Giáo trình Pháp luật (Phần 2) - Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
Chương 8
LUẬT LAO ĐỘNG
Giới thiệu:
Chương này đề cập đến những vấn đề sau:
- Khái niệm, đối tượng và phương pháp điều chỉnh
Luật Lao động
- Quan hệ pháp luật lao động
- Hợp đồng lao động
Mục tiêu:
- Nhận biết được khái niệm Luật lao động, mối quan
hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động.
- Trình bày được các quyền và nghĩa vụ của người sử
dụng lao động và người lao động.
- Vận dụng vào đời sống xã hội trong việc thực hiện
hợp đồng lao động.
Nội dung chính:
1. Khái niệm, đối tượng điều chỉnh và phương pháp
điều chỉnh Luật Lao động
1.1. Khái niệm Luật Lao động
Bộ luật Lao động được Quốc hội thông qua ngày 18
tháng 6 năm 2012 và có hiệu lực từ ngày 01/05/2013);
Luật Lao động là một ngành luật trong hệ thống pháp luật
của Việt Nam, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật do
Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh
trong quá trình lao động giữa người lao động làm công ăn
lương với người sử dụng lao động (cá nhân, tổ chức) và các
quan hệ xã hội khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động.
262
1.2. Đối tượng điều chỉnh của Luật Lao động
Đối tượng điều chỉnh của Luật Lao động là các quan hệ
lao động được hình thành giữa một bên là người lao động với
tư cách là làm công ăn lương với một bên là người sử dụng
lao động và các quan hệ xã hội khác có liên quan đến quan hệ
lao động.
Như vậy đối tượng điều chỉnh của Pháp luật lao động bao
gồm 2 nhóm quan hệ xã hội, đó là:
- Quan hệ lao động
Quan hệ lao động là quan hệ giữa người với người hình
thành nên trong quá trình lao động. Quan hệ lao động theo
nghĩa rộng thì đó là các quan hệ xã hội được hình thành giữa
con người với con người trong quá trình lao động nhằm tạo ra
giá trị vật chất và tinh thần phục vụ cho bản thân các chủ
thể quan hệ và cho xã hội. Với khái niệm này trong xã hội tồn
tại rất nhiều loại quan hệ lao động khác nhau cũng như nội
dung quan hệ khác nhau... Ví dụ quan hệ giữa công chức, viên
chức nhà nước với các cơ quan nhà nước; hoặc quan hệ lao
động trong các hợp tác xã hoặc quan hệ giữa người làm công
ăn lương với một bên là người sử dụng lao động thuộc mọi
thành phần kinh tế trong quá trình thuê mướn và sử dụng lao
động thông qua hợp đồng lao động. Đây là quan hệ lao động
phổ biến nhất, tiêu biểu nhất trong nền kinh tế thị trường.
Trong điều kiện kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế
với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế thì quan hệ lao
động ngày càng phát triển đa dạng và phức tạp đòi hỏi sự điều
tiết phù hợp bằng pháp luật của nhà nước.
263
Trong số các quan hệ lao động nói trên, pháp luật lao
động chỉ điều chỉnh quan hệ lao động được hình thành giữa
một bên là người lao động với tư cách người làm công ăn
lương thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật lao động.
- Quan hệ xã hội khác có liên quan đến quan hệ lao động
Ngoài nhóm quan hệ lao động giữa người lao động với tư
cách là người làm công ăn lương với người sử dụng lao động
trong quá trình thuê mướn và sử dụng lao động thì pháp luật
lao động còn điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến
quan hệ lao động.
Các quan hệ xã hội phát sinh trước khi có quan hệ lao
động nhưng làm tiền đề phát sinh quan hệ lao động như:
+ Quan hệ về việc làm là quan hệ được xác lập để đảm
bảo việc làm cho người lao động;
+ Quan hệ về học nghề là quan hệ về đào tạo, nâng cao,
bồi dưỡng nghề nghiệp chuẩn bị những điều kiện cần thiết để
một người có thể tìm kiểm việc làm, tự tạo việc làm hoặc có
cơ hội nâng cao chất lượng lao động;
+ Quan hệ về bồi thường thiệt hại: Khi một trong các bên
của quan hệ lao động gây thiệt hại cho bên kia trong quá trình
thực hiện quyền, nghĩa vụ lao động sẽ làm phát sinh quan hệ
về bồi thường thiệt hại do Luật Lao động điều chỉnh;
+ Quan hệ giữa công đoàn với tư cách là đại diện cho tập
thể người lao động với người sử dụng lao động;
+ Quan hệ về bảo hiểm xã hội;
+ Quan hệ về bồi thường thiệt hại vật chất;
264
+ Quan hệ về giải quyết tranh chấp lao động;
+ Quan hệ về quản lý và thanh tra lao động.
1.3. Phương pháp điều chỉnh của Luật Lao động
Luật Lao động sử dụng nhiều phương pháp khác nhau tùy
thuộc vào từng quan hệ lao động cụ thể. Các phương pháp
điều chỉnh của Luật Lao động bao gồm:
- Phương pháp thỏa thuận: Phương pháp này áp dụng chủ
yếu trong trường hợp xác lập quan hệ lao động giữa người lao
động và người sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động.
Xuất phát từ nguyên tắc tự do, bình đẳng, tự nguyện của pháp
luật lao động, khi giao kết hợp đồng lao động người lao động
và người sử dụng lao động tự do thỏa thuận về các vấn đề có
liên quan trong quá trình lao động như tiền công, việc làm và
điều kiện làm việc… Quyền tự định đoạt của các chủ thể trong
quan hệ lao động phải phù hợp với quy định của pháp luật trên
nguyên tắc các bên cùng có lợi và không trái pháp luật.
- Phương pháp mệnh lệnh: Phương pháp này được sử
dụng trong quan hệ tổ chức và quản lý lao động. Trong quan
hệ lao động, người sử dụng lao động trong phạm vi quyền hạn
của mình có quyền đặt ra các nội quy, quy chế, quy định về tổ
chức, sắp xếp lao động, người lao động phải tuân theo mọi kỷ
luật lao động của cơ quan và mệnh lệnh, chỉ thị của người
đứng đầu cơ quan, đơn vị lao động.
- Thông qua các hoạt động công đoàn, tác động vào các
quan hệ phát sinh trong quá trình lao động: Đây là phương
pháp điều chỉnh rất đặc biệt của Luật Lao động. Phương pháp
này được sử dụng để giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá
trình lao động có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp
pháp của người lao động như trả công, trả thưởng, bảo hiểm
265
xã hội… Công đoàn là tổ chức do những người lao động lập
nên, là người đại diện hợp pháp của người lao động, có trách
nhiệm tham gia cùng với người sử dụng lao động để bảo vệ
quyền và lợi ích chính đáng của người lao động khi có nguy
cơ bị xâm phạm.
2. Quan hệ pháp luật lao động
2.1. Khái niệm và đặc điểm của quan hệ pháp luật lao
động
2.1.1. Khái niệm quan hệ pháp luật lao động
Quan hệ pháp luật lao động là các quan hệ phát sinh trong
quá trình sử dụng sức lao động của người lao động ở các cơ
quan, tổ chức, hợp tác xã, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế và các gia đình hay cá nhân có thuê mướn lao động,
được các quy phạm pháp luật lao động điều chỉnh.
Quan hệ pháp luật lao động thể hiện sự ràng buộc trách
nhiệm giữa người lao động làm công ăn lương với người sử
dụng lao động. Khi tham gia quan hệ pháp luật này người lao
động phải hoàn thành công việc như đã thỏa thuận trong hợp
đồng lao động, chấp hành nội quy lao động và chịu sự quản lý
điều hành của người sử dụng lao động. Ngược lại, người sử
dụng lao động phải đảm bảo trả lương và chế độ khác cho
người lao động theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động phù
hợp với pháp luật và thỏa ước lao động tập thể.
2.1.2. Đặc điểm của quan hệ pháp luật lao động
Quan hệ pháp luật lao động có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, quan hệ pháp luật lao động được thiết lập trên
cơ sở giao kết hợp đồng lao động.
266
Các bên tham gia quan hệ lao động phải là người trực
tiếp giao kết thực hiện các quyền, nghĩa vụ đã thỏa thuận.
Người lao động phải tự mình thực hiện công việc được giao
dựa trên trình độ chuyên môn và sức khỏe của mình. Nếu
không có sức khỏe và trình độ chuyên môn phù hợp với yêu
cầu của công việc thì người lao động không thể giao kết hợp
đồng lao động được.
Pháp luật lao động quy định: Công việc hợp đồng lao
động phải do người giao kết thực hiện, không được giao cho
người khác nếu không có sự đồng ý của người sử dụng lao
động. Quy định này dựa trên cơ sở là việc thực hiện công việc
không chỉ liên quan đến tiền lương, mà còn liên quan đến rất
nhiều yếu tố khác như: Các quyền về nhân thân, trách nhiệm
nghề nghiệp...
Thứ hai, trong quan hệ pháp luật lao động, người sử dụng
lao động có quyền tổ chức, quản lý, kiểm tra, giám sát quá
trình lao động. Khi tham gia quan hệ pháp luật lao động,
người lao động tự đặt hoạt động của mình vào sự quản lý của
người sử dụng lao động phải tuân thủ kỷ luật lao động, nội
quy doanh nghiệp, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, phải chịu sự
kiểm tra, giám sát, quản lý của người sử dụng lao động. Bù lại
sự lệ thuộc ấy, người lao động có quyền nhận được tiền
lương, tiền thưởng, phúc lợi của doanh nghiệp cũng như các
chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội mà Nhà nước đã quy định.
Quyền này không có trong quan hệ dân sự, vì các bên
trong quan hệ dân sự thường chỉ có liên quan đến nhau về kết
quả lao động và tiền công.
267
Thứ ba, trong quá trình tồn tại, thay đổi hay chấm dứt quan
hệ pháp luật lao động thường có sự tham gia của đại diện tập
thể lao động (tổ chức Công đoàn). Tùy từng trường hợp cụ thể
mà xác định mức độ tham gia của công đoàn trong khuôn khổ
quy định của pháp luật song sự tham gia đó là bắt buộc nhằm
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động.
2.2. Nội dung của quan hệ pháp luật lao động
Nội dung của quan hệ pháp luật lao động bao gồm các
quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động, được
xác định dựa trên quy định của pháp luật lao động, thỏa ước
lao động tập thể, hợp đồng lao động. Các bên tham gia quan
hệ pháp luật lao động, bao gồm người lao động và sử dụng
lao động (cá nhân, tổ chức). Người lao động là người phải đủ
từ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động (Điều 6, Bộ luật Lao
động). Người sử dụng lao động bao gồm cơ quan nhà nước,
các tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế thuộc mọi thành phần,
các hợp tác xã, cơ quan, tổ chức nước ngoài trên lãnh thổ
Việt Nam, các cá nhân, hộ gia đình. Các bên tham gia quan
hệ pháp luật lao động hoàn toàn tự do, bình đẳng, tự nguyện
và tự thỏa thuận về các vấn đề liên quan trong giao kết hợp
đồng lao động. Quyền và nghĩa vụ của các bên gắn liền với
nhau, quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên
kia, các bên đều phải có trách nhiệm thực hiện tốt quyền và
nghĩa vụ của mình.
2.2.1. Chủ thể của quan hệ pháp luật lao động
Chủ thể của quan hệ pháp luật lao động là các bên tham
gia quan hệ pháp luật lao động bao gồm: Người lao động và
người sử dụng lao động.
268
a. Người lao động
Điều 33 Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền
làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc”.
Như vậy, công dân là chủ thể của quan hệ pháp luật lao động.
Tuy nhiên, không phải mọi công dân đều có thể trở thành
chủ thể của quan hệ pháp luật lao động với tư cách người lao
động. Muốn trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật lao động,
công dân hoặc cá nhân ấy phải thỏa mãn những điều kiện nhất
định do pháp luật quy định, đó là năng lực pháp luật lao động
và năng lực hành vi lao động.
Năng lực pháp luật lao động của công dân là khả năng mà
pháp luật quy định hay ghi nhận cho công dân quyền có việc
làm, được làm việc, được hưởng quyền, đồng thời thực hiện
các nghĩa vụ của người lao động. Các quy định này có thể trở
thành thực tế hay không lại phụ thuộc vào khả năng của mỗi
công dân (hay năng lực hành vi của họ).
Năng lực hành vi lao động của công dân là khả năng bằng
chính hành vi của bản thân họ tham gia trực tiếp vào quan hệ
pháp luật lao động, tự hoàn thành mọi nhiệm vụ, tạo ra và
thực hiện quyền, hưởng mọi quyền lợi của người lao động.
Năng lực hành vi lao động được thể hiện trên hai yếu tố
có tính chất điều kiện là thể lực và trí lực. Thể lực chính là
sức khỏe.
Ngoài các đối tượng là công dân Việt Nam, người nước
ngoài cũng có thể là chủ thể của quan hệ pháp luật lao động
với tư cách là người lao động. Điều 133 Bộ luật Lao động ghi
nhận “người nước ngoài làm việc từ đủ ba tháng trở lên cho
269
các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tại Việt Nam phải có giấy
phép lao động do cơ quan quản lý nhà nước về lao động tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương cấp; thời hạn giấy phép lao
động theo thời hạn hợp đồng lao động, nhưng không quá 36
tháng và có thể được gia hạn theo đề nghị của người sử dụng
lao động. Người nước ngoài lao động tại Việt Nam được
hưởng các quyền lợi và phải thực hiện các nghĩa vụ theo pháp
luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam
ký kết hoặc tham gia có quy định khác”.
Cần lưu ý những đối tượng người lao động là người nước
ngoài như đề cập trên đây là các đối tượng làm việc cho các tổ
chức, cá nhân Việt Nam hoặc các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam. Đối với các trường hợp người nước
ngoài là cán bộ đi làm công tác ngoại giao, các chuyên gia…
không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Lao động, các đối
tượng này có văn bản quy định riêng.
b.Người sử dụng lao động
Trong nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều
thành phần kinh tế, người sử dụng lao động (còn gọi bên sử
dụng lao động), chủ thể của quan hệ pháp luật lao động bao
gồm toàn bộ các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, các
đơn vị kinh tế thuộc mọi thành phần, các cơ quan tổ chức
nước ngoài đóng trên lãnh thổ Việt Nam, các cá nhân và hộ
gia đình có tuyển dụng lao động.
Điều 6 Bộ Luật lao động quy định: Người sử dụng lao
động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân, nếu là
270
cá nhân thì ít nhất phải đủ 18 tuổi, có thuê mướn, sử dụng và
trả công lao động.
Người sử dụng lao động với tư cách là chủ thể của quan
hệ pháp luật lao động cũng được xác định năng lực chủ thể
trên hai phương diện: Năng lực pháp luật và năng lực hành vi.
Năng lực pháp luật của người sử dụng lao động là khả
năng pháp luật quy định cho họ có quyền tuyển chọn và sử
dụng lao động. Còn năng lực hành vi của người lao động là
khả năng bằng chính hành vi của mình, người sử dụng lao
động có quyền tuyển chọn và sử dụng lao động một cách trực
tiếp và cụ thể. Hành vi này thường được thực hiện thông qua
người đại diện hợp pháp (người đứng đầu đơn vị) hoặc là
người được ủy quyền.
Một cách cụ thể, tùy vào từng loại chủ thể mà năng lực
pháp luật và năng lực hành vi lao động của người sử dụng lao
động có những điều kiện luật định khác nhau:
+ Đối với người sử dụng lao động là các cơ quan Nhà
nước, tổ chức xã hội, các cơ quan, tổ chức nước ngoài đóng
trên lãnh thổ Việt Nam khi tham gia quan hệ pháp luật lao
động phải có tư cách pháp nhân. Năng lực pháp luật lao động
của các cơ quan tổ chức này thể hiện ở quyền được tuyển
chọn và sử dụng lao động. Quyền này xuất hiện khi pháp nhân
này được thành lập hợp pháp.
+ Đối với người sử dụng là các doanh nghiệp thì các
doanh nghiệp này phải đăng ký kinh doanh và được cấp giấy
phép đăng ký kinh doanh, có khả năng đảm bảo tiền công và
các điều kiện làm việc cho người lao động. Riêng với doanh
271
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì phải thỏa mãn các điều
kiện theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài (như có giấy
phép đầu tư…).
+ Đối với người sử dụng lao động là cá nhân, hộ gia đình
muốn tuyển dụng lao động phải thỏa mãn những điều kiện luật
định như đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực nhận thức, có khả năng
đảm bảo tiền công và điều kiện lao động cho người lao động.
2.2.2. Nội dung của quan hệ pháp luật lao động (quyền
và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động)
Nội dung của quan hệ pháp luật lao động là tổng thể các
quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật
lao động. Trong quan hệ pháp luật lao động, không có chủ thể
nào chỉ có quyền hoặc chỉ có nghĩa vụ; quyền của chủ thể này
bao giờ cũng tương ứng với nghĩa vụ của chủ thể phía bên kia
và ngược lại tạo thành mối liên hệ pháp lý thống nhất trong
một quan hệ pháp luật lao động. Ngoài ra, các bên còn phải
thực hiện và tôn trọng các quyền, nghĩa vụ mà pháp luật đã
quy định để đảm bảo trật tự, lợi ích xã hội, bảo đảm môi
trường lao động và môi trường sống.
Quyền và nghĩa vụ cụ thể của người lao động, người sử
dụng lao động được xác định tùy thuộc mối quan hệ riêng mà
họ tham gia, tuy nhiên có thể nêu lên những quyền và nghĩa
vụ chung nhất của các bên như sau:
a. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của người lao động
- Quyền cơ bản của người lao động
Trong quan hệ pháp luật lao động, người lao động có
những quyền cơ bản sau:
272
+ Quyền được làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề
nghiệp phù hợp với điều kiện và khả năng của mình. Đây là
một trong những quyền cơ bản của công dân nói chung và của
người lao động nói riêng đã được ghi nhận trong văn bản pháp
lý cao nhất của nhà nước ta đó là Hiến pháp 2013 tại Khoản 1
Điều 35 quy định "Công dân có quyền làm việc, lựa chọn
nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc". Đảm bảo cho mọi
công dân có việc làm, tự do lựa chọn việc làm, tự do dịch
chuyển lao động là một trong những nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta. Khoản 1 Điều 5 của Bộ
luật Lao động 2013 cũng quy định người lao động có quyền
"Làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề,
nâng cao trình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử".
Pháp luật Lao động có các quy định tạo điều kiện cho người
lao động thực hiện được quyền lựa chọn công việc theo khả
năng, lựa chọn nơi làm việc phù hợp với nhu cầu và điều kiện
cụ thể của mình, có quyền tự do làm việc cho bất kỳ người sử
dụng lao động nào... Để đảm bảo cho người lao động có
thể thực hiện quyền của mình, pháp luật Lao động cũng quy
định rõ trách nhiệm của nhà nước, của doanh nghiệp và của xã
hội trong việc tạo điều kiện để người lao động việc làm và tự
tạo việc làm.
+ Quyền được trả công (lương) trên cơ sở thỏa thuận với
người sử dụng lao động nhưng không thấp hơn mức lương tối
thiểu do nhà nước quy định và tiền công được trả theo năng
suất, chất lượng, hiệu quả công việc. Đây cũng là một trong
những quyền cơ bản của người lao động. Việc thiết lập quan
hệ lao động dựa trên cơ sở hợp đồng lao động. Do vậy, người
lao động sau khi thực hiện các công việc theo thỏa thuận thì
có quyền được hưởng tiền công (tiền lương) theo mức trả,
273
phương thức trả đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Tuy
nhiên, xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng mọi thỏa thuận hợp
pháp của 2 bên chủ thể quan hệ pháp luật lao động và khuyến
khích những thỏa thuận có lợi hơn cho người lao động thì
Pháp luật Lao động còn quy định dù 2 bên thỏa thuận thế nào
thì mức tiền công cũng không được thấp hơn mức lương tối
thiểu do nhà nước quy định.
Để đảm bảo cho người lao động thực hiện được quyền này,
Pháp luật Lao động cũng quy định các biện pháp bảo vệ tiền
lương cho người lao động (Điều 90, 91 Bộ luật Lao động 2013).
+ Quyền được làm việc trong điều kiện đảm bảo an toàn
lao động và vệ sinh lao động. Xuất phát từ quan điểm "con
người là vốn quý" nên việc bảo vệ sức khỏe nói chung và đảm
bảo điều kiện lao động an toàn và vệ sinh lao động nói riêng
cho người lao động là trách nhiệm của nhà nước, của các doanh
nghiệp. Nội dung quyền này của người lao động được Pháp
luật Lao động quy định cụ thể như: quyền được trang bị
phương tiện bảo vệ lao động; được khám sức khỏe lần đầu và
khám sức khỏe định kỳ trong quá trình làm việc; được hưởng
các chế độ bồi dưỡng hiện vật khi làm công việc có yếu tố nặng
nhọc, độc hại, nguy hiểm; được quyền từ chối làm việc hoặc
rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ có nguy cơ xảy ra tai nạn lao
động, đe dọa nghiêm trọng tính mạng và sức khỏe của mình...
Để đảm bảo cho người lao động thực hiện quyền này,
Pháp luật Lao động quy định trách nhiệm của nhà nước phải
tạo điều kiện để các chủ thể quan hệ pháp luật lao động thực
hiện các biện pháp bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động như:
Chính phủ phải lập chương trình quốc gia về bảo hộ lao động,
hỗ trợ cho việc phát triển các cơ sở sản xuất dụng cụ, thiết bị
274
an toàn, vệ sinh lao động...; trách nhiệm của người sử dụng
lao động là phải trang bị bảo hộ lao động cho người lao động;
thường xuyên cải thiện điều kiện lao động cho người lao
động; định kỳ kiểm tra, tu sửa máy móc, thiết bị, kho tàng
theo tiêu chuẩn an toàn và vệ sinh lao động...
+ Quyền được nghỉ ngơi theo chế độ quy định. Đây cũng
là quyền lợi chính đáng của người lao động trong quá trình
tham gia quan hệ lao động. Nghỉ ngơi là nhu cầu tất yếu của
cuộc sống. Vì vậy, Pháp luật Lao động cũng quy định rất rõ
quyền nghỉ ngơi của người lao động tùy thuộc vào tính chất
công việc và đặc điểm từng doanh nghiệp để đảm bảo cho
người lao động phục hồi sức khỏe và tái sản xuất sức lao
động. Trong đó, pháp luật Lao động quy định rõ các loại thời
gian nghỉ ngơi của người lao động gồm: Thời gian nghỉ giữa
ca làm việc; thời gian nghỉ hàng tuần; thời gian nghỉ hàng
năm; thời gian nghỉ lễ, tết, nghỉ việc riêng... Pháp luật Lao
động cũng quy định trách nhiệm của nhà nước và của người
sử dụng lao động bảo đảm các điều kiện để người lao
động thực hiện quyền nghỉ ngơi theo quy định.
+ Quyền được tham gia đóng và hưởng bảo hiểm xã hội.
Thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động là thực
hiện chính sách xã hội của nhà nước, thể hiện tính nhân đạo
trong chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với người lao
động. Vì vậy, Pháp luật Lao động quy định người sử dụng lao
động khi có sử dụng lao động phải có trách nhiệm đóng bảo
hiểm xã hội cho người lao động. Người lao động khi tham gia
quan hệ lao động thuộc mọi thành phần kinh tế không phân
biệt giới tính, tôn giáo, dân tộc... có đóng góp bảo hiểm xã hội
275
đều được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội khi đủ các điều
kiện quy định như: Chế độ trợ cấp ốm đau; chế độ thai sản; tai
nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí và tử tuất;
chế độ trợ cấp thất nghiệp...
+ Quyền được thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn:
đây là quyền cơ bản của người lao động.
Người lao động khi tham gia quan hệ lao động, bằng
nhiều cách khác nhau họ có quyền tham gia quản lý doanh
nghiệp, tham gia kiểm tra giám sát việc chấp hành pháp luật
lao động của người sử dụng lao động. Các quyền này có
thể họ trực tiếp thực hiện cũng có thể thực hiện thông qua tổ
chức công đoàn. Pháp luật Lao động một mặt thừa nhận sự
tồn tại của tổ chức công đoàn với tư cách là người đại diện,
bảo vệ quyền lợi cho người lao động; mặt khác quy định trách
nhiệm của người sử dụng lao động phải tạo điều kiện về thời
gian, chế độ, cơ sở vật chất cho người lao động tham gia
thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn cũng như trách
nhiệm tham khảo ý kiến công đoàn khi quyết định những vấn
đề thuộc về chế độ chính sách đối với người lao động trong
doanh nghiệp.
Ngoài các quyền cơ bản nói trên, pháp luật Lao động còn
ghi nhận các quyền khác của người lao động. Ví dụ: quyền
được đình công; quyền được hưởng các phúc lợi tập thể;
quyền khiếu nại, tố cáo...
- Nghĩa vụ cơ bản của người lao động
Khi tham gia quan hệ lao động, bên cạnh việc hưởng các
quyền cơ bản, thì pháp luật Lao động cũng quy định người lao
động phải có những nghĩa vụ cơ bản sau:
276
+ Nghĩa vụ thực hiện nghiêm túc những thỏa thuận trong
hợp đồng lao động, những quy định trong thỏa ước lao động
tập thể, nội quy lao động của doanh nghiệp.
Người lao động thiết lập quan hệ lao động với người sử
dụng lao động thông qua hợp đồng lao động với tư cách là
một bên chủ thể giao kết hợp đồng lao động. Vì vậy, người
lao động có nghĩa vụ tôn trọng và nghiêm túc thực hiện những
quy định do chính mình đã thỏa thuận trong hợp đồng lao
động. Đồng thời, nếu trong doanh nghiệp đã có thỏa ước lao
động tập thể do đại diện Ban chấp hành công đoàn cơ sở ký
kết với đại diện của người sử dụng lao động thì đây là một
loại hợp đồng có tính chất tập thể do chính công đoàn là tổ
chức đại diện cho tập thể người lao động thương lượng và ký
kết với người sử dụng lao động. Do vậy, người lao động cũng
phải có nghĩa vụ tôn trọng và nghiêm túc thực hiện những quy
định trong thỏa ước lao động tập thể.
Bên cạnh đó, khi tham gia quan hệ lao động và trở thành
một thành viên của tập thể của người sử dụng lao động, người
lao động thực hiện công việc theo sự quản lý và điều hành của
người sử dụng lao động được thể hiện trong nội quy lao động
do người sử dụng lao động ban hành. Do vậy, người lao động
cũng phải có nghĩa vụ tôn trọng và nghiêm túc thực hiện
những quy định trong nội quy lao động.
+ Nghĩa vụ thực hiện nghiêm túc các quy định về kỷ luật
lao động, về an toàn lao động và vệ sinh lao động. Đây là một
trong những nghĩa vụ cơ bản của người lao động. Khi tham
gia quan hệ lao động, người lao động là một thành viên trong
một tổ chức của người sử dụng lao động. Vì vậy, người lao
277
động có nghĩa vụ thực hiện nghiêm túc các quy định kỷ luật
lao động như: Các quy định về thời gian làm việc, nghỉ ngơi;
về trật tự trong doanh nghiệp; về bảo vệ tài sản và bí mật công
nghệ kinh doanh của doanh nghiệp...
Đồng thời, người lao động còn có nghĩa vụ thực hiện
nghiêm túc các quy định an toàn lao động và vệ sinh lao động
vừa là quyền đồng thời là nghĩa vụ của người lao động. Vì
vậy, một mặt Pháp luật Lao động quy định quyền của người
lao động được làm việc trong điều kiện an toàn và vệ sinh lao
động, mặt khác còn quy định nghĩa vụ của người lao động:
Phải tuân thủ các quy định về an toàn và vệ sinh lao động;
phải mặc quần áo và trang bị bảo hộ lao động khi làm việc;
phải tham gia các khóa tập huấn, đào tạo về kỹ thuật an toàn
lao động và vệ sinh lao động...
+ Nghĩa vụ chấp hành sự điều hành hợp pháp của người
sử dụng lao động
Pháp luật Lao động cho phép người sử dụng lao động
được quyền chủ động trong việc bố trí sắp xếp lao động, tổ
chức, điều hành, quản lý lao động trong doanh nghiệp theo
quy định. Trong quan hệ lao động, đây là quyền của người sử
dụng lao động và tương ứng sẽ là nghĩa vụ của người lao
động. Người lao động có nghĩa vụ nghiêm chỉnh chấp hành
mọi sự điều động hợp pháp của người sử dụng lao động như
khi doanh nghiệp gặp khó khăn đột xuất hoặc do nhu cầu sản
xuất, kinh doanh thì người sử dụng lao động có quyền tạm
thời chuyển người lao động sang làm công việc khác trong
thời hạn không quá 60 ngày cộng dồn trong một năm, thì
người lao động phải nghiêm túc chấp hành sự điều động này,
278
hoặc sự phân công bố trí ca làm việc, bố trí lịch nghỉ hàng
năm... thì người lao động phải tuân theo.
b. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của người sử dụng lao động
- Quyền cơ bản của người sử dụng lao động
Cũng như đối với người lao động, khi tham gia quan hệ
lao động, người sử dụng lao động có các quyền cơ bản sau:
+ Có quyền chủ động tuyển chọn, bố trí và điều hành lao
động theo nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Đây là một quyền cơ bản của người sử dụng lao động xuất
phát từ nguyên tắc của pháp luật Lao động là bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của các bên chủ thể quan hệ lao động. Nghĩa
vụ của người lao động là tuân thủ sự bố trí và điều hành hợp
pháp của người sử dụng lao động và tương ứng với nghĩa vụ
này của người lao động thì đây sẽ là quyền của người sử dụng
lao động. Trong điều kiện kinh tế thị trường, mọi tổ chức cá
nhân thuộc các thành phần kinh tế, khi đủ điều kiện quy định
để có thể trở thành chủ thể quan hệ lao động với tư cách là
người sử dụng lao động. Do vậy, Pháp luật Lao động cho phép
người sử dụng lao động có toàn quyền chủ động quyết định số
lượng, chất lượng và cơ cấu lao động tuyển dụng vào làm việc
tại doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh của
đơn vị. Pháp luật Lao động cũng giao quyền tự chủ cho người
sử dụng lao động trong việc bố trí, sắp xếp và điều hành lao
động đáp ứng yêu cầu doanh nghiệp.
+ Quyền được khen thưởng và xử lý vi phạm kỷ luật lao
động theo quy định
Cùng với quyền được chủ động điều hành quản lý lao
động, thì Pháp luật Lao động cũng cho phép người sử dụng
279
lao động có quyền khen thưởng đối với các tổ chức, cá nhân
người lao động trong doanh nghiệp khi họ có thành tích đóng
góp vào sự phát triển của doanh nghiệp. Đồng thời Pháp luật
cũng cho phép người sử dụng lao động tuỳ theo tính chất,
mức độ vi phạm kỷ luật lao động mà được quyết định xử lý kỷ
luật lao động đối với người có hành vi vi phạm kỷ luật lao
động theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định. Tuy
nhiên, pháp luật Lao động cũng quy định rõ người sử dụng lao
động chỉ được xử lý kỷ luật đối với người lao động trong
doanh nghiệp đối với những hành vi vi phạm kỷ luật lao động
với các hình thức xử lý kỷ luật đã được quy định trong nội
quy lao động của doanh nghiệp.
+ Quyền được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
trong những trường hợp quy định. Pháp luật Lao động cho
phép mỗi bên chủ thể có quyền đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động đã giao kết mà đang có hiệu lực trong một số
trường hợp nhất định. Điều 38 Bộ luật Lao động cho phép
người sử dụng lao động được quyền đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động khi: Người lao động thường xuyên không
hoàn thành công việc trong hợp đồng lao động; khi người lao
động ốm đau đã nghỉ việc để điều trị vượt quá thời hạn cho
phép mà khả năng lao động chưa phục hồi; khi doanh nghiệp
bị thiên tai hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng đã tìm
mọi cách khắc phục nhưng vẫn phải thu hẹp sản xuất, giảm
chỗ làm việc hoặc khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động...
Ngoài ra, người sử dụng lao động có các quyền khác như
quyền được trở thành một bên chủ thể tham gia thương lượng
và ký kết thỏa ước lao động tập thể; quyền khiếu nại tố cáo...
- Nghĩa vụ cơ bản của người sử dụng lao động
280
Khi tham gia quan hệ lao động, bên cạnh việc được
hưởng các quyền cơ bản, thì người sử dụng lao động cũng
phải thực hiện những nghĩa vụ cơ bản sau:
+ Nghĩa vụ thực hiện nghiêm túc những thỏa thuận trong
hợp đồng lao động. Những quy định trong thỏa ước lao động
và những thỏa thuận khác với người lao động. Cũng như
người lao động, người sử dụng lao động thiết lập quan hệ lao
động với người lao động với tư cách là một bên chủ thể giao
kết hợp đồng lao động. Vì vậy, người sử dụng lao động cũng
phải có nghĩa vụ tôn trọng và nghiêm túc thực hiện những quy
định do chính mình đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
Đồng thời, nếu doanh nghiệp đã có thỏa ước lao động tập
thể do đại diện của mình ký kết với đại diện Ban chấp hành
công đoàn cơ sở thì đây là một loại hợp đồng có tính chất tập
thể do chính người đại diện cho mình thương lượng và ký kết
với đại diện của tập thể lao động.
Do vậy, người sử dụng lao động cũng phải có nghĩa vụ
tôn trọng và nghiêm túc thực hiện những quy định trong thỏa
ước lao động tập thể. Ngoài ra, bất kể những thỏa thuận nào
khác mà người sử dụng lao động đã tự nguyện giao kết với
người lao động thì người sử dụng lao động đều phải có nghĩa
vụ nghiêm túc thực hiện.
+ Nghĩa vụ đảm bảo các điều kiện lao động an toàn và vệ
sinh cho người lao động. Người lao động được quyền làm
việc trong điều kiện an toàn và vệ sinh, tương ứng đây là
nghĩa vụ của người sử dụng lao động. Thực chất của việc chấp
hành các quy định về an toàn lao động và vệ sinh lao động của
người sử dụng lao động không chỉ là nghĩa vụ mà còn là
281
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Pháp luật (Phần 2) - Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_phap_luat_phan_2_truong_cao_dang_du_lich_ha_noi.pdf

