là một ví dụ điển hình về sự thiếu tƣơng thích giữa luật chuyên ngành  
với quy định của BLDS về hợp đồng. Ngoài ra, chúng ta có thể tìm thấy nhiều ví dụ  
khác tƣơng tự318.  
5. Xây dựng luật hợp đồng thống nhất - giải pháp hoàn thiện pháp luật hợp  
đồng trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay  
Từ những năm 1960-1970 ngƣời ta chứng kiến xu hƣớng pháp điển hoá luật tƣ  
nói riêng, trong đó có pháp luật hợp đồng319. Pháp điển hoá hay xây dựng luật hợp  
đồng thống nhất là công cụ để thống nhất, hài hoà pháp luật, tăng cƣờng tính cạnh  
tranh của hệ thống pháp luật quốc gia.  
Để thuận tiện cho xã hội khi mà quan hệ hợp đồng vốn dĩ đã chi phối hầu hết các  
quan hệ trong đời sống xã hội, phát sinh mỗi ngày một đa dạng, phức tạp thì việc  
thống nhất điều chỉnh bằng “Luật Hợp đồng thống nhất” là điều hết sức cần thiết.  
Theo đó, BLDS sẽ đƣợc giản lƣợc, nhẹ đi, chỉ làm nhiệm vụ điều chỉnh những vấn đề  
chung về tài sản và nhân thân mà không điều chỉnh quan hệ hợp đồng nữa.  
316 Xem: Trần Văn Biên (2018), Hoàn thiện các quy định của Luật thương mại năm 2005 để đảm bảo sự thống  
nhất với Bộ luật dân sự năm 2015, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 14 (366), tr.45.  
317 Trần Văn Biên (2018), Hoàn thiện các quy định của Luật thương mại năm 2005 để đảm bảo sự thống nhất  
với Bộ luật dân sự năm 2015, Tlđd, tr.45.  
318 Có thể tham khảo: Trần Văn Biên (2018), Hoàn thiện các quy định của Luật thương mại năm 2005 để đảm  
bảo sự thống nhất với Bộ luật dân sự năm 2015, Tlđd, tr.45-48.  
319 Reiner Schulze and Fryderyk Zoll (eds) (Sellier, 2013), The Law of Obligations in Europe, A New Wave of  
Codifications.  
287  
Luật Hợp đồng là luật chỉ điều chỉnh về tất cả các quan hệ hợp đồng. Xét về khía  
cạnh hợp đồng, dù các quốc gia khác cố gắng định nghĩa hợp đồng nhƣ thế nào đi  
chăng nữa thì đều dựa vào một bản chất duy nhất nói lên sự tồn tại của hợp đồng, đó là  
sự thỏa thuận có hiệu lực bắt buộc đối với các bên. Từ sự thỏa thuận, các quốc gia cố  
gắng điều chỉnh nó bằng những kỹ thuật lập pháp của riêng mình. Ví dụ ở Trung  
Quốc, một quốc gia thuộc họ Civil law và đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện  
hệ thống pháp luật, đã xây dựng thành công Luật Hợp đồng riêng biệt vào năm 1999  
với 23 chƣơng 428 điều320. Trƣớc đây, các chế định về hợp đồng của Trung Quốc  
đƣợc quy định tại Luật Hợp đồng kinh tế, Luật Hợp đồng kinh tế có yếu tố nƣớc ngoài,  
Luật Công nghệ… Tuy nhiên, sau khi gia nhập WTO, để tạo thuận lợi cho phát triển  
kinh tế, tránh những bất tiện cho các chủ thể gặp khó khăn khi tìm hiểu chế định hợp  
đồng để tiến hành ký kết hợp đồng thƣơng mại, Trung Quốc đã tiến hành xây dựng  
Luật Hợp đồng dựa trên nội dung của UNIDROIT321; nó là sự kết nối tất cả quy định  
hợp đồng nằm rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau trƣớc đây. Điều này tạo  
hành lang pháp lý thuận tiện và an toàn cho các nhà đầu tƣ cũng nhƣ các thƣơng nhân  
Trung Quốc.  
Dựa vào kinh nghiệm của các quốc gia đã từng xây dựng luật hợp đồng thống  
nhất, pháp điển hóa pháp luật hợp đồng ở Việt Nam cần quán triệt những quan điểm  
sau đây:  
Một là, phạm vi của pháp luật hợp đồng tƣơng đối rộng, là đạo luật điều chỉnh  
hành vi thỏa thuận giữa các bên, là công cụ đại diện cho mƣu cầu lợi ích kinh tế của cá  
nhân và tổ chức. Vì vậy, xét về phạm vi và đối tƣợng điều chỉnh thì chúng ta nên ƣu  
tiên xây dựng một Luật Hợp đồng riêng biệt. Với xu hƣớng giản lƣợc BLDS 2015, các  
nguyên tắc và các vấn đề chung của hợp đồng sẽ đƣợc quy định chung cho tất cả các  
hợp đồng không phân biệt dân sự, thƣơng mại hay hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài.  
Hai là, trên thực tế, ngày càng xuất hiện các loại hợp đồng322 với nhiều chủng  
loại khác nhau. Tuy nhiên, việc phân chia các loại hợp đồng trong BLDS 2015 và các  
đạo luật chuyên ngành khác lại dựa trên đối tƣợng của hợp đồng. Cách phân loại nhƣ  
320 Mo Zhang (2005), Chinese Contract Law: Theory and Practice, Martinus Nijhoff Publishers, tr.11.  
321 Mo Zhang (2005), Chinese Contract Law: Theory and Practice, Sđd, tr.13.  
322 Hiện nay theo quy định của BLDS 2015, có 13 loại hợp đồng thông dụng. Mỗi đạo luật chuyên ngành sau đó  
ra đời thì lại có những quy định khác cho loại hợp đồng của đạo luật đó.  
288  
thế không có cơ sở khoa học vững chắc và dẫn đến nhiều hệ lụy. Vì đối tƣợng hợp  
đồng là yếu tố dễ thay đổi trong môi trƣờng kinh tế hiện nay, do đó phải phân loại hợp  
đồng dựa trên mục đích giao kết hợp đồng, lấy yếu tố này để phân loại hợp đồng là  
hợp lý. Việc phân loại hợp đồng dựa trên mục đích giao kết sẽ giúp pháp luật hợp  
đồng có tính dự liệu cho những đối tƣợng hợp đồng có thể phát sinh sau này mà không  
cần phải dẫn chiếu đến văn bản pháp luật khác hƣớng dẫn.  
Do đó, nội dung tiếp theo của hoạt động pháp điển hóa pháp luật hợp đồng là rà  
soát trên thực tế các loại hợp đồng, quy định các loại hợp đồng theo phân nhóm chủng  
loại hợp đồng để tránh trƣờng hợp luật lạc hậu so với thực tiễn. Việc sắp xếp chủng  
loại hợp đồng phải dựa trên hành vi và mục đích giao kết chứ không dựa trên đối  
tƣợng hợp đồng.  
Ba là, về kỹ thuật lập pháp, những vấn đề chung và chủng loại của hợp đồng cần  
đƣợc sắp xếp trong một đạo luật thống nhất và hoàn chỉnh. Chủng loại của hợp đồng  
có thể thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên, nếu dựa trên mục đích của hành vi thỏa  
thuận thì các nhà làm luật có thể phân biệt và dự liệu đƣợc. Do đó, tuổi thọ của Luật  
Hợp đồng sẽ đƣợc kéo dài.  
Ngoài ra, việc pháp điển hóa pháp luật hợp đồng trong thời kỳ hội nhập kinh tế  
quốc tế cần đảm bảo hai đặc tính cơ bản: (i) tính thống nhất, tiện dụng thể hiện trong  
việc tập hợp các chế định hợp đồng trong BLDS, kết hợp với tất cả các quy định hợp  
đồng trong Luật Thƣơng mại và các luật khác liên quan nhƣ: Luật Sở hữu trí tuệ, Luật  
Xây dựng, Luật Đầu tƣ… sau đó xây dựng thành một Luật Hợp đồng thống nhất trên  
cơ sở kế thừa những chế định sẵn có, quy định đầy đủ các nội dung liên quan đến các  
loại hợp đồng bao gồm: chủ thể ký kết, đối tƣợng hợp đồng, đồng tiền thanh toán,  
phƣơng thức thanh toán, quyền nghĩa vụ của các bên, phạt vi phạm, lãi suất, cơ quan  
tài phán tranh chấp và những quy định khác về dung sai...; (ii) tính tƣơng thích, hội  
nhập thể hiện qua việc nghiên cứu tiếp thu pháp luật nƣớc ngoài nhƣ: các nguyên tắc  
của UNIDROIT về hợp đồng thƣơng mại quốc tế 2004, các quy định trong Công ƣớc  
Viên về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 1980 (CIGS), các công ƣớc quốc tế về  
sở hữu trí tuệ, các tập quán về điều kiện chuyển rủi ro sở hữu hàng hóa (Incoterm  
2010), về thanh toán quốc tế (UCP.600)… Trong đó, cũng cần cân nhắc loại giao dịch  
thông qua ngƣời làm chứng của Công ƣớc Viên 1980 đƣa vào Luật Hợp đồng nhằm  
289  
đảm bảo tính tƣơng thích với các tập quán, điều ƣớc khi hội nhập với các nƣớc trong  
khu vực và thế giới. Việc kế thừa những tinh hoa của pháp luật hiện hữu và tiếp thu  
pháp luật nƣớc ngoài trong quá trình xây dựng Luật Hợp đồng thống nhất cần phải  
đảm bảo ba nội dung cơ bản là: phù hợp với thể chế chính trị và bản sắc riêng của Việt  
Nam; thuận tiện cho các chủ thể liên quan; đáp ứng đƣợc sự tƣơng đồng pháp luật  
trong giao thƣơng quốc tế để có xử sự phù hợp, nhất là khi Việt Nam đã là thành viên  
của WTO.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Aristotle, Politics, English editions: Jowett B (1999) Politics. Batoche  
Books. Kitchener.  
2. Paul-A. Crépau, La fonction du droit des obligations, Revue de droit de  
McGill, 1998, vol 43.  
3. Gilles Cuniberti, Grands systèmes de droit contemporain: Introduction au  
droit comparé, LGDJ, 3ème éd., 2015.  
4. René David, Camille Jauffret-Spinosi, Marie Goré, Les grands systèmes de  
droit contemporains, Dalloz, 2016.  
5. Trần Văn Biên, Hoàn thiện các quy định của Luật thương mại năm 2005 để  
đảm bảo sự thống nhất với Bộ luật dân sự năm 2015, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp,  
số 14 (366), 2018.  
6. Jacques Ghestin, Gilles Goubeaux avec le concours de Muriel Fabre-  
Magnan, Traité de droit civil: Introduction générale, Nxb. LGDJ, 4ème édition, 1994.  
7. Phạm Duy Nghĩa, Cơ sở pháp luật kinh tế Việt Nam vì một nền kinh tế phát  
triển bền vững và toàn cầu hoá, Nxb. Chính trị Quốc gia, 2003.  
8. Ripert, Les forces créatrices du droit, Nxb. LGDJ, 2 édition, 1955.  
9. Ripert, Le déclin du droit: études sur la législation contemporaine, LGDJ,  
1949.  
10. E.M. Potalis, Discours préliminaire du premier projet de Code civil, 1801.  
11. Nguyễn Văn Quân, Yêu cầu về an toàn pháp lý trong nhà nƣớc pháp quyền,  
Tạp chí Luật học, số 9 (196)/2016.  
12. Richard Stone, The Modern Law of Contract, fifth edition, Canvedish, 2002.  
290  
13. Reiner Schulze and Fryderyk Zoll (eds), The Law of Obligations in Europe,  
A New Wave of Codifications (Sellier, 2013).  
14. Đào Trí Úc, “Basic Information of Legal Research – A Case Study of  
Vietnam”, Project of Doing Legal Research in Asian Countries: China, India,  
Malaysia, Philippines, Thailand and Vietnam, Conducted by the Institute of  
Developing Economies (IDE-JETRO), Japan, 2003.  
15. Mo Zhang, Chinese Contract Law: Theory and Practice, Martinus Nijhoff  
Publishers, 2005.  
291  
pdf 11 trang Thùy Anh 12700 Free
Bạn đang xem tài liệu "Những yêu cầu của pháp luật hợp đồng trong hội nhập quốc tế và cách mạng công nghệ 4.0", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhung_yeu_cau_cua_phap_luat_hop_dong_trong_hoi_nhap_quoc_te.pdf