Thỏa ước Lahay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp và một số khuyến nghị
Diễn đàn khoa học và công nghệ
thỏa ước Lahay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp
và một số khuyến nghị
Phạm Đức Thắng, Phạm Thị Hương Thanh
cục sở hữu trí tuệ, Bộ Kh&cn
Việc gia nhập Thỏa ước Lahay về đăng ký quꢀc tế kiểu dáng công nghiệp (KDCN) sẽ giúp ích rất lớn
cho người nộp đơn trong việc đơn giản hóa thủ tục, tiết kiệm thời gian và chi phí khi đăng ký, gia hạn
hiệu lực, chuyển giao quyền sở hữu và các thủ tục khác liên quan đến đơn KDCN. Đồng thời phù hợp
với xu hướng hội nhập kinh tế quꢀc tế, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Để khai thác tꢀi đa những lợi thế mà Thỏa ước mang lại, chúng ta cần sớm sửa đổi, bổ sung các quy
định của pháp luật có liên quan tới KDCN.
nền kinh tế phát triển hàng đầu
Với việc tham gia Văn kiện
thỏa ước Lahay và sự tham gia của
Việt nam
thế giới như: Liên minh châu Âu Geneva 1999, Việt Nam sẽ chỉ có
(là thành viên chính thức ngày quyền và nghĩa vụ với Thỏa ước
1/1/2008), Hàn Quốc (ngày theo Văn kiện này và độc lập với
1/7/2014), Hoa Kỳ, Nhật Bản (cả Văn kiện Lahay 1960. Bên cạnh
2 nước là thành viên chính thức đó, Việt Nam có quyền tham gia
ngày 13/5/2015), Liên bang Nga thảo luận và biểu quyết các vấn
(ngày 28/2/2018), Vương quốc đề của Liên minh Lahay quy định
Anh (ngày 13/6/2018)… Trong chung cho các văn kiện của Thỏa
khu vực Đông Nam Á hiện nay đã ước.
Thỏa ước Lahay về đăng ký
quốc tế KDCN được ký kết ngày
6/11/1925 tại Lahay (Hà Lan) và
có hiệu lực từ ngày 1/6/1928. Hiện
nay, Thỏa ước Lahay có 2 Văn
kiện đang còn hiệu lực, đó là: Văn
kiện Lahay ký ngày 28/11/1960
(Văn kiện Lahay 1960), có hiệu
lực ngày 1/8/1984; Văn kiện
Geneva ký ngày 2/7/1999 (Văn
kiện Geneva 1999), có hiệu lực
ngày 23/12/2003. Hai văn kiện
này có hiệu lực song song và độc
lập với nhau tạo nên hệ thống
đăng ký quốc tế KDCN. Mỗi Văn
kiện đều chứa đựng một thỏa ước
quốc tế đầy đủ nên việc đăng ký
quốc tế KDCN có thể được thực
hiện theo 1 trong 2 Văn kiện,
hoặc cả 2 Văn kiện trên.
có 4 thành viên gồm: Singapore
Kể từ ngày 1/1/2020 các tổ
(ngày 17/4/2005), Brunei (ngày
chức, cá nhân từ Việt Nam muốn
24/12/2013), Campuchia (ngày
đăng ký quốc tế KDCN có thể chỉ
25/2/2017) và Việt Nam.
định các quốc gia là thành viên
Do tính ưu việt của Thỏa ước của Văn kiện Geneva 1999 thông
Lahay là đơn giản hóa về thủ tục qua Thỏa ước Lahay. Điều này
với mức phí thấp nhất cho các cũng có nghĩa là, một KDCN của
tổ chức, cá nhân trong và ngoài người nộp đơn (người Việt Nam)
nước (các nước là thành viên dễ dàng thực hiện các thủ tục liên
của Thỏa ước Lahay) thực hiện quan đến đăng ký bảo hộ, gia
các thủ tục liên quan đến đăng hạn hiệu lực, chuyển giao quyền
ký KDCN, nên ngày 30/9/2019 sở hữu và các thủ tục khác liên
tại Geneva, Thụy Sĩ, Bộ trưởng quan đến đơn KDCN của mình.
Bộ Khoa học và Công nghệ Chu Người nộp đơn chỉ phải nộp một
Ngọc Anh đã trao Văn kiện gia đơn duy nhất bꢀng 1 trong 3
nhập Thỏa ước Lahay về đăng ngôn ngữ là Anh, Pháp, Tây Ban
ký quốc tế KDCN đến Tổng Nha, trong một đơn có thể đăng
giám đốc WIPO Francis Gury. ký được 100 KDCN, một loại tiền
Văn kiện này có hiệu lực đối với (Franc Thụy Sĩ - CHF), có thể chỉ
Hệ thống Lahay do Văn phòng
Quốc tế của Tổ chức Sở hữu
trí tuệ (SHTT) thế giới (WIPO)
quản lý. Theo thống kê, hiện có
65/74 thành viên Hệ thống Lahay
tham gia Văn kiện Geneva 1999.
Trong đó nhiều thành viên có Việt Nam từ ngày 1/1/2020.
định yêu cầu bảo hộ tại hơn 90
17
Số 3 năm 2021
Diễn đàn Khoa học và Công nghệ
với Thỏa ước này, cụ thể như sau:
Với Luật SHTT
Một số quy định của Luật
SHTT hiện nay về đăng ký quốc
tế KDCN của Việt Nam chưa
tương thích với các quy định của
Thỏa ước Lahay. Do vậy cần phải
sửa đổi để phù hợp.
Thứ nhất, thông báo từ chối.
Theo quy định của Thỏa ước
Lahay, thời hạn ra thông báo từ
chối hiệu lực của một đăng ký
quốc tế là 6 tháng kể từ ngày
công bố đăng ký. Việt Nam chưa
thông báo cho Tổng giám đốc
WIPO về thời hạn ra thông báo từ
chối là 12 tháng thay vì 6 tháng,
tức là Việt Nam chấp nhận thời
hạn thông báo từ chối là 6 tháng
kể từ ngày công bố đơn. Điều
này có nghĩa là: các đơn đăng
ký quốc tế KDCN được nộp theo
Thỏa ước Lahay sẽ có thời hạn
ra thông báo từ chối lần đầu là 6
tháng. Nếu sau thời hạn 6 tháng
mà Việt Nam không đưa ra thông
báo từ chối thì KDCN trong đăng
ký quốc tế có chỉ định Việt Nam
sẽ mặc nhiên được hiểu là đã
được chấp nhận cấp Văn bꢀng
bảo hộ. Trong khi đó, Khoản 2
Điều 119 Luật SHTT quy định:
thời hạn thẩm định nội dung
KDCN là không quá 7 tháng kể từ
ngày công bố đơn.
quốc gia…, giꢁp rꢁt ngắn rất nhiều là phí thuê luật sư tại từng quốc
gia. Tương tự, các doanh nghiệp
và cá nhân nước ngoài cũng gặp
các khó khăn khi muốn bảo hộ
KDCN của mình tại Việt Nam vì
chỉ có một cách duy nhất là đăng
ký trực tiếp tại Cục SHTT Việt
Nam và phải thông qua đại diện
sở hữu công nghiệp (SHCN) đã
được đăng ký tại Việt Nam.
thủ tục cho người nộp đơn. Đơn
có thể nộp trực tuyến thông qua
cổng điện tử của WIPO (hoặc có
thể nộp qua bưu điện) mà không
cần nộp đơn quốc gia trước đó,
cũng như không cần nộp thông
qua Cục SHTT. Hoặc, người nộp
đơn cũng có thể nộp thông qua
Cục SHTT, sau đó, Cục sẽ có
trách nhiệm chuyển đơn đó tới
Văn phòng quốc tế của WIPO.
Một số lưu ý khi sửa đổi, bổ sung các
quy định của pháp luật trong thời
gian tới
Trước đây, khi Việt Nam chưa
gia nhập Thỏa ước này, các tổ
chức, cá nhân Việt Nam muốn
bảo hộ KDCN của mình ở nước
ngoài chỉ có một hình thức duy
nhất là nộp đơn đăng ký trực
tiếp tại các cơ quan SHTT của
từng quốc gia riêng rẽ, nghĩa là
phải làm nhiều đơn khác nhau
bꢀng ngôn ngữ và yêu cầu của
từng nước mà mình muốn đăng
ký. Điều đó đồng nghĩa với việc
chủ đơn sẽ phải mất nhiều thời
gian để tìm hiểu về các quy định
pháp luật của nước sở tại về thủ
Có thể nói rꢀng, những nội
dung trong Văn kiện gia nhập
Thỏa ước Lahay của Việt Nam là
phương án phù hợp nhất, tối ưu
nhất với tình hình thực tế tại thời
điểm Việt Nam trao Văn kiện gia
nhập Thỏa ước Lahay. Điều này
cho thấy, các chuyên gia, nhà
quản lý đã tính toán, cân nhắc kỹ
lưỡng trên các mặt: quy định của
Thỏa ước, quy định hiện hành
của Việt Nam… Tuy nhiên, trong
thời gian tới chꢁng ta cần sửa đổi,
bổ sung một số quy định pháp
Việc Việt Nam chưa gửi thông
báo đến Tổng giám đốc WIPO về
thời hạn ra thông báo từ chối là 12
tháng thay vì 6 tháng là phù hợp
với tình hình thực tế, vì việc sửa
Luật SHTT thuộc thẩm quyền của
Quốc hội. Nếu Việt Nam thông
báo cho Tổng giám đốc WIPO về
vấn đề này trong khi Luật SHTT
chưa được sửa thì sẽ trái với quy
định của Luật SHTT hiện hành.
tục, các khoản chi phí, đặc biệt luật hiện hành để phù hợp hơn
Vì vậy, trong thời gian tới, khi
18
Số 3 năm 2021
Diễn đàn khoa học và công nghệ
sửa đổi Luật SHTT cần xem xét Luật SHTT quy định đơn KDCN tế về nhãn hiệu (Điều 12), sáng
sửa đổi, bổ sung về vấn đề này và chỉ được tiếp nhận nếu có bản mô chế (Điều 11) nên cần bổ sung
thêm một điều về thủ tục nộp đơn
quốc tế về KDCN theo Thỏa ước
Lahay. Đây là một vấn đề cần
lưu ý khi xây dựng Nghị định mới
quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật SHTT
sửa đổi.
cần thông báo với Tổng giám đốc tả. Điều 103 Luật SHTT quy định
WIPO tuyên bố phù hợp. Trên thế đơn KDCN phải có một bản mô tả
giới hiện nay, đã có một số nước bộc lộ đầy đủ tất cả các đặc điểm
đưa ra tuyên bố cho phép thời tạo dáng thể hiện bản chất của
hạn ra thông báo từ chối 12 tháng KDCN và nêu rõ các đặc điểm
như: Hoa Kỳ, Nga, Canada, Tây tạo dáng mới, khác biệt so với
Ban Nha...
KDCN ít khác biệt nhất đã biết,
phù hợp với bộ ảnh chụp hoặc
bản vẽ, đồng thời có phần phạm
vi bảo hộ KDCN. Phần phạm vi
bảo hộ phải nêu rõ các đặc điểm
tạo dáng cần được bảo hộ, bao
gồm đặc điểm mới, khác biệt với
các KDCN tương tự đã biết. Do
vậy, trong thời gian tới khi sửa
Luật SHTT cần phải có những
điều chỉnh để phù hợp với thông
lệ quốc tế.
Thông tư 263/2016/TT-BTC
Thứ hai, quy định về bản mô tả
và yêu cầu bảo hộ. Tại Điều 5(2)
(b)(ii) Văn kiện Geneva 1999 quy
định, bất kỳ bên tham gia nào có
thực hiện việc thẩm định nội dung
và luật pháp trong nước của bên
tham gia đó quy định đơn yêu cầu
cấp văn bꢀng bảo hộ KDCN phải
nộp kèm theo phần mô tả ngắn
gọn về bộ ảnh chụp/bản vẽ hoặc
các đặc điểm tạo dáng của KDCN
để đơn được ghi nhận ngày nộp
Hiện nay, Thông tư số
2 6 3 / 2 0 1 6 / T T- B T C v n g à y
14/11/2016 của Bộ Tài chính
quy định một số loại phí, lệ phí
cơ bản mà bất kỳ đơn KDCN nào
được đăng ký theo kênh quốc gia
cũng phải nộp các khoản này.
Cụ thể, nếu một KDCN có một
phương án, một ảnh, người nộp
đơn phải nộp một khoản phí, lệ
phí là 1.810.000 đồng để được
cấp Văn bꢀng bảo hộ. Nếu cần
gia hạn hiệu lực một Văn bꢀng
bảo hộ KDCN có một phương án
và một ảnh, chủ Văn bꢀng bảo hộ
phải nộp một khoản phí và lệ phí
là 1.200.000 đồng. Trong khi đó,
tại Biểu phí (có hiệu lực từ ngày
1/1/2015) do Văn phòng quốc tế
của WIPO công bố, mức phí chỉ
định chuẩn đối với một đơn đăng
ký quốc tế KDCN (bảng 1). Bên
tham gia có thể tuyên bố cho
phép áp dụng mức 2 hoặc 3 và
phải gửi tuyên bố đó cho Tổng
giám đốc WIPO về việc áp dụng
mức phí đó.
Nghị định 103/2006/NĐ-CP
đơn thì có thể đưa ra thông báo ngày 22/9/2006 của Chính phủ
cho Tổng giám đốc WIPO về điều
Tại Khoản 1, Điều 6, Nghị
đó bꢀng một tuyên bố. Bên cạnh
định số 103/2006/NĐ-CP ngày
đó, theo Điều 5(2)(b)(iii) Văn kiện
22/9/2006củaChínhphủquyđịnh
Geneva 1999, bất kỳ bên tham
chi tiết và hướng dẫn thi hành một
gia nào có thực hiện việc thẩm
số điều của Luật SHTT về SHCN
định nội dung và luật pháp trong
mới chỉ quy định về quyền SHCN
nước của bên tham gia đó quy
đối với nhãn hiệu đăng ký quốc
định đơn yêu cầu cấp văn bꢀng
tế theo Thỏa ước Madrid và Nghị
bảo hộ KDCN phải nộp kèm theo
định thư Madrid. Do vậy, cần bổ
phần yêu cầu bảo hộ để đơn
sung quyền SHCN đối với KDCN
được ghi nhận ngày nộp đơn thì
đăng ký quốc tế theo Thỏa ước
có thể đưa ra thông báo cho Tổng
Lahay. Bên cạnh đó, Điều 7 của
giám đốc WIPO về điều đó bꢀng
Nghị định này cũng chỉ mới quy
một tuyên bố. Quy tắc 11(2) quy
định về hiệp ước hợp tác quốc
định, trường hợp đơn quốc tế có
tế về bꢀng sáng chế năm 1970
phần mô tả thì phần mô tả chỉ
(được sửa đổi năm 1984), Thoả
được đề cập đến các đặc điểm
ước Madrid về đăng ký quốc tế
tạo dáng trong các bộ ảnh chụp/
nhãn hiệu năm 1891 (được sửa
bản vẽ của kiểu dáng, không mô
đổi năm 1979) và Nghị định thư
tả các đặc điểm kỹ thuật hay tính
liên quan đến Thoả ước Madrid
hữu ích của kiểu dáng. Nếu phần
năm 1989. Vì vậy, cần bổ sung
mô tả vượt quá 100 từ thì người
quyền đăng ký quốc tế KDCN
nộp đơn sẽ phải trả thêm khoản
theo Thỏa ước Lahay. Ngoài ra,
phí bổ sung như được quy định
Hiện nay, Việt Nam chưa có
tuyên bố về phí chỉ định riêng mà
đang dùng trực tiếp mức phí chỉ
định chuẩn theo công bố của Văn
phòng quốc tế của WIPO ở Mức 3
(vì Việt Nam có quy định về thẩm
định nội dung). Khi đơn đăng ký
quốc tế theo Thỏa ước Lahay có
về thủ tục nộp đơn quốc tế, Nghị chỉ định Việt Nam thì sẽ được
định 103/2006/NĐ-CP mới chỉ nhận từ Văn phòng quốc tế của
trong bảng phí.
WIPO khoản phí chỉ định chuẩn
Trong khi đó, Điểm 108.1.b quy định về thủ tục nộp đơn quốc
19
Số 3 năm 2021
Diễn đàn Khoa học và Công nghệ
bảng 1. biểu phí do văn phòng quốc tế của WIPO công bố.
yêu cầu bảo hộ) và không giới
hạn số từ. Do đó, Thông tư 01 và
Quy chế thẩm định đơn KDCN
(ban hành theo Quyết định 2381/
QĐ-SHTT ngày 8/12/2009 của
Cục SHTT) khi sửa đổi, bổ sung
cần quan tâm các quy định sau:
i) Quy định về xử lý đơn đăng ký
quốc tế KDCN của chủ sở hữu là
người nước ngoài nộp đơn qua
Văn phòng quốc tế của WIPO có
chỉ định Việt Nam theo Thỏa ước
Lahay; ii) Quy định về xử lý đơn
đăng ký quốc tế KDCN của chủ
sở hữu là người Việt Nam được
nộp thông qua Cục SHTT; iii) Bổ
sung quy định riêng đối với Bản
mô tả KDCN của đơn đăng ký
quốc tế.
Mức phí
(Franc Thụy Sĩ)
STT
Các loại phí
1
Phí chỉ định chuẩn
Mức 1
1.1
1.1.1
1.1.2
1.2
Cho một KDCN
42
2
Cho mỗi KDCN bổ sung trong đơn
Mức 2
1.2.1
1.2.2
1.3
Cho một KDCN
60
20
Cho mỗi KDCN bổ sung trong đơn
Mức 3
1.3.1
1.3.2
2.
Cho một KDCN
90
50
Cho mỗi KDCN bổ sung trong đơn
Phí gia hạn chuẩn
Cho một KDCN
2.1
21
1
2.2
Cho mỗi KDCN bổ sung trong đơn
theo quy định.
là mức phí có thể bảo đảm bù
đắp chi phí hoạt động cung cấp
dịch vụ như: chi phí về tiền lương,
tiền công, tài sản cố định, công
cụ dụng cụ, khấu hao máy móc,
trang thiết bị và các chi phí khác…,
đồng thời tạo điều kiện thuận lợi
để thực hiện tốt chủ trương, chính
sách tự chủ tài chính của đơn vị
sự nghiệp công lập của cơ quan
sở hữu trí tuệ quốc gia.
thay lời kết
Như vậy, so với mức phí đối với
một đơn đăng ký KDCN nộp trực
tiếp tại Cục SHTT theo kênh quốc
gia, mức phí chỉ định chuẩn hiện
nay của WIPO mà Việt Nam đang
áp dụng là cao hơn. Tuy nhiên,
phí gia hạn chuẩn cho một đăng
ký quốc tế KDCN có chỉ định Việt
Nam theo Thỏa ước Lahay thấp
hơn khá nhiều. Vì vậy, trong thời
gian tới, chꢁng ta cần sửa đổi
Thông tư số 263/2016/TT-BTC BKHCN và Quy chế thẩm định
theo hướng tăng cao hơn mức đơn KDCN
phí, lệ phí mà mỗi đơn đăng ký
Khi gia nhập Thỏa ước Lahay,
KDCN phải nộp lên ở mức độ hợp
chꢁng ta cần sửa đổi, bổ sung
lý so với mức phí chỉ định chuẩn
hiện nay của WIPO vì Văn kiện
Geneva 1999 quy định: các quốc
gia thành viên có thể quy định thu
phí chỉ định riêng thay cho phí
tiêu chuẩn cố định, khoản phí này
không được thu cao hơn mức thu
đối với việc đăng ký KDCN theo
kênh quốc gia, đồng thời bổ sung
phí chỉ định riêng, phí gia hạn đối
với đăng ký quốc tế KDCN theo
Thảo ước Lahay có chỉ định Việt
Nam.
Việc gia nhập Thỏa ước Lahay
đáp ứng nhu cầu thực tiễn, vừa
tạo điều kiện thuận lợi cho các
doanh nghiệp, cá nhân trong
và ngoài nước đăng ký quốc tế
KDCN, vừa đảm bảo việc thực
hiện cam kết của Việt Nam trong
các Hiệp định EVFTA, CPTPP
cũng như trong khối ASEAN.
Đặc biệt, trong bối cảnh SHTT
đóng vai trò ngày càng quan
trọng trong phát triển kinh tế - xã
hội, thì việc đơn giản hóa và hài
hòa hóa thủ tục theo tiêu chuẩn
Thông tư số 01/2007/TT-
thêm các quy định mới đối với quốc tế càng trở nên cần thiết
Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN để thꢁc đẩy hoạt động đăng ký
ngày 14/2/2007 của Bộ Khoa và bảo hộ quyền SHTT. Để khai
học và Công nghệ hướng dẫn
thi hành Nghị định số 103/2006/
NĐ-CP để phù hợp với Thỏa
ước. Cụ thể, Thông tư 01/2007/
TT-BKHCN chỉ mới quy định:
bản mô tả phải bao gồm đầy đủ
các mục như đã quy định (tên
KDCN, lĩnh vực sử dụng của sản
phẩm mang KDCN, các KDCN
ít khác biệt nhất đã biết, liệt kê
thác tối đa những lợi thế khi gia
nhập Thỏa ước Lahay, cần sớm
sửa đổi, bổ sung các nội dung
liên quan đến KDCN được nêu
trong Luật SHTT và các văn bản
dưới luật, nhất là các điều khoản
có lợi cho Việt Nam mà không
trái với Văn kiện Geneva 1999 ?
Mức phí chỉ định riêng hợp lý ảnh chụp/bản vẽ, phần mô tả và
20
Số 3 năm 2021
Bạn đang xem tài liệu "Thỏa ước Lahay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp và một số khuyến nghị", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thoa_uoc_lahay_ve_dang_ky_quoc_te_kieu_dang_cong_nghiep_va_m.pdf

