Hỏi đáp về bầu cử (Phần 2)
Phụ lục 1 – Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền
PHỤ LỤC 1
TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN, 1948
(Được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua và công bố theo
Nghị quyết số 217A (III) ngày 10/12/1948)
Điều 21.
1. Mọi người đều có quyền tham gia quản lý đất nước mình,
một cách trực tiếp hoặc thông qua các đại diện mà họ tự do
lựa chọn.
2. Mọi người đều có quyền được tiếp cận các dịch vụ công cộng ở
nước mình một cách bình đẳng.
3. Ý chí của nhân dân là cơ sở tạo nên quyền lực của chính quyền;
ý chí đó phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và
chân thực, được tổ chức theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu,
bình đẳng và bỏ phiếu kín, hoặc bằng những thủ tục bầu cử tự
do tương tự.
101
PHỤ LỤC 2
CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ CÁC QUYỀN DÂN SỰ VÀ CHÍNH TRỊ, 1966
Điều 3.
Các quốc gia thành viên Công ước này cam kết đảm bảo quyền
bình đẳng giữa nam và nữ trong việc thực hiện tất cả các quyền dân
sự và chính trị mà Công ước đã quy định.
Điều 25.
Mọi công dân, không có bất kỳ sự phân biệt nào như đã nêu ở Điều
2 và không có bất kỳ sự hạn chế bất hợp lý nào, đều có quyền và cơ
hội để:
a) am gia điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp
hoặc thông qua những đại diện do họ tự do lựa chọn;
b) Bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực,
bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín, nhằm
đảm bảo cho cử tri được tự do bày tỏ ý nguyện của mình;
c) Được tiếp cận với các dịch vụ công cộng ở đất nước mình trên
cơ sở bình đẳng.
102
Phụ lục 3 – Bình luận chung số 25
PHỤ LỤC 3
BÌNH LUẬN CHUNG SỐ 25 CỦA ỦY BAN NHÂN QUYỀN LHQ VỀ SỰ THAM
GIA CÁC HOẠT ĐỘNG CÔNG CỘNG VÀ QUYỀN BẦU CỬ (ĐIỀU 25 ICCPR)
1. Điều 25 Công ước công nhận và bảo vệ quyền của mọi
công dân được tham gia các hoạt động công cộng, quyền
bầu cử, ứng cử và quyền tiếp cận các dịch vụ công. Công
ước yêu cầu các quốc gia thành viên, cho dù thể chế chính
trị và hình thức nhà nước như thế nào, cũng phải thực hiện
những biện pháp pháp lý và các biện pháp cần thiết khác
để đảm bảo cho mọi công dân đều có cơ hội được hưởng
các quyền theo Điều này. Điều 25 dựa trên cốt lõi về một
chính quyền dân chủ mà tổ chức và hoạt động dựa trên cơ
sở đồng thuận của nhân dân và phù hợp với các nguyên tắc
của Công ước.
2. Các quyền theo Điều 25 có liên quan nhưng không đồng nhất
với quyền tự quyết của các dân tộc. eo Điều 1(1), các dân
tộc có quyền tự do quyết định thể chế chính trị và có quyền lựa
chọn hình thức tổ chức nhà nước của mình. Điều 25 đề cập
đến quyền của các cá nhân được tham gia vào quá trình hình
thành và quản lý các lĩnh vực công. Các quyền đó, giống như
các quyền cá nhân khác, cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của
Nghị định thư không bắt buộc thứ nhất.
3. Không giống với nhiều quyền và tự do khác được Công ước
công nhận (các quyền và tự do được đảm bảo cho mọi cá nhân
trong phạm vi lãnh thổ và thuộc quyền tài phán của quốc gia
thành viên), Điều 25 bảo vệ các quyền của riêng các “công
dân” của quốc gia đó. Báo cáo của các quốc gia thành viên
cần chỉ ra những quy định pháp luật xác định tư cách công
dân trong bối cảnh các quyền được bảo vệ theo Điều 25. Công
ước không cho phép có sự phân biệt nào giữa các công dân
103
trong việc hưởng những quyền này vì lý do chủng tộc, sắc tộc,
giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay quan
điểm khác, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, sở hữu, thành phần
xuất thân hay địa vị khác. Sự phân biệt giữa những người
được hưởng tư cách công dân mà căn cứ vào thành phần xuất
thân và việc nhập quốc tịch là trái với Điều 25. Báo cáo của
các quốc gia cần chỉ rõ liệu có những nhóm xã hội nào bị giới
hạn trong việc hưởng thụ các quyền này hay không, ví dụ như
không được hưởng quyền bầu cử trong các cuộc bầu cử ở địa
phương hay không được đảm nhiệm những vị trí cụ thể trong
cơ quan công quyền.
4. Mọi điều kiện đặt ra đối với việc hưởng thụ các quyền được bảo
vệ theo Điều 25 cần dựa trên những tiêu chí hợp lý và khách
quan. Ví dụ, điều kiện được cho là hợp lý là yêu cầu đến một
độ tuổi nhất định công dân mới có quyền bầu cử hay được bổ
nhiệm vào những vị trí cụ thể trong các cơ quan công quyền.
Việc thực hiện các quyền này của công dân có thể không bị
trì hoãn hay loại trừ, trừ khi có những căn cứ khách quan và
hợp lý được quy định bởi pháp luật. Ví dụ, tình trạng bị bệnh
tâm thần có thể coi là một căn cứ để loại trừ quyền của một
cá nhân được bầu cử hay được đảm nhận một công việc nhất
định trong các cơ quan công quyền.
5. Việc tham gia các hoạt động công cộng (xã hội) được đề cập ở
điểm (a) là một khái niệm rộng, liên quan đến việc thực hiện
quyền lực chính trị, đặc biệt là thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp và tư pháp. Các hoạt động công bao trùm tất cả các
khía cạnh của quản lý hành chính, bao gồm cả việc xây dựng và
thực hiện chính sách ở cấp độ quốc tế, quốc gia, khu vực và địa
phương. Vấn đề phân bổ quyền lực và nguồn lực qua đó cho
phép các công dân có thể tham gia các hoạt động công được
nêu ở Điều 25 cần phải được quy định bởi hiến pháp và các
đạo luật khác của quốc gia .
104
Phụ lục 3 – Bình luận chung số 25
6. Công dân tham gia trực tiếp vào các hoạt động công khi thực
hiện quyền lực với tư cách là thành viên của các cơ quan lập
pháp hay nắm giữ các chức vụ hành pháp. Quyền tham gia trực
tiếp này được quy định ở điểm (b). Công dân còn được tham
gia trực tiếp vào việc quản lý nhà nước khi họ tham gia góp
ý vào việc thông qua hay thay đổi hiến pháp hoặc quyết định
những vấn đề công thông qua việc trưng cầu dân ý hay quá
trình bầu cử khác được tiến hành phù hợp với điểm (b). Công
dân có thể tham gia trực tiếp vào hoạt động công bằng việc
tham gia vào các hội đồng dân cử có thẩm quyền quyết định
về các vấn đề của địa phương hay các vấn đề của một cộng
đồng cụ thể, hay tham gia các cơ quan được thành lập để đại
diện cho công dân trong việc tham vấn với chính phủ. Khi một
phương thức tham gia trực tiếp của công dân được quy định
thì sẽ không có sự phân biệt nào giữa các công dân liên quan
đến sự tham gia của họ trên những căn cứ được đề cập tại Điều
2, khoản 1 và không được đặt ra sự hạn chế vô lý nào.
7. Khi các công dân tham gia các hoạt động công thông qua việc
tự do lựa chọn các đại diện của mình thì vấn đề ngầm định
trong Điều 25 là các đại diện đó trên thực tế phải thực sự thực
hiện quyền lực quản lý và phải được chọn ra thông qua một
quá trình bầu cử để thực hiện quyền lực đó. Điều này cũng
ngầm ý rằng các đại diện chỉ thực hiện các quyền của mình
được xác định phù hợp với các quy định của hiến pháp. Việc
tham gia thông qua các đại diện được lựa chọn tự do được thực
hiện qua quá trình bầu cử phải được pháp luật quy định phù
hợp với điểm (b).
8. Công dân còn có thể tham gia các hoạt động công thông qua
việc tạo ảnh hưởng thông qua tranh luận và đối thoại công
khai với các đại diện của mình hoặc thông qua khả năng tự tổ
chức. Sự tham gia này được đảm bảo bằng quyền tự do ngôn
luận, hội họp và lập hội.
105
9. Điểm (b) Điều 25 nêu ra các quy định cụ thể liên quan đến
quyền của công dân được tham gia các hoạt động công với tư
cách cử tri hay ứng cử viên. Những cuộc bầu cử định kỳ trung
thực phù hợp với điểm (b) là quan trọng để bảo đảm việc đánh
giá khả năng của các đại diện trong việc thực hiện quyền lập
pháp và hành pháp được trao cho họ. Những cuộc bầu cử
như vậy phải được tổ chức nhanh chóng mà không được kéo
dài quá mức và bảo đảm rằng thẩm quyền của chính phủ kế
nhiệm phải trên cơ sở quyền tự do thể hiện ý chí của các cử tri.
Các quyền và nghĩa vụ được quy định tại điểm (b) cần được
bảo đảm bởi pháp luật.
10. Quyền bỏ phiếu tại các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý phải
được quy định bởi pháp luật và có thể phải chịu những hạn chế
hợp lý, như là quy định giới hạn độ tuổi tối thiểu đối với quyền
bầu cử. Những hạn chế không hợp lý để giới hạn quyền bầu cử
cụ thể như dựa trên căn cứ về sự mất năng lực hành vi hay đưa
ra những đòi hỏi về tài sản, giáo dục hay khả năng biết đọc, biết
viết. Tư cách thành viên của đảng phái cũng không được coi là
một điều kiện để xác định một người có đủ tư cách để bầu cử
và cũng không được xem là căn cứ chứng tỏ năng lực hành vi.
11. Các quốc gia phải tiến hành các biện pháp có hiệu quả để đảm
bảo rằng mọi cá nhân có quyền bầu cử phải có khả năng thực
hiện quyền đó. Việc đăng ký của các cử tri phải được tạo điều
kiện thuận lợi và không được đặt ra những trở ngại cho việc
đăng ký đó. Nếu có những đòi hỏi về cư trú đặt ra đối với việc
đăng ký bầu cử thì những đòi hỏi đó phải hợp lý và không được
đặt ra nhằm để loại trừ quyền bầu cử của những người không
có chỗ ở. Mọi sự can thiệp có tính lạm dụng vào việc đăng ký
bầu cử hay bầu cử, cũng như sự đe doạ hay ép buộc các cử tri
cần bị cấm bởi các quy định pháp luật hình sự và các quy định
đó phải được thực thi nghiêm chỉnh. Việc giáo dục đối với cử
tri và các chiến dịch đăng ký là cần thiết để đảm bảo cho việc
106
Phụ lục 3 – Bình luận chung số 25
thực thi hiện quả các quyền trong Điều 25 bởi một cộng đồng
có hiểu biết.
12. Quyền tự do biểu đạt, hội họp và lập hội là những điều kiện
quan trọng cho việc thực hiện hiệu quả quyền bầu cử và phải
được bảo vệ đầy đủ. Cần có các biện pháp tích cực để khắc phục
những trở ngại cụ thể như là sự thất học, các rào cản ngôn ngữ,
nghèo đói hay những trở ngại khác về quyền tự do đi lại mà cản
trở những người có quyền bầu cử thực hiện có hiệu quả các
quyền của mình. ông tin và các tài liệu về việc bầu cử phải
được chuẩn bị cả bằng những ngôn ngữ thiểu số. Các phương
tiện cụ thể như là tranh ảnh hay biểu tượng cần được đáp ứng
để đảm bảo rằng các cử tri mù chữ đều có được thông tin đầy
đủ làm cơ sở cho sự lựa chọn của mình. Các quốc gia thành
viên cần nêu ra trong các báo cáo của mình phương thức giải
quyết được những khó khăn được đề cập ở điều khoản này.
13. Báo cáo của các quốc gia cần mô tả các quy định pháp luật về
quyền bầu cử và việc áp dụng các quy định đó trong thời hạn
được đề cập trong báo cáo. Các báo cáo cũng cần nêu rõ những
yếu tố cản trở công dân trong việc thực hiện quyền bầu cử và
các biện pháp tích cực cần có để khắc phục những yếu tố này.
14. Trong các báo cáo của mình, các cần nêu và giải thích những
quy định pháp luật về việc tước quyền bầu cử của công dân.
Các căn cứ cho việc tước quyền như vậy phải khách quan và
hợp lý. Nếu việc kết án về một hành vi tội phạm là căn cứ cho
việc đình chỉ quyền bầu cử thì thời hạn đình chỉ đó cần tương
ứng với hành vi và mức án. Cá nhân bị tước tự do nhưng chưa
bị kết án không nên bị loại trừ việc thực hiện quyền bầu cử.
15. Việc thực hiện có hiệu quả quyền và cơ hội tham gia ứng cử
đảm bảo rằng các cá nhân có quyền bầu cử được tự do lựa
chọn các ứng cử viên. Mọi hạn chế đối với quyền tham gia ứng
cử, như độ tuổi tối thiểu, phải dựa trên tiêu chí khách quan và
hợp lý. Các cá nhân có khả năng tham gia ứng cử không bị loại
107
trừ bởi những đòi hỏi bất hợp lý và có tính chất phân biệt như
về giáo dục, cư trú, dòng dõi hoặc bởi lý do tư cách chính trị.
Không ai phải chịu bất cứ sự phân biệt hay bất lợi nào bởi việc
ứng cử của mình. Các quốc gia thành viên cần nêu và giải thích
những quy định pháp luật về việc loại trừ một nhóm cá nhân
tham gia ứng cử.
16. Các điều kiện liên quan đến ngày bổ nhiệm, phí hay đặt cọc
cần phải hợp lý và không có tính phân biệt. Nếu có những căn
cứ hợp lý để đánh giá các vị trí ứng cử nhất định là không phù
hợp với nhiệm kỳ của những chức vụ cụ thể (ví dụ như vị trí về
tư pháp, vị trí quân sự cấp cao, hành chính) thì các biện pháp
để tránh sự xung đột lợi ích không nên giới hạn một cách quá
mức các quyền được bảo vệ theo điểm (b). Những căn cứ để
thay đổi những người nắm giữ chức vụ bầu cử cần được quy
định bởi pháp luật dựa trên tiêu chí khách quan và hợp lý và
theo những trình tự, thủ tục công bằng.
17. Quyền của cá nhân tham gia ứng cử không nên bị hạn chế một
cách vô lý bằng việc đòi hỏi các ứng cử viên phải là thành viên
của các đảng phái hay các đảng phái cụ thể. Nếu một ứng cử
viên đòi hỏi phải có một số người ủng hộ tối thiểu để được chỉ
định thì đòi hỏi này cần hợp lý và không được đặt ra như một
rào cản đối với việc ứng cử. Ngoài việc căn cứ vào khoản (1),
Điều 5 của Công ước, thì quan điểm chính trị có thể không
được coi là căn cứ để tước quyền tham gia ứng cử của cá nhân.
18. Báo cáo của quốc gia cần mô tả những quy định pháp lý xác
định những điều kiện để nắm giữ những vị trí nhà nước do
bầu cử và những hạn chế và tiêu chí áp dụng cho những vị trí
cụ thể. Các báo cáo cần mô tả điều kiện chỉ định, ví dụ như giới
hạn độ tuổi, và những điều kiện hay hạn chế khác. Báo cáo của
các cần chỉ ra những hạn chế nào loại trừ các cá nhân trong
những vị trí dịch vụ công (kể cả những vị trí trong quân đội và
cảnh sát) không được bầu vào những vị trí quản lý cụ thể. Các
108
Phụ lục 3 – Bình luận chung số 25
căn cứ và thủ tục pháp lý để thay đổi người nắm giữ vị trí bầu
cử cũng cần được đưa ra.
19. Căn cứ theo điểm (b), các cuộc bầu cử phải được tiến hành
một cách tự do và công bằng trên cơ sở định kỳ trong khuôn
khổ pháp luật đảm bảo cho việc thực hiện hiệu quả các quyền
bầu cử. Cá nhân có quyền bầu cử phải được tự do bầu cho bất
cử ứng cử viên nào hay ủng hộ hoặc chống lại mọi đề xuất nêu
ra đối với việc trưng cầu dân ý hay bỏ phiếu toàn dân, và tự do
ủng hộ hay phản đối chính phủ mà không chịu ảnh hưởng hay
bất cứ sự bị ép buộc nào mà có thể bóp méo hay hạn chế sự tự
do thể hiện ý chí của cử tri. Cử tri được hình thành quan điểm
một cách độc lập, không bị bạo lực hay đe doạ bạo lực, cưỡng
bức, hạ thấp nhân phẩm hay bất cứ sự can thiệp thô bạo nào.
Những hạn chế hợp lý về chi phí tranh cử có thể được chứng
minh khi cần thiết để đảm bảo rằng sự lựa chọn tự do của cử tri
là không bị cản trở hoặc quá trình dân chủ không bị bóp méo
bởi chi phí không tương ứng nhân danh ứng cử viên hay đảng
phái. Kết quả của các cuộc bầu cử đích thực cần được tôn trọng
và thực hiện.
20. Một cơ quan bầu cử độc lập cần được thành lập để giám sát
quá trình bầu cử và đảm bảo rằng việc bầu cử được tiến hành
một cách bình đẳng, không thiên vị và căn cứ theo những quy
định pháp luật phù hợp với Công ước. Các quốc gia thành viên
cần tiến hành những biện pháp bảo đảm những đòi hỏi về sự
bí mật của việc bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử, kể cả việc bầu
cử của các cử tri vắng mặt khi hệ thống còn tồn tại. Điều này
ngầm ý là các cử tri cần được bảo vệ trước mọi sự ép buộc hay
cưỡng bức buộc phải bộc lộ ý định bầu cử, đã bầu như thế nào
và bảo vệ trước sự can thiệp bất hợp pháp hay trái pháp luật
vào quá trình bỏ phiếu. Việc loại bỏ những quyền này là không
phù hợp với Điều 25 của Công ước. An ninh cho các hòm
phiếu cũng phải được bảo đảm và việc kiểm phiếu phải có sự
109
chứng kiến của các ứng cử viên hay các đại diện của họ. Cần
đảm bảo sự bí mật của việc bầu cử, quá trình kiểm phiếu và
tham gia xem xét lại về mặt tư pháp hoặc quá trình tương ứng
khác để các ứng cử viên tin tưởng vào sự an toàn của các hòm
phiếu và việc kiểm phiếu. Sự trợ giúp cho những người tàn tật,
người mù, hay mù chữ cũng phải độc lập. Các ứng cử viên cần
được thông tin đầy đủ về những đảm bảo này.
21. Mặc dù Công ước không quy định cơ chế bầu cử cụ thể nào
nhưng mọi cơ chế bầu cử trong một phải phù hợp với các
quyền được bảo vệ tại Điều 25 và phải đảm bảo cho cử tri được
tự do thể hiện ý chí.
22. Báo cáo của các quốc gia cần chỉ ra những biện pháp đã được
thực hiện để đảm bảo cho các cuộc bầu cử được tiến hành một
cách trung thực, tự do và định kỳ, và làm thế nào để cơ chế bầu
cử của nước mình có thể bảo đảm và tạo hiệu lực cho cử tri
tự do thể hiện ý chí. Các báo cáo cần mô tả cơ chế bầu cử và
giải thích về việc các quan điểm chính trị khác nhau trong cộng
đồng được đại diện như thế nào trong các cơ quan bầu cử. Các
báo cáo cũng cần nêu ra các đạo luật và trình tự để đảm bảo
thực hiện hiệu quả quyền bầu cử của tất cả công dân trên thực
tế và chỉ ra những đảm bảo về pháp luật để quá trình bầu cử
được bí mật, an toàn và hiệu lực. Việc thực hiện trên thực tế đối
với những bảo đảm này với thời hạn được nêu trong báo cáo
cũng cần được giải thích.
23. Điểm (c) của Điều 25 liên quan đến các quyền và cơ hội của
công dân được tiếp cận các điều kiện bình đẳng chung đối với
các chức vụ quản lý nhà nước. Để đảm bảo sự tiếp cận các điều
kiện bình đẳng chung thì tiêu chí và quá trình bổ nhiệm, thăng
tiến, đình chỉ và sa thải phải khách quan và hợp lý. Cần phải
có biện pháp kiên quyết trong các trường hợp cụ thể để đảm
bảo sự tham gia bình đẳng của công dân vào các cơ quan nhà
nước. Việc tham gia các cơ quan nhà nước phải dựa trên sự
110
Phụ lục 3 – Bình luận chung số 25
bình đẳng cơ hội và những nguyên tắc chung về công trạng và
quy định nhiệm kỳ, nhằm đảm bảo rằng cá nhân nắm giữ chức
vụ công không phải chịu những sức ép hay sự can thiệp về
chính trị. Vấn đề quan trọng đặc biệt là phải đảm bảo rằng các
cá nhân không phải chịu sự phân biệt khi thực hiện các quyền
của mình theo điểm (c) Điều 25 với các căn cứ được quy định
tại Điều 2, khoản 1.
24. Báo cáo của quốc gia thành viên cần nêu những điều kiện cho
việc tham gia các vị trí quản lý nhà nước, những sự hạn chế đối
với quá trình bổ nhiệm, đề bạt, đình chỉ, sa thải hoặc thay đổi
vị trí công việc cũng như những cơ chế đánh giá về mặt pháp lý
hay cơ chế khác được áp dụng cho các quá trình này. Báo cáo
cũng cần nêu ra khả năng đáp ứng những đòi hỏi về sự tham
gia bình đẳng và các biện pháp cụ thể được đưa ra hay không
và nếu có thì mức độ như thế nào.
25. Để đảm bảo việc hưởng đầy đủ các quyền được bảo vệ theo
Điều 25 thì việc trao đổi thông tin và ý kiến về các vấn đề chính
trị giữa Nhà nước và công dân, các ứng cử viên và những đại
diện được bầu là quan trọng. Điều này ngầm ý là báo chí và
các phương tiện thông tin có quyền Bình luận về những vấn
đề công cộng mà không có sự kiểm duyệt hay hạn chế và được
thông tin quan điểm công khai. Điều này cũng đòi hỏi sự thụ
hưởng đầy đủ và tôn trọng các quyền được bảo đảm theo các
Điều 19, 21 và 22 của Công ước, kể cả quyền tự do tham gia các
hoạt động chính trị một cách cá nhân hoặc thông qua các đảng
phái chính trị hay các tổ chức khác, quyền tự do tranh luận các
vấn đề công, tổ chức các cuộc mít tinh, biểu tình hoà bình, chỉ
trích, phản đối, công bố các ấn phẩm chính trị, tổ chức tranh
cử và công khai các quan điểm chính trị.
26. Quyền tự do lập hội, kể cả quyền thành lập hay tham gia các tổ
chức và hiệp hội liên quan đến các vấn đề chính trị hay công
cộng là một sự bổ sung cho các quyền được bảo vệ theo Điều
111
25. Các đảng phái chính trị hay các thành viên của các đảng
phái đóng một vai trò quan trọng trong việc quản lý các vấn đề
công và quá trình bầu cử. Tuỳ theo cách quản lý của mình, các
quốc gia cần bảo đảm rằng các đảng phái chính trị tôn trọng
các quy định của Điều 25 để cho công dân theo đó thực hiện
các quyền của mình.
27. Liên quan đến quy định của khoản 1, Điều 5 Công ước, mọi
quyền được công nhận và bảo vệ theo Điều 25 không thể bị
giải thích theo hướng cho phép hành động hay công nhận mọi
hành động nhằm loại bỏ hay hạn chế các quyền và tự do được
Công ước bảo vệ ở một mức độ cao hơn so với mức độ được
quy định trong Công ước này.
112
Phụ lục 4 – Tuyên ngôn về tiêu chí bầu cử tự do và công bằng
PHỤ LỤC 4
TUYÊN NGÔN VỀ TIÊU CHÍ BẦU CỬ TỰ DO VÀ CÔNG BẰNG
Nhất trí thông qua bởi Hội đồng Liên minh Nghị viện
(Inter-Parliamentary Council) tại phiên họp lần thứ 154
(Paris, ngày 26 tháng 3 năm 1994)
Hội đồng Liên minh Nghị viện,
Tái khẳng định tầm quan trọng của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân
quyền và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị
khẳng định rằng quyền lãnh đạo quốc gia phải dựa trên ý chí của
nhân dân được thể hiện trong các cuộc bầu cử định kỳ và thực chất,
Công nhận và ủng hộ các nguyên tắc cơ bản liên quan đến bầu
cử tự do và công bằng theo định kỳ đã được công nhận bởi các quốc
gia trong các văn kiện nhân quyền phổ quát và khu vực, bao gồm
quyền của mọi người được tham gia vào chính quyền của nước
mình trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các đại biểu được tự do lựa
chọn, quyền bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử như vậy bằng bỏ phiếu
kín, có cơ hội bình đẳng để trở thành ứng cử viên cho cuộc bầu cử,
và đưa ra quan điểm chính trị của mình, riêng rẽ hoặc kết hợp với
những người khác,
Ý thức được thực tế rằng mỗi quốc gia có quyền chủ quyền, phù
hợp với ý chí của người dân, để tự do lựa chọn và phát triển hệ
thống chính trị, xã hội, kinh tế và văn hóa riêng của mình mà không
có sự can thiệp của các quốc gia khác, theo đúng Hiến chương Liên
Hợp Quốc,
Mong muốn thúc đẩy việc thiết lập các hệ thống chính thể đại
diện dân chủ, đa nguyên trên toàn thế giới,
Nhận thức rằng việc thành lập và tăng cường các quá trình và
thể chế dân chủ là trách nhiệm chung của các chính quyền, các cử
tri và các lực lượng chính trị có tổ chức, các cuộc bầu cử định kỳ và
113
thực chất là một yếu tố cần thiết và không thể thiếu của những nỗ
lực bền vững để bảo vệ các quyền và lợi ích của người dân và, như
kinh nghiệm thực tế cho thấy, quyền của mọi người được tham gia
vào chính quyền của nước mình là một yếu tố rất quan trọng trong
việc thụ hưởng hiệu quả tất cả các quyền con người và tự do cơ bản,
Hoan nghênh vai trò mở rộng của Liên Hợp Quốc, Liên minh
Nghị viện (Inter-Parliamentary Union – IPU), các tổ chức và nghị
viện khu vực, và các tổ chức phi chính phủ quốc tế và quốc gia trong
việc hỗ trợ bầu cử theo đề nghị của các chính quyền,
Do đó, thông qua Tuyên ngôn sau đây về tiêu chí bầu cử tự do
và công bằng, và thúc giục các chính phủ và nghị viện trên toàn thế
giới tuân thủ các nguyên tắc và tiêu chuẩn đặt ra trong đó:
1. Các cuộc bầu cử tự do và công bằng
Trong bất kỳ nhà nước nào, quyền lãnh đạo của chính quyền
chỉ có thể xuất phát từ ý chí của nhân dân được thể hiện trong
các cuộc bầu cử thực chất, công bằng và tổ chức định kỳ trên cơ
sở phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín.
2. Các quyền bỏ phiếu và bầu cử
(1) Mọi công dân trưởng thành có quyền bỏ phiếu trong các
cuộc bầu cử, trên cơ sở không phân biệt đối xử.
(2) Mọi công dân trưởng thành có quyền tiếp cận một thủ tục
có hiệu quả, công bằng và không phân biệt đối xử đối với
việc đăng ký cử tri.
(3) Không công dân nào đủ điều kiện mà bị từ chối quyền bỏ
phiếu hoặc bị loại khỏi việc đăng ký làm cử tri, nếu không
phù hợp với tiêu chí khách quan có thể kiểm chứng theo
quy định của pháp luật, và với điều kiện là các biện pháp
này phù hợp với các nghĩa vụ của nhà nước theo luật pháp
quốc tế.
(4) Mỗi cá nhân bị từ chối quyền bầu cử hoặc được đăng ký
làm cử tri thì có quyền khiếu nại đến một cơ quan có thẩm
quyền để xem xét quyết định, sửa sai kịp thời và hiệu quả.
114
Phụ lục 4 – Tuyên ngôn về tiêu chí bầu cử tự do và công bằng
(5) Mỗi cử tri có quyền tiếp cận bình đẳng và hiệu quả đến
một điểm bỏ phiếu để thực hiện quyền bỏ phiếu của mình.
(6) Mỗi cử tri có quyền bình đẳng với những người khác và
lá phiếu của mình có trọng lượng tương đương với của
những người khác.
(7) Quyền bỏ phiếu kín là tuyệt đối và không bị hạn chế trong
bất kỳ hình thức nào.
3. Các quyền và trách nhiệm về ứng cử, đảng và chiến dịch vận
động
(1) Mọi người đều có quyền tham gia vào chính quyền của đất
nước mình và có cơ hội bình đẳng để trở thành một ứng cử
viên trong cuộc bầu cử. Các tiêu chí để tham gia vào chính
quyền được xác định phù hợp với hiến pháp và luật pháp
quốc gia và không được trái với các nghĩa vụ quốc tế của
nhà nước.
(2) Mọi người đều có quyền tham gia hoặc cùng với những
người khác thành lập một đảng chính trị hoặc một tổ chức
với mục đích cạnh tranh trong một cuộc bầu cử.
(3) Mọi người, một cách cá nhân và cùng với những người
khác, có quyền:
• Bày tỏ quan điểm chính trị mà không bị can thiệp;
• Tìm kiếm, tiếp nhận, truyền tải thông tin và lựa chọn
với thông tin đầy đủ;
• Di chuyển tự do trong cả nước để vận động cho cuộc
bầu cử;
• Vận động trên cơ sở bình đẳng với các đảng chính trị
khác, bao gồm cả đảng thành lập chính phủ hiện tại.
(4) Mỗi ứng cử viên cho cuộc bầu cử và mỗi đảng chính
trị sẽ có cơ hội bình đẳng trong tiếp cận với các phương
tiện truyền thông, đặc biệt là các phương tiện truyền
thông đại chúng, để trình bày quan điểm chính trị
của mình.
115
(5) Quyền an toàn của ứng viên liên quan đến tính mạng và tài
sản của họ được công nhận và bảo vệ.
(6) Mỗi cá nhân và mỗi đảng chính trị có quyền được pháp luật
bảo vệ và có cơ chế đối với các vi phạm các quyền chính trị
và quyền bầu cử.
(7) Các quyền nêu trên chỉ có thể chịu những hạn chế có tính
chất ngoại lệ, phù hợp với pháp luật và hợp lý cần thiết
trong một xã hội dân chủ vì lợi ích của an ninh quốc gia
hoặc trật tự công cộng, bảo vệ sức khỏe công cộng hoặc
đạo đức hoặc bảo vệ các quyền và tự do của người khác,
và với điều kiện chúng phù hợp với các nghĩa vụ theo luật
quốc tế. Những hạn chế được phép về việc ứng cử, thành
lập và hoạt động của các đảng chính trị và các quyền
vận động chiến dịch tranh cử sẽ không được áp dụng để
vi phạm các nguyên tắc không phân biệt đối xử vì lý do
chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính
kiến hay quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hay xã hội,
tài sản, hoặc tình trạng khác.
(8) Mỗi cá nhân hoặc đảng chính trị mà quyền về ứng cử,
về hoạt động đảng hoặc chiến dịch vận động bị từ chối
hoặc hạn chế được quyền khiếu nại với một cơ quan có
thẩm quyền để xem xét quyết định và sửa lỗi kịp thời và
hiệu quả.
(9) Các quyền về ứng cử, về hoạt động đảng và chiến dịch vận
động đi kèm với các trách nhiệm với cộng đồng. Đặc biệt,
không có ứng cử viên hoặc đảng phái chính trị nào được
tham gia vào bạo lực.
(10) Mỗi ứng cử viên và chính đảng cạnh tranh trong một cuộc
bầu cử phải tôn trọng các quyền và tự do của người khác.
(11) Mỗi ứng cử viên và chính đảng cạnh tranh trong một cuộc
bầu cử sẽ chấp nhận kết quả của một cuộc bầu cử tự do và
công bằng.
116
Phụ lục 4 – Tuyên ngôn về tiêu chí bầu cử tự do và công bằng
4. Các quyền và trách nhiệm của nhà nước
(1) Các nhà nước cần có những bước cần thiết về lập pháp và
các biện pháp khác, phù hợp với quy trình hiến định của
mình, để đảm bảo các quyền và khuôn khổ thể chế cho các
cuộc bầu cử định kỳ và thực chất, tự do và công bằng, phù
hợp với các nghĩa vụ của mình theo luật quốc tế. Đặc biệt,
các nhà nước cần phải:
• iết lập một quy trình có hiệu quả, công bằng và
không phân biệt đối xử đối với việc đăng ký cử tri;
• Xây dựng tiêu chí rõ ràng cho việc đăng ký cử tri, như
tuổi tác, quốc tịch và nơi cư trú, và đảm bảo rằng các
quy định này được áp dụng mà không có bất kỳ sự
phân biệt nào;
• Bảo đảm cho sự hình thành và hoạt động tự do của các
đảng chính trị, có thể quy định về nguồn ngân sách của
các đảng chính trị và chiến dịch bầu cử, để đảm bảo tách
biệt đảng với nhà nước, và thiết lập các điều kiện cạnh
tranh trong cuộc bầu cử lập pháp một cách công bằng;
• Khởi động hoặc tạo điều kiện cho các chương trình
quốc gia về giáo dục công dân, để đảm bảo rằng người
dân quen thuộc với các thủ tục và vấn đề bầu cử;
(2) Ngoài ra, các nhà nước nên có những chính sách cần thiết
và các bước chế để đảm bảo đạt được dần dần và củng cố
các mục tiêu dân chủ, kể cả thông qua việc thành lập một
cơ chế trung lập, vô tư hoặc cân bằng cho việc quản lý của
các cuộc bầu cử. Khi làm như vậy, họ nên, bên cạnh các
việc khác:
• Đảm bảo rằng những người chịu trách nhiệm về
những khía cạnh khác nhau của cuộc bầu cử được đào
tạo và hành động một cách vô tư, và rằng các thủ tục bỏ
phiếu thống nhất được thành lập và đã được biết đến
bởi công chúng bỏ phiếu;
117
• Đảm bảo việc đăng ký cử tri, cập nhật các danh sách
bầu cử và thủ tục bỏ phiếu, với sự hỗ trợ của các quan
sát viên trong nước và quốc tế cho phù hợp;
• Khuyến khích các đảng, các ứng cử viên và các phương
tiện truyền thông chấp nhận và áp dụng một quy tắc
ứng xử để quản lý các chiến dịch tranh cử và thời gian
bỏ phiếu;
• Đảm bảo tính liêm chính của các lá phiếu thông
qua các biện pháp thích hợp để ngăn chặn việc bỏ
phiếu nhiều lần hoặc bỏ phiếu bởi những người
không có quyền;
• Đảm bảo tính liêm chính của quá trình kiểm đếm
phiếu.
(3) Nhà nước phải tôn trọng và bảo đảm quyền con người
của tất cả các cá nhân trong phạm vi lãnh thổ và thuộc
quyền tài phán của mình. Trong thời gian của cuộc
bầu cử, nhà nước và các cơ quan của nó, do đó, phải
đảm bảo:
• Các quyền tự do đi lại, hội họp, lập hội và biểu đạt được
tôn trọng, đặc biệt trong bối cảnh các cuộc biểu tình
chính trị và các cuộc họp;
• Rằng các đảng và các ứng cử viên được tự do giao tiếp
quan điểm của họ với các cử tri, và rằng họ được hưởng
sự tiếp cận bình đẳng với các phương tiện truyền thông
nhà nước và dịch vụ công cộng;
• Rằng các bước cần thiết được thực hiện để đảm bảo các
phương tiện truyền thông nhà nước và dịch vụ công
cộng không có sự thiên vị.
(4) Để cuộc bầu cử được công bằng, nhà nước nên có những
biện pháp cần thiết để đảm bảo rằng các đảng và các ứng
cử viên được hưởng các cơ hội hợp lý để trình bày cương
lĩnh bầu cử của họ.
118
Phụ lục 4 – Tuyên ngôn về tiêu chí bầu cử tự do và công bằng
(5) Các nhà nước cần thực hiện tất cả các biện pháp cần thiết
và phù hợp để đảm bảo rằng nguyên tắc bỏ phiếu kín được
tôn trọng, và rằng các cử tri có thể bỏ phiếu tự do, không sợ
hãi hay bị đe dọa.
(6) Hơn nữa, các cơ quan nhà nước phải đảm bảo rằng việc
bỏ phiếu được tiến hành để tránh gian lận hoặc hành vi
bất hợp pháp khác, rằng an ninh và sự toàn vẹn của quá
trình này được duy trì, và kiểm đếm phiếu được thực hiện
bởi nhân viên được đào tạo, chịu giám sát và / hoặc đối
chứng vô tư.
(7) Các nhà nước cần thực hiện tất cả các biện pháp cần thiết
và phù hợp để đảm bảo tính minh bạch trong toàn bộ quá
trình bầu cử bao gồm, ví dụ, thông qua sự hiện diện của các
đại diện của đảng và quan sát viên hợp lệ được công nhận.
(8) Các nhà nước cần có những biện pháp cần thiết để đảm
bảo rằng các đảng, các ứng cử viên và những người ủng hộ
hưởng công bằng bảo đảm an toàn, và rằng cơ quan nhà
nước thực hiện các bước cần thiết để ngăn chặn bạo lực
liên quan đến bầu cử.
(9) Các nhà nước cần đảm bảo rằng những vi phạm nhân
quyền và các khiếu nại liên quan đến quá trình bầu cử
được quyết định kịp thời trong khung thời gian của quá
trình bầu cử và hiệu quả bởi một cơ quan độc lập và vô tư,
chẳng hạn như một ủy ban bầu cử hoặc tòa án.
119
PHỤ LỤC 5
HIẾN PHÁP VIỆT NAM, 2013
CHƯƠNG I
CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ
Điều 2
1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì
Nhân dân.
2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm
chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng
là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và
đội ngũ trí thức.
3. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp,
kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các
quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Điều 3
Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công
nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công
dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều
kiện phát triển toàn diện.
Điều 4
1. Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công
nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và
của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp
công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa
Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng,
120
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Hỏi đáp về bầu cử (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hoi_dap_ve_bau_cu_phan_2.pdf

