Hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế so sánh với luật sáng chế Hoa Kỳ

HÀNH VI TRÁI PHÁP LUẬT XÂM PHẠM  
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI SÁNG CHẾ  
SO SÁNH VỚI LUẬT SÁNG CHẾ HOA KỲ  
Lê Thị Ngọc Trâm  
Học viên cao học trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh  
TÓM TẮT  
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế phát sinh khi  
hội đủ ba điều kiện cơ bản: phải có thiệt hại xảy ra trên thực tế, có hành vi xâm phạm là hành vi trái pháp  
luật và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật gây thiệt hại và thiệt hại thực tế. Trong đó, hành  
vi xâm phạm là hành vi trái pháp luật chính là yếu tố tác động dẫn đến thiệt hại phải được bồi thường. Tuy  
nhiên, quy định hiện nay về hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế  
chủ yếu chế tài các hành vi xâm phạm trực tiếp. Thực tế, ngoài hành vi xâm phạm trực tiếp còn có hành vi  
xâm phạm gián tiếp cần phải nghiên cứu. Vì thế, việc nghiên cứu không chỉ được rút ra từ hoạt động áp  
dụng pháp luật thực tiễn mà còn trên cơ sở so sánh với pháp luật các quốc gia trên thế giới, mà điển hình  
là so sánh với Luật Sáng chế Hoa Kỳ.  
Từ khóa: Hành vi trái pháp luật, mối quan hệ nhân quả, sáng chế.  
1. HÀNH VI TRÁI PHÁP LUẬT XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI  
VỚI SÁNG CHẾ  
Hành vi gây thiệt hại làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải là hành vi trái  
pháp luật. Hành vi trái pháp luật có thể được hiểu là “những xử sự cụ thể của con người được thể hiện  
thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật xâm phạm đến những  
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể52”. Như vậy, hành vi trái pháp luật làm phát sinh trách nhiệm  
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải là vi phạm pháp luật và xâm phạm đến những quyền và lợi ích  
được pháp luật bảo vệ. Hành vi gây thiệt hại có thể thể hiện dưới hai dạng thức cơ bản là hành động hoặc  
không hành động. Hành vi bị xem xét là hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế,  
khi có đủ các căn cứ như sau:  
1. Một là, sáng chế bị xem xét là đối tượng đang trong thời gian được bảo hộ quyền sở hữu công  
nghiệp theo bằng độc quyền sáng chế được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp;  
2. Hai là, hành vi bị xem xét là hành vi nhằm mục đích xâm phạm quyền sở hữu sáng chế đang được  
Nhà nước bảo hộ;  
3. Ba là, người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền sở hữu công nghiệp đối với  
sáng chế và không phải là người được pháp luật hoặc được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho  
phép sử dụng sáng chế;  
4. Bốn là, hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam. Tuy nhiên, nếu hành vi bị xem xét này xảy ra trên  
mạng internet nhưng nhằm vào người tiêu dùng hoặc người dùng tin tại Việt Nam thì cũng bị coi là  
52 Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh (2013), Giáo tr nh pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp  
đồng, NXB. Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, tr.378.  
175  
xảy ra tại Việt Nam. Căn cứ này xuất phát từ nguyên tắc lãnh thổ trong bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ,  
theo đó quyền được xác lập ở quốc gia nào thì được bảo hộ trong phạm vi quốc gia đó, trừ trường  
hợp các Điều ước mà quốc gia tham gia là thành viên có quy định khác.  
Hành vi hội đủ các căn cứ trên thì được xem là hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng  
chế.  
Luật Sở hữu Trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, quy định cụ thể về các hành vi xâm phạm các  
đối tượng quyền sở hữu trí tuệ. Hành vi bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu sáng chế: (i) sử dụng  
sáng chế được bảo hộ trong thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ mà không được phép của chủ sở hữu;  
(ii) sử dụng sáng chế mà không trả tiền đền bù theo quy định về quyền tạm thời đối với sáng chế quy định  
tại Điều 126 Luật Sở hữu Trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009.  
Điều này có nghĩa là trong thời hạn văn bằng bảo hộ có hiệu lực bất kỳ ai sử dụng sáng chế dưới các hình  
thức như: sản xuất sản phẩm được bảo hộ; áp dụng quy trình được bảo hộ; khai thác công dụng của sản  
phẩm, nhập khẩu sản phẩm được bảo hộ hoặc sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ; lưu  
thông, quảng cáo, chào hàng, tàng trữ để lưu thông sản phẩm được bảo hộ hoặc sản phẩm được sản xuất  
theo quy trình được bảo hộ mà không được phép của chủ sở hữu bị coi là có hành vi xâm phạm quyền sở  
hữu công nghiệp đối với sáng chế.  
Bên cạnh đó, đối với sáng chế còn có quy định rất đặc thù về quyền tạm thời đối với sáng chế. Quyền tạm  
thời đối với sáng chế ở đây được hiểu là trong trường hợp người nộp đơn đăng ký sáng chế biết rằng đang  
có người khác sử dụng sáng chế mà mình đã nộp đơn nhằm mục đích thương mại và người đó không có  
quyền sử dụng trước sáng chế thì người nộp đơn có quyền thông báo bằng văn bản cho người sử dụng về  
việc mình đã nộp đơn đăng ký. Trong thông báo thể hiện rõ các thông tin về số đơn đăng ký, ngày nộp  
đơn, ngày công bố trên công báo sở hữu công nghiệp để người đó chấm dứt việc sử dụng hoặc tiếp tục sử  
dụng. Khi người nộp đơn đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp bằng độc quyền sáng chế thì chủ  
sở hữu sáng chế trên cơ sở pháp lý này có quyền yêu cầu người đã sử dụng sáng chế phải trả một khoản  
tiền tương đương với giá chuyển giao quyền sử dụng sáng chế trong phạm vi và thời hạn sử dụng tương  
ứng. Vậy nếu như người sử dụng sáng chế này không trả cho chủ sở hữu sáng chế khoản tiền đền bù vì đã  
sử dụng trước sáng chế thì bị coi là có hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế.  
2. SO SÁNH VỚI LUẬT SÁNG CHẾ HOA KỲ  
Hoa Kỳ luôn được xem là điển hình của việc bảo hộ sáng chế trên toàn thế giới. Trong Luật Sáng chế Hoa  
Kỳ hành vi xâm phạm bằng sáng chế được chia thành hai dạng hành vi xâm phạm trực tiếp và hành vi xâm  
phạm gián tiếp. Hành vi xâm phạm bằng sáng chế trực tiếp quy định tại Điều 271a, người xâm phạm bằng  
sáng chế là bất kỳ người nào chế tạo, sử dụng, chào bán hoặc bán, trái phép, bất cứ sáng chế được cấp  
bằng trong phạm vi lãnh thổ Hoa Kỳ hoặc nhập khẩu vào lãnh thổ Hoa Kỳ bất kỳ sáng chế nào được cấp  
bằng trong thời hạn của sáng chế đó. Các hành vi xâm phạm trực tiếp đến sáng chế trong Luật Sáng chế  
Hoa Kỳ rất tương đồng với các hành vi được quy định tại Luật Sở hữu Trí tuệ của Việt Nam như đã phân  
tích ở trên.  
Tuy nhiên, khác với quy định trong pháp luật Việt Nam chỉ chủ yếu quy định về hành vi xâm phạm trực  
tiếp, Luật Sáng chế Hoa Kỳ còn quy định về hành vi xâm phạm gián tiếp. Các hành vi bị coi là hành vi  
xâm phạm gián tiếp được quy định tại Điều 271b, đó là hành vi chủ động xúi giục người khác thực hiện  
hành vi xâm phạm bằng sáng chế sẽ phải chịu trách nhiệm như người trực tiếp xâm phạm.  
Luật Sáng chế Hoa Kỳ tại Điều 271f bất cứ người nào cung cấp trái phép, dù là trực tiếp hoặc gián tiếp,  
trên hoặc từ lãnh thổ Hoa Kỳ toàn bộ hoặc một phần đáng kể các cấu phần của một sáng chế được cấp  
bằng sáng chế có các cấu phần không được phối hợp với nhau toàn bộ hoặc một phần, nhằm chủ động tạo  
176  
ra sự kết hợp của các cấu phần đó ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ, và nếu việc kết hợp các cấu phần đó xảy ra trên  
lãnh thổ Hoa Kỳ thì hành vi đó có thể bị coi là xâm phạm bằng sáng chế, thì người đó chịu trách nhiệm  
pháp lý như người xâm phạm.  
Xem xét các quy định về sáng chế tại Hoa Kỳ, ta thấy ngoài hành vi xâm phạm sáng chế trực tiếp còn quy  
định các hành vi xâm phạm gián tiếp. Các hành vi xâm phạm gián tiếp có thể kể đến như hành vi chủ động  
xúi giục người khác thực hiện hành vi xâm phạm bằng sáng chế, cung cấp trái phép toàn bộ hoặc một phần  
của sáng chế. Các hành vi này được xem là những hành vi xâm phạm gián tiếp quyền sở hữu công nghiệp  
đối với sáng chế. Khi phát sinh những hành vi này, Luật sáng chế Hoa Kỳ cũng quy định trách nhiệm pháp  
lý như những người có hành vi xâm phạm trực tiếp.  
Hiện nay, Luật Sở hữu Trí tuệ Việt Nam chưa đưa ra các quy định để điều chỉnh các hành vi xâm phạm  
gián tiếp quyền sở hữu trí tuệ, điều này dễ dẫn đến việc bảo hộ sáng chế không toàn diện. Vì thực tế cho  
thấy, với những đặc tính dễ bị xâm phạm và khả năng thu lợi nhuận cao của các đối tượng quyền sở hữu  
trí tuệ thì việc có hành vi xâm phạm gián tiếp là điều rất dễ xảy ra trong thực tế. Trong quy định của pháp  
luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành thì hành vi xâm phạm trực tiếp sáng chế mới bị coi là hành vi xâm  
phạm quyền của sáng chế. Vậy trường hợp, một người không xâm phạm trực tiếp sáng chế mà họ tham  
gia vào việc sử dụng công nghệ, kỹ thuật để xâm phạm sáng chế hoặc hành vi chủ động xúi giục người  
khác thực hiện hành vi xâm phạm bằng sáng chế , cung cấp trái phép các bộ phận của sáng chế thì hiện tại  
Luật Sở hữu Trí tuệ Việt Nam không có cơ chế để xem xét là hành vi xâm phạm gián tiếp quyền đối với  
sáng chế.  
Chính vì điều này, trong tương lai cần xem xét để bổ sung thêm chế tài đối với các hành vi xâm phạm gián  
tiếp quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế vào Luật Sở hữu Trí tuệ Việt Nam để đảm bảo các quyền  
và lợi ích hợp pháp cho chủ sở hữu sáng chế.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt  
hại ngoài hợp đồng, NXB. Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, tr.378.  
177  
pdf 3 trang Thùy Anh 6200 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế so sánh với luật sáng chế Hoa Kỳ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhanh_vi_trai_phap_luat_xam_pham_quyen_so_huu_cong_nghiep_doi.pdf