Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong xét xử tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ TRONG XÉT XỬ...
TỘI GIAO CẤU HOẶC THỰC HIỆN HÀNH VI QUAN HỆ TÌNH DỤC KHÁC
VỚI NGƯỜI TỪ ĐỦ 13 TUỔI ĐẾN DƯỚI 16 TUỔI
DƯƠNG THỊ XUÂN QUÝ – NGUYỄN THỊ THÙY GIANG*
Trong số các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, “tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan
hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” luôn chiếm đa số và có xu hướng
ngày càng tăng cao. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử tội phạm này còn gặp nhiều khó khăn. Bài viết
đi sâu phân tích về những vướng mắc gặp phải trong việc áp dụng pháp luật hình sự khi điều
tra, xét xử loại tội phạm này.
Từ khóa: Tội phạm xâm hại trẻ em, Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, pháp luật hình
sự, Bộ luật hình sự năm 2015.
Ngày nhận bài: 17/12/2021; Biên tập xong: 12/11/2021; Duyệt đăng: 28/01/2021
Among child sexual abuse crimes, “engaging in sexual intercourse or other sexual
activities with a person aged from 13 to under 16” is always in the majority and tends
to increase. However, there are many difficulties in trail that crime practically. The article
analyzes obtacles in the application of criminal laws when investigating and adjudication
this type of crime.
Keywords: Child abuse crime, child sexual abuse crime, criminal law, the 2015 Penal Code.
Việt Nam, ước tính mỗi năm giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ
có khoảng 80.000 người dưới
18 tuổi có liên quan đến pháp
tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến
dưới 16 tuổi (đã xét xử 1.267 vụ và 1.312
bị cáo phạm tội, chiếm 49,59% về số vụ;
48,86% về số bị cáo so với các tội xâm hại
tình dục trẻ em). Mặc dù Bộ luật hình sự
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 –
gọi tắt là BLHS năm 2015) đã có những
quy định mới về “Tội giao cấu hoặc thực
hiện hành vi quan hệ tình dục khác với
người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo
hướng phù hợp với yêu cầu thực tiễn đấu
tranh, phòng, chống tội phạm, tuy nhiên,
qua thực tiễn xét xử tội phạm này vẫn còn
Ở
luật, trong đó 18.000 người vi phạm pháp
luật1, 2.000 người dưới 18 tuổi là người bị
hại trong các vụ án hình sự2. Trong số các
tội phạm xâm hại trẻ em nói chung, tội
phạm xâm hại tình dục trẻ em chiếm tỷ lệ
89% số vụ và 84% số bị cáo3. Theo số liệu
của Tòa án nhân dân tối cao, trong hai năm
2018, 2019, các Tòa án nhân dân đã xét xử
2.555 vụ và 2.685 bị cáo phạm tội xâm hại
tình dục trẻ em4, trong đó phổ biến là tội
1ꢀ Bộ Tư pháp, Dự thảo Phân tích thực trạng người
chưa thành niên vi phạm pháp luật và hệ thống tư
pháp người chưa thành niên ở Việt Nam (2019)
2ꢀ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Chỉ tiêu trẻ
em Việt Nam (2015 - 2016)
* Thạc sĩ, Khoa Luật, Trường Đại học khoa học, Đại
học Thái Nguyên
năm 2017, các tội xâm hại tình dục trẻ em bao gồm: Tội
3ꢀ Báo cáo việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, hiếp dâm người dưới 16 tuổi; Tội cưỡng dâm người
chống xâm hại trẻ em, Tòa án nhân dân tối cao tháng 9/2019. từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; Tội giao cấu hoặc thực
4ꢀ Điều 34 Công ước quốc tế về quyền trẻ em buộc các hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13
quốc gia thành viên cam kết bảo vệ trẻ em chống lại tất tuổi đến dưới 16 tuổi; Tội dâm ô đối với người dưới
cả các hình thức bóc lột tình dục và lạm dụng tình dục. 16 tuổi; Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích
Theo quy định của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung
khiêu dâm; Tội mua dâm người dưới 18 tuổi.
28 Khoa học Kiểm sát
Số 01 - 2021
DƯƠNG THỊ XUÂN QUÝ – NGUYỄN THỊ THÙY GIANG
một số vướng mắc dẫn đến việc áp dụng với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
pháp luật chưa thống nhất, làm cho việc
giải quyết vụ án chưa thỏa đáng. Cụ thể
như sau:
khá phức tạp do các nạn nhân của tội
phạm đều ở độ tuổi dậy thì, các em có sự
phát triển nhanh về thể chất, thái độ xử
sự giống người lớn. Trong một số trường
hợp, bản thân các nạn nhân cố ý che giấu
độ tuổi hoặc nói sai độ tuổi của mình làm
cho người phạm tội lầm tưởng nạn nhân
là người đã thành niên và thực hiện hành
vi giao cấu6.
1. Vướng mắc trong xác định mặt chủ
quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm là các hoạt
động tâm lý bên trong của người phạm
tội bao gồm lỗi, động cơ và mục đích
phạm tội. Theo TSKH. Lê Cảm, “động
cơ và mục đích không phải là những dấu
hiệu được xếp ngang hàng với lỗi trong
mặt chủ quan của tội phạm, vì tự bản
thân mình lỗi là toàn bộ mặt chủ quan của
tội phạm, còn động cơ và mục đích suy
cho cùng chẳng qua cũng chỉ là các yếu
tố của lỗi mà thôi”5. Đối với tội giao cấu
hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục
khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16
tuổi, động cơ, mục đích của người phạm
tội không là dấu hiệu bắt buộc trong cấu
thành tội phạm. Thực tế, động cơ và mục
đích của người phạm tội thường là vì ham
muốn tình dục, thỏa mãn nhu cầu sinh lý
của người phạm tội… và các dấu hiệu này
đều không được làm rõ trong hồ sơ vụ án.
Về lỗi của người phạm tội, theo quy
định tại Điều 145 BLHS năm 2015, lỗi
của chủ thể là lỗi cố ý. Trong trường hợp
người phạm tội biết tuổi thật của nạn nhân
và nhận thức được hành vi giao cấu của
mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn
mong muốn thực hiện hành vi giao cấu
với họ thì lỗi của chủ thể được xác định là
lỗi cố ý trực tiếp.
Vụ án sau là ví dụ: Luận Văn K và Lê
Thị Thu H (sinh ngày 17/6/2003) quen biết
nhau qua chương trình VOV kết bạn bốn
phương. Khi mới quen, H nói dối K tên
là L, sinh năm 1997 ở tỉnh B, là sinh viên
mới ra trường đang chờ xin việc. Hai bên
thường xuyên nhắn tin, gọi điện cho nhau
nên đã nảy sinh tình cảm, đồng thời H biết
được địa chỉ phòng trọ của K và hai người
hẹn hò gặp nhau. Ngày 16/7/2018, H đi xe
ôm đến phòng trọ của K để chơi. Tại đây,
H nói dối đang đi tìm việc làm, hiện chưa
có chỗ ở và xin ở nhờ cùng phòng trọ với
K mấy hôm nên K đồng ý. Trong khoảng
thời gian từ ngày 16/7/2018 đến 26/7/2018,
K và H đã 07 lần giao cấu với nhau, trong
đó cả 07 lần H đều tự nguyện giao cấu với
K, thậm chí có những lần H chủ động gợi
ý K giao cấu. Tại bản án hình sự sơ thẩm
số 30/2018/HSST ngày 30/9/2018 của Tòa
án nhân dân huyện V, tỉnh H đã áp dụng
điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1,
khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015, xử phạt
bị cáo Luận Văn K 04 năm 06 tháng tù về
tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến
dưới 16 tuổi”.
Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng
pháp luật, việc chứng minh ý thức chủ
quan của người phạm tội giao cấu hoặc
thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác
6ꢀ Qua nghiên cứu ngẫu nhiên 100 bản án, có 04 bản
án tuyên bố các bị cáo phạm tội giao cấu hoặc thực
hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13
tuổi đến dưới 16 tuổi trong trường hợp bản thân các
5ꢀ TSKH. Lê Cảm, Các nghiên cứu chuyên khảo về phần bị cáo không biết tuổi thật của người bị hại (02 bản
chung Luật hình sự, Nxb. Công an nhân dân, năm án) hoặc người bị hại nói dối độ tuổi và các thông tin
2000, tr.53
cá nhân cho bị cáo (02 bản án).
Số 01 - 2021
Khoa học Kiểm sát 29
THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ TRONG XÉT XỬ...
Trong quá trình giải quyết các vụ án thuộc vào nhận thức của người khác nên
tương tự kể trên, có nhiều quan điểm
khác nhau về đường lối giải quyết, gây
nên tình trạng thiếu thống nhất trong quá
trình giải quyết hành vi phạm tội giữa các
cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và
các đơn vị Tòa án trong toàn hệ thống nói
riêng, cụ thể:
khi giải quyết loại vụ án này, chỉ cần chứng
minh bị hại là người từ đủ 13 tuổi đến dưới
16 tuổi, không cần chứng minh ý thức chủ
quan của người phạm tội. Do đó, người bị
tội phạm xâm hại là người từ đủ 13 tuổi
đến dưới 16 tuổi có nằm trong ý thức chủ
quan của người phạm tội hay không đều
không ảnh hưởng đến quá trình định tội
danh và quyết định hình phạt.
Quan điểm thứ nhất cho rằng Luận Văn
K không phạm tội giao cấu với trẻ em,
việc xác định tội danh trong trường hợp
này phải căn cứ vào hai yếu tố: Độ tuổi
thực của người bị hại từ đủ 13 tuổi đến
dưới 16 tuổi và ý thức chủ quan của bị cáo
K, tức là bị cáo phải biết được người bị hại
dưới 16 tuổi. Bởi theo quy định của BLHS,
tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan
hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi
đến dưới 16 tuổi quy định hình thức lỗi
cố ý. Nghĩa là, chỉ truy cứu trách nhiệm
hình sự khi người phạm tội nhận thức
được đối tượng bị xâm hại là người từ đủ
13 tuổi đến dưới 16 tuổi nhưng vẫn quyết
tâm thực hiện hành vi giao cấu với người
bị hại. Việc kết tội đối với K trong trường
hợp này là thiếu khách quan, không đảm
bảo nguyên tắc lỗi của người phạm tội.
Quan điểm thứ hai cho rằng hành vi của
K đã cấu thành tội giao cấu với người từ
đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo Điều 145
BLHS năm 2015, mặc dù về ý thức chủ
quan, bị cáo không biết người bị hại chưa
đủ 16 tuổi là “nằm ngoài chế định của tội
phạm quy định về hành vi khách quan
cũng như ý thức chủ quan của tội phạm”7.
Theo đó, phạm tội đối với người từ đủ 13
tuổi đến dưới 16 tuổi không phải tình tiết
thuộc về mặt chủ quan của tội phạm mà
là tình tiết thuộc về mặt khách quan. Một
người bao nhiêu tuổi theo ngày, tháng,
năm sinh của người đó mà không phụ
Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày
12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao đã hướng dẫn: “Chỉ
áp dụng tình tiết phạm tội với trẻ em đối với
những trường hợp phạm tội do lỗi cố ý, không
phụ thuộc vào ý thức chủ quan của bị cáo có
nhận biết được hay không nhận biết được người
bị xâm hại là trẻ em”. Tác giả cho rằng trong
vụ án này, hành vi của Luận Văn K đã cấu
thành tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi
đến dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 145
BLHS năm 2015. Song, Luận Văn K phạm
tội do một phần lỗi của người bị hại khiến
bị cáo nhầm lẫn rằng người bị hại không
phải người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi,
khi quyết định hình phạt Tòa án có thẩm
quyền giải quyết có thể áp dụng Điều 59
Bộ luật này miễn hình phạt cho bị cáo hoặc
xác định rõ trong bản án về lỗi của người
bị hại để áp dụng khoản 2 Điều 51; Điều
54 BLHS năm 2015 quyết định hình phạt
nhẹ hơn so với những trường hợp phạm
tội thông thường.
Tuy nhiên, hướng dẫn tại Nghị quyết
số 01/2006/NQ-HĐTP là quy định mang
tính chất tình thế, nhằm ngăn chặn kịp
thời các tội phạm xâm hại trẻ em nói
chung và tội giao cấu với trẻ em theo
BLHS năm 1999 nói riêng trước những
diễn biến phức tạp của loại tội phạm này
và các hạn chế trong hoạt động chứng
minh tội phạm của nghiệp vụ điều tra,
truy tố, xét xử ở nước ta hiện nay. Trong
7ꢀ Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2018/HSST ngày
30/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh H.
30 Khoa học Kiểm sát
Số 01 - 2021
DƯƠNG THỊ XUÂN QUÝ – NGUYỄN THỊ THÙY GIANG
tương lai, pháp luật hình sự cần quy định án khi xét xử người có hành vi phạm tội cố ý
rõ về ý chí của người phạm tội đối với nạn che giấu ý thức chủ quan của mình khi ranh
nhân vì về bản chất “lỗi là sự phủ định chủ giới giữa trẻ em và không còn là trẻ em rất
quan của người phạm tội đối với đòi hỏi của mong manh. Song với tinh thần hoàn thiện
xã hội”8. Điều này thể hiện thông qua năng chính sách, pháp luật hình sự, tôn trọng
lực nhận thức và năng lực lựa chọn hành và bảo vệ quyền con người, yêu cầu các cơ
vi của họ.
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng phải xem xét toàn diện các chứng cứ,
tình tiết thực tế của vụ án để xác định có
hay không việc người phạm tội không nhận
thức được đối tượng của tội phạm là trẻ em
để giải quyết vụ án. Do đó, trong các văn
bản hướng dẫn thi hành BLHS, các nhà làm
luật cần có hướng dẫn cụ thể về cấu thành
tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan
hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi
đến dưới 16 tuổi theo hướng quy định rõ
về ý thức chủ quan của chủ thể thực hiện
tội phạm với độ tuổi của nạn nhân, tránh
có nhiều cách hiểu, áp dụng pháp luật thiếu
thống nhất như hiện nay.
Như vậy, người có hành vi giao cấu
hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục
khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16
tuổi chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự
khi đáp ứng đồng thời hai điều kiện: 1.
Người phạm tội phải là người có đủ năng
lực trách nhiệm hình sự; 2. Người phạm
tội phải có điều kiện để nhận thức được
hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi
quan hệ tình dục khác với nạn nhân là trái
pháp luật. Nếu người bị hại không tiết lộ
độ tuổi nhưng cơ thể phát triển phổng
phao khiến người thực hiện hành vi phạm
tội nhầm tưởng người bị hại đã thành
niên hoặc người bị hại cố tình che giấu
độ tuổi của mình thì những trường hợp
này nằm ngoài ý thức chủ quan của người
phạm tội – không mang tính có lỗi khi họ
thực hiện hành vi giao cấu với người bị
hại. Điều này cũng phù hợp với quy định
của BLHS một số nước trên thế giới như
Nga, Thái Lan, Singapore, Hoa Kỳ... đều
quy định rất rõ vấn đề chủ thể của các tội
phạm xâm hại tình dục trẻ em cần phải
biết rõ độ tuổi của nạn nhân.
2. Vướng mắc trong xác định tuổi của
nạn nhân
Nạn nhân của tội phạm này là người
từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi. Việc giao cấu
hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục
khác với người phạm tội trong vụ án xuất
phát từ sự tự nguyện của người bị hại,
không có sự cưỡng ép, dùng vũ lực hoặc
lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được
của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác để giao
cấu, thực hiện hành vi quan hệ tình dục
khác. Thông thường, sự tự nguyện của
người bị hại xuất phát từ tình cảm yêu
đương, gần gũi.
Tuy nhiên, việc xác định chính xác độ
tuổi của người bị hại ở thời điểm bị xâm
hại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong
việc giải quyết các vụ án xâm hại trẻ em
nói chung vì đây là một trong những tình
tiết định tội và quyết định hình phạt theo
quy định của BLHS. Trên thực tế, việc xác
định tuổi của người bị hại chủ yếu được
Để giải quyết đúng đắn về trách nhiệm
hình sự trong các trường hợp này, các cơ
quan tiến hành tố tụng và người tiến hành
tố tụng phải chứng minh được ý thức chủ
quan của bị can, bị cáo về việc người đó có
nhận thức được hay không nhận thức được
đối tượng bị xâm hại là trẻ em. Điều này
cũng là một thách thức đối với các cơ quan
tiến hành tố tụng Việt Nam, đặc biệt là Tòa
8ꢀ GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa (2015), Tội phạm và cấu
thành tội phạm, NXB Tư pháp, tr.88
Số 01 - 2021
Khoa học Kiểm sát 31
THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ TRONG XÉT XỬ...
dựa trên các giấy tờ, tài liệu chứng minh
Theo Giáo trình Pháp y học của PGS.
như: giấy chứng sinh, giấy khai sinh, sổ hộ TS. Đinh Gia Đức chủ biên, xuất bản
tịch, chứng minh thư nhân dân, học bạ…
năm 2010 do Bộ Y tế thẩm định là tài liệu
chính thức đào tạo sau đại học của ngành
y pháp, giám định tuổi nạn nhân có các
phương pháp sau:
+ Phương pháp giám định răng: Cơ
quan pháp y xác định tuổi của nạn nhân
căn cứ vào sự mọc răng, trong đó có đặc
điểm đối với sự mọc răng của răng vĩnh
viễn thì thời gian mọc răng hàm số hai
tương ứng với độ tuổi của nạn nhân
khoảng 12 tuổi; thời gian mọc răng hàm
số ba tương ứng với độ tuổi của nạn nhân
từ 18 đến 24 tuổi.
Trong trường hợp các cơ quan tiến
hành tố tụng đã áp dụng các biện pháp
hợp pháp mà không xác định được chính
xác ngày, tháng, năm sinh của người bị
hại là người dưới 18 tuổi, theo quy định
tại khoản 2 Điều 417 Bộ luật tố tụng hình
sự (BLTTHS) năm 2015 thì tuổi của người
bị hại là người chưa thành niên được xác
định như sau:
+ Trường hợp xác định được tháng
nhưng không xác định được ngày thì lấy
ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh.
+ Trường hợp xác định được quý
nhưng không xác định được ngày, tháng
thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối
cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh.
+ Trường hợp xác định được nửa của
năm nhưng không xác định được ngày,
tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng
cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày,
tháng sinh.
+ Trường hợp xác định được năm
nhưng không xác định được ngày, tháng
thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối
cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh.
Thực tiễn cho thấy, để xác định chính
xác tuổi của bị hại là vấn đề rất khó khăn
đối với các cơ quan tiến hành tố tụng. Có
trường hợp một người bị hại có hai hay
nhiều giấy khai sinh gốc nhưng ngày,
tháng, năm sinh lại khác nhau. Có trường
hợp cơ quan tiến hành tố tụng thu thập
được những chứng cứ chứng minh ngày,
tháng, năm sinh khác với các tài liệu chứng
minh ngày, tháng, năm sinh của người bị
hại. Pháp luật tố tụng hình sự cho phép,
nếu không xác định được chính xác năm
+ Phương pháp giám định sự canxi
hóa của xương: Cơ quan pháp y sẽ đo
sự cốt hóa của các vùng khớp vai, khớp
khuỷu, xương vùng cổ tay, xương ức,
xương chậu, vùng đầu gối, vùng cổ chân
để tìm ra độ tuổi chính xác của nạn nhân.
+ Phương pháp giám định những
đặc trưng giới tính thứ phát: Đây là
phương pháp giám định thông qua các
biểu hiện giới tính của nạn nhân. Ví dụ
như đối với nam giới là sự xuất hiện của
lông tơ ở vùng mu khi 14 tuổi hay vùng
nách khi 15 tuổi… Tuy nhiên, dưới góc
độ y pháp, những đặc trưng giới tính
thứ phát không chứng minh chính xác
về độ tuổi.
Cũng theo tài liệu này, giám định tuổi
một người bằng các phương pháp này có
sai số tối đa khoảng 2 tuổi. Do vậy, trên
thực tế, rất ít khi các cơ quan tiến hành
tố tụng trưng cầu giám định tuổi của nạn
nhân bởi tỷ lệ sai số khi giám định tuổi
quá lớn sẽ dẫn tới sai lầm lớn khi giải
quyết các vụ án giao cấu hoặc thực hiện
sinh của người bị hại thì phải tiến hành hành vi quan hệ tình dục khác với người
giám định tuổi.
từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.
32 Khoa học Kiểm sát
Số 01 - 2021
DƯƠNG THỊ XUÂN QUÝ – NGUYỄN THỊ THÙY GIANG
3. Vướngmắctrongthựchiệnchínhsách đặc biệt hành vi tổ chức lễ cưới cho bị cáo,
hình sự đối với một số trường hợp phạm tội bị hại của hai bên gia đình đã vô tình “tạo
do lạc hậu, thiếu hiểu biết pháp luật
nên tội phạm”. Theo quan điểm của chúng
tôi, các Tòa án có thể linh động áp dụng
Điều 59 BLHS năm 2015 để miễn hình
phạt cho bị cáo hoặc quyết định hình phạt
nhẹ hơn so với những trường hợp phạm
tội thông thường, như vụ án sau:
Qua quá trình nghiên cứu tình hình tội
phạm và thực tiễn xét xử các vụ án giao
cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình
dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới
16 tuổi, cho thấy có nhiều trường hợp
nguyên nhân làm phát sinh tội phạm xuất
phát từ những quan điểm, hủ tục lạc hậu;
trình độ nhận thức pháp luật còn hạn chế,
không chỉ của người phạm tội mà cả bộ
phận người dân – trong đó có người thân
của người bị hại, bị cáo dẫn tới nạn tảo
hôn, tổ chức kết hôn khi vợ hoặc chồng
chưa đủ tuổi pháp luật quy định. Có rất
nhiều vụ án đã xảy ra khi người “chồng”
lại chính là người phạm tội, người “vợ” là
nạn nhân. Không ít gia đình do nhận thức
pháp luật còn hạn chế đã tổ chức đám cưới
cho con em mình, trong khi một trong hai
bên vợ hoặc chồng chưa đủ 16 tuổi đã vô
tình tạo điều kiện phát sinh tội phạm giao
cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình
dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới
16 tuổi. Mặc dù theo khoa học luật hình
sự, việc tổ chức đám cưới diễn ra giữa
hai bên không đồng nghĩa với việc phát
sinh hành vi giao cấu và thực hiện hành
vi quan hệ tình dục khác. Song trên thực
tế, khi bị cáo và người bị hại coi nhau là
“vợ”, “chồng” thì hành vi giao cấu, thực
hiện hành vi quan hệ tình dục khác là khó
tránh khỏi. Đây cũng là vấn đề được đặt
ra đối với những người tiến hành tố tụng
khi quyết định hình phạt.
Cuối năm 2009, Lê Đức Thiên T và
Nguyễn Thị Thanh H (sinh năm 1994, khi
đó chưa đủ 16 tuổi) quen nhau. Sau đó,
thấy hoàn cảnh H khó khăn, cha mất, mẹ
có gia đình mới, H ở với bà ngoại nên T
dẫn H về trình bày với cha mẹ. Thương H,
cha mẹ T sang xin bà ngoại dẫn H về sống
chung. Sau khi H sinh được hai con gái
thì T bị cơ quan chức năng khởi tố về tội
giao cấu với trẻ em theo BLHS năm 1999.
Tại giai đoạn sơ thẩm, Tòa án nhân dân
quận T đã tuyên phạt Lê Đức Thiên T 03
năm 06 tháng tù về tội giao cấu với trẻ em.
Ngày 09/4/2013, Tòa án nhân dân thành
phố H xử phúc thẩm đã chấp nhận kháng
cáo của bị cáo Lê Đức Thiên T, tuyên bị
cáo phạm tội giao cấu với trẻ em nhưng
được miễn hình phạt tù. Trong bản án,
Hội đồng xét xử nhận định, mặc dù bị cáo
quan hệ với thiếu nữ chưa đủ 16 tuổi dẫn
đến mang thai là vi phạm pháp luật, tuy
nhiên cô gái đã về sống với gia đình bị
cáo, có cuộc sống và nơi ở ổn định. Ngoài
ra, khi phạm tội bị cáo còn rất trẻ, trình độ
nhận thức pháp luật còn hạn chế, lạc hậu
nên tòa chấp nhận kháng cáo, sửa án sở
thẩm, tuyên bị cáo được miễn hình phạt9.
Qua những vụ án kể trên cũng đặt ra
vấn đề về trách nhiệm của các gia đình
trong việc tổ chức lễ cưới cho con em mình
khôngđúngquyđịnhcủaphápluật. Xétvề
tâm sinh lý cũng như các khía cạnh pháp
lý, xã hội khác, khó có thể cho rằng bị cáo
và người bị hại trong các vụ án này đã đủ
Bên cạnh đó, việc đánh giá các căn cứ
quy định tại Điều 50 BLHS năm 2015 cần
linh hoạt hơn trong việc cân nhắc, xem
xét những trường hợp cụ thể để từ đó lựa
chọn loại hình phạt và mức hình phạt phù
hợp. Tránh các trường hợp bị cáo và người
9ꢀ
hꢁp://nld.com.vn/phap-luat/lan-dau-tien-mien-phat-
bị hại còn rất trẻ, bị cáo có nhân thân tốt, tu-toi-giao-cau-voi-tre-em-2013040904593413.htm.
Số 01 - 2021
Khoa học Kiểm sát 33
THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ TRONG XÉT XỬ...
trưởng thành để có thể kết hôn cũng như việc nhận thức về độ tuổi nạn nhân thông
tạo lập gia đình hạnh phúc, điều này sẽ
tạo ra hệ lụy cho bản thân họ và xã hội. Do
đó, trách nhiệm của gia đình trong trường
hợp này cần giáo dục, khuyên bảo, định
hướng cho con em mình. Những người tổ
chức đám cưới trong trường hợp này tùy
theo tính chất, mức độ của hành vi có thể
bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách
nhiệm hình sự về hành vi tổ chức tảo hôn.
qua các văn bản hướng dẫn áp dụng thống
nhất pháp luật hoặc lựa chọn xây dựng án
lệ về tội danh này.
Hai là, nâng cao hiệu quả áp dụng
pháp luật hình sự trong giải quyết, xét xử
tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan
hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi
đến dưới 16 tuổi, theo đó:
- Các cơ quan tiến hành tố tụng cần đảm
bảo tuân thủ triệt để những nguyên tắc của
hoạt động điều tra, truy tố, xét xử theo quy
định của pháp luật hình sự, pháp luật tố
tụng hình sự về giải quyết các vụ án xâm
hại tình dục trẻ em nói chung nhằm nâng
cao hiệu quả, chất lượng giải quyết vụ án.
- Thực hiện có hiệu quả các chức năng,
nhiệm vụ của Tòa án gia đình và người
chưa thành niên để công tác xét xử các vụ
án giao cấu với trẻ em được bảo đảm, đáp
ứng yêu cầu bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích
của người dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án,
đồng thời chú trọng nâng cao công tác giáo
dục pháp luật trong hoạt động xét xử.
- Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ
quan tiến hành tố tụng và các cơ quan Nhà
nước khác trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ
của mỗi cơ quan nhằm thu thập toàn diện,
đầy đủ các chứng cứ, tài liệu liên quan tới
vụ án để giải quyết vụ án kịp thời, nghiêm
minh, đúng pháp luật.
- Tăng cường công tác tập huấn, bồi
dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho những
người tiến hành tố tụng trên cơ sở tổng
kết thực tiễn xét xử tội danh này trên
toàn quốc, các vấn đề về định tội danh,
quyết định hình phạt, quyết định phần
dân sự trong vụ án hình sự nhằm rút kinh
nghiệm trong công tác xét xử và giải quyết
các vụ án giao cấu hoặc thực hiện hành
vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ
4. Một số đề xuất, kiến nghị
Qua nghiên cứu thực tiễn xét xử tội
phạm giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan
hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi
đến dưới 16 tuổi cho thấy, về cơ bản việc
định tội danh, áp dụng trách nhiệm hình
sự và quyết định hình phạt tại các Tòa là
chính xác, phù hợp, đáp ứng các yêu cầu
về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người dưới 18 tuổi, giữ vững an ninh, trật
tự và thuần phong mỹ tục. Tuy nhiên, trước
những diễn biến phức tạp của tình hình tội
giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới
16 tuổi, qua khảo sát thực tiễn xét xử loại tội
phạm này tại các Tòa án nhân dân cho thấy,
các quy định của pháp luật đã bộc lộ nhiều
điểm không phù hợp, có nhiều quan điểm
khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố
tụng và người tiến hành tố tụng, gây nhiều
khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải
quyết vụ án. Bên cạnh đó, trình độ, năng lực
chuyên môn của một bộ phận người tiến
hành tố tụng còn hạn chế dẫn đến nhiều sai
sót trong quá trình áp dụng pháp luật.
Trước yêu cầu nâng cao chất lượng
xét xử, tránh tình trạng oan, sai trong quá
trình giải quyết các vụ án theo tinh thần
Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính
trị, cần triển khai một số giải pháp sau:
Một là, hoàn thiện các quy định của
pháp luật hình sự về tội giao cấu với 13 tuổi đến dưới 16 tuổi để có hướng dẫn
người dưới 18 tuổi theo hướng nên quy áp dụng thống nhất trong hệ thống các cơ
định rõ về ý chí của người phạm tội trong quan tiến hành tố tụng./.
34 Khoa học Kiểm sát
Số 01 - 2021
Bạn đang xem tài liệu "Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong xét xử tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thuc_tien_ap_dung_phap_luat_hinh_su_trong_xet_xu_toi_giao_ca.pdf

