Quyền miễn trừ của quốc gia trong tư pháp quốc tế Việt Nam

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
QUYỀN MIễN TRỪ CỦA QUỐC GIA  
TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM  
BÀNH QUỐC TUẤN *  
Tư phap quốc tế là một lĩnh vưc phap luật co hê thống chu thê riêng cua mình bao gồm thê nhân, phap  
nhân và quốc gia. Trong đo, quốc giađươc xac định là chuthêđặc biêt cuaTư phap quốc tế. Vấn đề là khi quốc  
giatham giavàocac mối quan hê này, quyền và nghĩavụ chuthêcuaquốc giahay noi cach khac, quy chế phap  
lý cua quốc gia đươc xac định như thế nào. Đối vơi Viêt Nam, khi mà Tư phap quốc tế chưa phat triên cả về lý  
luận lẫn thưc tiễn, thì viêc tiếp tục nghiên cưu và phat triên cả về lý luận lẫn quy định cuaphap luật về quyền  
miễn trừ cuaquốc giakhi tham giavàoquan hê dân sưquốc tế co ý nghĩarất quan trọng trong viêc gop phân  
đưaTư phap quốc tế Viêt Nam tiến gân hơn cac chuẩn mưc phap lý chung cua thế giơi.  
1963 về quan hệ lãnh sự,... Đặc biệt, các nội  
dung này được quy định một cách cụ thể và tập  
trung tại Công ước của Liên hiệp quốc (LHQ)  
về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản  
của quốc gia. Các quyền này cũng được ghi  
nhận trong pháp luật của nhiều quốc gia.  
Quyền miễn trừ của quốc gia trong TPQT  
gồm quyền miễn trừ tư pháp và quyền miễn  
trừ đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của  
quốc gia.  
1. Nội dung quyền miễn trừ của quốc gia  
trong Tư pháp quốc tế  
Nhìn chung, Tư pháp quốc tế (TPQT) phần  
lớn các quốc gia đều thừa nhận tư cách chủ  
thể đặc biệt của quốc gia khi tham gia vào mối  
quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Khi tham  
gia vào quan hệ TPQT, quốc gia được hưởng  
các quyền miễn trừ trong đó quan trọng nhất  
là quyền miễn trừ tư pháp và miễn trừ đối với  
tài sản của quốc gia, gọi chung là quyền miễn  
trừ của quốc gia. Quyền miễn trừ của quốc gia  
trong lĩnh vực quan hệ dân sự có yếu tố nước  
ngoài được ghi nhận rải rác trong các điều ước  
quốc tế, điển hình nhất là Công ước Brussels về  
thống nhất các quy định về miễn trừ tàu thuyền  
nhà nước ngày 14/4/1926, Công ước Viên năm  
1961 về quan hệ ngoại giao, Công ước Viên  
Quyền miễn trừ tư pháp  
Miễn trừ xét xử tại bất cứ Tòa án nào. Nội  
dung quyền này thể hiện nếu không có sự đồng  
ý của quốc gia thì không có một tòa án nước  
ngoài nào có thẩm quyền thụ lý và giải quyết  
vụ kiện mà quốc gia là bị đơn (trong lĩnh vực  
dân sự). Các tranh chấp liên quan đến quốc gia  
(*) ThS Luật học, Khoa Kinh tế - ĐHQG TP. Hồ Chí Minh.  
7
2010  
NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP Số 13(174)  
14 I  
I
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
phải được giải quyết bằng con đường thương  
lượng trực tiếp hoặc con đường ngoại giao, trừ  
khi quốc gia từ bỏ quyền này. Điều 5 và Điều 6  
Công ước của LHQ về quyền miễn trừ tài phán  
và miễn trừ tài sản của quốc gia quy định: Quốc  
gia được hưởng quyền miễn trừ tài phán trước  
một tòa án nước ngoài theo những quy định của  
Công ước. Các quốc gia có nghĩa vụ đảm bảo  
quyền miễn trừ tài phán và quyền miễn trừ tài  
sản của quốc gia khác, cụ thể là không thực thi  
quyền tài phán chống lại quốc gia khác trong  
một vụ kiện tại tòa án nước mình.  
Miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế  
nhằm đảm bảo đơn kiện, nếu quốc gia đồng ý  
cho tổ chức, cá nhân nước ngoài kiện mình, tức  
là đồng ý cho Tòa án nước ngoài xét xử vụ kiện  
mà quốc gia là bị đơn. Nội dung của quyền này  
thể hiện trong trường hợp nếu một quốc gia  
đồng ý để tòa án nước ngoài thụ lý, giải quyết  
một vụ tranh chấp mà quốc gia là một bên tham  
gia thì tòa án nước ngoài đó được quyền xét xử  
nhưng tòa án không được áp dụng bất cứ một  
biện pháp cưỡng chế nào như bắt giữ, tịch thu  
tài sản của quốc gia để phục vụ cho việc xét xử.  
Tòa án chỉ được áp dụng các biện pháp này nếu  
được quốc gia cho phép. Điều 18 Công ước của  
LHQ về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ  
tài sản của quốc gia quy định: “Không có biện  
pháp cưỡng chế tiền tố tụng nào như tịch thu,  
chiếm giữ tài sản trái pháp luật của quốc gia  
được áp dụng trong một vụ kiện trước một tòa  
án nước ngoài...”.  
Miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế  
nhằm đảm bảo thi hành quyết định của Tòa án  
trong trường hợp quốc gia không đồng ý cho  
các tổ chức, cá nhân nước ngoài kiện, đồng ý  
cho Tòa án xét xử. Trong trường hợp quốc gia  
đồng ý cho một tòa án nước ngoài giải quyết  
một tranh chấp mà quốc gia là một bên tham  
gia và nếu quốc gia là bên thua kiện thì bản án  
của tòa án nước ngoài đó cũng phải được quốc  
gia tự nguyện thi hành. Nếu không có sự đồng  
ý của quốc gia thì không thể áp dụng các biện  
pháp cưỡng chế như bắt giữ, tịch thu tài sản  
của quốc gia nhằm cưỡng chế thi hành bản án  
đó. Ngay cả khi quốc gia từ bỏ quyền miễn trừ  
xét xử thì quyền miễn trừ đối với các biện pháp  
cưỡng chế bảo đảm thi hành phán quyết của tòa  
án vẫn phải được tôn trọng. Điều 19 Công ước  
của LHQ về quyền miễn trừ tài phán và miễn  
trừ tài sản của quốc gia quy định: “Không có  
biện pháp cưỡng chế nào sau khi có phán quyết  
của tòa án như tịch thu, bắt giữ tài sản trái pháp  
luật của quốc gia được áp dụng trong một vụ  
kiện trước một tòa án nước ngoài...”  
Quyền miễn trừ đối với tài sản thuộc quyền  
sở hữu của quốc gia  
Quyền miễn trừ đối với tài sản thuộc quyền  
sở hữu của quốc gia là một trong những nội  
dung quan trọng của quyền miễn trừ của quốc  
gia khi tham gia vào quan hệ dân sự quốc tế.  
Nội dung của quyền này là những tài sản được  
xác định thuộc quyền sở hữu của quốc gia thì  
không thể là đối tượng áp dụng các biện pháp  
tư pháp khi quốc gia đưa vào tham gia các quan  
hệ dân sự quốc tế. Quyền miễn trừ về tài sản  
của quốc gia khi tham gia vào các quan hệ dân  
sự quốc tế có cơ sở pháp lý vững chắc trong các  
điều ước quốc tế có liên quan của TPQT cũng  
như văn bản pháp luật thực định của nhiều quốc  
gia. Điều 21 Công ước của LHQ về quyền miễn  
trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia liệt  
kê những loại tài sản mà quốc gia được hưởng  
quyền miễn trừ.  
Quyền miễn trừ tài sản của quốc gia cũng  
được pháp luật của rất nhiều nước quy định.  
Luật miễn trừ nhà nước của Hoa Kỳ tại Điều  
1609 cũng khẳng định quyền miễn trừ đối với  
tài sản của quốc gia nước ngoài. Pháp luật của  
Cộng hòa Liên bang Nga, của Vương quốc Anh  
cũng khẳng định quyền này.  
Quyền miễn trừ về tài sản là một nội dung  
không thể tách rời của quyền miễn trừ của quốc  
gia và ngày càng thể hiện vai trò quan trọng  
của mình trong việc bảo vệ hữu hiệu lợi ích của  
quốc gia khi tham gia vào các quan hệ dân sự  
quốc tế. Tuy nhiên, lý luận về TPQT của Việt  
Nam trước đây không đề cập hoặc đề cập rất  
chung về nội dung này. Các giáo trình TPQT  
dùng giảng dạy trong các trường đại học, các  
công trình nghiên cứu cũng đề cập đến nội  
dung này một cách chung chung hoặc gần như  
7
2010  
Số 13(174) NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP  
I
I 15  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
không nói đến. Đây là một hạn chế về mặt lý  
luận của TPQT Việt Nam cần phải nhanh chóng  
khắc phục để đưa TPQT Việt Nam phát triển  
theo xu thế của thời đại.  
hệ dân sự quốc tế và trong tất cả các trường hợp  
mà quốc gia tham gia với tư cách là một bên  
chủ thể trong quan hệ dân sự quốc tế.  
Thuyết quyền miễn trừ tuyệt đối của quốc  
gia trong quan hệ quốc tế đã được thừa nhận  
rộng rãi từ lâu như một tập quán quốc tế. Cho  
đến giữa thế kỷ XX, phần lớn các nước vẫn còn  
công nhận quyền miễn trừ tuyệt đối dành cho  
quốc gia nước ngoài. Tuy nhiên, từ sau Cách  
mạng tháng 10 Nga, đặc biệt là từ sau Chiến  
tranh thế giới thứ 2, với sự xuất hiện của hàng  
loạt các quốc gia theo chế độ chính trị xã hội  
chủ nghĩa (XHCN), một mô hình kinh tế mới  
ra đời mà ở đó, nhà nước trực tiếp tham gia  
vào các quan hệ kinh tế với tư cách là một bên  
chủ thể, các công ty nhà nước nắm độc quyền  
kinh doanh trong nền kinh tế, thì một vấn đề  
đặt ra là liệu các công ty nhà nước này có được  
hưởng quyền miễn trừ của quốc gia sở hữu nó  
hay không khi tham gia vào các quan hệ kinh  
tế thương mại với các chủ thể nước ngoài.  
Chính thực tiễn này đã dẫn đến sự xuất hiện  
của Thuyết quyền miễn trừ tương đối hay còn  
gọi là “Quyền miễn trừ chức năng”.  
Thuyết quyền miễn trừ tương đối do các học  
giả của các nước theo chế độ chính trị tư bản chủ  
nghĩa khởi xướng và xây dựng nhằm loại trừ  
khả năng hưởng quyền miễn trừ của các công  
ty thuộc sở hữu nhà nước của các nước theo chế  
độ chính trị XHCN khi tham gia vào các quan  
hệ kinh tế thương mại quốc tế. Học thuyết này  
nhanh chóng được các nước khác ủng hộ và cụ  
thể hóa vào các đạo luật quốc gia. Theo học  
thuyết này, quốc gia khi tham gia vào các quan  
hệ dân sự quốc tế sẽ được hưởng quyền miễn  
trừ về tài phán và quyền miễn trừ về tài sản  
trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự. Tuy  
nhiên, có những trường hợp quốc gia sẽ không  
được hưởng quyền này mà phải tham gia với tư  
cách một chủ thể dân sự như các chủ thể thông  
thường khác. Như vậy, Thuyết quyền miễn trừ  
tương đối chấp nhận cho quốc gia được hưởng  
quyền miễn trừ trong tất cả các lĩnh vực quan hệ  
dân sự mà quốc gia tham gia, nhưng lại hạn chế  
những trường hợp mà quốc gia sẽ không được  
hưởng quyền miễn trừ. Công ước của LHQ về  
Các nội dung của quyền miễn trừ của quốc  
gia tồn tại trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ  
với nhau và đều được xây dựng trên nguyên  
tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia.  
Tuy nhiên, giữa các quyền vẫn có sự độc lập  
tương đối và quốc gia có quyền từ bỏ một nội  
dung, hai nội dung hay tất cả các nội dung trong  
quyền miễn trừ. Việc quốc gia từ bỏ một nội  
dung không làm ảnh hưởng đến các nội dung  
còn lại trong quyền miễn trừ. Việc từ bỏ quyền  
miễn trừ của quốc gia cần phải được thể hiện rõ  
ràng trong pháp luật quốc gia, trong điều ước  
quốc tế mà quốc gia là thành viên hoặc trong  
các văn bản cụ thể mà quốc gia ký kết.  
2. Các quan điểm khác nhau về quyền miễn  
trừ của quốc gia  
Quyền miễn trừ của quốc gia khi tham gia  
vào quan hệ dân sự quốc tế đã được thừa nhận  
trong pháp luật quốc tế (các điều ước quốc tế,  
tập quán quốc tế) và pháp luật hầu hết các nước.  
Tuy nhiên, pháp luật của các nước lại có những  
quan điểm khác nhau về mức độ hưởng quyền  
này của quốc gia. Về cơ bản có hai quan điểm  
chính về vấn đề này:  
Quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền miễn  
trừ của quốc gia là tuyệt đối, nghĩa là quốc gia  
phải được hưởng quyền này trong tất cả các lĩnh  
vực quan hệ dân sự mà quốc gia tham gia và  
trong bất kỳ trường hợp nào. Những người theo  
quan điểm này xuất phát từ chủ quyền quốc gia  
là tuyệt đối và bất khả xâm phạm, bất kỳ chủ  
thể nào cũng không có quyền vượt lên trên chủ  
quyền quốc gia. Thậm chí, quyền miễn trừ này  
còn được mở rộng cho người đứng đầu của  
quốc gia khi tham gia vào các mối quan hệ với  
tư cách người đứng đầu quốc gia hay tư cách cá  
nhân. Cần nhận thức rõ vấn đề ở đây, khi thừa  
nhận quyền miễn trừ của quốc gia khi tham gia  
vào các quan hệ dân sự quốc tế là tuyệt đối thì  
điều này có nghĩa là quốc gia sẽ được hưởng  
quyền miễn trừ trong tất cả các lĩnh vực quan  
7
2010  
NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP Số 13(174)  
16 I  
I
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của  
quốc gia cũng dành nhiều điều quy định về các  
trường hợp quốc gia không được hưởng quyền  
miễn trừ trong các lĩnh vực giao dịch thương  
mại, hợp đồng lao động, thiệt hại về người và  
tài sản,...  
Tại Hoa Kỳ, từ năm 1952 đã bắt đầu thay đổi  
quan điểm quyền miễn trừ quốc gia từ thuyết  
quyền miễn trừ tuyệt đối sang thuyết quyền  
miễn trừ tương đối. Năm 1976, Quốc hội Hoa  
Kỳ đã thông qua Luật Miễn trừ nhà nước dành  
cho quốc gia nước ngoài. Đạo luật này chính là  
sự hiện thực hóa Thuyết quyền miễn trừ tương  
đối mà Hoa Kỳ đang theo đuổi. Trong đạo luật  
đã có những quy định cụ thể về quyền miễn trừ  
của quốc gia: chủ thể được hưởng quyền miễn  
trừ, nội dung quyền miễn trừ, các trường hợp  
quốc gia nước ngoài không được hưởng quyền  
miễn trừ,...  
Tại Anh, Luật về Quyền miễn trừ của quốc  
gia năm 1978 cũng ghi nhận quan điểm này.  
Quan điểm này còn được ghi nhận trong thực  
tiễn xét xử ở tòa án Áo, Pháp, Thụy Điển, Ý,  
Hy Lạp, Bỉ.  
Như vậy, về cơ bản, phần lớn các quốc gia  
đều thừa nhận quyền miễn trừ của quốc gia khi  
tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế. Tuy  
nhiên, mức độ chấp nhận phạm vi của quyền  
miễn trừ của quốc gia ở các quốc gia là khác  
nhau. Thực tiễn trên cho thấy, Thuyết quyền  
miễn trừ tương đối của quốc gia đang có phạm  
vi ảnh hưởng ngày càng rộng và ngày càng có  
nhiều quốc gia chấp nhận. Đây cũng là một xu  
thế phát triển của TPQT hiện đại.  
liên quan đến quyền miễn trừ của quốc gia khi  
tham gia vào quan hệ dân sự quốc tế là một việc  
hoàn toàn cần thiết bởi đây là một trong những  
nội dung chủ yếu của quy chế pháp lý về chủ  
thể của TPQT. Chúng tôi chỉ đề cập đến quyền  
miễn trừ của nhà nước nước ngoài tại Việt Nam  
mà không đề cập đến quyền miễn trừ của nhà  
nước Việt Nam ở nước ngoài.  
Trước hết, cần làm rõ nội dung của quyền  
miễn trừ của quốc gia cả trong lý luận lẫn quy  
định của các quy phạm pháp luật TPQT Việt  
Nam. Đây là điều cần thiết bởi vì cả về mặt lý  
luận lẫn pháp luật thực định, cho đến hiện nay,  
nội dung quyền miễn trừ của quốc gia vẫn chưa  
được thống nhất. Tại Việt Nam hiện nay, về mặt  
lý luận, có nhiều quan điểm khác nhau đã được  
đưa ra về nội dung quyền miễn trừ quốc gia.  
Quan điểm thứ nhất xác định quyền miễn  
trừ của quốc gia bao gồm quyền miễn trừ xét  
xử, quyền miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng  
chế nhằm đảm bảo đơn kiện, quyền miễn trừ  
đối với các biện pháp cưỡng chế bảo đảm thi  
hành phán quyết của tòa án nước ngoài. Như  
vậy, quyền miễn trừ đối với tài sản quốc gia ở  
nước ngoài không được đưa vào xem xét trong  
nội dung quyền miễn trừ của quốc gia. Theo  
chúng tôi, quan điểm này khó chấp nhận được,  
nhất là trong điều kiện hiện nay, khi quốc gia  
tham gia ngày càng nhiều vào các mối quan hệ  
dân sự, kinh tế quốc tế, bởi trong những trường  
hợp nhất định, lợi ích hợp pháp liên quan đến  
tài sản của quốc gia ở nước ngoài sẽ không  
được bảo vệ hữu hiệu.  
Quan điểm thứ hai khẳng định quyền miễn  
trừ tài sản thuộc sở hữu quốc gia là một trong  
những nội dung cơ bản của quyền miễn trừ quốc  
gia. Quan điểm này được nhiều người tán đồng.  
Theo chúng tôi, không thể tách rời quyền miễn  
trừ về tài sản ra khỏi quyền miễn trừ của quốc  
gia bởi vì quốc gia tham gia vào đời sống dân  
sự quốc tế chủ yếu là các quan hệ liên quan đến  
tài sản (ví dụ: các tài sản đầu tư ở nước ngoài,  
tài khoản tại ngân hàng nước ngoài…). Những  
mối quan hệ quốc gia tham gia mà không liên  
quan đến yếu tố tài sản chủ yếu thuộc phạm  
vi điều chỉnh của Luật quốc tế công. Thực tiễn  
3. Quyền miễn trừ của quốc gia trong Tư  
pháp quốc tế Việt Nam  
Qua phân tích vấn đề cho thấy xu thế phát  
triển của TPQT là chấp nhận quyền miễn trừ  
của quốc gia với nội dung gồm quyền miễn trừ  
tư pháp và quyền miễn trừ đối với tài sản thuộc  
sở hữu của quốc gia ở nước ngoài và chấp nhận  
thuyết quyền miễn trừ tương đối của quốc gia.  
TPQT Việt Nam chưa phát triển cả về lý luận  
lẫn pháp luật thực định. Chính vì vậy, việc  
nghiên cứu một cách nghiêm túc các vấn đề có  
7
2010  
Số 13(174) NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP  
I
I 17  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
cũng cho thấy, ngày nay quốc gia đóng vai trò  
ngày càng quan trọng trong hoạt động kinh tế  
thương mại của quốc gia thông qua hàng loạt  
các hoạt động như xúc tiến thương mại, đầu tư,  
làm trung gian cho các pháp nhân của các quốc  
gia ký kết hợp đồng, bảo lãnh,… Tất cả những  
hoạt động này đều kéo theo các vấn đề pháp lý  
liên quan đến tài sản của quốc gia ở nước ngoài,  
nên việc xác định rõ quyền miễn trừ đối với tài  
sản của quốc gia ở nước ngoài cũng như mức  
độ thực hiện quyền này là hoàn toàn cần thiết  
để tránh những tranh chấp có thể phát sinh.  
Pháp luật thực định của Việt Nam cũng chưa  
có quy định chính thức nào về nội dung của  
quyền miễn trừ quốc gia. Pháp lệnh về quyền ưu  
đãi, miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại  
giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của  
tổ chức quốc tế tại Việt Nam ngày 07/9/1993  
có một số quy định về quyền miễn trừ tư pháp.  
Theo khoản 1 Điều 12 Pháp lệnh, “viên chức  
ngoại giao được hưởng quyền miễn trừ xét xử  
về hình sự tại Việt Nam. Họ cũng được hưởng  
quyền miễn trừ xét xử về dân sự và xử phạt  
hành chính”. Và khoản 3 Điều 12 Pháp lệnh  
quy định: “viên chức ngoại giao được hưởng  
quyền miễn trừ đối với các biện pháp thi hành  
án”. Vậy, quyền miễn trừ về tài sản thuộc sở  
hữu quốc gia chưa thấy đề cập. Hơn nữa, đây  
chỉ là những quy định về quyền miễn trừ dành  
cho viên chức ngoại giao và thành viên gia đình  
của họ (khoản 1 Điều 17 Pháp lệnh). Không có  
quy phạm nào của Pháp lệnh cho thấy nhà nước  
nước ngoài có quyền miễn trừ tư pháp và quyền  
miễn trừ tài sản ở Việt Nam. Tương tự, Pháp  
lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (đã hết  
hiệu lực thi hành) quy định: “vụ án dân sự có  
liên quan đến nhà nước nước ngoài hoặc người  
được hưởng quy chế ngoại giao được giải quyết  
bằng con đường ngoại giao, trừ trường hợp nhà  
nước nước ngoài hoặc người được hưởng quy  
chế ngoại giao đồng ý tham gia tố tụng tại tòa  
án Việt Nam”. Đây là văn bản pháp luật duy  
nhất có quy định về quyền miễn trừ của nhà  
nước nước ngoài trong tố tụng dân sự quốc tế  
nhưng cũng không đề cập đến nội dung của  
quyền miễn trừ. Tuy nhiên, từ ngày 01/01/2005  
Bộ luật Tố tụng dân sự có hiệu lực pháp luật và  
không có quy phạm nào thừa nhận quyền miễn  
trừ tư pháp của nhà nước nước ngoài ở Việt  
Nam. Khoản 4 Điều 2 Bộ luật Tố tụng dân sự  
năm 2004 quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức  
nước ngoài được hưởng các quyền ưu đãi, miễn  
trừ ngoại giao hoặc các quyền ưu đãi, miễn trừ  
lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước  
quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt  
Nam ký kết hoặc tham gia thì vụ việc dân sự  
có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức đó  
được giải quyết bằng con đường ngoại giao”.  
Để giải quyết vấn đề này, TPQT Việt Nam  
cần xác định rõ nội dung quyền miễn trừ của  
quốc gia theo hướng quốc gia được hưởng  
quyền miễn trừ tư pháp và quyền miễn trừ đối  
với tài sản thuộc sở hữu quốc gia ở nước ngoài.  
Nội dung này cần được cụ thể hóa trong các  
văn bản pháp luật thực định có hiệu lực pháp  
lý cao, cụ thể là Bộ luật Tố tụng dân sự theo  
hướng: nhà nước nước ngoài, cá nhân, cơ quan,  
tổ chức nước ngoài được hưởng các quyền ưu  
đãi, miễn trừ ngoại giao hoặc các quyền ưu đãi,  
miễn trừ lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo  
điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa  
Việt Nam ký kết hoặc tham gia khi tham gia  
quan hệ dân sự tại Việt Nam thì được hưởng  
quyền miễn trừ tư pháp và quyền miễn trừ đối  
với tài sản thuộc sở hữu của mình, trừ những  
trường hợp cụ thể pháp luật Việt Nam có quy  
định riêng.  
Nội dung quyền miễn trừ của quốc gia đã  
được quy định thống nhất trong các văn bản  
của LHQ, các điều ước quốc tế có liên quan  
và được cụ thể hóa vào văn bản pháp luật của  
nhiều nước. Chính vì vậy, việc quy định một  
cách rõ ràng, cụ thể nội dung quyền miễn trừ  
của quốc gia trong pháp luật Việt Nam cũng  
góp phần đưa TPQT Việt Nam tiến gần hơn với  
các chuẩn mực của đời sống pháp lý quốc tế  
trong vấn đề này.  
Vấn đề thứ hai cần giải quyết là phạm vi  
của quyền miễn trừ của quốc gia trong TPQT  
Việt Nam hay nói cách khác, Việt Nam chấp  
nhận Thuyết quyền miễn trừ tương đối hay vẫn  
tiếp tục theo đuổi Thuyết quyền miễn trừ tuyệt  
7
2010  
NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP Số 13(174)  
18 I  
I
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
đối của quốc gia.  
Thực tiễn đời sống pháp lý quốc tế cho thấy,  
nếu chấp nhận Thuyết quyền miễn trừ tuyệt đối  
của quốc gia sẽ có những trường hợp không  
bảo vệ được một cách hữu hiệu lợi ích của các  
pháp nhân và thể nhân của quốc gia đó khi  
tham gia vào quan hệ dân sự với một quốc gia  
khác và ngược lại, quốc gia chấp nhận Thuyết  
quyền miễn trừ tuyệt đối sẽ bất lợi khi tham gia  
vào mối quan hệ dân sự với quốc gia hay pháp  
nhân, thể nhân của quốc gia chấp nhận Thuyết  
quyền miễn trừ tương đối. Chính vì vậy, chấp  
nhận Thuyết quyền miễn trừ tương đối cả về lý  
luận lẫn quy định trong pháp luật thực định là  
xu thế không thể đảo ngược của TPQT. Thực  
tiễn đời sống pháp lý Việt Nam cũng cho thấy  
việc coi Thuyết miễn trừ tương đối là trái với  
các nguyên tắc cơ bản của Công pháp quốc tế  
hay của TPQT là thiếu thuyết phục. Tiến sĩ Đỗ  
Văn Đại đã dẫn ra một trường hợp cụ thể để  
chứng minh cho quan điểm này là vụ tàu Cần  
Giờ được rất nhiều người biết đến.  
Phần lớn các quan điểm hiện nay đều tán  
đồng Thuyết quyền miễn trừ tuyệt đối của quốc  
gia, phản đối Thuyết quyền miễn trừ tương đối.  
Theo Giáo trình TPQT của Trường Đại học  
Luật Hà Nội “nội dung thuyết miễn trừ theo  
chức năng hoàn toàn trái với các nguyên tắc cơ  
bản của công pháp quốc tế cũng như của TPQT,  
không có lợi cho việc thúc đẩy giao lưu dân sự  
quốc tế”1. Tương tự, theo giáo trình của Khoa  
Luật, Đại học quốc gia Hà Nội “nội dung thuyết  
miễn trừ theo chức năng hoàn toàn trái với các  
nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế cũng  
như của TPQT”. “Pháp luật Việt Nam cũng như  
thực tiễn tư pháp Việt Nam luôn luôn bảo đảm  
tôn trọng quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của  
nhà nước nước ngoài bằng con đường ngoại  
giao, trừ trường hợp nhà nước đó đồng ý tham  
gia tố tụng tại tòa án Việt Nam”2. Dường như  
về mặt lý luận, Việt Nam chỉ chấp nhận Thuyết  
quyền miễn tuyệt đối, công khai bác bỏ Thuyết  
quyền miễn trừ tương đối của quốc gia.  
Vụ việc trên cho thấy, nếu nhà nước Việt  
Năm 1999, một doanh nghiệp có tên là Mohamed Enterprises của Tanzania  
ký hợp đồng và thanh toán trước toàn bộ số tiền khoảng 1,4 triệu USD để mua  
6.000 tấn gạo của Công ty Thanh Hòa ở Tiền Giang. Sau đó, Công ty Thanh  
Hòa đã thuê một tàu chở gạo để thực hiện hợp đồng trên. Nhưng con tàu mà  
Công ty Thanh Hòa thuê lại là một con tàu “ma”, trên đường chở gạo đã trốn  
bặt tăm. Không nhận được gạo, Công ty Mohamed Enterprises đã khởi kiện  
đối tác của Việt Nam… Sự việc cứ kéo dài không được xử lý dứt điểm. Bốn  
năm sau (2003), tàu Sài Gòn của Công ty SEA Saigon cập cảng Tanzania đã bị  
bắt giữ làm con tin nhằm tạo áp lực buộc phía Việt Nam thanh toán số nợ năm  
1999. Ngày 22/7/2005, Tòa án Tanzania tuyên phạt phía Việt Nam gần 2 triệu  
USD bao gồm tiền bồi thường thiệt hại từ hợp đồng gạo với Công ty Mohamed  
Enterprises và tiền lãi phát sinh. Phán quyết ghi rõ, Chính phủ Việt Nam là bị  
đơn thứ 12 của vụ án. Theo tòa án, quyền miễn trừ tư pháp của nhà nước Việt  
Nam trong trường hợp này không tuyệt đối vì Chính phủ Việt Nam đã tham gia  
tích cực vào các giai đoạn của việc thực hiện hợp đồng. Vì vậy, Chính phủ Việt  
Nam không được hưởng quyền miễn trừ xét xử3.  
(1) Xem Giáo trình TPQT, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, 1999, tr.115.  
(2) Xem Giáo trình TPQT, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb. ĐHQG Hà Nội, 1997, tr.119 và tr.217.  
(3) Xem TS. Đỗ Văn Đại, TS. Mai Hồng Quỳ, Tư pháp Quốc tế Việt Nam, Nxb. ĐHQG TP. Hồ Chí Minh, 2006, tr.69, tr.70.  
7
2010  
Số 13(174) NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP  
I
I 19  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Nam tham gia vào quan hệ dân sự có yếu tố  
nước ngoài với tư cách một bên chủ thể thì trong  
những trường hợp cụ thể nhất định sẽ không  
được hưởng quyền miễn trừ, nghĩa là nhà nước  
Việt Nam phải tham gia như một chủ thể bình  
thường khác. Như vậy, rõ ràng việc tuyệt đối  
hóa quyền miễn trừ tư pháp không có lợi cho  
nhà nước Việt Nam và đặc biệt là các cá nhân,  
pháp nhân Việt Nam trong các quan hệ TPQT.  
Đây sẽ là cơ sở để nhà nước nước ngoài không  
tuân thủ một số nghĩa vụ của họ bởi vì nhà nước  
nước ngoài được hưởng quyền miễn trừ tuyệt  
đối ở Việt Nam trong khi nhà nước Việt Nam  
không được hưởng quyền miễn trừ tuyệt đối ở  
nước ngoài.  
Ví dụ: nhà nước nước ngoài thuê công dân  
Việt Nam hoặc thuê pháp nhân Việt Nam thực  
hiện một công việc sau đó vi phạm về nghĩa vụ  
trả lương hay đóng bảo hiểm thì rõ ràng công  
dân Việt Nam hay pháp nhân Việt Nam không  
thể được bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình vì  
nhà nước nước ngoài hưởng quyền miễn trừ  
trong mọi trường hợp.  
Tại Việt Nam chưa có Luật về quyền miễn  
trừ quốc gia và trong các văn bản pháp luật hiện  
hành chưa có quy định chính thức nào quy định  
trực tiếp về vấn đề này. Tuy nhiên, một số quy  
định trong các văn bản pháp luật cụ thể có thể  
lý giải được vấn đề. Theo khoản 1 và 3 Điều 12  
Pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ thì viên  
chức ngoại giao không được hưởng quyền miễn  
trừ trong trường hợp họ “tham gia với tư cách  
cá nhân vào các vụ tranh chấp liên quan đến bất  
động sản tư nhân có trên lãnh thổ Việt Nam;  
việc thừa kế; hoạt động thương mại hoặc nghề  
nghiệp mà viên chức ngoại giao tiến hành tại  
Việt Nam ngoài phạm vi chức năng chính thức  
của họ”. Quy định này thể hiện rõ quan điểm  
đối với viên chức ngoại giao thì quyền miễn trừ  
của họ chỉ là tương đối, nghĩa là quyền miễn  
trừ không bị giới hạn ở bất cứ lĩnh vực quan hệ  
dân sự nào nhưng bị hạn chế, hay không được  
hưởng, trong một số trường hợp cụ thể. Tuy  
nhiên, đối với nhà nước nước ngoài thì pháp  
lệnh lại không đề cập và Bộ luật Tố tụng dân sự  
cũng không có quy định nào về vấn đề này.  
Những phân tích trên chứng minh một điều  
rằng, việc thừa nhận một cách cứng nhắc quyền  
miễn trừ tuyệt đối của nhà nước nước ngoài ở  
Việt Nam chỉ làm thiệt hại cho chúng ta vì chắc  
chắn trong quy định của pháp luật nhiều quốc  
gia chỉ dành cho nhà nước Việt Nam quyền  
miễn trừ tương đối tại quốc gia đó. Chính vì  
vậy, trong điều kiện giao lưu kinh tế thương  
mại hiện nay cũng như cùng với sự phát triển  
của TPQT hiện đại, Việt Nam nên chấp nhận  
thuyết quyền miễn trừ tương đối của quốc gia  
khi tham gia vào các quan hệ kinh tế, dân sự  
quốc tế để bảo vệ hiệu quả lợi ích của các công  
dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam khi tham gia  
vào các quan hệ tài sản với quốc gia nước ngoài.  
Pháp luật Việt Nam cần có quy định về những  
trường hợp cụ thể nhà nước nước ngoài không  
được hưởng quyền miễn trừ tại Việt Nam khi  
tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế.  
Vấn đề thứ ba là cần làm rõ nội dung của  
Thuyết quyền miễn trừ tương đối của quốc gia  
về mặt lý luận. Nhiều quan điểm hiện nay vẫn  
hiểu quyền miễn trừ tương đối theo hướng quốc  
gia bị hạn chế một số lĩnh vực quan hệ dân sự  
quốc tế không được hưởng quyền miễn trừ, còn  
trong những lĩnh vực mà quốc gia được hưởng  
quyền miễn trừ thì quốc gia sẽ được hưởng  
quyền miễn trừ trong bất cứ trường hợp nào mà  
quốc gia tham gia. Theo chúng tôi, quan điểm  
này là không chính xác. Sự tương đối ở đây cần  
phải được hiểu theo hướng những trường hợp cụ  
thể mà quốc gia không được hưởng quyền miễn  
trừ, còn phạm vi của quyền miễn trừ vẫn bao  
trùm tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự có yếu  
tố nước ngoài mà quốc gia tham gia. Sự khác  
nhau ở đây chính là phạm vi những trường hợp  
được hưởng quyền miễn trừ chứ không phải ở  
lĩnh vực quan hệ được hưởng quyền miễn trừ.  
Việc làm rõ nội dung của Thuyết miễn trừ là  
rất quan trọng bởi nếu hiểu không chính xác sẽ  
dẫn đến tình trạng không bảo vệ được lợi ích  
hợp pháp của quốc gia khi tham gia các quan  
hệ dân sự quốc tế, hoặc không tôn trọng lợi ích  
hợp pháp của quốc gia khác, vi phạm nguyên  
tắc tôn trọng chủ quyền của quốc gia.  
7
2010  
NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP Số 13(174)  
20 I  
I
pdf 7 trang Thùy Anh 11980 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quyền miễn trừ của quốc gia trong tư pháp quốc tế Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquyen_mien_tru_cua_quoc_gia_trong_tu_phap_quoc_te_viet_nam.pdf