Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 8 - Năm 2021
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC THEO QUAN ĐIỂM
CỦA ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNG
Số 08 (432)
Tháng 4/2021
NHẬN DIỆN TIỀN MÃ HÓA, PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TIỀN MÃ HÓA
SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN Ở ĐỨC VÀ VIỆT NAM TRONG HOẠT ĐỘNG QUY HOẠCH
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC THEO QUAN ĐIỂM
Số 08 (432)
Tháng 4/2021
Mục lục Số 08/2021
CỦA ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNG
NHẬN DIỆN TIỀN MÃ HÓA, PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TIỀN MÃ HÓA
SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN
Ở
ĐỨC VÀ VIỆT NAM TRONG HOẠT ĐỘNG QUY HOẠCH
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước theo quan
điểm của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng
3
TS. Hoàng Minh Hội
Xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản,
thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn tại Việt Nam
10
16
ThS. Phꢀm Công Tꢁng
Rào cản pháp lý khi thực hiện quyền được trợ giúp và tiếp cận
các dịch vụ xã hội cơ bản của lao động di cư nội địa
TS. Nguyễn Thanh Huyền
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
Hoàn thiện quy định của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo hộ chỉ
dẫn địa lý đồng âm
22
ThS. Nguyễn Thị Nguyệt
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
Giải quyết tranh chꢀp đầu tư - những vꢀn đề đꢁt ra đối với
Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư
28
35
43
ThS. Lê Đꢂc Ngꢃc
Chuyển giao quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng trước đăng ký
doanh nghiệp dưới góc độ so sánh
ThS. Huꢄnh Thiên Tꢂ
Nhận diện tiền mã hóa, pháp luật Việt Nam về tiền mã hóa
ThS. Lê Hꢅng Thꢆi
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
Sự tham gia của người dân ở Đức và Việt Nam trong hoạt
động quy hoạch
51
60
GS.TS. Roland Fritz - TS. KTS. Vũ Hoài Đꢂc
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Ảnh bìa: Chào mừng ngày bầu cử đại
biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND
các cꢀp nhiệm kỳ 2021 - 2026.
Ảnh: ST.
Các quy định của pháp luật về công an xã - thực trạng và
kiến nghị
ThS. Trꢇn Văn Trꢃng
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC THEO QUAN ĐIỂM
Số 08 (432)
Tháng 4/2021
Legis No 8/2021
CỦA ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNG
NHẬN DIỆN TIỀN MÃ HÓA, PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TIỀN MÃ HÓA
SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN
Ở
ĐỨC VÀ VIỆT NAM TRONG HOẠT ĐỘNG QUY HOẠCH
STATE AND LAW
Improvements of Controlling State Power Mechanism under
Spirits of the XIII National Congress of the Party
3
Dr. Hoang Minh Hoi
Development and Management of National Database on
Control of Assets and Incomes of Persons with High Position
and Powers in Vietnam
10
LLM. Pham Cong Tung
Legal Barriers for Exercise of the Rights of Internal Migrant
Workers for Assistance and Access to Basic Social Services
16
22
Dr. Nguyen Thanh Huyen
DISCUSSION OF BILLS
Improvements of Law on Intellectual Property Protection of
Homogeneous Geographical Indications
LLM. Nguyen Thi Nguyet
LEGAL PRACTICE
Settlement of Investment Disputes - the Concerned Issues
under the Law on Public-Private Partnership
28
35
43
LLM. Le Duc Ngoc
TransferofrightsandresponsibilitiesunderPre-Incorporation
Contract
LLM. Huynh Thien Tu
Identification of Cryptocurrencies and Vietnam’s Legal
Regulations on Cryptocurrencies
LLM. Le Hong Thai
FOREIGN EXPERIENCE
Community Participation in Planning in Germany and Vietnam
Prof. Dr. Roland Fritz - Dr. Arc. Vu Hoai Duc
51
60
LOCAL GOVERNMENT ADMINISTRATION
Legal Regulations on Commune Police: Current Status and
Recommendations
PRICE: 25.000VND
LLM. Tran Van Trong
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC
THEO QUAN ĐIỂM CỦA ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNG
Hoàng Minh Hội
TS. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Kiểm soát quyền lực nhà nước là chủ đề được đề cập nhiều lần trong Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Trong phạm vi bài viết này,
tác giả trình bày, phân tích thực trạng hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước
ở nước ta và đề xuất một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát
quyền lực nhà nước theo quan điểm của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
của Đảng.
Từ khóa: Kiểm soát quyền lực, cơ
chế kiểm soát quyền lực, Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
của Đảng.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 23/3/2021
: 07/4/2021
: 10/4/2021
Article Infomation:
Abstract:
Control of state power is a topic mentioned several times in the Document of
the 13th National Congress of the Communist Party of Vietnam. In the scope
of this article, the author provides introduction of and an analysis of the current
status of state power control in our country and proposes a number of solutions
to further improve the state power control mechanism from the point of view of
13th National Congress of the Communist Party of Vietnam.
Keywords: Control of state power;
power
control
mechanism;
13th National Congress of the
Communist Party of Vietnam
Article History:
Received
Edited
: 23 Mar. 2021
: 07 Apr. 2021
: 10 Apr. 2021
Approved
1. Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước
ở Việt Nam hiện nay
pháp, tư pháp”. Trên cơ sở quy định của
Hiến pháp năm 2013, nhiều văn bản luật
được ban hành thời gian qua đã cụ thể hóa
nguyên tắc hiến định về kiểm soát quyền
lực nhà nước. Theo đó, thể chế và các thiết
chế kiểm soát quyền lực nhà nước ngày
càng được hoàn thiện. Báo cáo chính trị của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII
tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
của Đảng nhận định: “Cơ chế phân công,
phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các
cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các
quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ngày
Thể chế hóa quan điểm của Đảng về
kiểm soát quyền lực nhà nước được ghi
nhận tại Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(sửa đổi, bổ sung năm 2011) và Nghị quyết
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của
Đảng, khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013
quy định nguyên tắc “Quyền lực nhà nước
là thống nhất, có sự phân công, phối hợp,
kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong
việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
Số 08(432) - T4/2021
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
càng rõ hơn và có nhiều chuyển biến tích
cực”1. Hoạt động xây dựng pháp luật, giám
sát tối cao và quyết định những vấn đề quan
trọng của đất nước của Quốc hội có nhiều
đổi mới, chất lượng và hiệu quả được nâng
cao. “Hoạt động của Hội đồng nhân dân các
cấp có nhiều đổi mới”2.
ứng lan toả mạnh mẽ trong toàn xã hội, được
nhân dân đồng tình, đánh giá cao, các tổ chức
quốc tế ghi nhận”6.
Đảng cầm quyền kiểm soát quyền lực nhà
nước bằng việc định ra chủ trương, đường
lối và lãnh đạo, kiểm tra, giám sát quá trình
thực hiện chủ trương, đường lối đó. Báo cáo
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và
thi hành Điều lệ Đảng tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XIII khẳng định “Bộ Chính
trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo từng bước hoàn
thiện thể chế về công tác cán bộ; xây dựng,
bổ sung, sửa đổi và ban hành mới nhiều quy
định, quy chế về đánh giá, quy hoạch, luân
chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử
và kiểm soát quyền lực, chống chạy chức,
chạy quyền; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền
đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát,
kiểm soát quyền lực”7. Do đó, “việc chống
chạy chức, chạy quyền được coi trọng, đã có
tác động cảnh báo, răn đe và ngăn chặn”8.
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị
- xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, truyền
thông báo chí “tiếp tục đổi mới nội dung và
phương thức hoạt động, vận động đông đảo
nhân dân tham gia các phong trào thi đua
yêu nước, phát huy ngày càng tốt hơn vai trò
Cùng với hoạt động kiểm soát quyền lực
nhà nước của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các
cấp, kiểm soát quyền lực nhà nước còn được
thực hiện bởi các thiết chế thanh tra trong bộ
máy hành pháp, các cơ quan tiến hành tố tụng
thông qua hoạt động điều tra, truy tố, xét xử
các vụ án kinh tế, tham nhũng nghiêm trọng,
phức tạp. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII
khẳng định: “Hoạt động thanh tra hành chính
và chuyên ngành được tăng cường và đạt kết
quả tích cực”3; đồng thời, “tổ chức bộ máy của
Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ
quan điều tra, cơ quan bổ trợ tư pháp tiếp tục
được kiện toàn, chất lượng hoạt động có tiến
bộ…”4. Do vậy, thời gian qua, công tác đấu
tranh phòng, chống tham nhũng“với quyết tâm
chính trị rất cao, không có vùng cấm, không có
ngoại lệ, đạt nhiều kết quả rất quan trọng, được
cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng
hộ. Tham nhũng từng bước được kiềm chế,
ngăn chặn và có chiều hướng giảm5, “tạo hiệu
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia
sự thật, Hà Nội, 2021, tr.72.
2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia
sự thật, Hà Nội, 2021, tr.72.
3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia
sự thật, Hà Nội, 2021, tr.54.
4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia
sự thật, Hà Nội, 2021, tr.72- 73.
5 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia sự
thật, Hà Nội, 2021, tr76.
6 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia sự
thật, Hà Nội, 2021, tr.54.
7 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia sự
thật, Hà Nội, 2021, tr.191-192.
8 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia sự
thật, Hà Nội, 2021, tr.75.
4
Số 08(432) - T4/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp,
chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân
dân; chủ động tham gia giám sát và phản biện
xã hội”9. Quyền làm chủ của nhân dân không
ngừng được “chú trọng thực hiện dân chủ cả
trực tiếp và đại diện, nhất là ở cơ sở, bảo đảm
công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình;
người đứng đầu ở nhiều cấp uỷ đảng, chính
quyền đã tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng
nghe, tiếp thu, giải quyết những bức xúc và
nguyện vọng chính đáng của nhân dân”10.
Quá trình thực hiện cơ chế kiểm soát quyền
lực nhà nước luôn bảo đảm “sự phối hợp
giữa kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh
tra, kiểm toán nhà nước và điều tra, truy tố,
xét xử ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả
hơn, hạn chế sự chồng chéo trong thực hiện
chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền; kịp thời
phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong lãnh
đạo, quản lý để đề xuất bổ sung, sửa đổi các
văn bản có liên quan cho phù hợp”11. Sự phối
hợp đó góp phần thực hiện có hiệu quả cơ chế
kiểm soát quyền lực nhà nước.
- Việc điều tra, phát hiện, xử lý những
vụ án tham nhũng “vẫn còn hạn chế, nhất là
việc tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham
nhũng, lãng phí trong nội bộ cơ quan, đơn
vị còn yếu”13;
- Vẫn còn tình trạng lợi ích cục bộ, sách
nhiễu người dân, doanh nghiệp trong giải
quyết thủ tục hành chính. Báo cáo đánh giá
kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế
- xã hội 5 năm 2016 - 2020 và phương hướng,
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm
2021-2025 nhận định “việc công khai, minh
bạch và trách nhiệm giải trình còn hạn chế”14;
- Hoạt động kiểm soát quyền lực của
Đảng được thể hiện thông qua quá trình
kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ
trương, chính sách của Đảng đối với đảng
viên, cán bộ, công chức, cơ quan nhà nước.
Tuy nhiên, Ủy ban kiểm tra của các tổ chức
Đảng chỉ hoạt động khi có khiếu nại, tố cáo,
nên thiếu tính chủ động và không mang tính
thường xuyên của kiểm soát quyền lực. Vì
vậy, công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật
của Đảng chưa đủ sức răn đe, ngăn chặn,
đẩy lùi suy thoái.
Bên cạnh những kết quả đạt được, cơ chế
pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước còn
bộc lộ một số hạn chế sau:
- “Việc thể chế hoá, cụ thể hoá chủ trương
của Đảng về một số nội dung trong công tác
cán bộ còn chậm, có nội dung chưa thống
nhất giữa pháp luật của Nhà nước và quy
định của Đảng”12;
- Một bộ phận đảng viên, cán bộ lãnh đạo
quản lý có dấu hiệu vi phạm điều lệ đảng, vi
phạm pháp luật nhưng chưa được xử lý kịp
thời và công khai. Đảng ta nhận định “công tác
kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng chưa đáp ứng
đầy đủ yêu cầu trong tình hình mới, chất lượng,
9 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia sự
thật, Hà Nội, 2021, tr.70.
10 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia sự
thật, Hà Nội, 2021, tr.71.
11 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia
sự thật, Hà Nội, 2021, tr.199.
12 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia sự
thật, Hà Nội, 2021, tr.91.
13 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia sự
thật, Hà Nội, 2021, tr.92-93.
14 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia
sự thật, Hà Nội, 2021, tr.74-75.
Số 08(432) - T4/2021
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
hiệu quả chưa đồng đều ở các cấp. Việc kiểm
tra, giám sát thực hiện một số nghị quyết của
Đảng chưa thường xuyên. Công tác kiểm tra ở
một số nơi thiếu trọng tâm, trọng điểm; việc tự
kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm của nhiều
cấp ủy, tổ chức đảng vẫn là khâu yếu”15.
- Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước
chưa tạo ra sự gắn kết hiệu quả giữa các thiết
chế kiểm soát quyền lực nhà nước. Hoạt động
giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân
các cấp, hoạt động kiểm tra của Đảng, hoạt
động thanh tra, kiểm tra của các cơ quan nhà
nước chưa có sự phối hợp chặt chẽ với hoạt
động giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ
chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội.
kiến nghị, đề nghị giám sát của nhân dân. Một
số kiến nghị, phản ánh trong hoạt động giám
sát của nhân dân gửi đến cơ quan nhà nước
chưa kịp thời xử lý, hoặc chưa được giải quyết
thấu đáo. Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của
Đảng nhận định “một bộ phận cán bộ, đảng
viên, công chức, viên chức chưa gương mẫu,
chưa thực sự tôn trọng ý kiến, kiến nghị của
nhân dân và giải quyết kịp thời các quyền, lợi
ích hợp pháp, chính đáng của người dân”17.
Do đó, hoạt động kiểm soát quyền lực nhà
nước từ phía nhân dân thời gian qua chưa thực
sự hiệu quả, “vai trò giám sát của nhân dân
chưa được phát huy mạnh mẽ”18.
- Mô hình hoạt động giám sát của Mặt
trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã
hội chưa hoàn toàn độc lập với các cơ quan
nhà nước. Các thiết chế này vẫn lệ thuộc
vào chính đối tượng bị giám sát, phản biện
về ngân sách, biên chế. Mặt trận Tổ quốc
các cấp mới chỉ đóng vai trò là cơ quan phối
hợp, tham gia thực hiện giám sát chứ chưa
thể hiện được hết vai trò giám sát một cách
chủ động so với các thiết chế khác. Trên
thực tế, “việc đổi mới nội dung và phương
thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và
các tổ chức chính trị - xã hội có mặt chưa
theo kịp yêu cầu của tình hình mới, chưa
thật sâu sát các tầng lớp nhân dân và cơ
sở; chất lượng, hiệu quả hoạt động giám
sát, phản biện xã hội chưa đều”19. Chính vì
vậy, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhận
- Vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và
chức năng quản lý nhà nước của Nhà nước
chưa được phân định rõ. Hệ thống chính trị
cồng kềnh, có hiện tượng chồng chéo về chức
năng, nhiệm vụ giữa cơ quan Đảng và Nhà
nước, “phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với hệ thống chính trị còn chậm đổi mới, có
mặt còn lúng túng. Cơ chế kiểm soát quyền
lực trong Đảng và Nhà nước chưa đầy đủ,
đồng bộ; hiệu lực, hiệu quả chưa cao16.
- Hiến pháp quy định nhân dân thực hiện
quyền giám sát đối với bộ máy nhà nước thông
qua Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị
- xã hội, tổ chức xã hội và cá nhân, công dân.
Tuy nhiên, trình tự, thủ tục để các cơ quan nhà
nước tiếp thu, xử lý những kiến nghị về giám
sát của nhân dân chưa thật sự hiệu quả. Trong
khi đó, pháp luật hiện hành chưa quy định về
các biện pháp theo dõi, kiểm tra việc thực hiện
15 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia sự
thật, Hà Nội, 2021, tr.201.
16 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia sự
thật, Hà Nội, 2021, tr.93.
17 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội, tr.89.
18 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb .Chính trị quốc gia
sự thật, Hà Nội, 2021, tr.89.
19 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia sự
thật, Hà Nội, 2021, tr.88.
6
Số 08(432) - T4/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
định: “cơ chế kiểm soát quyền lực chưa
hoàn thiện”20.
Những nguyên nhân dẫn tới bất cập nêu
trên là:
- Do chưa có sự thống nhất trong nhận
thức về yêu cầu hoàn thiện và thực hiện cơ
chế kiểm soát quyền lực nhà nước;
quyền; bảo đảm quyền lực nhà nước được sử
dụng đúng mục đích. Do vậy, cần nâng cao
nhận thức cho đảng viên, cán bộ, công chức,
viên chức và các tầng lớp nhân dân nhằm tạo
ra sự đồng thuận trong xã hội về sự cần thiết,
khách quan phải hoàn thiện cơ chế kiểm soát
quyền lực nhà nước trong điều kiện mới.
- Nâng cao năng lực thể chế hóa quan
điểm của Đảng về kiểm soát quyền lực nhà
nước trong hoạt động xây dựng pháp luật
Hoạt động xây dựng pháp luật phải thể
chế hóa phải kịp thời, đồng bộ; chương
trình xây dựng pháp luật về kiểm soát
quyền lực nhà nước phải bảo đảm tính khả
thi, phù hợp với chủ trương, chính sách của
Đảng về kiểm soát quyền lực nhà nước và
phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, xã
hội của đất nước. Quán triệt quan điểm của
Đảng “đẩy mạnh phân cấp, phân quyền hợp
lý, hiệu quả, đồng thời tăng cường kiểm
tra, giám sát, kiểm soát quyền lực bằng hệ
thống pháp luật”21. Do vậy, cần sớm “hoàn
thiện các quy định của Đảng, pháp luật
của Nhà nước về kinh tế - xã hội, về kiểm
tra, giám sát và phòng, chống tham nhũng,
lãng phí, nhất là các quy định về kiểm soát
quyền lực, trách nhiệm người đứng đầu,
trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ,
công khai, minh bạch”22. Đồng thời, tiếp
tục nghiên cứu, luận chứng rõ căn cứ khoa
học và pháp lý để hoàn thiện “cơ chế bảo vệ
Hiến pháp”23 như là một thiết chế chuyên
trách kiểm soát quyền lực nhà nước.
- Những sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về
kiểm soát quyền lực nhà nước chưa mang
tính tổng thể. Do vậy, cơ chế pháp lý kiểm
soát quyền lực nhà nước thiếu tính đồng bộ;
- Bên cạnh đó, hoạt động nghiên cứu,
tổng kết thực tiễn về hoạt động của các thiết
chế thực hiện nhiệm vụ kiểm soát quyền lực
nhà nước chưa được quan tâm kịp thời để
có những kiến nghị lập pháp phù hợp.
2. Giải pháp tiếp tục hoàn thiện cơ chế
kiểm soát quyền lực nhà nước theo quan
điểm của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ XIII của Đảng
- Bảo đảm sự thống nhất trong nhận thức
của đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức
và các tầng lớp nhân dân về mục đích, yêu
cầu của việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát
quyền lực nhà nước
Kiểm soát quyền lực nhà nước là yêu cầu
khách quan, xu thế tất yếu. Mục đích của
kiểm soát quyền lực nhà nước không phải
cản trở hoạt động của Nhà nước, làm Nhà
nước yếu đi mà ngược lại kiểm soát quyền
lực nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu
quả hoạt động của Nhà nước. Mặt khác, kiểm
soát quyền lực nhà nước nhằm phòng ngừa,
ngăn chặn tình trạng vi phạm pháp luật, lạm
- Thực hiện đầy đủ nguyên tắc quyền lực
nhà nước là thống nhất, phân công rành
20 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia sự
thật, Hà Nội, 2021, tr.88-89.
21 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, tr.203.
22 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, tr.194-195.
23 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, tr.176.
Số 08(432) - T4/2021
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
mạch, phối hợp chặt chẽ, tăng cường kiểm
soát quyền lực nhà nước
chức, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu
quả hoạt động và uy tín của toà án nhân dân,
viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ
quan thi hành án và các cơ quan, tổ chức
tham gia vào quá trình tố tụng tư pháp…
phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả với
hoạt động của tội phạm và vi phạm pháp
luật”25, không ngừng tăng cường sự phối
hợp, nâng cao hiệu quả “công tác kiểm tra,
giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy
tố, xét xử, thi hành án, phát hiện sớm, xử
lý nghiêm minh các vụ việc, vụ án tham
nhũng, lãng phí”26.
Thực hiện sự phân công, phân nhiệm
rõ ràng, mạch lạc giữa các cơ quan nhà
nước trong việc thực hiện quyền lập pháp,
hành pháp và tư pháp. Trong điều kiện chỉ
có một đảng duy nhất cầm quyền như ở
nước ta hiện nay, việc thực hiện sự phân
công quyền lực cụ thể, rõ ràng sẽ tạo điều
kiện cho bộ phận quyền lực này có thể
kiểm soát được bộ phận quyền lực khác
hiệu quả. Ngoài ra, thực hiện sự phân công
quyền lực rõ ràng sẽ khắc phục được sự
trùng lắp, dựa dẫm, ỷ lại hoặc không rõ
trách nhiệm trong tổ chức thực hiện quyền
lực nhà nước. Do vậy, cần quán triệt chủ
trương của Đảng: “xác định rõ hơn vị trí,
vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
của các cơ quan nhà nước trong việc thực
hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền,
bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất,
có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt
chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực
nhà nước”24.
- Phát huy vai trò của Đảng cẩm quyền
trong hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước
Phát huy vai trò và năng lực kiểm tra,
giám sát của Ủy ban kiểm tra các cấp đối
với đảng viên, nhất là các đảng viên là cán
bộ lãnh đạo quản lý trong việc thực hiện
nhiệm vụ được giao; kịp thời phát hiện,
chấn chỉnh những biểu hiện lệch lạc trong
thực hiện quy định Điều lệ Đảng, các quy
chế, quy định của Đảng. Các tổ chức đảng
có thẩm quyền phải xử lý nghiêm minh, kịp
thời và công khai đối với những đảng viên,
nhất là đảng viên giữ các chức vụ lãnh đạo,
quản lý trong cơ quan nhà nước có hành vi
vi phạm pháp luật. Quán triệt và thống nhất
“thực hiện tốt quy định về kiểm soát quyền
lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức,
chạy quyền; xử lý nghiêm minh, đồng bộ kỷ
luật đảng, kỷ luật hành chính và xử lý bằng
pháp luật đối với cán bộ có vi phạm, kể cả
khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu”27.
- Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt
động của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử và
cơ quan bổ trợ tư pháp trong cơ chế kiểm
soát quyền lực nhà nước
Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng
lực của các cơ quan tiến hành tố tụng trong
hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các vụ
án kinh tế, tham nhũng, chức vụ. Quán triệt
quan điểm của Đảng: “Tiếp tục đổi mới tổ
24 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia sự
thật, Hà Nội, 2021, tr.174-175.
25 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia sự
thật, Hà Nội, 2021, tr.177-178.
26 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật,
Hà Nội, 2021, Tập 1, tr.195; Tập 2, tr.252.
27 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia
sự thật, Hà Nội, 2021, tr.187-188.
8
Số 08(432) - T4/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
- Hoàn thiện quy định pháp luật nâng
cao vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ
chức xã hội, xã hội nghề nghiệp và cơ quan
truyền thông báo chí trong hoạt động kiểm
soát quyền lực nhà nước
minh bạch, trách nhiệm giải trình trong hoạt
động của các cơ quan nhà nước.
- Bảo đảm sự phối hợp đồng bộ, hiệu quả
trong cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước
Một trong những điểm mới về nhận thức
của Đảng ta tại Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XIII đối với việc hoàn thiện cơ chế
kiểm soát quyền lực là phải tăng cường và
bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các thiết
chế trong kiểm soát quyền lực. Do vậy, cần
quán triệt và bảo đảm sự phối hợp đồng bộ
trong hoạt động kiểm soát quyền lực của
các cơ quan quyền lực nhà nước như Quốc
hội, Hội đồng nhân dân các cấp; tăng cường
hoạt động kiểm tra của Đảng với hoạt động
kiểm toán độc lập, hoạt động của thanh tra
Chính phủ và hoạt động của các cơ quan tố
tụng trong các vụ án về kinh tế, tham nhũng,
chức vụ; tạo sự phối kết hợp trong hoạt
động kiểm tra, giám sát của Đảng và hoạt
động giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các
tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối
với hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm
“tăng cường sức mạnh tổng hợp và nâng
cao hiệu lực, hiệu quả giám sát, kiểm tra,
tránh chồng chéo, trùng lặp, lãng phí nguồn
lực, không hiệu quả”30; quán triệt và thực
hiện phương châm “tăng cường kiểm tra,
giám sát công tác cán bộ, gắn với kiểm soát
quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền”31;
bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ cơ chế giám
sát của Mặt trận Tổ quốc và tổ chức chính
trị - xã hội với cơ chế nhân dân trực tiếp
Tiếp tục hoàn thiện pháp luật, cơ chế,
chính sách nhằm “phát huy vai trò của Mặt
trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã
hội, các đoàn thể nhân dân và các cơ quan
thông tin đại chúng trong quá trình hoạch
định chiến lược, chính sách phát triển kinh
tế - xã hội và trong việc phát hiện, đấu tranh
phòng, chống tham nhũng, lãnh phí”28. Quy
định rõ quy trình, thủ tục và trách nhiệm
của người đứng đầu tiếp nhận, giải quyết
những kiến nghị về giám sát của nhân dân.
- Phát huy vai trò và bảo đảm quyền giám
sát trực tiếp của nhân dân, góp phần thực
hiện có hiệu quả cơ chế kiểm soát quyền lực
nhà nước
Cần quán triệt sâu sắc quan điểm “dân
làm chủ”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và
phát huy quyền làm chủ của nhân dân;
tiếp tục thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân
chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt
là dân chủ ở cơ sở; thực hiện tốt có hiệu
quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ
hưởng”29. Xây dựng kịp thời các đạo luật
về quyền con người, quyền công dân. Bên
cạnh đó, cần phải hoàn thiện các quy định
của pháp luật bảo đảm và tăng cường tính
giám sát quyền lực nhà nước
28 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia sự
thật, Hà Nội, 2021, tr.288 -289.
29 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, tr.173.
30 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia sự
thật, Hà Nội, 2021, tr.190.
31 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia sự
thật, Hà Nội, 2021, tr.190.
Số 08(432) - T4/2021
9
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
XÂY DỰNG, QUẢN LÝ CƠ SỞ DỮ LIỆU QUỐC GIA
VỀ KIỂM SOÁT TÀI SẢN, THU NHẬP CỦA NGƯỜI CÓ
CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN TẠI VIỆT NAM
Phạm Công Tùng
ThS. Khoa Luật, Học viện An ninh nhân dân.
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Từ khóa: Cơ sở dữ liệu quốc gia;
người có chức vụ, quyền hạn;
kiểm soát tài sản, thu nhập.
Xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia là xu thế chung của thế giới, là
nhiệm vụ chính trị quan trọng của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích vai trò, các yêu cầu
đặt ra trong quá trình xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm
soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn và đưa ra một số
kiến nghị nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước về phòng, chống
tham nhũng tại Việt Nam.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 21/02/2021
: 13/3/2021
: 16/3/2021
Article Infomation:
Abstract:
Keywords: National database;
persons with high position and
power; controlling of assets,
incomes.
Development and management of the national database is a common trend
followed by several countries in the world, which is an important political
task of each country, including Vietnam. In the scope of this article, the
author focuses on analyzing the role, requirements set out in the process
of development and management of a national database on the aspect of
controlling of assets, incomes of persons in high positions, powers and
also provides a number of recommendations to improve state management
capacity on anti-corruption in Vietnam.
History:
Received
Edited
: 21 Feb. 2021
: 13 Mar. 2021
: 16 Mar. 2021
Approved
1. Vai trò của việc xây dựng, quản lý cơ sở
dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu
nhập của người có chức vụ, quyền hạn
liệu, thông qua đó làm đầu mối giúp Chính
phủ nắm bắt kịp thời tình hình công tác
phòng, chống tham nhũng trong cả nước,
để ra các chủ trương, giải pháp cụ thể.
Cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài
sản, thu nhập được xây dựng và quản lý
tập trung tại Thanh tra Chính phủ trên nền
tảng cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống báo
cáo công tác thanh tra khiếu nại, tố cáo và
phòng, chống tham nhũng được phân theo
hệ quản trị, hệ nghiệp vụ. Thanh tra Chính
phủ chủ trì hoạt động này và phối hợp với
các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập khác
để triển khai xây dựng và quản lý cơ sở dữ
Cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài
sản, thu nhập bao gồm thông tin về bản kê
khai, kết luận xác minh tài sản, thu nhập và
các dữ liệu khác có liên quan đến việc kiểm
soát tài sản, thu nhập theo quy định của
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 20181.
Cơ sở pháp lý để thực hiện sáng kiến này
thể hiện cụ thể trong các văn bản như Luật
Phòng, chống tham nhũng năm 2018; LuậtAn
1 Điều 52, Điều 53, Điều 54 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.
10
Số 08(432) - T4/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
ninh mạng năm 2018; Luật Công nghệ thông
tin năm 2017; Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày
01/7/2014 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng
dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng
yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc
tế; Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 15/4/2015
của Chính phủ về Ban hành chương trình hành
động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số
36- NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị
về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ
thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững
và hội nhập quốc tế; Nghị định số 64/2007/
NĐ-CPngày 10/4/2007 của Chính phủ về ứng
dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của
cơ quan nhà nước; Nghị định số 47/2020/NĐ-
CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ về quản lý,
kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà
nước; Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày
30/10/2020 của Chính phủ về kiểm soát tài
sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn
trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; Quyết định số
714/QĐ-TTg ngày 22/5/2015 của Thủ tướng
Chính phủ về việc ban hành danh mục cơ sở
dữ liệu quốc gia cần ưu tiên triển khai tạo nền
tảng phát triển Chính phủ điện tử; Quyết định
số 1819/QĐ-TTg ngày 26/10/2015 của Thủ
tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương
trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông
tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai
đoạn 2016 - 2020; Quyết định số 749/QĐ-
TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính
phủ về phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi
số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến
năm 2030”; Quyết định số 20/2020/QĐ-TTg
ngày 22/7/2020 của Thủ tướng Chính phủ về
mã định danh điện tử của các cơ quan, tổ chức
phục vụ kết nối, chia sẻ dữ liệu với các bộ,
ngành, địa phương…
liệu của hoạt động kiểm soát tài sản, thu nhập
nói chung. Hoạt động này nhằm giải quyết
mối quan hệ giữa quản trị tốt và phòng, chống
tham nhũng tại Việt Nam, giúp kiềm chế và
kiểm soát tham nhũng; tạo cơ sở, điều kiện
để nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà
nước và phòng, chống tham nhũng; cụ thể là:
Thứ nhất, tăng cường sự kiểm soát, giám
sát đối với người có chức vụ, quyền hạn khi
thực hiện công vụ, nhiệm vụ.
Bản chất của tham nhũng gắn liền với sự
lạm dụng quyền lực nhà nước, là sự tha hóa
của người có chức vụ, quyền hạn trong cả khu
vực công và tư. Bất cứ chiến lược, cách thức,
biện pháp phòng, chống tham nhũng nào cũng
phải nhằm mục đích kiềm chế, ngăn chặn có
hiệu quả sự lạm dụng quyền lực công. Nếu
chúng ta kiểm soát tốt thì sẽ phục vụ tốt cho
công việc quản lý, nó là phương tiện, công
cụ để tổ chức, quản lý xã hội. Ngược lại, nếu
chúng ta không kiểm soát tốt nó sẽ bị lạm
dụng để thu lợi cá nhân. Có nhiều cách thức
để kiểm soát, giám sát quyền lực công như:
hoàn thiện chế độ công vụ; xây dựng quy tắc
ứng xử, quy tắc làm việc; quy định về trách
nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức,
quy định về các hoạt động thanh tra, kiểm tra,
kiểm toán dưới góc độ truyền thống… Trong
đó, việc xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc
gia về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có
chức vụ, quyền hạn có một số ưu điểm vượt
trội hơn như: tính công khai, minh bạch, chính
xác về thông tin khi được cập nhật, chuẩn hóa
bằng dữ liệu điện tử; tính lưu trữ ổn định, an
toàn của dữ liệu thông tin điện tử; tiết kiệm
về chi phí và thời gian trong quá trình khai
thác thông tin phục vụ cho hoạt động quản lý
cán bộ, quản lý nhà nước nói chung và phòng,
chống tham nhũng nói riêng.
Xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia
về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có
chức vụ, quyền hạn là một trong các hoạt động
đặc trưng, công cụ gián tiếp, kênh lưu trữ dữ
Thứ hai, đáp ứng yêu cầu xây dựng cơ sở
dữ liệu quốc gia chung trong quá trình xây
dựng Chính phủ kiến tạo.
Số 08(432) - T4/2021
11
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Dưới góc độ quản lý nhà nước, cơ sở dữ
liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập
của người có chức vụ, quyền hạn là một trong
các dữ liệu đầu vào cho việc xây dựng cơ sở
dữ liệu quốc gia nói chung, phục vụ cho xây
dựng Chính phủ điện tử tại Việt Nam. Các
cơ sở dữ liệu trong cơ quan nhà nước đều có
mối quan hệ liên kết, thống nhất với nhau, có
thể tham chiếu lẫn nhau và tạo sự nhất quán
và đồng bộ trong toàn hệ thống các cơ sở dữ
liệu trong cơ quan nhà nước. Hệ thống cơ sở
dữ liệu quốc gia xác định phạm vi dựa trên
dữ liệu và mục đích chứ không chỉ dựa trên
tên của lĩnh vực, nó giúp phục vụ công tác
chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ, cơ quan hành chính nhà nước, hỗ
trợ lãnh đạo ra quyết định trên cơ sở thông tin,
dữ liệu số được hiển thị trực quan; cho phép
theo dõi, giám sát việc thực hiện các mục tiêu
phát triển kinh tế, xã hội được Quốc hội giao,
các chỉ tiêu Chính phủ giao bộ, ngành, địa
phương. Như vậy, cơ sở dữ liệu quốc gia góp
phần bảo đảm: tái cấu trúc quy trình; (ii) thực
hiện chính sách “một cửa”; (iii) chia sẻ và tiêu
chuẩn hóa dữ liệu; kiểm soát lường trước; (vi)
đảm bảo sự tham gia của các bên liên quan.
Thứ ba, tăng cường tính liêm chính, công
khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình.
Tham nhũng là “hậu quả của sự thiếu hụt
ba yếu tố gồm trách nhiệm giải trình, sự liêm
chính và tính minh bạch trong bối cảnh sự
chuyên quyền, độc đoán và tùy ý hành động
do thiếu sự kiểm soát của các cơ quan và công
chức nhà nước”2. Báo cáo Tổng kết 10 năm
thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng3 của
Chính phủ trình Quốc hội khóa XIV, kỳ họp
thứ 4 đã chỉ ra rằng: “Tình trạng lạm dụng bảo
mật thông tin, thiếu công khai, minh bạch với
nhân dân và trong nội bộ vẫn diễn ra ở nhiều
nơi. Trong một số cơ quan, đơn vị, các quy
định về dân chủ, giám sát chưa được quan
tâm đúng mức, có nơi thậm chí cản trở, vô
hiệu hóa, dẫn đến tình trạng vi phạm kéo dài,
sai phạm nghiêm trọng nhưng không được kịp
thời phát hiện, xử lý”. Để khắc phục tình trạng
này, cần phải xây dựng, phát triển các công
cụ trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông
tin bảo đảm tính công khai, minh bạch, phân
quyền, kiểm soát lẫn nhau, nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nước.
Trong hệ thống các biện pháp phòng
ngừa tham nhũng thì giáo dục liêm chính
là biện pháp phòng ngừa mang tính nền
tảng tạo nên hiệu quả lâu dài và bền vững
nhất. Việc xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu
quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập của
người có chức vụ, quyền hạn sẽ giúp mỗi
con người tự phòng ngừa từ bên trong, ngăn
chặn việc nảy sinh hành vi tham nhũng.
Vấn đề công khai, minh bạch thông tin
đã trở thành nguyên tắc chung trong tổ chức
và hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, đơn
vị, trừ những nội dung thuộc danh mục bí
mật nhà nước, bí mật kinh doanh và nội
dung khác theo quy định của pháp luật4. Tuy
nhiên, nội dung xây dựng, quản lý cơ sở dữ
liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập
của người có chức vụ, quyền hạn tại Việt
Nam thì hình thức, phạm vi công khai bị giới
hạn bởi chủ thể có thẩm quyền yêu cầu, kiến
nghị xác minh tài sản, thu nhập5 và chủ thể
có thẩm quyền tiếp cận, khai thác trực tiếp6.
2
anticorruption/sourcebook_anti.htm.
3 Báo cáo số 330/BC-CP ngày 22/9/2016 của Chính phủ.
4 Điều 9 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.
5 Điều 42 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018.
6 Điều 53, Điều 54 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018.
12
Số 08(432) - T4/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Trách nhiệm giải trình được đặt ra trong
trường hợp chủ thể thực hiện công vụ, nhiệm
vụ được giao phải giải trình về quyết định,
hành vi của mình khi có yêu cầu của cơ quan,
tổ chức, đơn vị, cá nhân bị tác động trực tiếp
bởi quyết định, hành vi đó7. Ứng dụng công
nghệ trong triển khai nội dung này sẽ tăng
cường trách nhiệm giải trình không chỉ riêng
cá nhân người có chức vụ, quyền hạn trong
kê khai tài sản, thu nhập mà còn thúc đẩy các
cơ quan, các địa phương có trách nhiệm giải
trình về các vấn đề khác liên quan đến kiểm
soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ,
quyền hạn do mình quản lý khi để xảy ra các
hành vi tham nhũng, tiêu cực.
Việc thực hiện có hiệu quả công cụ số này
tạo điều kiện thuận lợi để xem xét, đánh giá, đo
lường các chỉ số trong công tác phòng, chống
tham nhũng mà các chủ thể tiến hành trên
phạm vi cả nước. Điều này giúp cho cơ quan
có thẩm quyền chủ động phát hiện các sơ hở,
thiếu sót trong cơ chế quản lý, chính sách pháp
luật nhanh hơn, khoa học, khách quan hơn.
2. Các yêu cầu đảm bảo việc xây dựng,
quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm
soát tài sản, thu nhập của người có chức
vụ, quyền hạn tại Việt Nam
Thứ nhất, yêu cầu về pháp luật:
Xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về
kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức
vụ, quyền hạn tại Việt Nam phải đảm bảo tuân
thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về bảo
mậtthôngtin;quyềnsởhữutrítuệliênquanđến
dữ liệu; quyền riêng tư của tổ chức, cá nhân;
tuân thủ các quy định, hướng dẫn kỹ thuật về
trao đổi dữ liệu, về ứng dụng công nghệ thông
tin (CNTT) trong cơ quan nhà nước và các
nguyên tắc được quy định; tránh xung đột pháp
luật giữa các văn bản pháp luật quy định trực
tiếp về chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của
các chủ thể, lực lượng, biện pháp sử dụng trong
công tác phòng, chống tham nhũng với các văn
bản pháp luật trong việc tạo lập, quản lý và sử
dụng dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu
nhập của người có chức vụ, quyền hạn8…
Giá trị pháp lý của dữ liệu được chia sẻ
trong thông điệp dữ liệu được xác định theo
giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu quy định
tại Mục 1 Chương II Luật Giao dịch điện tử
và quy định của pháp luật có liên quan9.
Thứ tư, phục vụ có hiệu quả cho hoạt
động phát hiện, xử lý tham nhũng của chủ
thể có thẩm quyền.
Các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập và
các cơ quan chuyên trách trong phòng, chống
tham nhũng khác thông qua việc xây dựng,
quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát
tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền
hạn sẽ dễ dàng truy suất nguồn gốc, thu thập
chứng cứ liên quan; kiểm tra, đánh giá các diện
đối tượng có nguy cơ cao tham nhũng, có dấu
hiệu xung đột lợi ích; xác định tính hợp pháp từ
tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền
hạn; theo dõi biến động về tài sản, thu nhập
tăng thêm của người có chức vụ, quyền hạn
trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ nhằm
phát hiện, ngăn chặn việc người có chức vụ,
quyền hạn thực hiện hành vi tham nhũng. Đây
là công cụ pháp lý để phát hiện đúng, có cơ sở,
tìm ra chứng cứ khách quan, thuyết phục và
được đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế, kiến
nghị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
Thứ năm, khắc phục nguyên nhân, điều
kiện làm phát sinh tham nhũng.
Thứ hai, yêu cầu về mặt xây dựng:
Cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài
sản, thu nhập có thể được xây dựng theo mô
7 Điều 15 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018.
8 Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức
vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.
9 Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020 của Thủ tướng chính phủ về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu
số của cơ quan nhà nước (Nghị định số 47/2020/NĐ-CP).
Số 08(432) - T4/2021
13
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
hình thứ tự ưu tiên là kết nối qua hệ thống
trung gian hoặc kết nối trực tiếp giữa các
hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu khi các hệ
thống trung gian chưa sẵn sàng hoặc cơ quan
chủ quản các hệ thống trung gian xác định
hệ thống trung gian không đáp ứng được yêu
cầu về kết nối, chia sẻ dữ liệu10.
thông; tính đồng bộ về dữ liệu giữa các cơ sở
dữ liệu của bộ, ngành, địa phương.
Thứ ba, yêu cầu về quản lý:
Quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm
soát tài sản, thu nhập phải đảm bảo phân
cấp quản lý theo trách nhiệm quản lý của cơ
quan nhà nước; lịch sử khai thác, sử dụng
dữ liệu như thời điểm, hình thức yêu cầu dữ
liệu, cung cấp dữ liệu; định danh cơ quan
yêu cầu khai thác dữ liệu; nội dung yêu cầu;
trạng thái đáp ứng yêu cầu; nội dung dữ liệu
đã chia sẻ (nếu cần thiết); các thông tin cần
thiết khác làm cơ sở đối chiếu giải quyết
các vướng mắc khi sử dụng dữ liệu; thời
gian lưu trữ phải được lưu trữ trên hệ thống
làm căn cứ đối chiếu, giải quyết các vấn đề
về việc sử dụng dữ liệu sau khi khai thác 13.
Cơ quan cung cấp có quyền chấm dứt việc
kết nối, chia sẻ dữ liệu qua môi trường mạng
cho cơ quan khai thác dữ liệu khi mục đích
đăng ký sử dụng không phù hợp; yêu cầu
đăng ký khai thác không đúng theo quy định
của pháp luật; việc kết nối không thể khôi
phục do sự cố hoặc do điều kiện khách quan
mà cơ quan cung cấp dữ liệu không thể tiếp
tục duy trì các dịch vụ chia sẻ dữ liệu; kết nối,
chia sẻ có khả năng mất an toàn, an ninh14…
Việc chia sẻ dữ liệu được lựa chọn thực hiện
qua hai hình thức là chia sẻ dữ liệu mặc định và
chia sẻ dữ liệu theo yêu cầu đặc thù đáp ứng tất
cả các trường hợp chia sẻ dữ liệu thực tế. Chủ
thể có yêu cầu khai thác, sử dụng dữ liệu phải
sử dụng tài khoản kết nối với hình thức định
danh và xác thực phù hợp cho cơ quan, tổ chức
có nhu cầu kết nối theo quy định của pháp luật,
trừ trường hợp chia sẻ dữ liệu không yêu cầu
Tạo lập thông tin dữ liệu phải sử dụng thống
nhất các bảng mã danh mục dùng chung, thống
nhất với dữ liệu chủ do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ban hành11; mô tả mục đích, phạm
vi, nội dung của từng cơ sở dữ liệu; cơ chế thu
thập, cập nhật, nguồn dữ liệu được thu thập của
từng cơ sở dữ liệu; liệt kê các hạng mục dữ liệu
được chia sẻ theo hình thức chia sẻ dữ liệu mặc
định, dữ liệu được chia sẻ theo hình thức chia
sẻ dữ liệu theo yêu cầu đặc thù của từng cơ sở
dữ liệu tương ứng với từng đối tượng khai thác,
sử dụng; phải được cập nhật theo nhu cầu ứng
dụng công nghệ thông tin của từng giai đoạn
phát triển Chính phủ điện tử hoặc khi có đề nghị
của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương; dữ liệu đảm bảo giá trị pháp lý tương
đương các văn bản giấy chứa thông tin được
cơ quan có thẩm quyền cung cấp; phù hợp với
Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam12.
Công cụ quản lý số được xây dựng phải có
các chức năng cơ bản như quản lý tập trung cơ
sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu
nhập; hỗ trợ các cơ quan cung cấp dữ liệu khai
báo, cập nhật thông tin; hỗ trợ cơ quan nhà
nước tìm kiếm, tiếp cận và khai thác; hỗ trợ
tiếp nhận yêu cầu kết nối, khai thác. Ngoài ra,
việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt
động này cần đảm bảo các yêu cầu về tính liên
10 Nghị định số 47/2020/NĐ-CP.
11 Quyết định số 20/2020/QĐ-TTg ngày 22/7/2020 của Thủ tướng Chính phủ về mã định danh điện tử của các cơ
quan, tổ chức phục vụ kết nối, chia sẻ dữ liệu với các Bộ, ngành, địa phương.
12 Nghị định số 47/2020/NĐ-CP.
13 Nghị định số 47/2020/NĐ-CP
14 Nghị định số 47/2020/NĐ-CP.
14
Số 08(432) - T4/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
xác thực cơ quan khai thác dữ liệu (đã thể hiện
trong quy chế khai thác, sử dụng dữ liệu chia sẻ
đã ban hành). Ngoài ra, phải chỉ định và công
khai thông tin về đầu mối phụ trách kết nối,
chia sẻ dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản,
thu nhập ở các cấp quản lý15.
hình thức cập nhật dữ liệu; kế hoạch cập nhật
dữ liệu, bộ tiêu chí đánh giá về mức độ hoàn
thành nhiệm vụ xây dựng, quản lý cơ sở dữ
liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập
của các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập;
quy định về bảo vệ thông tin cá nhân; quy
định về việc thực hiện thủ tục hành chính trên
môi trường điện tử; quy định về phối hợp giữa
Thanh tra Chính phủ và các cơ quan kiểm soát
tài sản khác, các cơ quan khác được pháp luật
quy định trong khai thác, sử dụng dữ liệu quốc
gia về kiểm soát tài sản, thu nhập của người
có chức vụ, quyền hạn.
Thứ tư, yêu cầu khác:
Xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia
về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có
chức vụ quyền hạn phải tận dụng được nguồn
nhân lực có chất lượng tại chỗ đang thực hiện
quản lý, vận hành các hệ thống thông tin và
các nguồn khác theo quy định của pháp luật.
Kinh phí bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu phải
được dự toán trong kinh phí quản lý, vận hành
và duy trì các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu
và được cân đối từ nguồn kinh phí chi thường
xuyên ngân sách nhà nước hàng năm theo
phân cấp ngân sách (kinh phí thực hiện nhiệm
vụ không thường xuyên, không thực hiện chế
độ tự chủ) của cơ quan nhà nước.
Thứ hai, Thanh tra Chính phủ cần
khẩn trương:
- Phối hợp với các cơ quan kiểm soát tài
sản và các cơ quan liên quan khác rà soát nhu
cầu, quy định, điều kiện cần thiết và các hoạt
động cần thực hiện để xây dựng và quản lý
cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản,
thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn;
- Xây dựng chương trình, kế hoạch thực
hiện, kế hoạch kiểm tra, đánh giá dữ liệu
theo từng giai đoạn trình Chính phủ;
3. Một số kiến nghị
Thứ nhất, tăng cường vai trò lãnh đạo,
chỉ đạo của Chính phủ đối với các cơ quan
kiểm soát tài sản thu nhập, đặc biệt là vai trò
chủ trì trong xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu
quốc gia về tài sản, thu nhập của người có
chức vụ, quyền hạn từ phía Thanh tra Chính
phủ. Chính phủ cần tập trung hoàn thiện thể
chế để tạo hành lang pháp lý cho ban hành
các văn bản pháp luật hướng dẫn thực hiện.
Sau khi Nghị định số 130/2020/NĐ-CP
ngày 30/10/2020 của Chính phủ về kiểm soát
tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền
hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị được thông
qua, Chính phủ cần tiếp tục chỉ đạo xây dựng,
ban hành quy chế quản lý, vận hành, khai thác
cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản,
thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn;
quy định nhằm nâng cao tính pháp lý của lưu
trữ điện tử; xây dựng các quy định cụ thể về
- Dự kiến các tình huống phát sinh trong
quá trình xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu
quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập của
người có chức vụ, quyền hạn và dự kiến
giải pháp khắc phục;
- Tham mưu, đề xuất với Chính phủ
nghiên cứu áp dụng phương án là thuê
doanh nghiệp đầu tư trên cơ sở đặt hàng
của Nhà nước và Nhà nước thuê lại để giải
quyết vấn đề nguồn vốn.
Thứ ba, các cơ quan kiểm soát tài sản,
thu nhập cần nâng cao tinh thần trách nhiệm
trong công tác tự kiểm tra, đánh giá, báo cáo
khi xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia
về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có
chức vụ, quyền hạn
15 Nghị định số 47/2020/NĐ-CP.
Số 08(432) - T4/2021
15
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
RÀO CẢN PHÁP LÝ KHI THỰC HIỆN QUYỀN ĐƯỢC TRỢ GIÚP VÀ TIẾP CẬN
CÁC DỊCH VỤ XÃ HỘI CƠ BẢN CỦA LAO ĐỘNG DI CƯ NỘI ĐỊA
Nguyễn Thanh Huyền*
*TS. GVC. Bộ môn Luật Kinh doanh, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Trợ giúp xã hội và cung cấp các dịch vụ xã hội là một trong những chính
sách nhằm đảm bảo an sinh cho người dân luôn được Đảng và Nhà nước
quan tâm thực hiện nhằm giúp những người có hoàn cảnh khó khăn có cơ
hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và thoát nghèo. Việt Nam được Liên
hợp quốc công nhận là một trong các quốc gia đi đầu trong việc thực hiện
một số mục tiêu Thiên niên kỷ (MDGs) như (i) xóa bỏ tình trạng nghèo
cùng cực và thiếu đói; (ii) đạt phổ cập giáo dục tiểu học... Tuy nhiên, việc
thực hiện quyền được trợ giúp xã hội và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
của nhóm lao động di cư nội địa còn gặp nhiều khó khăn. Trong phạm vi
bài viết này, tác giả trình bày, phân tích những khó khăn trong việc thực
hiện quyền được trợ giúp xã hội và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản đối
với lao động di cư nội địa từ khía cạnh pháp lý và đề xuất một số giải pháp
hoàn thiện pháp luật nhằm khắc phục những rào cản này.
Từ khóa: Lao động di cư nội
địa, các dịch vụ xã hội, trợ giúp
xã hội.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 11/3/2021
: 27/3/2021
: 29/3/2021
Article Infomation:
Abstract:
Social assistance and provision of social services are one of the crucial
policies to ensure the well-being of the people that the Party and the State
always pay attention to help people in difficult circumstances have the
opportunity to access the basic social services and getting rid of poverty.
Vietnam is recognized by the United Nations as one of the leading coun-
tries in the implementation of a number of the Millennium Development
Goals (MDGs) such as (i) extreme poverty and hunger eradication; (ii)
universal primary education achievement … However, the implementa-
tion of the right to social assistance and access to basic social services of
the group of internal migrant workers still faces difficulties. In the scope
of this article, the author provides discussions and analysis of difficulties in
exercising the right to social assistance and access to basic social services
for internal migrant workers from a legal perspective and recommendation
for further improvement of the related law to overcome the said barriers.
Keywords: Internal migrant
workers;
social
assistance;
provision of social services.
Article History:
Received
Edited
: 11 Mar. 2021
: 27 Mar. 2021
: 29 Mar. 2021
Approved
1. Nhận diện rào cản pháp lý trong việc
thực hiện quyền được trợ giúp xã hội của
lao động di cư nội địa
sống cho mình hoặc cho gia đình, sớm hòa
nhập với cộng đồng. Với cách hiểu này thì
trợ giúp xã hội có thể được thực hiện bởi bất
kỳ chủ thể nào trong xã hội đối với những
đối tượng cần trợ giúp. Dưới góc độ pháp
lý, trợ giúp xã hội là tổng hợp các quy định
của Nhà nước về chế độ, chính sách đối với
Hiểu một cách chung nhất, trợ giúp xã hội
là sự giúp đỡ về tài chính hoặc các điều kiện
sinh sống thích hợp để đối tượng được giúp
đỡ có thể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc những người có hoàn cảnh khó khăn1.
1 PGS.TS. Lê Thị Hoài Thu, “Giáo trình pháp luật an sinh xã hội”, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2019, tr. 265.
16
Số 08(432) - T4/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Đến cuối năm 2019, cả nước đã có trên đăng ký thường trú hoặc tạm trú với chính
quyền4. Theo kết quả phỏng vấn thì việc
không đăng ký tạm trú của người di cư là
do thủ tục đăng ký khá phiền hà, tốn nhiều
thời gian. Như vậy, để thực hiện được quyền
được trợ giúp xã hội, họ phải trở về nơi đăng
ký “hộ khẩu thường trú” để thực hiện.
3 triệu đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng
tháng, được hỗ trợ kinh phí chăm sóc và cấp
thẻ BHYT; 48.423 người đang được chăm
sóc, nuôi dưỡng tại 432 cơ sở trợ giúp xã
hội (trong đó có 182 cơ sở công lập), chiếm
khoảng 3% dân số; kinh phí thực hiện trợ
giúp xã hội thường xuyên hàng năm là
17.563 tỷ đồng2. Tuy nhiên, việc thực hiện
chính sách và pháp luật về trợ giúp xã hội
đối với lao động di cư nội địa gặp không
ít khó khăn do vướng mắc bởi rào cản quy
định về “sổ hộ khẩu”.
Những đối tượng đang nhận trợ giúp xã
hội thường xuyên mà di cư hoặc di cư theo
thân nhân khá khó khăn trong việc nhận tiền
trợ giúp xã hội hàng tháng vì không có “sổ hộ
khẩu” tại nơi di cư đến. Hiện nay, Nhà nước
mới chỉ hướng dẫn thủ tục quyết định trợ
cấp xã hội hàng tháng khi đối tượng thay đổi
nơi cư trú giữa các xã, phường trong cùng
quận, huyện hoặc giữa các quận, huyện, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh5 mà chưa có hướng
dẫn khi đổi tượng thay đổi nơi cư trú giữa
các tỉnh.
Hiện nay, đối với chế độ trợ giúp xã hội
thường xuyên như: đề nghị trợ cấp xã hội
hàng tháng; đề nghị hỗ trợ kinh phí chăm
sóc nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội; đề
nghị hỗ trợ kinh phí chăm sóc đối với người
nhận nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật
đặc biệt nặng; đề nghị hỗ trợ kinh phí chăm
sóc đối với gia đình có người khuyết tật đặc
biệt nặng… đều có yêu cầu về mặt thủ tục
là phải có “sổ hộ khẩu”3. Những lao động di
cư nội địa hoặc thân nhân của họ thuộc diện
được hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên
(như người khuyết tật đặc biệt nặng) thì khá
khó khăn khi thực hiện thủ tục để được nhận
trợ giúp tại nơi họ di cư đến, nguyên nhân
là họ không có “sổ hộ khẩu”. Theo số liệu
Đối với những trường hợp trợ giúp xã
hội khác như: đề nghị hưởng chính sách hỗ
trợ đối với học sinh, hỗ trợ người bị thương
nặng, đề nghị hỗ trợ chi phí mai táng… thì
cũng yêu cầu phải có “sổ hộ khẩu”. Do đó,
những lao động di cư cũng gặp không ít
khó khăn do việc tiến hành những đề nghị
này được thực hiện từ cơ sở (trưởng thôn)
và thường ưu tiên đối với người dân có hộ
thống kê khoảng 44,3% người di cư chưa khẩu thường trú6.
2 Tuệ Văn, “Nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp xã hội”, http://baochinhphu.vn/Chinh-sach-moi/Nang-cao-
hieu-qua-cong-tac-tro-giup-xa-hoi/388072.vgp, truy cập ngày 06/02/2021.
3 Điều 20 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật Người khuyết tật.
4 Hà Giang, “Những “góc khuất” của cuộc di cư nội địa”, http://kinhtevadubao.vn/chi-tiet/91-7330-nhung-
goc-khuat-cua-cuoc-di-cu-noi-dia.html, truy cập ngày 01/02/2021.
5 Khoản 3, khoản 4 Điều 8 và Điều 12 Nghị định quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ
xã hội (theo văn bản hợp nhất số: 762/2019/VBHN-BLĐTBXH).
6 Điều 12, Điều 13, Điều 14, Điều 10 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định
chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.
Số 08(432) - T4/2021
17
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
2. Nhận diện rào cản pháp lý trong việc
thực hiện quyền tiếp cận các dịch vụ xã
hội cơ bản của lao động di cư nội địa
các trung tâm kinh tế lớn tìm việc làm nên
các trường học ở những nơi này đều quá tải.
Vì vậy, các trường học thường ưu tiên nhập
học đối với học sinh có hộ khẩu thường trú
tại địa phương, nếu còn khả năng tiếp nhận
mới nhận học sinh có hộ khẩu “tạm trú”
hay “trái tuyến”. Do đó, con của lao động
di cư nội địa sẽ phải đăng ký cho con học
mầm non, tiểu học, trung học cơ sở… ở các
trường tư thục với mức chi phí học tập cao
hơn nhiều so với trường công lập. Nhiều
trường hợp lao động di cư không đủ điều
kiện kinh tế và điều kiện chăm sóc con nên
đành để con cho ông/bà hoặc người thân
nuôi dưỡng ở quê.
Trong năm 2013 có khoảng 62% dân số
là lao động dễ bị tổn thương, bao gồm nhiều
người di cư nội địa tạm thời, đặc biệt là khi
họ được xếp loại là người dân tạm trú7. Đây
là rào cản khó khăn đối với lao động di cư
khi tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như:
giáo dục, y tế, nước sạch, điện… Theo kết
quả nghiên cứu của Tổ chức Oxfam tại Việt
Nam, người lao động di cư cũng phải trả chi
phí kép do không có hộ khẩu tại nơi đến,
đặc biệt là các chi trả cho những dịch vụ xã
hội cơ bản như: Y tế, giáo dục, nhà ở, điện
nước sinh hoạt cao hơn hẳn so với dân cư
địa phương, thậm chí họ bị loại ra khỏi các
chương trình giảm nghèo, không thể tiếp
cận được các chương trình vay vốn tạo việc
làm8. Những vấn đề khó khăn trong việc
tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản là do các
rào cản pháp lý sau đây:
Đối với học sinh tiểu học, Luật Giáo dục
năm 2019 quy định học sinh tiểu học trong
cơ sở giáo dục công lập không phải đóng
học phí; ở địa bàn không đủ trường công
lập, học sinh tiểu học trong cơ sở giáo dục
tư thục được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng học
phí, mức hỗ trợ do Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh quyết định10. Như vậy, mức hỗ trợ đóng
học phí cho học sinh tiểu học học tại các
cơ sở giáo dục tư thục giữa các tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương là khác nhau,
phụ thuộc vào quyết định của Hội đồng dân
nhân tỉnh, thành đó. Ví dụ: Hội đồng nhân
dân tỉnh Bình Định quyết định hỗ trợ tiền
đóng học phí cho học sinh cấp tiểu học đang
học tại các cơ sở giáo dục tư thục trên địa
bàn tỉnh trong năm học 2020-2021, với mức
Một là, quy định về đăng ký học tập và
miễn, giảm học phí cho con của lao động di
cư nội địa. Điều lệ Trường Tiểu học do Bộ
Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về
quyền học tập của trẻ em như sau: “Được
học ở một trường, lớp hoặc cơ sở giáo dục
khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu
học tại nơi cư trú; được chọn trường ngoài
nơi cư trú nếu trường đó có khả năng tiếp
nhận”9. Tuy nhiên, do một lượng lớn người
lao động di cư nội địa đến các thành thị hoặc hỗ trợ là 110.000 đồng/tháng/học sinh; thời
7 Bộ LĐTB&XH, UNDP (2016), “Tổng quan và đề xuất đổi mới hệ thống trợ giúp xã hội Việt Nam”, tr.5.
8 Kim Thanh, “Lao động di cư phi chính thức: Khó tiếp cận các dịch vụ xã hội”, http://dangcongsan.vn/xa-hoi/
lao-dong-di-cu-phi-chinh-thuc-kho-tiep-can-cac-dich-vu-xa-hoi-362479.html.
9 Điều 42 Thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30/12/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ
Trường Tiểu học.
10 Khoản 3 Điều 98 Luật Giáo dục năm 2019.
18
Số 08(432) - T4/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
gian hỗ trợ: không quá 9 tháng/năm học11. hiểm y tế (BHYT) toàn dân. Theo Ban Quản
Quy định này phần nào hỗ trợ được những
khó khăn về tài chính đối với con của lao
động di cư nội địa, đặc biệt là lao động di
cư nội địa.
lý Thu - Sổ, Thẻ Bảo hiểm xã hội Việt Nam,
đến ngày 20/11/2020, số người tham gia
BHYT trên toàn quốc là 86,35 triệu người,
đạt tỷ lệ khoảng 89,2% dân số tham gia
BHYT15. Như vậy, chúng ta vẫn còn 10,8%
dân số chưa tham gia BHYT. Theo kết quả
điều tra của OXFAM tại Việt Nam, nguyên
nhân dẫn đến người lao động di cư sử dụng
thẻ BHYT thấp là “không thuận tiện về thời
gian, chờ đợi lâu, bất tiện trong đi lại, thủ
tục hành chính phức tạp, cộng với thời gian
phải dành cho lao động kiếm sống”16. Theo
một nghiên cứu khác, lao động di cư, đặc
biệt là lao động di cư phi chính thức tại Việt
Nam khó có khả năng tham gia BHYT hộ
gia đình và khả năng tiếp cận các dịch vụ y
tế có chất lượng17.
Đối với trẻ em mầm non 05 tuổi và
học sinh trung học cơ sở được miễn học
phí theo lộ trình do Chính phủ quy định12.
Tuy nhiên, Chính phủ hiện nay chưa quy
định lộ trình miễn học phí cho đối tượng
này. Theo kết quả điều tra năm 2015 của
Tổ chức OXFAM tại Việt Nam, trẻ em di
cư theo cha mẹ thiệt thòi hơn trẻ em không
di cư trong việc tiếp cận giáo dục 21,2%
trong tổng số 52 trẻ được khảo sát trong độ
tuổi từ 6 -14 tuổi theo cha mẹ là người lao
động di cư sinh sống tại nơi đến không đi
học13. Ở cấp trung học cơ sở và trung học
phổ thông, theo số liệu điều tra năm 2019,
có tới 83,9% trẻ em không di cư trong độ
tuổi 11-18 đang đi học nhưng chỉ có 55,7%
trẻ em di cư ngoại tỉnh trong nhóm nhóm
tuổi này đang đi học14.
Từ ngày 01/01/2016, Luật BHYT đã
quy định về thông tuyến khám, chữa bệnh
đối với bệnh viện tuyến huyện trong cùng
địa bàn tỉnh18 và từ ngày 01/01/2021 đã áp
dụng thông tuyến điều trị nội trú cho người
tham gia BHYT khi tự đi khám bệnh, chữa
Hai là, quy định về dịch vụ bảo hiểm y tế.
Nhà nước đã có chính sách để thực hiện bảo bệnh không đúng tuyến tại các cơ sở khám
11 Điều 1 Quyết định số 49/2020/QĐ-UBND ngày 30 tháng 7 năm 2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định
quy định mức hỗ trợ tiền đóng học phí cho học sinh tiểu học trong các cơ sở giáo dục tư thục trên địa bàn tỉnh
Bình Định.
12 Khoản 5 Điều 98 Luật Giáo dục năm 2019.
13 Chương trình Quyền Lao động của OXFAM tại Việt Nam (2015), Báo cáo tóm tắt: “Rào cản pháp luật và
thực tiễn đối với người lao động di cư trong tiếp cận an sinh xã hội”, Nxb. Hồng Đức, năm 2015, tr.32.
14 Bảo Hiệp, “Đảm bảo người di cư được tiếp cận đầy đủ và công bằng các dịch vụ xã hội”, http://baobao hiemxahoi.
vn/vi/tin-chi-tiet-dam-bao-nguoi-di-cu-duoc-tiep-can-day-du-va-cong-bang-cac-dich-vu-xa-hoi-e120f22c.aspx.
15 Minh Anh (2020), “Nhiều dư địa mở rộng số người tham gia bảo hiểm y tế”, https://tapchitaichinh.vn/bao-
hiem/nhieu-du-dia-mo-rong-so-nguoi-tham-gia-bao-hiem-y-te.
16 Chương trình Quyền Lao động của Oxfam tại Việt Nam (2015) Báo cáo tóm tắt: “Rào cản pháp luật và thực
tiễn đối với người lao động di cư trong tiếp cận an sinh xã hội”, Nxb. Hồng Đức, năm 2015, tr.34.
17 TS. Nguyễn Thanh Huyền và TS. Phạm Thị Thúy Nga (2020), “Nhận diện các rào cản pháp lý trong việc thực
hiện các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với lao động di cư nội địa và một số khuyến nghị”, Tạp chí
Lao động và Xã hội số 632 năm 2020, tr.2-4.
18 Điểm c khoản 3 Điều 22 Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2014.
Số 08(432) - T4/2021
19
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 8 - Năm 2021", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tap_chi_nghien_cuu_lap_phap_so_8_nam_2021.pdf

