Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Hàn Quốc và những gợi mở cho Việt Nam
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
DOANH NGHIỆP XÃ HỘI THEO PHÁP LUẬT
HÀN QUỐC VÀ NHỮNG GỢI MỞ CHO VIỆT NAM
Lê Nhật Bảo*
Danh Phạm Mỹ Duyên**
*,**ThS. Khoa Luật thương mại, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Tóm tắt:
Thông tin bài viết:
Năm 2007, Hàn Quốc là quốc gia đầu tiên tại châu Á ban hành luật về
doanh nghiệp xã hội. Hơn mười năm qua, doanh nghiệp xã hội ở Hàn
Quốc đã góp phần giải quyết nhiều vấn đề xã hội, đem lại lợi ích cho
cộng đồng. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích quy định của
pháp luật về doanh nghiệp xã hội Hàn Quốc, so sánh với doanh nghiệp
xã hội tại Việt Nam và đưa ra những gợi mở cho việc hoàn thiện pháp
luật Việt Nam về doanh nghiệp xã hội.
Từ khóa: Doanh nghiệp xã hội,
doanh nghiệp xã hội ở Hàn
Quốc, pháp luật Việt Nam về
doanh nghiệp xã hội.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 06/3/2021
: 12/4/2021
: 14/4/2021
Abstract:
Article Infomation:
The Republic of Korea is the first country in Asia issued a law on social
enterprises in 2007. After more than ten years of the law enforcement,
the social enterprises in Korea have provided a significant contribution to
solving social matters, providing benefits to the community. Within the
scope of this article, the authors present an analysis of the provisions of the
Korea’s law on social enterprises, make comparisons with those on social
enterprises in Vietnam, and also give out a number of recommendations
for the improvement of the Vietnamese law on social enterprises.
Keywords: Social enterprises,
social enterprises in Republic of
Korea; Vietnamese law on social
enterprises.
Article History:
Received
Edited
: 06 Mar. 2021
: 12 Apr. 2021
: 14 Apr. 2021
Approved
1. Khái niệm và tiêu chí xác định doanh
nghiệp xã hội ở Hàn Quốc
1.1. Khái niệm về doanh nghiệp xã hội
ở Hàn Quốc
Mỗi quốc gia có lịch sử hình thành,
cách thức tiếp cận về doanh nghiệp xã hội
(DNXH) khác nhau. Điều này cũng ảnh
hưởng đến sự khác biệt giữa các quan điểm
về DNXH1. Ở Hàn Quốc, DNXH xuất hiện
trong và sau thời kỳ khủng hoảng kinh tế
đầu thế kỷ 21 nhằm giải quyết việc làm và
cung cấp các sản phẩm thiết yếu cho xã hội.
Hoàn cảnh lịch sử đó tác động mạnh mẽ đến
cách hiểu của người Hàn Quốc về DNXH.
Luật Khuyến khích DNXH Hàn Quốc
năm 2007 (Luật Khuyến khích DNXH) quy
định: “DNXH là doanh nghiệp được chứng
nhận phù hợp với Điều 7 của Luật này
nhằm theo đuổi mục tiêu xã hội, nâng cao
chất lượng cuộc sống của người dân bằng
1 Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, “Báo cáo nghiên cứu Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam - Khái
niệm, bối cảnh và chính sách”, https://www.britishcouncil.vn/sites/default/files/dnxh-tai-viet-nam-khai-niem-
boi-canh-chinh-sach.pdf, truy cập ngày 30/4/2020.
54
Số 16(440) - T8/2021
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
việc cung cấp cho nhóm yếu thế những dịch
vụ xã hội hoặc công việc trong khi tiến hành
kinh doanh (sản xuất, mua, bán hàng hóa,
cung cấp dịch vụ)”2. Quy định này cho thấy,
ở Hàn Quốc, DNXH phải đáp ứng ba tiêu
chí: (i) Theo đuổi mục tiêu xã hội; (ii) Sử
dụng hoạt động kinh doanh để theo đuổi
mục tiêu xã hội; (iii) Được đăng ký thành
lập theo quy định của pháp luật. Hàn Quốc
không có loại hình doanh nghiệp riêng
dành cho DNXH. Vì vậy, các nhà đầu tư sẽ
dựa vào các hình thức pháp lý được Luật
Khuyến khích DNXH thừa nhận để đăng
ký DNXH với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền. Pháp luật Hàn Quốc quy định rất
chi tiết các tiêu chí xác định phạm trù “mục
tiêu xã hội” của Hàn Quốc. Hàn Quốc mong
muốn có những ưu đãi và hỗ trợ trực tiếp
cho DNXH, nên việc xác định DNXH được
pháp luật quy định khá chặt chẽ nhằm đảm
bảo các chính sách ưu đãi của Nhà nước đến
đúng đối tượng.
1.2. Tiêu chí xác định doanh nghiệp xã hội
Theo quy định của pháp luật Hàn Quốc,
DNXH được xác định dựa trên các tiêu chí sau:
Thứ nhất, DNXH theo đuổi mục tiêu xã
hội. Đây là tiêu chí quan trọng nhất, phản
ánh đặc trưng cơ bản của DNXH, tạo nên
sự khác biệt với các loại hình tổ chức doanh
nghiệp khác. Điều 8 Luật Khuyến khích
DNXH đã xác định rõ mục đích chính của
DNXH là để hiện thực hóa một mục tiêu
xã hội, chẳng hạn như nâng cao chất lượng
cuộc sống của cư dân địa phương bằng cách
cung cấp cho các nhóm dễ bị tổn thương
các dịch vụ xã hội hoặc công việc hoặc
đóng góp cho cộng đồng địa phương. Trong
trường hợp này, tiêu chí chi tiết để đánh giá
sẽ được quy định bởi Nghị định; trường
hợp có lợi nhuận phân phối cho mỗi năm
tài chính, nó nên dành ít nhất 2/3 lợi nhuận
cho các mục tiêu xã hội (chỉ áp dụng cho
loại hình công ty theo Luật Thương mại)3.
Nhằm đặt ra tiêu chí định lượng mục tiêu
của DNXH, Điều 9 Nghị định số 201414
quy định:
- Mục tiêu chính của tổ chức là cung cấp
dịch vụ xã hội cho nhóm yếu thế được xác
định theo một trong hai cách: (i) Căn cứ
vào tỷ lệ nhóm yếu thế trong tổng số những
người nhận được các dịch vụ xã hội từ tổ
chức đó phải chiếm ít nhất 30%, hoặc (ii) căn
cứ vào tỷ lệ nhóm yếu thế được tuyển dụng
làm việc tại tổ chức trong tổng số người lao
động của tổ chức đó phải chiếm ít nhất 50%
(đến 31/12/2016 thì tỷ lệ này còn 30%).
- Mục tiêu chính của tổ chức là đóng góp
cho cộng đồng địa phương, được xác định
theo một trong ba cách: (i) Tăng thu nhập
và tạo việc làm cho người dân địa phương:
đánh giá tỷ lệ người yếu thế tại địa phương
nơi tổ chức đặt trụ sở chính được tuyển dụng
trên tổng số nhân viên của tổ chức hoặc tỷ
lệ người yếu thế trên tổng số người nhận
được các dịch vụ xã hội từ tổ chức đó đạt
từ 20% trở lên; (ii) Giải quyết các vấn đề xã
hội như nạn đói, vấn đề bị đẩy ra bên lề xã
hội, vấn đề tội phạm tại địa phương (đánh
giá mức doanh thu hoặc chi tiêu liên quan
đến mục tiêu chính của tổ chức trên tổng
2 The term “social enterprise” refers to an enterprise certified in accordance with Article 7 as one that pursues a
social objective, such as raising local residents ‘quality of life, etc., by providing vulnerable groups with social
services or jobs while conducting business activities, such as the production and sale of goods and services, etc.
3 Clause 5, Article 8 The Social Enterprise Promotion 2007 Where it has distributable profits for each fiscal
year, it should spend at least 2/3 of the profits for social objectives (applicable only to a company under the
Commercial Law).
4 Nghị định số 20141 năm 2007 của Hàn Quốc đã được sửa đổi vào các năm 2008, 2009, 2010, 2012 và 2013.
Bài viết sử dụng “Nghị định số 20141” hợp nhất qua các lần sửa đổi. Xem thêm bảng dịch tiếng Anh tại: http://
Số 16(440) - T8/2021
55
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
số doanh thu mà tổ chức kiếm được chiếm
từ 40% trở lên); (iii) Cung cấp tư vấn, các
dịch vụ thị trường, tài chính,… cho các tổ
chức ưu tiên theo đuổi mục tiêu vì xã hội
như cung ứng các dịch vụ xã hội hoặc tạo
việc làm cho cộng đồng địa phương, hoặc
tăng chất lượng cuộc sống cho người dân
địa phương (đánh giá mức doanh thu hoặc
chi tiêu liên quan đến mục tiêu chính của
tổ chức trên tổng số doanh thu mà tổ chức
kiếm được chiếm từ 40% trở lên).
- Mục tiêu chính của tổ chức là cung cấp
việc làm và các dịch vụ xã hội cho nhóm
yếu thế: Tỷ lệ những người yếu thế được
tuyển dụng trên tổng số người lao động của
tổ chức và tỷ lệ những người yếu thế trên
tổng số người nhận được các dịch vụ xã hội
chiếm từ 30% trở lên (đến 31/12/2015 thì
giảm còn 20%).
Trongđó,nhómngườiyếuthế(vulnerable
groups) được xác định dựa theo Điều 2
Nghị định số 20141: (i) Người có thu nhập
hàng tháng bằng 60% thu nhập bình quân
chung của cả nước hoặc ít hơn, (ii) Người
cao tuổi - người từ 55 tuổi trở lên; người tàn
tật, nạn nhân buôn bán tình dục, thanh thiếu
niên, người được hưởng trợ cấp để tìm việc
mới…, (iii) Người cư trú trốn khỏi Triều
Tiên, (iv) Nạn nhân bạo lực gia đình, người
neo đơn, người nhập cư kết hôn với người
nước ngoài ở Hàn Quốc, và các đối tượng
khác theo Luật Chính sách việc làm.
Dịch vụ xã hội được xác định theo Điều
3 Nghị định số 20141, gồm: Chăm sóc trẻ
em; dịch vụ nghệ thuật, du lịch và thể thao;
dịch vụ quản lý và bảo tồn rừng; các dịch
vụ về điều dưỡng và làm việc tại nhà; dịch
vụ liên quan đến bảo quản, sử dụng di sản
văn hóa; dịch vụ quản lý cơ sở kinh doanh,
như dịch vụ vệ sinh; các dịch vụ khác do Bộ
trưởng Bộ Lao động và Việc làm ban hành.
Như vậy, mục tiêu hoạt động vì xã hội
của DNXH được xác định thành 04 loại chủ
yếu: (i) Tạo việc làm cho nhóm yếu thế, (ii)
Cung cấp dịch vụ thiết yếu cho nhóm yếu
thế, (iii) Vừa tạo việc làm và cung cấp dịch
vụ thiết yếu cho nhóm yếu thế, và (iv) Đóng
góp cho cộng đồng địa phương. Trong đó,
nhóm yếu thế được xác định dựa theo Điều
2 Nghị định số 20141.
Thứ hai, DNXH sử dụng hoạt động kinh
doanh để theo đuổi mục tiêu xã hội.
DNXH là tổ chức được thành lập nhằm
theo đuổi mục tiêu xã hội thông qua thực
hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Điều đó có nghĩa rằng DNXH không tổ
chức công việc kinh doanh độc lập với
nhiệm vụ giải quyết các vấn đề xã hội,
mà hai hoạt động này được tiến hành lồng
ghép với nhau; thông qua đó, DNXH đạt
được mục tiêu lợi nhuận của mình đồng
thời tạo thu nhập, sản phẩm cần thiết cho
cộng đồng. Ví dụ, DNXH sử dụng lao
động thuộc nhóm yếu thế được trả lương
đầy đủ để tham gia vào các hoạt động
kinh doanh, chẳng hạn như sản xuất và
bán hàng hóa và dịch vụ… Doanh thu từ
hoạt động kinh doanh của công ty phải đáp
ứng điều kiện tối thiểu hoặc vượt qua các
tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật; có
cơ cấu tổ chức chặt chẽ, trong đó những
người liên quan, chẳng hạn như người thụ
hưởng dịch vụ và người lao động, v.v.., có
thể tham gia.
Như vậy, việc sử dụng bao nhiêu phần
trăm lợi nhuận hằng năm để tái đầu tư thực
hiện các mục tiêu xã hội là hệ quả suy ra từ
mục tiêu vì xã hội của DNXH. Do đó, Hàn
Quốc không coi tỷ lệ lợi nhuận tái đầu tư
hằng năm tồn tại như một loại tiêu chí song
song với các tiêu chí mà nó nằm trong nội
hàm vì xã hội của DNXH.
Thứ ba, DNXH được đăng ký thành lập
theo quy định của pháp luật.
So với nhiều nước khác trên thế giới, điển
hình là Vương quốc Anh - DNXH không
phải là một thuật ngữ luật học mà là một
56
Số 16(440) - T8/2021
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
thuật ngữ kinh tế, bất kỳ chủ thể nào cũng
có thể khoác lên tấm áo DNXH5. Hàn Quốc
tiếp cận DNXH là một thuật ngữ pháp lý,
một loại hình tổ chức có sứ mệnh sử dụng
hoạt động kinh doanh để giải quyết các vấn
đề xã hội, môi trường. Cách tiếp cận này
kéo theo nhiều vấn đề pháp lý khác như:
thủ tục đăng ký thành lập DNXH, cơ chế
kiểm tra giám sát DNXH, các chính sách ưu
đãi hỗ trợ cho DNXH…Vậy nên, DNXH tại
Hàn Quốc là tổ chức được đăng ký thành lập
theo quy định của pháp luật, đồng thời tổ
chức, cá nhân không được phép “tự phong”
mình là DNXH, vi phạm điều này có thể bị
xử phạt hành chính.
Thủ tục đăng ký DNXH tại Hàn Quốc
do Hội đồng Chính sách việc làm trực tiếp
thực hiện việc thẩm định hồ sơ trước khi
trình cho Bộ trưởng Lao động và Việc làm
xem xét lần cuối, những doanh nghiệp đáp
ứng đầy đủ các tiêu chí trở thành DNXH
sẽ được Bộ trưởng Lao động và Việc làm
ra quyết định cấp Giấy chứng nhận DNXH.
Các loại hình tổ chức của DNXH ở Hàn
Quốc bao gồm hầu hết các hình thức pháp
lý có thể tiến hành kinh doanh, gồm: (i) Tập
đoàn và các hiệp hội theo Luật Dân sự, (ii)
Công ty theo Luật Thương mại, (iii) Các tổ
chức phi lợi nhuận theo pháp luật đặc thù.
Pháp luật Hàn Quốc không thiết kế một loại
hình doanh nghiệp riêng dành cho DNXH
mà để cho nó vận hành theo các hình thức
pháp lý đã đăng ký như các doanh nghiệp
thông thường. Tuy nhiên, dù tồn tại dưới
hình thức pháp lý như đối với doanh nghiệp
thông thường nhưng cách thức điều hành
của loại hình doanh nghiệp này lại có thêm
một số quy định đặc thù nhằm đảm bảo
được mục tiêu, sứ mệnh của loại hình doanh
nghiệp này. Tính đặc thù này được thể hiện
trong cách vận hành các DNXH, cụ thể:
các cuộc họp quan trọng phải được tổ chức
làm sao để các bên liên quan có thể tham
gia. Người có liên quan ở đây có thể là đại
diện người thụ hưởng, đại diện nhà tài trợ,
đại diện chính quyền địa phương liên quan,
người quản lý điều hành doanh nghiệp,…
Theo quy định của khoản 1 Điều 9
Luật Khuyến khích DNXH, hồ sơ đăng ký
thành lập DNXH phải có đầy đủ các thông
tin sau6:
(a) Đơn đăng ký thành lập (tùy thuộc vào
loại hình doanh nghiệp lựa chọn, ví dụ (i)
nếu doanh nghiệp là tập đoàn hoặc hiệp hội
thì dùng mẫu theo Luật Dân sự, (ii) công ty
hoặc hữu hạn hoặc hợp danh thì dùng mẫu
theo Luật Thương mại, (iii) tập đoàn hay tổ
chức tư phi lợi nhuận thì dùng mẫu của Luật
chuyên ngành).
(b) Văn bản thể hiện các cuộc họp quan
trọng của Đại hội cổ đông, Ban giám đốc,
Ban điều hành, Hội đồng quản lý nhân sự
để đưa ra các quyết định về các bên liên
quan: đại diện người lao động, đại diện
người hưởng lợi các dịch vụ xã hội, đại
chiện chính quyền địa phương,…
(c) Văn bản chứng minh cho các hoạt
động kinh doanh về thu nhập và chi phí,
trong đó yêu cầu tổng thu nhập từ các hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp trong 6
tháng gần nhất trước ngày đăng ký thành
lập DNXH chiếm trên 30% tổng chi phí lao
động, bao gồm:
- Về thu nhập: Báo cáo tài chính (Bảng
cân đối kế toán, Báo cáo thu nhập, Báo
cáo sản xuất); Chứng nhận thuế VAT của
5 Lê Nhật Bảo, “Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 02/2017, tr.25.
6 Lê Thanh Tú, “Chuyên đề kinh nghiệm quốc tế và áp dụng vào Việt Nam trong thành lập hoạt động và hỗ trợ
doanh nghiệp xã hội”, https://dangkykinhdoanh.gov.vn/vn/Pages/chitiettin.aspx?groupID=599&IDNews=3
543&tieude=chuyen-de-kinh-nghiem-quoc-te-va-ap-dung-vao-viet-nam-trong-thanh-lap--hoat-dong-va-ho-
tro-doanh-nghiep-xa-hoi.aspx&fbclid=IwAR2ReWOcKoXHi6eLVdB5rP0tVv5yRc4Fw7T0f_7zRmH_Yq_
p1Nm-phzF2_Y, truy cập ngày 8/4/2020.
Số 16(440) - T8/2021
57
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
cơ quan thuế; Sổ cái (Sổ kế toán, Sổ doanh
số, Sổ tiền mặt,…); Báo cáo đóng (Closing
Statement),…
Thứ nhất, DNXH cần được cấp giấy xác
nhận DNXH (hoặc một văn bản pháp lý có
ý nghĩa tương tự).
- Về chi phí lao động: Các báo cáo tài
chính; Bảng lương,…
Ngoài giấy chứng nhận đăng ký doanh
nghiệp như bao doanh nghiệp khác, DNXH
ở nước ta không có một văn bản nào từ phía
Nhà nước thừa nhận một cách minh thị là
DNXH. Điều này làm cho các DNXH gặp
khó khăn trong việc chứng minh tư cách
DNXH của mình cho các bên đối tác khi
cần thiết.
(d) Điều lệ DNXH7 cần có đầy đủ các
thông tin sau: tên doanh nghiệp, mục đích,
nội dung kinh doanh, địa điểm trụ sở chính,
loại hình, phương thức hoạt động, phương
thức ra các quyết định quan trọng, phương
án chia sẻ lợi nhuận và tái đầu tư, phương
án huy động vốn và các khoản vay, phương
án bố trí, đề cử và sa thải người lao động,
phương án giải thể và thanh toán nợ (khi
công ty tặng cho ít nhất 2/3 toàn bộ tài sản
còn lại cho DNXH khác hoặc cho quỹ vì lợi
ích công), các nội dung khác theo quy định
của pháp luật.
Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là
do DNXH ở nước ta được đăng ký thành
lập theo một quy trình chung như đối với
các doanh nghiệp thông thường khác. Điểm
khác biệt duy nhất ở đây là các DNXH phải
nộp thêm bản Cam kết thực hiện mục tiêu
xã hội, môi trường trong hồ sơ đăng ký
DNXH. Đối với các doanh nghiệp thông
thường trong quá trình hoạt động, muốn
chuyển sang DNXH thì cũng chỉ cần nộp
thêm bản Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội,
môi trường trong hồ sơ đăng ký DNXH. Khi
tiếp nhận bản cam kết này, Cơ quan đăng
ký kinh doanh thực hiện cập nhật thông tin
vào hồ sơ doanh nghiệp và công khai trên
Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh
nghiệp. Trên thực tiễn, để xác định doanh
nghiệp nào là DNXH thì cần truy cập Cổng
thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
(https://dangkykinhdoanh.gov.vn/).
Hiện tại, quy trình cấp đăng ký DNXH
tại Hàn Quốc được tách biệt với cấp đăng
ký cho doanh nghiệp thông thường. Đối
với doanh nghiệp thông thường, việc đăng
ký được thực hiện tại Cơ quan đăng ký
doanh nghiệp quốc gia (National Business
Register), trong khi đó, DNXH phải đăng
ký thành lập tại Bộ Lao động và Việc làm8.
2. Những gợi mở cho Việt Nam
Tại Việt Nam, địa vị pháp lý của DNXH
được ghi nhận lần đầu tiên tại Điều 10 Luật
Doanh nghiệp năm 2014 và Nghị định số
96/2015/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của
Luật Doanh nghiệp, những quy định này
tiếp tục được kế thừa, phát triển bởi Luật
Doanh nghiệp năm 2020. Nhìn chung, các
quy định về DNXH tại Việt Nam vẫn đang
ở giai đoạn đầu hình thành, còn rất khái
quát và có nhiều vấn đề phải tiếp tục nghiên
cứu chuyên sâu. Trên cơ sở nghiên cứu quy
định của pháp luật Hàn Quốc về DNXH, có
thể rút ra một số gợi mở cho việc xây dựng
và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về DNXH
như sau:
Để khắc phục bất cập nêu trên, chúng
ta có thể vận dụng kinh nghiệm của Hàn
Quốc cho DNXH đăng ký thành lập theo
một quy trình riêng nên được các cơ quan
nhà nước cấp văn bản xác nhận là DNXH.
Văn bản này còn có ý nghĩa là giấy khai
sinh ra một thực thể pháp lý mới trong nền
kinh tế thị trường.
Thứ hai, quy định bắt buộc Điều lệ của
DNXH phải có nội dung về mục tiêu hoạt
động vì xã hội, môi trường.
7 Article 9 e Social Enterprise Promotion 2007.
8 Lê Thanh Tú, tldđ.
58
Số 16(440) - T8/2021
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
Hiện nay, pháp luật nước ta không có
yêu cầu bắt buộc Điều lệ của DNXH (đối
với hình thức công ty) phải có nội dung về
mục tiêu hoạt động vì xã hội, môi trường;
vì vậy, không loại trừ khả năng các DNXH
bỏ sót hoặc không ghi nội dung này. Sứ
mệnh của DNXH khác biệt rất lớn so với
các doanh nghiệp thông thường khác và
bản thân các thành viên/cổ đông công ty
phải trung thành với sứ mệnh đó. Các quy
định trong Luật Doanh nghiệp năm 2014,
Luật Doanh nghiệp năm 2020 đều đặt ra
nghĩa vụ cho các thành viên/cổ đông công
ty là phải tuân thủ Điều lệ công ty. Do đó,
việc quy định mục tiêu hoạt động vì xã
hội, môi trường là nhằm tăng cường trách
nhiệm của (các) chủ sở hữu của DNXH.
Vận dụng kinh nghiệm của Hàn Quốc,
pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam
cần bổ sung quy định yêu cầu bắt buộc
Điều lệ của DNXH phải có nội dung về
mục tiêu hoạt động vì xã hội, môi trường.
Đây là điều kiện bắt buộc để các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền xem xét chấp
nhận và khai sinh ra DNXH.
Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam chưa có
quy định đặc thù về cách thức vận hành của
DNXH nhằm đảm bảo mục tiêu hoạt động
của doanh nghiệp mà chỉ đơn thuần ràng
buộc DNXH thực hiện các cam kết thực
hiện mục tiêu xã hội của mình. DNXH phải
duy trì mục tiêu xã hội, môi trường, mức lợi
nhuận giữ lại để tái đầu tư và nội dung khác
ghi tại Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội,
môi trường trong suốt quá trình hoạt động.
Trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện
không đầy đủ Cam kết thực hiện mục tiêu
xã hội, môi trường và mức lợi nhuận giữ lại
để tái đầu tư, doanh nghiệp xã hội phải hoàn
lại toàn bộ các ưu đãi, khoản viện trợ, tài trợ
dành riêng cho doanh nghiệp xã hội9. Trong
khi đó, DNXH tại Hàn Quốc được yêu cầu
tích các tiêu chuẩn về quản trị cởi mở, đảm
bảo cho người thụ hưởng và những bên có
liên quan, có thể tham gia vào việc quản
trị của DNXH, điều này góp phần thể hiện
tiếng nói của họ và hỗ trợ DNXH đạt được
mục tiêu xã hội trong hoạt động kinh doanh.
Đây cũng là một trong những gợi mở mà
Việt Nam có thể tiếp thu trong quá trình xây
dựng và hoàn thiện pháp luật về DNXH.
Thứ ba, ban hành các chính sách hỗ trợ
cho DNXH.
Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Nghị
định số 96/2015/NĐ-CP đều khẳng định
“Nhà nước có chính sách khuyến khích, hỗ
trợ và thúc đẩy phát triển doanh nghiệp xã
hội”. Tuy nhiên, cho đến nay, Nhà nước vẫn
chưa có một chính sách ưu đãi, hỗ trợ nào
dành riêng cho DNXH.
Theo kết quả khảo sát thực hiện năm
2011, nước ta có khoảng 200 thực thể
pháp lý có bản chất là DNXH10. Sau khi
Luật Doanh nghiệp năm 2014 có hiệu
lực, đến năm 2019, có khoảng 80 DNXH
được ra đời theo quy định của pháp luật11.
Điều này cho thấy các nhà đầu tư không
thấy mặn mà phát triển mô hình DNXH.
Từ kinh nghiệm của Hàn Quốc, chúng
tôi cho rằng, để khuyến khích và tạo
điều kiện hỗ trợ các DNXH phát triển,
Nhà nước cần sớm ban hành quy định về
ưu đãi cho DNXH. Các chính sách như
vậy cần được điều chỉnh từ lúc khai sinh
cho đến khi DNXH hoạt động, chẳng hạn
như: Miễn chi phí đăng ký DNXH, miễn
phần thuế dùng để tái đầu tư vì mục tiêu
xã hội
9 Điều 9 Nghị định số 96/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều về Luật Doanh nghiệp.
10 Hội đồng Anh, Trung tâm Tia sáng và Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến phát triển cộng đồng (2011), Báo cáo kết
quả khảo sát doanh nghiệp xã hội Việt Nam năm 2011, 2011, Hà Nội, tr. 35.
11 Hội đồng Anh, Tổ chức doanh nghiệp xã hội Vương quốc Anh, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương
(2019), Báo cáo nghiên cứu Hiện trạng doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam, tr.18.
Số 16(440) - T8/2021
59
Bạn đang xem tài liệu "Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Hàn Quốc và những gợi mở cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
doanh_nghiep_xa_hoi_theo_phap_luat_han_quoc_va_nhung_goi_mo.pdf

