Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 13 - Năm 2021
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
Số 13 (437)
Tháng 7/2021
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP GÓP PHẦN
XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
CHÍNH SÁCH CHO CƠ CHẾ TIẾP CẬN VÀ NGHĨA VỤ CHIA SẺ BẰNG SÁNG CHẾ VACCINE PHÒNG COVID-19
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
Số 13 (437)
Tháng 7/2021
Mục lục Số 13/2021
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP GÓP PHẦN
XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
CHÍNH SÁCH CHO CƠ CHẾ TIẾP CẬN VÀ NGHĨA VỤ CHIA SẺ BẰNG SÁNG CHẾ VACCINE PHÒNG COVID-19
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động lập pháp
góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam
3
GS. TS. Vương Đꢀnh Huꢁ
Giao quyền trong giải quyết khiếu nại theo pháp luật hiện hành
PGS. TS. Bùi Thị Đào
15
21
"Thiên nga đen" - Covid-19 và cơ chế điều chỉnh của pháp luật
hợp đồng Việt Nam
TS. Đỗ Giang Nam - Trần Quang Cường
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT
Hoàn thiện quy định tại khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai
năm 2013
33
41
ThS. Thân Văn Tài - ThS. Nguyễn Thị Phi Yến
CHÍNH SÁCH
Chính sách cho cơ chế tiếp cận và nghĩa vụ chia sꢀ bằng sáng
chế Vaccine phòng COVID-19
TS. Nguyễn Thꢂi Cường
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
Quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng thông qua công cụ tín thác
47
51
PGS. TS. Lê Vũ Nam - Lê Bích Thủy
Bàn về một số quy định liên quan đến đại hội đồng cổ đông
theo Luật Doanh nghiệp năm 2020
PGS. TS. Trần Thăng Long - Phan Huy Lâm
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
Bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống trong quy định của
điều ước quốc tế, pháp luật Hoa Kỳ và Việt Nam
57
ThS. Đỗ Thị Diꢁn
Ảnh bꢀa: Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ
phát biểu khai mạc phiên họp thứ 58 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội khóa XIV
Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
Số 13 (437)
Tháng 7/2021
Legis No 13/2021
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP GÓP PHẦN
XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
CHÍNH SÁCH CHO CƠ CHẾ TIẾP CẬN VÀ NGHĨA VỤ CHIA SẺ BẰNG SÁNG CHẾ VACCINE PHÒNG COVID-19
STATE AND LAW
Application of Ho Chi Minh's Thoughts in Legislative Activities
for Development of the Socialist Rule of Law State of Vietnam
3
Prof. Dr. Vuong Dinh Hue
Assignation of Right for Complaint Settlements under the
Applicable Law
15
21
Prof. Dr. Bui Thi Dao
"Black Swan" - the Covid-19 and the Regulatory Mechanism
of Vietnamese Contract Law
Dr. Do Giang Nam - Trang Quang Cuong
DISCUSSION OF BILLS
Improvements of clause 2 Article 100 of Law on Land of 2013
LLM. Than Van Tai - LLM. Nguyen Thi Phi Yen
33
41
POLICY
Policy for Access Mechanism and Obligations of Sharing Patents
for Vaccines against COVID-19
Dr. Nguyen Thai Cuong
LEGAL PRACTICE
Management of Inheritance used for Ancestor Worship through
a Trust Tool
47
51
Prof. Dr. Le Vu Nam - Le Bich Thuy
Discussions of Provisions related to General Meeting of
Shareholders under the Law on Enterprise of 2020
Prof. Dr. Tran Thang Long - Phan Huy Lam
FOREIGN EXPERIENCE
Protection of Non-traditional Trademarks in the Provisions
of International Treaties, the Laws of the United States and
Vietnam
57
LLM. Do Thi Dien
PRICE: 25.000VND
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
TRONG HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP GÓP PHẦN XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Vương Đình Huệ*
* GS. TS. Ủy viên Bộ Chính trị,
Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Vận dụng, phát huy những thành tựu vô giá của tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt
động lập pháp cùng với việc tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa hoạt động của
Quốc hội, nâng cao vai trò của Quốc hội, cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân,
cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước ta là nền tảng, yêu cầu bắt buộc
để hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm góp phần xây dựng thành công Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Hệ thống pháp luật hoàn thiện là tiền đề
để hiện thực hóa mô hình phát triển mà toàn Đảng và toàn dân ta mong muốn
như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Phát triển về kinh tế đi đôi
với tiến bộ và công bằng xã hội; xây dựng một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương
trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn; phát triển bền vững, hài hòa
với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và
tương lai với một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về Nhân dân, do
Nhân dân và phục vụ lợi ích của Nhân dân.
Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh,
hoạt động lập pháp, Quốc hội.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 10/6/2021
: 15/6/2021
: 18/6/2021
Article Infomation:
Abstract:
Taking, enhancing application of the advantages of the invaluable achievements
of Ho Chi Minh's thoughts in legislative activities together with continuation of
strong innovation of the National Assembly performance, enhancing the role of
the NationalAssembly, the highest authorized representative agency of the People,
the highest state power agency are the solid ground and mandatory requirement
for improvement of the legal system so that it is to provide contribution to the
successful development of a socialist rule of law state in our country. A proper
legal system is precondition to realize the development modality that the whole
Party and entire people desire as General Secretary Nguyen Phu Trong affirmed:
Economic development must be in parallel with the social advance and fairness;
development of a society of compassion, solidarity and mutual assistance,
towards progressive and humane values; sustainable development, in harmony
with nature to ensure a healthy living environment for the current and future
generations with a political system where the power truly belongs to the People,
by the People and is used for the benefits of the People.
Keywords: Ho Chi Minh's
thoughts; legislative activities;
National Assembly.
Article History:
Received
Edited
: 10 Jun 2021
: 15 Jun 2021
: 18 Jun 2021
Approved
I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và
pháp luật
Tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ
truyền thống yêu nước, kiên cường bất
khuất; từ tinh thần tương thân tương ái, lòng
nhân nghĩa, ý thức đoàn kết cộng đồng và
ý chí vươn lên vượt qua mọi khó khăn thử
thách của con người Việt Nam; là sự kết hợp
các giá trị truyền thống của văn hóa phương
Đông với các thành tựu hiện đại của văn
Số 13(437) - T7/2021
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
minh phương Tây. Nếu như Chủ nghĩa yêu
nước là nguồn gốc ra đời thì Chủ nghĩa Mác -
Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu nhất
cho sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ
Chí Minh. Bằng thế giới quan và phương
pháp luận Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã
nhìn nhận, đánh giá phân tích tổng kết các
học thuyết, tư tưởng, đường lối các cuộc
cách mạng một cách khoa học và kết hợp
chúng với kinh nghiệm hoạt động thực tiễn
của mình để tìm ra con đường cách mạng
đúng đắn, cứu nước và giải phóng dân tộc
ta. Giữa thực tiễn phong phú và sinh động,
giữa nhiều học thuyết, quan điểm khác
nhau, giữa biết bao tình huống đa dạng và
phức tạp, phẩm chất thông minh, tư duy độc
lập, lòng ham hiểu biết và tính nhạy bén với
cái mới đã tạo tiền đề cho Người tìm hiểu,
phân tích tổng hợp, khái quát hình thành
những luận điểm đúng đắn và sáng tạo, hình
thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đảng ta khẳng định: Tư tưꢀng Hꢁ Chꢂ
Minh là mꢃt hꢄ thꢅng quan điꢆm toàn diꢄn
và sâu sꢇc vꢈ nhꢉng vꢊn đꢈ cơ bꢋn cꢌa cꢍch
mꢎng Viꢄt Nam, kết quꢋ cꢌa sꢏ vꢐn dꢑng và
phꢍt triꢆn sꢍng tꢎo chꢌ nghꢒa Mꢍc - Lênin
vào điꢈu kiꢄn cꢑ thꢆ cꢌa nưꢓc ta, kế thừa và
phꢍt triꢆn cꢍc giꢍ trị truyꢈn thꢅng tꢅt đꢔp
cꢌa dân tꢃc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân
loꢎi; là tài sꢋn tinh thꢕn vô cꢖng to lꢓn và
quꢗ giꢍ cꢌa Đꢋng và dân tꢃc ta, mꢘi mꢘi soi
đưꢙng cho sꢏ nghiꢄp cꢍch mꢎng cꢌa Nhân
dân ta giành thꢇng lꢚi1.
tuổi thiếu niên đến trước ngày Người ra đi
tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Từ
khi hình thành đến năm 1969, tư tưởng Hồ
Chí Minh về nhà nước và pháp luật liên tục
được Người bổ sung và phát triển làm cơ
sở lý luận, kim chỉ nam cho hoạt động xây
dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước
ta. Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ
Chí Minh về nhà nước và pháp luật được
thể hiện qua quan điểm chính sau:
Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh về sự
bất khả xâm phạm của chủ quyền quốc
gia, tính thiêng liêng của độc lập dân tộc
Hồ Chí Minh khẳng định bảo vệ sự toàn
vẹn lãnh thổ quốc gia là tất yếu, là tuyệt đối
và có ý nghĩa chiến lược, xuyên suốt quá
trình cách mạng, chi phối đến các hoạt động
của Nhà nước trong các lĩnh vực lập pháp,
hành pháp và tư pháp, đến mọi lĩnh vực
hoạt động từ kinh tế - xã hội đến chính trị,
từ văn hóa đến khoa học, từ ngoại giao đến
quân sự, quốc phòng, an ninh… của quốc
gia, của dân tộc. Theo Hồ Chí Minh, bảo
vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia là nhiệm
vụ bắt buộc, là hành động tất phải thế, chứ
không thể khác, có chăng chỉ con đường,
biện pháp, cách thức để bảo vệ được sự toàn
vẹn lãnh thổ quốc gia ở mỗi một thời điểm
khác nhau mà thôi. Tính nhất quán đó xuất
phát từ chính sự thiêng liêng của chủ quyền,
lãnh thổ quốc gia với một dân tộc, bởi bảo
vệ chủ quyền quốc gia không chỉ là bảo vệ
những giá trị hiện hữu như vùng đất, vùng
trời, vùng biển - những thứ cha ông ta đã
dày công xây dựng, gìn giữ và truyền lại -
mà còn là bảo vệ những giá trị văn hóa, tinh
thần phong phú, đa dạng, tốt đẹp có từ ngàn
năm trên lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.
Độc lập dân tộc là tư tưởng chủ đạo, nhất
quán và chi phối toàn bộ sự nghiệp cách
mạng của Hồ Chí Minh, Người khẳng định:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và
pháp luật - một trong những nội dung cốt
yếu trong kho tàng phong phú của hệ thống
tư tưởng của Người - được hun đúc ngay từ
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiꢄn Đꢎi hꢃi đꢎi biꢆu toàn quꢅc lꢕn thꢛ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật tr. 88.
4
Số 13(437) - T7/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Tꢏ do cho đꢁng bào tôi, đꢃc lꢐp cho tổ quꢅc
tôi, đó là tꢊt cꢋ nhꢉng gì tôi muꢅn, đó là tꢊt
cꢋ nhꢉng gì tôi hiꢆu2. Theo Hồ Chí Minh, độc
lập, tự do dân tộc phải là độc lập, tự do thực
sự, hoàn toàn, chứ không phải là thứ độc lập,
tự do giả hiệu giống như “cái bánh vẽ” mà
chủ nghĩa đế quốc nêu ra. Độc lập dân tộc
phải được biểu hiện trên tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội nơi các quyền dân tộc,
quyền con người phải được thực hiện trên
thực tế. Độc lập dân tộc phải gắn liền với tự
do của Nhân dân. Người chỉ rõ: “Nưꢓc đꢃc
lꢐp mà dân không hưꢀng hꢎnh phúc tꢏ do,
thì đꢃc lꢐp chẳng có nghꢒa lꢗ gì”3.
Tư tưởng của Người về chủ quyền quốc
gia và độc lập dân tộc vẫn còn nguyên giá
trị cho đến hôm nay. Đây là cơ sở ý thức hệ
quan trọng cho mọi hoạt động của cơ quan
nhà nước, cho ý chí, nguyện vọng của toàn
thể Nhân dân, là căn cứ, mục tiêu, nguyên
tắc và động lực của hoạt động lập pháp
ngày nay. Có thể dễ dàng nhận thấy, trong
tâm thức mỗi người Việt Nam yêu nước vẫn
còn vang vọng lời Bác dạy trong bản Tuyên
ngôn độc lập: “Nưꢓc Viꢄt Nam có quyꢈn
hưꢀng tꢏ do và đꢃc lꢐp, và sꢏ thꢐt đꢘ thành
mꢃt nưꢓc tꢏ do đꢃc lꢐp. Toàn thꢆ dân tꢃc
Viꢄt Nam quyết đem tꢊt cꢋ tinh thꢕn và lꢏc
lưꢚng, tꢂnh mꢎng và cꢌa cꢋi đꢆ giꢉ vꢉng
quyꢈn tꢏ do, đꢃc lꢐp ꢊy”4.
“Tꢊt cꢋ quyꢈn bꢂnh trong nưꢓc là cꢌa
toàn thꢆ Nhân dân Viꢄt Nam”5- đó là tư
tưởng nhất quán của Hồ Chí Minh. Quyền
lực nhà nước là quyền lực của Nhân dân,
do Nhân dân ủy quyền cho các cơ quan
trong bộ máy nhà nước. Vì vậy, Hồ Chí
Minh cho rằng, Nhân dân có quyền kiểm
soát (giám sát) đại biểu mà mình đã bầu ra.
Người viết: “Nhân dân có quyꢈn bꢘi miễn
đꢎi biꢆu Quꢅc hꢃi và đꢎi biꢆu Hꢃi đꢁng
nhân dân nếu nhꢉng đꢎi biꢆu ꢊy tỏ ra không
xꢛng đꢍng vꢓi sꢏ tꢂn nhiꢄm cꢌa Nhân dân.
Nguyên tꢇc ꢊy bꢋo đꢋm quyꢈn kiꢆm soꢍt
cꢌa Nhân dân đꢅi vꢓi đꢎi biꢆu cꢌa mình”6.
Người căn dặn:“Chúng ta phꢋi hiꢆu rằng,
cꢍc cơ quan cꢌa Chꢂnh phꢌ từ toàn quꢅc
cho đến cꢍc làng, đꢈu là công bꢃc cꢌa dân,
nghꢒa là đꢆ gꢍnh viꢄc chung cho dân, chꢛ
không phꢋi đꢆ đè đꢕu dân như trong thꢙi kỳ
dưꢓi quyꢈn thꢅng trị cꢌa Phꢍp, Nhꢐt”.7
Có thể khẳng định rằng, trong tư tưởng
của Người chữ “DÂN”được đặt vào vị trí
tối thượng. Người luôn căn dặn: “Trong bꢕu
trꢙi không gì quꢗ bằng Nhân dân, trong thế
giꢓi không gì mꢎnh bằng lꢏc lưꢚng đoàn
kết cꢌa Nhân dân”8. Mọi việc lớn nhỏ đều
nhằm làm điều lợi cho dân, tránh điều hại
tới dân. Đem tài dân, sức dân để làm lợi
cho dân, để mưu cầu hạnh phúc cho dân,
bởi dân là chꢌ thꢆ, dân là thưꢓc đo chân
lý. Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc,
cho Nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của
Tổ quốc, của Nhân dân tức là không phải
chân lý. Đối với Người, ra sức phụng sự
Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ
quyền Nhân dân, tất cả quyền lực đều
thuộc về Nhân dân, Nhà nước của Nhân
dân, do Nhân dân và vì Nhân dân
2 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng: Hꢁ Chꢂ Minh: - Biên
niên tiꢆu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, 2006, t.1, tr.112.
3 “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng”, ký tên Hồ Chí Minh, đăng trên Báo Cứu quốc, số
69, ngày 17-10-1945.
4 Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, 2008, t. 2, tr.1042-1045.
5 Điều 1 Hiến pháp năm 1946.
6 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, 1994, t. 12, tr.375.
7 Hồ Chí Minh: Toàn tꢐp, Sđd, t. 4, tr.64-65.
8 Hồ Chí Minh: Toàn tꢐp, Sđd, t.10, tr.453.
Số 13(437) - T7/2021
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Tổ quốc, phục vụ Nhân dân - tức là phục
tùng chân lý.
Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh về đề
cao tính tối thượng của pháp luật - Trăm
điều phải có thần linh pháp quyền
linh. Đây được coi như một bản Cương lĩnh
lập hiến dẫn dắt con đường đấu tranh giành
độc lập cho dân tộc, thành lập Nhà nước dân
chủ nhân dân, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ
tự do và quyền làm chủ của Nhân dân; là
sợi chỉ đỏ cho hoạt động lập pháp, xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong quá
trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa ở nước ta.
Năm 1919, khi Hội nghị Hòa Bình
Pa-ri họp tại Véc-xây, nhân danh nhóm
người Việt Nam yêu nước, Hồ Chí Minh -
lúc đó lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, đã gửi
đến Hội nghị “Bꢋn yêu sꢍch cꢌa Nhân dân
An Nam” gồm 8 điểm9 với các nội dung đòi
cải cách nền pháp lý ở Đông Dương, dành
cho người bản xứ cũng được hưởng những
đảm bảo về mặt pháp luật như mọi người
châu Âu, và đặc biệt, đòi “thay chế đꢃ ra
cꢍc sꢇc lꢄnh bằng chế đꢃ ra cꢍc đꢎo luꢐt”10.
Ba năm sau, năm 1922, Yêu sách về
quyền của người dân và chế độ pháp lý của
Nhà nước với Hiến pháp ở vị trí tối thượng
được Người khái quát, nâng lên thành tâm
niệm linh thiêng, khắc khoải lòng người
trong “Việt Nam yêu cầu ca”:
Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh về yêu
cầu mục đích của pháp luật là phải nhân
đạo, nhân văn, vì con người
Với lòng yêu nước thương dân vô hạn,
Hồ Chí Minh luôn mong muốn xây dựng hệ
thống pháp luật nhân đạo, nhân văn vì Nhân
dân lao động, vì con người sau khi đã giành
được chính quyền. Với Người, pháp luật
là do con người và vì con người. Pháp luật
phải có tính hài hòa, giải quyết mối quan hệ
giữa người với người, giữa người với công
việc trên nền tảng có lý, có tình.
Hệ thống pháp luật mà Hồ Chí Minh
mong muốn xây dựng là sản phẩm của chế
độ có một “mꢑc đꢂch duy nhꢊt là mưu tꢏ
do hꢎnh phúc cho mꢜi ngưꢙi… đꢝt quyꢈn
lꢚi dân lên trên hết thꢋy”12. Ngay trong
phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời
ngày 03/9/1945, Người yêu cầu: “Chúng ta
phꢋi có mꢃt Hiến phꢍp dân chꢌ”13 và chính
Người đã chỉ đạo soạn thảo Hiến pháp năm
1946 và Hiến pháp năm 1959 với những nội
dung thể hiện đậm nét tính dân chủ, vì con
người. Trong bài phát biểu chỉ đạo tại Hội
nghị Tư pháp toàn quốc năm 1950, Người
chỉ rõ: “Phꢍp luꢐt cꢌa ta hiꢄn nay bꢋo vꢄ
quyꢈn lꢚi cho hàng triꢄu ngưꢙi lao đꢃng…
“Bꢋy xin Hiến phꢍp ban hành
Trăm điꢈu phꢋi có thꢕn linh phꢍp quyꢈn”11.
Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy được
mối quan hệ hữu cơ, máu thịt giữa quyền
làm chủ xã hội, quyền dân chủ, quyền tự
do của Nhân dân với Hiến pháp và các đạo
luật, thấy được vai trò của Hiến pháp, của
các đạo luật trong việc xác lập một Nhà
nước kiểu mới. Với Hồ Chí Minh, thần linh
pháp quyền không mơ hồ, xa xôi. Người
đã nhận thức rằng, để xây dựng được Nhà
nước pháp quyền, nơi mà mỗi người đều
phải phục tùng và tôn trọng luật pháp, thì
pháp luật phải có vị trí tối thượng như thần
9
tuong-cua-dang/100-nam-ban-yeu-sach-cua-nhan-dan-an-nam-122240.
10 Hồ Chí Minh: Toàn tꢐp, Sđd, t.1, tr.469.
11 Hồ Chí Minh: Toàn tꢐp, Sđd, t.1, tr.47.
12 Hồ Chí Minh: Toàn tꢐp, Sđd, t.4, tr.21.
13 Hồ Chí Minh: Toàn tꢐp, Sđd, t.4, tr.7.
6
Số 13(437) - T7/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Phꢍp luꢐt cꢌa ta là phꢍp luꢐt thꢐt sꢏ dân
chꢌ, vì nó bꢋo vꢄ quyꢈn tꢏ do, dân chꢌ rꢃng
rꢘi cho Nhân dân lao đꢃng”14. Như vậy,
trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, pháp luật
sinh ra không vì một cái gì khác hơn là vì
dân. Đây là nguyên tắc cơ bản cho việc xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của
nước ta từ khi giành độc lập cho đến tận
hôm nay và mai sau.
xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về
đối ngoại và hội nhập của Việt Nam.
Thứ sáu, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo
đảm dân chủ trong quá trình xây dựng
pháp luật
Trong xây dựng hệ thống pháp luật, Hồ
Chí Minh rất chú trọng tính dân chủ. Theo
Người, muốn có được hệ thống pháp luật
như vậy, sự tham gia của Nhân dân trong
quá trình xây dựng pháp luật là điều kiện
tiên quyết. Trong tác phẩm Thường thức
chính trị, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Cꢍch
mꢎng thꢍng Tꢍm thành công ta lꢐp ra Chꢂnh
phꢌ mꢓi vꢓi “phꢍp luꢐt mꢓi cꢌa Nhân dân
đꢆ chꢅng kẻ địch trong và ngoài, và đꢆ giꢉ
gìn quyꢈn lꢚi cꢌa Nhân dân16. Trong quá
trình xây dựng Hiến pháp năm 1959, việc
bảo đảm sự tham gia của đông đảo các tầng
lớp nhân dân vào xây dựng pháp luật được
Người đặc biệt quan tâm. Để đảm bảo pháp
luật thực sự của Nhân dân, trong quá trình
xây dựng Hiến pháp, Hồ Chí Minh yêu cầu:
“Bꢋn Hiến phꢍp chúng ta sẽ thꢋo ra…
phꢋi tiêu biꢆu đưꢚc cꢍc nguyꢄn vꢜng cꢌa
nhân dân… Sau khi thꢋo xong, chúng ta
cꢕn phꢋi trưng cꢕu ꢗ kiến cꢌa nhân dân cꢋ
nưꢓc mꢃt cꢍch thꢐt rꢃng rꢘi. Có như thế
bꢋn Hiến phꢍp cꢌa chúng ta mꢓi thꢐt sꢏ là
mꢃt bꢋn Hiến phꢍp cꢌa Nhân dân, cꢌa chế
đꢃ dân chꢌ”17.
Thứ năm, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn
trọng pháp luật quốc tế
Tôn trọng pháp luật quốc tế là tầm nhìn
rất xa và rộng của Hồ Chí Minh. Trong sự
nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo
vệ Tổ quốc của Nhân dân ta, Hồ Chí Minh
và Đảng ta luôn chủ trương đẩy mạnh mối
quan hệ đoàn kết hữu nghị với nhân dân thế
giới. Hồ Chí Minh nói: Đꢅi vꢓi tꢊt cꢋ cꢍc
nưꢓc trên thế giꢓi, nưꢓc Viꢄt Nam Dân chꢌ
Cꢃng hòa thiết tha mong muꢅn duy trì tình
hꢉu nghị và thành thꢐt hꢚp tꢍc trên cơ sꢀ
bình đẳng và tương trꢚ đꢆ xây dꢏng hòa
bình thế giꢓi lâu dài15. Lời Người nói đã
diễn đạt đầy đủ nguyện vọng, quan điểm và
đường lối đối ngoại của Việt Nam lúc bấy
giờ là duy trì tình hữu nghị, sự hợp tác chân
thành với tất cả các nước trên thế giới dù có
chế độ chính trị khác nhau, trên nguyên tắc
bình đẳng và tương trợ lẫn nhau nhằm xây
dựng hòa bình trên thế giới. Quan điểm của
Người là nền tảng tư tưởng cho đường lối
đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Nhân dân
ta và là cơ sở để các nước có chế độ chính
trị khác nhau trên thế giới công nhận và đặt
quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Đây chính
là nguyên tắc, là kim chỉ nam cho công tác
Hồ Chí Minh nhận định: “phꢋi nhꢐn
thꢛc cho tꢅt và chꢊp hành nghiêm chỉnh
phꢍp luꢐt”; “sꢏ bình đẳng trong xꢘ hꢃi ꢀ
nơi phꢍp luꢐt” và “dân chꢌ đúng đꢇn cũng
ꢀ nơi phꢍp luꢐt”18. Như vậy, trong tư tưởng
Hồ Chí Minh, xây dựng pháp luật phải
14
nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=634.
15 Lời nói trên được Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày trong Hội nghị những người Ấn nghiên cứu vấn đề quốc
tế, ngày 7/2/1958.
16 Hồ Chí Minh: Toàn tꢐp, Sđd, t.8, tr.262.
17 Hồ Chí Minh: Toàn tꢐp, Sđd, t.10, tr.510-511.
18 Hồ Chí Minh: Toàn tꢐp, Sđd, tập 5, tr.299, 293, 418.
Số 13(437) - T7/2021
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
hướng tới mục tiêu dân chủ, tiến bộ để từng
bước hoàn thiện hệ thống pháp luật.
bảo đảm quyền tự do kinh doanh, các quyền
về an sinh xã hội của công dân, cải thiện môi
trường kinh doanh, đầu tư và phát triển các
lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước, bảo
đảm quyền, lợi ích của người dân và doanh
nghiệp; ngày càng nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần của Nhân dân, bảo đảm an
sinh xã hội... Những kết quả đó là thành quả
của khát vọng, ý chí vượt khó vươn lên, sự
vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về
hoạt động lập pháp để xây dựng, hoàn thiện
hệ thống pháp luật phục vụ sự nghiệp bảo vệ,
phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.
Từ những luận điểm nêu trên, có thể
khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà
nước, pháp luật nói chung, về hoạt động lập
pháp nói riêng là tài sản tinh thần quý báu
phải được gìn giữ, bảo vệ và phát huy trong
sự nghiệp đổi mới và hội nhập, trong quá
trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, phát
triển nhanh và bền vững để xây dựng thành
công Nhà nước pháp quyền XHCN, góp
phần củng cố, tạo nền tảng quan trọng cả về
lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường
đi lên CNXH của Việt Nam. Học tập, làm
theo tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, trong
đó có tư tưởng của Người về hoạt động lập
pháp là trách nhiệm, nhiệm vụ trọng tâm
và quyết tâm của toàn hệ thống chính trị,
là mong mỏi và tâm huyết của Tổ quốc và
toàn thể Nhân dân.
Qua gần 76 năm xây dựng và phát triển
của Nhà nước và sau 35 năm Đổi Mꢓi, thế
và lực của đất nước ta đã ở một tầm khác.
Đời sống của đại đa số người dân - chủ nhân
của đất nước có những thay đổi căn bản. Từ
thôn quê tới đô thị đều mang một diện mạo
mới mà chúng ta khó có thể hình dung vào
những năm đầu của thời kỳ đổi mới.
Về hoạt động lập pháp, cho tới nay, đại
đa số các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã
hội đều có văn bản tầm luật điều chỉnh với
hơn 230 bộ luật và luật đang có hiệu lực áp
dụng. Chúng ta đã xây dựng được hệ thống
pháp luật khá ổn định, đồng bộ, thống nhất,
có sự gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện các
chỉ đạo, chủ trương của Đảng về chiến lược
xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật;
về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, tạo nền tảng pháp lý
II. Tiếp tục học tập, vận dụng tư tưởng
Hồ Chí Minh trong hoạt động lập pháp
trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Trong giai đoạn hiện nay, học tập, vận
dụng tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh trong hoạt động lập pháp có vai trò
rất quan trọng nhất là trong bối cảnh toàn
Đảng, toàn dân đang tích cực chủ động thực
hiện thắng lợi các định hướng, nhiệm vụ
trọng tâm và đột phá chiến lược đã xác định
tại Đại hội 13 của Đảng về hoàn thiện hệ
thống pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa. Đó là: Xây dựng
và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn,
hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì Nhân dân
phục vụ và vì sự phát triển của đất nước19.
Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ
chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ
dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ
của Nhân dân20. Đột phá chiến lược về thể
chế để phát huy mạnh mẽ dân chủ XHCN,
quyền làm chủ của Nhân dân; đồng thời,
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh21.
19
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiꢄn Đꢎi hꢃi đꢎi biꢆu toàn quꢅc lꢕn thꢛ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự
thật, 2021, t. II, tr.332.
20 Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiꢄn Đꢎi hꢃi đꢎi biꢆu toàn quꢅc lꢕn thꢛ XIII, Sđd, t.II, tr.334-337.
21 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiꢄn Đꢎi hꢃi đꢎi biꢆu toàn quꢅc lꢕn thꢛ XIII, Sđd, t.II, tr.337-338.
8
Số 13(437) - T7/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Bên cạnh đó, cả dân tộc Việt Nam đang
chủ động hội nhập sâu và rộng với thế giới.
Để hội nhập có hiệu quả, Việt Nam phải
có các giải pháp về pháp luật vừa bảo đảm
phù hợp và phát huy lợi thế, thế mạnh trong
nước vừa bảo đảm hài hòa, tương thích với
các tiêu chuẩn chung của pháp luật quốc
tế. Việt Nam cũng đang hòa nhịp vào dòng
chảy của cuộc Cách mạng công nghiệp lần
thứ tư với khát vọng phát triển đất nước
hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc. Hội
nhập quốc tế trong bối cảnh Cách mạng
công nghiệp lần thứ tư22 sẽ có tác động về
nhiều mặt đến việc học tập, vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh về lập pháp trong quá
trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa ở nước ta. Nhiều vấn đề mới sẽ
nảy sinh, chưa từng có trong tiền lệ đòi hỏi
phải có sự điều chỉnh của pháp luật để Nhân
dân và Tổ quốc Việt Nam được hưởng thụ
những lợi ích tốt nhất của hội nhập quốc tế
và cuộc Cách mạng này đem lại.
Nhà nưꢓc là thꢅng nhꢊt; có sꢏ phân công,
phꢅi hꢚp và kiꢆm soꢍt giꢉa cꢍc cơ quan
trong viꢄc thꢏc hiꢄn cꢍc quyꢈn lꢐp phꢍp,
hành phꢍp, tư phꢍp. Nhà nưꢓc ban hành
phꢍp luꢐt; tổ chꢛc, quꢋn lꢗ xꢘ hꢃi bằng
phꢍp luꢐt và không ngừng tăng cưꢙng phꢍp
chế xꢘ hꢃi chꢌ nghꢒa”23.
Kế thừa nhận thức về Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa đã được đề cập trong
Văn kiện các kỳ Đại hội trước, nội dung xây
dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa thực sự đã được coi là
nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội
lần thứ XIII, được nhắc đến nhiều lần và là
một trong ba đột phát chiến lược của Đại
hội với những điểm mới hơn trong nhận
thức về phạm trù này. Đại hội lần thứ XIII
cũng nêu rõ mục tiêu này chỉ đạt được khi
chúng ta biết gắn tăng cường công khai,
minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng
thời kiểm soát hiệu quả và thực chất quyền
lực dựa trên việc siết chặt kỷ cương, kỷ
luật; xây dựng Nhà nước pháp quyền gắn
với mục tiêu đấu tranh phòng, chống tham
nhũng, tuân theo các quy luật thị trường và
bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa
Nhà nước, thị trường và xã hội…
1. Yêu cầu về hoạt động lập pháp trong
quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Cương lĩnh (bổ sung và phát triển 2011)
khẳng định, Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân là một
trong 8 đặc trưng của xã hội chủ nghĩa. Theo
đó, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
được cụ thể hóa đầy đủ như sau: “Nhà nưꢓc
ta là Nhà nưꢓc phꢍp quyꢈn xꢘ hꢃi chꢌ nghꢒa
cꢌa Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Tꢊt cꢋ quyꢈn lꢏc Nhà nưꢓc thuꢃc vꢈ Nhân
dân mà nꢈn tꢋng là liên minh... Quyꢈn lꢏc
Để thực hiện thành công các mục tiêu
nêu trên, xây dựng thành công Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta
trong thời gian tới, hoạt động lập pháp phải
đáp ứng các yêu cầu sau:
Thứ nhất, hoạt động lập pháp phải bảo
đảm tạo hành lang pháp lý để Nhà nước
được tổ chức và hoạt động trong khuôn
22 Khác với các cuộc Cách mạng công nghiệp trước đây, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có sự khác biệt
rất lớn về tốc độ, phạm vi và hệ thống. Về tốc độ, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có tốc độ phát triển chưa
từng có tiền lệ trong lịch sử. Về phạm vi, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, diễn ra không chỉ trên quy mô
tất cả các lĩnh vực trong một quốc gia, khu vực mà cuộc Cách mạng này còn diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Về
tính hệ thống, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm thay đổi toàn bộ không chỉ hệ thống sản xuất của một
doanh nghiệp, một lĩnh vực mà còn tác động mạnh đến hệ thống quản lý của một quốc gia cũng như hệ thống
quản trị toàn cầu.
23 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiꢄn Đꢎi hꢃi đꢎi biꢆu toàn quꢅc lꢕn thꢛ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, 2011, tr.85.
Số 13(437) - T7/2021
9
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
khổ Hiến pháp và pháp luật. Để làm được
như vậy, hoạt động lập pháp phải tạo được
những bước đột phá thực sự về thể chế để
giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt
ra, rất thiết thực và cụ thể, bảo đảm sự bao
phủ của pháp luật đến mọi lĩnh vực của đời
sống kinh tế - xã hội - đưa thực tiễn, “hơi
thở” và nhu cầu của cuộc sống vào pháp
luật trước khi triển khai thi hành pháp luật
trong thực tiễn. Hệ thống pháp luật phải bảo
đảm ngày càng tốt hơn dân chủ, công bằng
mới có thể làm cơ sở để xây dựng thành
công Nhà nước pháp quyền XHCN.
Thứ hai, hoạt động lập pháp phải bảo
đảm việc tôn trọng và bảo vệ quyền con
người, các quyền và tự do của công dân, giữ
vững mối liên hệ giữa Nhà nước và công
dân, giữa Nhà nước và xã hội; đảm bảo
quyền con người trong mọi lĩnh vực hoạt
động của Nhà nước và xã hội. Quyền con
người là tiêu chí đánh giá tính pháp quyền
của chế độ nhà nước. Lấy việc tôn trọng,
bảo vệ và bảo đảm quyền con người là tiêu
chí đánh giá tính pháp quyền của nhà nước,
là tiêu chí đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả
trong hoạt động của các cơ quan trong bộ
máy nhà nước, trong thi hành công vụ của
cán bộ, công chức, viên chức nhà nước.
Mọi hoạt động của Nhà nước đều phải xuất
phát từ sự tôn trọng và đảm bảo quyền con
người, tạo mọi điều kiện cho công dân thực
hiện quyền của mình theo đúng các quy
định của luật pháp. Mối quan hệ giữa người
dân và Nhà nước được xác định chặt chẽ về
phương diện luật pháp và mang tính bình
đẳng. Để bảo vệ quyền con người, quyền
công dân, mô hình quan hệ giữa Nhà nước
và người dân được xác định: Về nguyên tắc,
cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì
pháp luật cho phép; người dân được làm tất
cả trừ những điều pháp luật cấm.
thực hiện theo các nguyên tắc: phân công,
phối hợp quyền lực và kiểm soát quyền lực
hiệu quả trong việc thực hiện quyền lập
pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp.
Đồng thời, việc tổ chức và thực thi quyền
lực phải được kiểm soát chặt chẽ với các
cơ chế kiểm soát quyền lực cụ thể cả từ bên
trong bộ máy nhà nước và bên ngoài bộ
máy nhà nước; tăng cường cơ chế giám sát
của Nhân dân và xã hội đối với việc thực
hiện quyền lực nhà nước.
Thứ tư, hoạt động lập pháp phải hướng
tới thiết lập một cơ chế bảo vệ Hiến pháp
và pháp luật phù hợp. Nền tảng của Nhà
nước pháp quyền là Hiến pháp và một hệ
thống pháp luật dân chủ và công bằng; do
vậy, một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp
luật luôn là một yêu cầu, một điều kiện cần
thiết nhằm đảm bảo cho Hiến pháp, pháp
luật luôn được tôn trọng, đề cao và tuân thủ
nghiêm minh. Hình thức và phương thức bảo
vệ Hiến pháp và pháp luật ở các quốc gia có
thể đa dạng và khác nhau, nhưng đều hướng
tới mục tiêu là bảo đảm địa vị tối cao, bất khả
xâm phạm của Hiến pháp, loại bỏ hành vi
trái với tinh thần và quy định của Hiến pháp,
không phụ thuộc vào chủ thể của các hành vi
này. Đồng thời với bảo vệ Hiến pháp, đòi hỏi
phải xây dựng và thực thi một chế độ tư pháp
thật sự dân chủ, minh bạch và trong sạch để
duy trì và bảo vệ pháp chế trong mọi lĩnh vực
hoạt động của Nhà nước và xã hội.
Thứ năm, hoạt động lập pháp phải bảo
đảm thích ứng với những tác động của cuộc
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Theo đó,
hoạt động lập pháp phải tạo cơ sở pháp lý để
tận dụng tối đa những thành tựu, những tác
động tích cực của Cách mạng công nghiệp
lần thứ tư nhằm đem lại lợi ích cho người
dân, doanh nghiệp và xã hội; hạn chế tối đa
những tác động tiêu cực của Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư, bảo vệ người dân, doanh
Thứ ba, hoạt động lập pháp phải bảo
đảm quyền lực nhà nước được tổ chức và
10
Số 13(437) - T7/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
nghiệp và Nhà nước trước những hệ lụy có
thể xảy ra. Hoạt động lập pháp cũng phải
đảm bảo được vai trò của Nhà nước trong
việc xây dựng hoàn thiện pháp luật để thúc
đẩy đổi mới sáng tạo với những tư duy mới,
phù hợp với xu thế tiến bộ của thế giới trong
bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Thứ sáu, hoạt động lập pháp phải bảo
đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là nội
dung hết sức quan trọng, thể hiện rõ nét nhất
đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa ở nước ta. Tăng cường vai trò
lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là phải
gắn liền và dựa trên cơ sở đổi mới và chỉnh
đốn Đảng. Đảng lãnh đạo Nhà nước là đề ra
đường lối, chủ trương, chính sách lớn; chăm
lo công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, bố
trí cán bộ trong các cơ quan Đảng và Nhà
nước, kiến nghị và giới thiệu cán bộ với các
cơ quan dân cử một cách dân chủ; thường
xuyên tiến hành công tác kiểm tra. Đảng
lãnh đạo Nhà nước xây dựng cơ cấu tổ chức
và cơ chế hoạt động của Nhà nước, lãnh đạo
việc đổi mới bộ máy nhà nước, thể chế hóa
cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng
thành pháp luật của Nhà nước, cụ thể hóa
chiến lược thành chương trình, kế hoạch, cơ
chế, chính sách quản lý của Nhà nước…
2. Học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh trong hoạt động lập pháp trong quá
trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa ở nước ta
phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-
CT/TW. Trong nhiệm kỳ này, để kịp thời thể
chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng và
tiếp tục cụ thể hóa, đưa Hiến pháp năm 2013
vào đời sống, Quốc hội đã ban hành nhiều
văn bản quy phạm pháp luật, tạo cơ sở pháp
lý cho xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa. Cụ thể, Quốc hội khóa XIV đã
thông qua 73 luật, 02 pháp lệnh và 31 nghị
quyết có chứa quy phạm pháp luật24.
Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập tư tưởng
Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật là
nền tảng, yêu cầu bắt buộc để xây dựng
thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa ở nước ta, góp phần thực hiện thành
công mục tiêu đưa nước ta phát triển nhanh,
bền vững. Trong bối cảnh hiện nay, vận
dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạt động
lập pháp không chỉ nhằm xây dựng pháp
luật đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn mà pháp
luật cần phải có tầm nhìn, có chiến lược để
dẫn dắt, định hướng thực tiễn. Trong thời
gian tới, Quốc hội sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc
thực hiện học tập tư tưởng Hồ Chí Minh
theo Chỉ thị số 05 và Kết luận số 01-KL/
TW25 vào hoạt động lập pháp. Kết quả này
sẽ góp phần chứng minh tính đúng đắn và
hiện thực hóa các tư tưởng, quan điểm chỉ
đạo về một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam trong Bài phát biểu
quan trọng ngày 17/5/2021 của Tổng bí thư
Nguyễn Phú Trọng26.
Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV (2016-
2021) diễn ra cùng thời điểm với việc đẩy
mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức,
Theo đó, cùng với việc tham gia nghiên
cứu, xây dựng và triển khai thực hiện Chiến
lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
24 Báo cáo số 771/BC-UBTVQH14 ngày 22/3/2021 của UBTVQH.
25 Ban hành ngày 7/5/2021 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016
của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.
26
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam,
“Mꢃt sꢅ vꢊn đꢈ lꢗ luꢐn và thꢏc tiễn vꢈ chꢌ nghꢒa xꢘ hꢃi và con đưꢙng đi lên chꢌ nghꢒa xꢘ hꢃi ꢀ Viꢄt Nam” tại
duong-di-len-chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam-646305/.
Số 13(437) - T7/2021
11
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện pháp
luật về tổ chức bộ máy nhà nước của Nhân
dân, do Nhân dân và vì Nhân dân: Tập
trung xây dựng cơ sở pháp lý để xác định rõ
hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và
quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong
việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc
pháp quyền; bảo đảm quyền lực nhà nước
là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và
kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong
việc thực hiện quyền lực nhà nước. Thực
hiện tốt chức năng của Nhà nước, giải quyết
đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước, thị
trường và xã hội. Nhà nước tập trung quản
lý vĩ mô, nâng cao chất lượng xây dựng thể
chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch. Hoàn
thiện hệ thống pháp luật để đẩy mạnh phân
cấp, phân quyền, xây dựng nền hành chính
nhà nước phục vụ Nhân dân, dân chủ, pháp
quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch,
vững mạnh, bảo đảm công khai, minh bạch,
quản lý thống nhất, thông suốt, hiệu lực,
hiệu quả. Thể chế hóa bằng luật để xây dựng
và thực hiện phong cách làm việc khoa học,
tập thể, dân chủ, trꢜng dân, gꢕn dân, hiꢆu
dân, vì dân, bám sát thực tiễn, chịu khó học
hỏi, nói đi đôi với làm.
Trong đó, cần tiếp tục đổi mới tổ chức
và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc
hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của
Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao
nhất. Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt
động, tăng tính dân chủ, pháp quyền, chuyên
nghiệp trong tổ chức và hoạt động của Quốc
hội, trong thực hiện chức năng lập pháp,
quyết định những vấn đề quan trọng của đất
nước và giám sát tối cao. Hoàn thiện cơ chế
giám sát, đánh giá đối với người giữ chức vụ
do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến
năm 2030, định hướng đến năm 204527, cần
nghiên cứu xây dựng hệ thống pháp luật
đồng bộ, thống nhất, hiện đại, khả thi, công
khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, có sức
cạnh tranh quốc tế, lấy quyền và lợi ích hợp
pháp của người dân làm trung tâm, thúc đẩy
đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển
nhanh và bền vững; tập trung xây dựng, hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa; tôn trọng, bảo đảm,
bảo vệ quyền con người, quyền công dân và
hội nhập quốc tế. Hoạt động lập pháp của
Quốc hội trong thời gian tới cần tập trung
vào một số lĩnh vực quan trọng như sau:
Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện pháp
luật về chủ quyền, biên giới quốc gia: Tiếp
tục hoàn thiện hệ thống pháp luật để kiên
quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập,
chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ,
biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường
hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Tiếp tục luật hóa để làm cơ sở pháp lý thực
hiện thành công các chiến lược như: Chiến
lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc
phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo
vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên
giới quốc gia và Chiến lược bảo vệ Tổ quốc
trên không gian mạng... Trong đó, chú ý
đến việc xây dựng cơ sở pháp lý để bảo vệ
chủ quyền quốc gia về vùng trời như khẳng
định trang trọng ngay tại Điều 1 của Hiến
pháp 201328. Nghiên cứu để hoàn thiện cơ
sở pháp lý khẳng định và bảo vệ chủ quyền
quốc gia trên không gian mạng. Tiếp tục
khẳng định vai trò chủ thể, vị trí trung tâm
của Nhân dân trong chiến lược phát triển
đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng,
bảo vệ Tổ quốc.
27 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiꢄn Đꢎi hꢃi đꢎi biꢆu toàn quꢅc lꢕn thꢛ XIII, Sđd, tập I, tr.177.
28 Điều 1 Hiến pháp năm 2013 quy định “Nưꢓc Cꢃng hòa xꢘ hꢃi chꢌ nghꢒa Viꢄt Nam là mꢃt nưꢓc đꢃc lꢐp, có
chꢌ quyꢈn, thꢅng nhꢊt và toàn vꢔn lꢘnh thổ, bao gꢁm đꢊt liꢈn, hꢋi đꢋo, vꢖng biꢆn và vꢖng trꢙi”.
12
Số 13(437) - T7/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
phê chuẩn. Thiết lập đồng bộ, gắn kết cơ chế
giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân
với kiểm tra, giám sát của Đảng, với giám
sát, phản biện xã hôi của Mặt trận Tổ quốc,
các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân.
Thứ ba, xây dựng và hoàn thiện pháp
luật về quyền con người, quyền công dân:
Hoàn thiện cơ sở pháp lý để thực hiện đúng
đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại
diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Xây dựng
cơ chế pháp lý để hiện thực hóa nội dung
mới được bổ sung tại Đại hội lần thứ XIII
của Đảng là “dân giꢍm sꢍt, dân thꢑ hưꢀng”
để thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm
“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiꢆm tra,
dân giꢍm sꢍt, dân thꢑ hưꢀng”. Xây dựng và
hoàn thiện cơ chế giám sát của Nhân dân.
Tạo cơ sở pháp lý để người dân trao quyền
mà không mất quyền, các cơ quan nhà nước
và cá nhân được trao quyền mà không tiếm
quyền của dân; đây là vấn đề quyết định nhất
bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự thuộc
về Nhân dân. Phát huy mạnh mẽ và đặt yêu
cầu lắng nghe Nhân dân, phục vụ Nhân dân
là yêu cầu tối cao trong hoạt động của Quốc
hội, các cơ quan của Quốc hội và từng đại
biểu Quốc hội nhằm hoàn thành trọng trách
mà Nhân dân giao. Hoạt động lập pháp phải
hướng đến mục tiêu con người, tức là giải
phóng mọi tiềm năng của dân, chăm lo bồi
dưỡng sức dân, phát triển sức dân lại phải
tiết kiệm sức dân. Tiếp tục nghiên cứu, xây
dựng các luật cụ thể hóa quyền con người,
quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013.
Thứ tư, xây dựng và hoàn thiện pháp luật
về phát triển bền vững kinh tế - xã hội - môi
trường: Tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý
để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ và
những thành tựu của Cách mạng công nghiệp
lần thứ tư. Xây dựng pháp luật để phát huy đổi
mới sáng tạo, tận dụng tối đa lợi ích và giảm
thiểu tối đa rủi ro, hướng đến việc giải quyết
hiệu quả hàng loạt các vấn đề đặt ra trong
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư29. Xây
dựng các “sandbox” về mô hình đầu tư kinh
doanh mới; trong đó, có mô hình như kinh
tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn, du lịch thông
minh, fintech... Tiếp tục hoàn thiện thể chế về
quy hoạch, kế hoạch phát triển vùng và bố trí
nguồn lực nhằm phát huy lợi thế vùng, đơn vị
hành chính - kinh tế đặc biệt. Hoàn thiện pháp
luật để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu
quả đất đai, tài nguyên, bảo đảm công khai,
minh bạch và khắc phục tình trạng tranh chấp,
khiếu kiện, tham nhũng, lãng phí. Đẩy nhanh
hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính
sách bảo đảm đồng bộ, minh bạch các yếu tố
thị trường để có khả năng vốn hóa các nguồn
lực tài nguyên, phân bổ hợp lý và sử dụng có
hiệu quả. Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa
phát triển kinh tế, bảo đảm công bằng xã hội
với bảo vệ môi trường.
Thứ năm, xây dựng và hoàn thiện
pháp luật về hội nhập quốc tế: Hoàn thiện
hệ thống pháp luật, làm cơ sở pháp lý cho
việc chủ động hội nhập quốc tế với các lộ
trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục
tiêu của đất nước trong từng giai đoạn. Nội
luật hóa đầy đủ và phù hợp những điều ước
quốc tế và cam kết quốc tế mà Việt Nam
là thành viên. Tích cực và có trách nhiệm
trong việc tham gia các hoạt động xây
dựng các điều ước quốc tế. Theo đó, cần
chủ động chuyển từ việc tham gia các luật
chơi định sẵn thành chủ thể thiết kế luật
chơi trên trường quốc tế, từng bước đề xuất
29 Như: Các vấn đề pháp lý đặt ra liên quan đến sự phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong các lĩnh vực
của đời sống xã hội (như địa vị pháp lý của Robot, hoạt động của Robot, xe tự lái hoạt động trên đường…);
vấn đề tài sản ảo, tiền kỹ thuật số; việc cân bằng giữa quyền khai thác tài nguyên dữ liệu và quyền bảo vệ bí
mật đời tư của cá nhân...
Số 13(437) - T7/2021
13
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
các điều ước quốc tế từ thực tiễn Việt Nam.
Để làm được điều này phải tăng cường đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ vừa am hiểu sâu về
điều kiện trong nước vừa có kiến thức sâu
về luật pháp quốc tế, nhất là về thương mại,
đầu tư, lao động quốc tế; có khả năng làm
việc trong môi trường quốc tế, tham gia giải
quyết tranh chấp quốc tế.
Tăng cường và đa dạng hóa hình thức tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và tư vấn,
trợ giúp pháp lý để pháp luật được triển khai
thực hiện trong cuộc sống. Thường xuyên
tiến hành giám sát, đánh giá, tổng kết thi hành
pháp luật, rà soát, hệ thống hóa văn bản pháp
luật, kịp thời phát hiện và khắc phục những
điểm bất cập, thiếu sót, mâu thuẫn, chồng
chéo trong hệ thống pháp luật.
Thứ sáu, quy trình lập pháp: Tiếp tục
đổi mới quy trình lập pháp, mở rộng dân
chủ trong xây dựng pháp luật để các quy
định của luật có tính khả thi, phù hợp với
thực tiễn, có căn cứ khoa học. Hoàn thiện
cơ chế để bảo đảm tính phản biện, khách
quan, bảo đảm đánh giá thực tiễn đầy đủ,
lắng nghe ý kiến của Nhân dân, của đối
tượng trực tiếp chịu sự tác động của dự án
luật. Bảo đảm công khai, dân chủ trong việc
tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá
nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình xây
dựng và thẩm tra luật. Đổi mới mạnh mẽ về
cách thức, phương thức thẩm tra, lấy ý kiến
của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của
Quốc hội, tăng cường tham vấn, tham gia
của các chuyên gia, nhà khoa học. Nghiên
cứu xây dựng cơ chế pháp luật điều chỉnh
hoạt động vận động chính sách, bảo đảm
khách quan, minh bạch, có kiểm soát, giám
sát chặt chẽ để góp phần hữu hiệu mở rộng
dân chủ, đồng thời, chống lợi ích nhóm
trong hoạt động lập pháp.
Thứ bảy, tổ chức thi thành pháp luật:
Gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng pháp luật với
tổ chức thi hành pháp luật. Tiếp tục hoàn thiện
cơ chế phối hợp giữa cơ quan ban hành pháp
luật, cơ quan tổ chức thi hành pháp luật và cơ
quan bảo vệ pháp luật. Tập trung nguồn lực
và các điều kiện để thực hiện tốt các nhiệm
vụ nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi
hành pháp luật, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi
phạm pháp luật; cải cách thủ tục hành chính;
kiện toàn tổ chức, tinh giảm hợp lý đầu mối,
bỏ cấp trung gian trong thi hành pháp luật.
Thứ tám, tuyên truyền, phổ biến, lan
tỏa, phát huy tư tưởng, đạo đức, phong
cách Hồ Chí Minh trong hoạt động lập
pháp nói riêng, quá trình xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước
ta nói chung: Tiếp tục nâng cao nhận thức
cho các đại biểu Quốc hội, cán bộ, công
chức làm công tác xây dựng pháp luật về
nội dung, giá trị và ý nghĩa to lớn của tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
về hoạt động lập pháp; xác định tư tưởng
Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác -
Lênin là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam
cho hoạt động lập pháp. Đổi mới mạnh mẽ
nội dung, phương pháp, hình thức học tập,
tuyên truyền về tư tưởng, đạo đức, phong
cách Hồ Chí Minh về hoạt động lập pháp
trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân.
Đẩy mạnh việc phát hiện, bồi dưỡng, biểu
dương, tuyên truyền, nhân rộng các tấm
gương, điển hình tiên tiến trong học tập
và làm theo Bác trong xây dựng pháp luật.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả việc nghiên
cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt
động lập pháp đáp ứng yêu cầu của sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong
tình hình mới; góp phần nâng cao bản lĩnh
chính trị, năng lực tư duy lý luận, năng lực
tổng kết thực tiễn và xây dựng pháp luật để
giải quyết hiệu quả những vấn đề đang đặt
ra trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hội
nhập quốc tế
14
Số 13(437) - T7/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
GIAO QUYỀN TRONG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI
THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
Bùi Thị Đào*
* PGS.TS. Trường Đại học Luật Hà Nội
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Từ khóa: Giao quyền, giải quyết
khiếu nại, vi phạm pháp luật,
tổ chức đối thoại, xác minh nội
dung khiếu nại.
Trong giải quyết khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có
thể giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thực hiện một số thẩm quyền
được pháp luật quy định giao cho mình. Điều này là cần thiết nhằm tạo
điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết khiếu nại. Luật Khiếu nại năm 2011
và Nghị định số 124/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy
định về một số quyền mà người giải quyết khiếu nại có thể giao cho người
khác thực hiện, đồng thời quy định những hành vi vi phạm pháp luật liên
quan đến giao quyền. Tuy nhiên, một số quy định trong các văn bản này
vẫn còn bất cập cần được tiếp tục hoàn thiện.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 29/3/2021
: 09/4/2021
: 23/4/2021
Article Infomation:
Abstract:
Keywords: Assignation of rights;
complaint settlements; violation
of the law, dialogues arrangment,
verification of complaints.
For settlement of complaints, the person authorized to settle complaints
may assign other agencies, organizations or individuals to exercise
certain rights assigned to him/her by law. This assignation is necessary
to facilitate the settlement of complaints. The Law on Complaints of
2011 and Decree No. 124/2020/ND-CP dated October 19, 2020 of the
Government stipulate a number of rights that the authorized persons of
complaint settlement can assign to others to exercise, and at the same
time stipulate violations of the law related to the assignment of rights.
However, a number of provisions in these documents are still inadequate
and need to be further improved.
Article History:
Received
Edited
: 29 Mar. 2021
: 09 Apr. 2021
: 23 Apr. 2021
Approved
1. Quan niệm về giao quyền
cá nhân đó. Hiệu lực, hiệu quả của việc sử
dụng thẩm quyền không chỉ phụ thuộc vào
Một trong những vấn đề quan trọng nhất
của bộ máy nhà nước là vấn đề thẩm quyền
của các cơ quan, cá nhân trong bộ máy đó.
Nói đến thẩm quyền là nói đến việc ai (cơ
quan, cá nhân nào) được sử dụng quyền lực
nhà nước khi nào, đối với ai, sử dụng đến
giới hạn nào, sử dụng để làm gì... Để quyền
lực nhà nước được sử dụng hiệu quả thì
thẩm quyền của mỗi cơ quan, cá nhân phải
hoàn toàn phù hợp với khả năng thực hiện
thẩm quyền được quy định của cơ quan,
sự hợp lý, rõ ràng, cụ thể của các quy định
về thẩm quyền của từng cơ quan, cá nhân
mà còn phụ thuộc vào bộ máy, con người,
các nguồn lực phù hợp cho việc thực hiện
thẩm quyền đó. Mỗi cơ quan, cá nhân trong
bộ máy nhà nước không tồn tại, hoạt động
độc lập mà có mối liên hệ với nhiều cơ
quan, cá nhân khác ở những mức độ khác
nhau để đảm bảo quyền lực được sử dụng
thống nhất, hài hòa, đúng đắn. Điều đó cũng
có nghĩa là, khi quy định thẩm quyền cho
Số 13(437) - T7/2021
15
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
một cơ quan, cá nhân nhất định thì không
chỉ cần quan tâm đến cơ quan, cá nhân đó
có thể sử dụng thẩm quyền được trao một
cách tốt nhất hay không mà còn phải xem
xét thẩm quyền của mỗi cơ quan, cá nhân
trong mối tương quan với thẩm quyền của
cơ quan, cá nhân khác. Vì vậy, một cách
khái quát có thể nói, khi pháp luật quy định
thẩm quyền của một cơ quan, cá nhân nhất
định thì có nghĩa đó là chủ thể có khả năng
tốt nhất trong việc thực hiện thẩm quyền
được trao. Tuy nhiên, ở mức độ chi tiết hơn,
pháp luật có tính khái quát nên không phải
luôn luôn phù hợp với mọi điều kiện, hoàn
cảnh, tình huống cụ thể. Cho nên, pháp
luật cũng cho phép các cơ quan, cá nhân
có thẩm quyền được phép chuyển giao một
phần thẩm quyền của mình cho chủ thể khác
trong trường hợp thích hợp khi đủ điều kiện
nhằm đảm bảo thực hiện quyền lực hiệu quả
hơn. Việc chuyển giao thẩm quyền thường
được thực hiện thông qua một số phương
thức sau:
- Giao quyền là trường hợp người có
thẩm quyền chuyển một phần quyền hạn
của mình cho người khác thực hiện khi
được pháp luật quy định. Người được giao
quyền không được giao quyền tiếp3.
Như vậy, giao quyền rất giống với ủy
quyền. Trong các quy định của pháp luật
thì ủy quyền được nhắc đến nhiều hơn giao
quyền. Giao quyền (cũng như phân cấp, ủy
quyền nói chung) là cần thiết trong quản
lý. Thậm chí có ý kiến còn cho rằng, giao
quyền là kỹ năng cần thiết để quản lý hiệu
quả vì quản lý được hiểu là tạo thành quả
thông qua người khác. Nếu giao quyền
được thực hiện tốt thì không chỉ tạo điều
kiện cho người giao quyền có thể tập trung
vào những công việc quan trọng hơn mà
còn có thể phát huy tốt hơn năng lực của
người được giao quyền; vấn đề cần quan
tâm chỉ là giao quyền cho ai, giao quyền
gì và kiểm soát việc thực hiện quyền được
giao thế nào để đảm bảo việc thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn được giao tốt hơn so
với trường hợp không giao quyền4.
- Phân cấp là trường hợp cơ quan cấp
trên chuyển giao cho cơ quan cấp dưới thực
hiện liên tục, thường xuyên một hoặc một
số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền
của mình. Cơ quan được phân cấp có thể
phân cấp tiếp với sự đồng ý của cơ quan
phân cấp cho mình1.
“Giao quyền” (theo nghĩa chuyển giao
quyền hạn của mình cho người khác) được
quy định cụ thể trong Luật Xử lý vi phạm
hành chính năm 2012. Trong khi đó, Luật
Khiếu nại năm 2011 thì chỉ đơn giản gọi là
“giao” nhưng thực chất chính là giao quyền,
tức là người có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại chuyển giao cho chủ thể khác thực hiện
một số thẩm quyền được pháp luật quy định
giao cho mình.
- Ủy quyền là trường hợp cơ quan cấp
trên chuyển giao cho cơ quan cấp dưới hoặc
cơ quan, tổ chức khác thực hiện một, một số
nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong khoảng
thời gian nhất định kèm theo điều kiện cụ
thể. Cơ quan, tổ chức được ủy quyền không
được ủy quyền tiếp2.
1 Điều 13 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
2 Điều 14 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
3 Điều 54 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2020.
4
SprinGO Consultant, Bài hꢜc vꢈ giao viꢄc, ꢌy quyꢈn hiꢄu quꢋ, https://springo.vn/bai-hoc-ve-giao-viec-va-
uy-quyen-hieu-qua.
16
Số 13(437) - T7/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
2. Các trường hợp giao quyền trong giải
quyết khiếu nại
quan được thực hiện khi yêu cầu của người
khiếu nại khác với kết quả xác minh nội
dung khiếu nại. Đối với thủ tục giải quyết
khiếu nại lần hai thì tổ chức đối thoại là
khâu bắt buộc. Mục đích đối thoại là để làm
rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người
khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại. Tổ
chức đối thoại tạo cơ hội để người khiếu
nại, người bị khiếu nại, cơ quan, tổ chức
cá nhân có liên quan cung cấp thông tin,
tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung
khiếu nại, bày tỏ nguyện vọng, lập luận bảo
vệ quan điểm, ý kiến, quyết định, hành vi
của mình. Đây cũng là cơ hội để người giải
quyết khiếu nại hiểu rõ hơn, khách quan
hơn về nội dung khiếu nại.
- Xác minh, kết luận nội dung khiếu nại
Việc xác minh nội dung khiếu nại được
thực hiện nếu sau khi kiểm tra hành vi hành
chính, quyết định hành chính, quyết định kỷ
luật bị khiếu nại mà vẫn không đủ cơ sở để
kết luận nội dung khiếu nại. Khi đó, việc
xác minh nội dung khiếu nại có mục đích
tìm kiếm, đánh giá đầy đủ, chính xác thông
tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung
khiếu nại, qua đó kết luận nội dung khiếu
nại khách quan, chính xác. Người giải quyết
khiếu nại có thể tự mình xác minh, kết luận
nội dung khiếu nại hoặc giao cho cơ quan
thanh tra nhà nước cùng cấp hay cơ quan, tổ
chức, cá nhân khác xác minh, kết luận nội
dung khiếu nại5. Khi được giao quyền xác
minh, người được giao quyền có thẩm quyền
như người có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại, gồm: Ban hành Quyết định xác minh nội
dung khiếu nại6; kiểm tra, xác minh tại địa
điểm phát sinh khiếu nại hay thông qua các
tài liệu, chứng cứ; yêu cầu người khiếu nại,
người bị khiếu nại, người có liên quan cung
cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ; yêu cầu
người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có
liên quan giải trình về nội dung liên quan đến
khiếu nại; triệu tập người khiếu nại, người bị
khiếu nại, người có liên quan…7
Luật Khiếu nại năm 2011 không quy
định người giải quyết khiếu nại giao quyền
tổ chức đối thoại cho cơ quan, tổ chức,
cá nhân khác8. Tuy nhiên, khoản 1 Điều
28 Nghị định số 124/2020/NĐ-CP ngày
19/10/2020 (Nghị định số 124) quy định chi
tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật
Khiếu nại năm 2011 chia việc tổ chức đối
thoại lại thành hai trường hợp sau:
Thꢛ nhꢊt, trường hợp người giải quyết
khiếu nại phải trực tiếp tổ chức đối thoại gồm:
(1) Người giải quyết khiếu nại lần hai là
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Giám
đốc sở hoặc tương đương;
- Tổ chức đối thoại
(2) Người giải quyết khiếu nại lần hai là
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với
khiếu nại phức tạp9.
Trong quá trình giải quyết khiếu nại lần
đầu, việc tổ chức đối thoại với người khiếu
nại, người bị khiếu nại, người có quyền,
nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức có liên
5 Điều 29, Điều 38 Luật Khiếu nại năm 2011.
6 Điều 18 Nghị định số 124 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Khiếu nại năm 2011.
7 Điều 29 Luật Khiếu nại năm 2011.
8 Điều 30, Điều 39, Điều 53 Luật Khiếu nại năm 2011.
9 Điều 28 Nghị định số 124: Khiếu nại phức tạp là nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung, nhiều ý kiến
khác nhau của các cơ quan có thẩm quyền về biện pháp giải quyết, người khiếu nại có thái độ gay gắt, dư luận
xã hội quan tâm, vụ việc ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
Số 13(437) - T7/2021
17
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Thꢛ hai, đối với các trường hợp khác,
người giải quyết khiếu nại có thể phân công
cấp phó của mình hoặc thủ trưởng cơ quan
chuyên môn cùng cấp hoặc thủ trưởng cơ
quan, đơn vị trực thuộc được giao nhiệm vụ
xác minh đối thoại với người khiếu nại.
người khiếu nại, cho xã hội, làm giảm hiệu
lực, hiệu quả quản lý nhà nước10. Vì vậy, đôn
đốc, theo dõi, kiểm tra việc thi hành quyết
định giải quyết khiếu nại cần được tiến hành
sát sao nhằm đảm bảo quyết định giải quyết
khiếu nại được thi hành. Luật Khiếu nại năm
2011 không quy định người có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại phải tự mình hay có thể
giao quyền cho cơ quan, tổ chức khác đôn
đốc, theo dõi, kiểm tra việc thi hành quyết
định giải quyết khiếu nại có hiệu lực. Trong
khi đó, Nghị định số 124 quy định rõ vấn đề
này tại khoản 2 Điều 21.
Quy định trên đây cho thấy, tất cả các
trường hợp giải quyết khiếu nại lần đầu,
người giải quyết khiếu nại phải trực tiếp tổ
chức đối thoại, không được giao quyền tổ
chức đối thoại cho bất cứ ai. Trường hợp
giải quyết khiếu nại lần hai, tùy thuộc người
giải quyết khiếu nại giữ chức danh nào và
tính chất vụ việc khiếu nại như thế nào mà
người giải quyết khiếu nại phải tự mình
trực tiếp tổ chức đối thoại hay có thể giao
cho chủ thể khác tổ chức đối thoại. Trong
trường hợp được phép giao thì cơ quan, đơn
vị, cá nhân được giao tổ chức đối thoại có
quyền giống như người giải quyết khiếu nại
với vai trò là người chủ trì đối thoại.
3. Trách nhiệm liên quan đến giao quyền
trong giải quyết khiếu nại
Luật Khiếunạikhông trựctiếpquyđịnhvề
trách nhiệm của người giao quyền và người
được giao quyền trong giải quyết khiếu nại.
Tuy nhiên, theo nguyên lý chung, người giao
quyền có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra
việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mình
giao và chịu trách nhiệm về kết quả của việc
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó; người
được giao quyền phải chịu trách nhiệm trước
người giao quyền về việc thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn mà mình được giao11. Điều
này cũng được thể hiện gián tiếp thông qua
các quy định về xử lý vi phạm trong Nghị
định số 124. Theo Nghị định này, người được
giao quyền nếu có hành vi vi phạm pháp luật
thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà có
thể bị xử lý kỷ luật, bị truy cứu trách nhiệm
hình sự, phải bồi thường, bồi hoàn.
- Đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc thi
hành quyết định giải quyết khiếu nại có
hiệu lực pháp luật
Thi hành quyết định giải quyết khiếu nại
có hiệu lực pháp luật là khâu quan trọng, có
ý nghĩa quyết định giá trị thực tế của toàn
bộ quá trình giải quyết khiếu nại; đặc biệt,
trong trường hợp khiếu nại đúng và theo
quyết định giải quyết khiếu nại thì người
khiếu nại được khôi phục quyền, lợi ích đã
bị xâm hại bởi quyết định hành chính, hành
vi hành chính bị khiếu nại, nếu quyết định
giải quyết khiếu nại không được thi hành thì
các quyền, lợi ích đã bị xâm hại đó không có
cơ hội để khôi phục. Trên thực tế, cũng có
nhiều trường hợp quyết định giải quyết khiếu
nại không được thi hành đã gây bức xúc cho
Nghị định số 124 trực tiếp quy định một
số hành vi vi phạm kỷ luật và hình thức kỷ
luật đối với người có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại và người được giao nhiệm vụ xác
minh nội dung khiếu nại.
10 Nguyễn Thị Thúy Hồng, luận án tiến sĩ luật học “Thi hành quyết định giꢋi quyết khiếu nꢎi hành chꢂnh từ
thꢏc tiễn tỉnh Phú Yên”, Học viện Khoa học xã hội, 2019, tr.117-120.
11 Xem thêm Điều 13, Điều 14 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
18
Số 13(437) - T7/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Các hành vi vi phạm kỷ luật của người
có thẩm quyền giải quyết khiếu nại gồm12:
- Bao che cho người bị khiếu nại;
- Đe dọa trả thù, trù dập người khiếu nại,
người được ủy quyền khiếu nại, người bị
khiếu nại;
- Sách nhiễu, cản trở, gây khó khăn,
phiền hà cho người khiếu nại, người được
ủy quyền khiếu nại, người bị khiếu nại;
- Cố ý bỏ qua bằng chứng, bỏ lọt thông
tin, tài liệu hoặc làm sai lệch hồ sơ vụ việc
trong quá trình xác minh nội dung khiếu nại;
- Bao che cho người bị khiếu nại;
- Đe dọa trả thù, trù dập người khiếu nại,
người được ủy quyền khiếu nại, người bị
khiếu nại;
- Cố ý báo cáo sai lệch kết quả xác minh
nội dung khiếu nại dẫn đến quyết định giải
quyết khiếu nại sai gây mất ổn định nghiêm
trọng về an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc
gây hậu quả chết người.
- Cố ý không thụ lý đối với vụ việc thuộc
thẩm quyền của mình khi đủ điều kiện thụ lý;
- Cố ý bỏ qua bằng chứng, bỏ lọt thông
tin, tài liệu hoặc làm sai lệch hồ sơ vụ việc;
Các hành vi nêu trên là những vi phạm
được thực hiện trong quá trình người được
giao quyền thực hiện thẩm quyền được giao.
- Cố ý không ban hành quyết định giải
quyết khiếu nại hoặc cố ý ban hành quyết
định giải quyết khiếu nại trái pháp luật gây
mất ổn định nghiêm trọng về trật tự, an toàn
xã hội hoặc gây hậu quả chết người;
Nghị định này không quy định hành vi
vi phạm kỷ luật đối với người được giao
thực hiện việc tổ chức đối thoại và người
được giao theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc
thi hành quyết định giải quyết khiếu nại.
- Vi phạm nghiêm trọng thủ tục giải
quyết khiếu nại gây mất ổn định nghiêm
trọng về an ninh, trật tự xã hội hoặc gây hậu
quả chết người.
4. Nhận xét và kiến nghị
Thꢛ nhꢊt, quy định cꢌa Nghị định sꢅ 124
không thꢅng nhꢊt vꢓi Luꢐt Khiếu nꢎi năm 2011.
Như đã đề cập ở phần trên, theo quy định
của Nghị định số 124, có ba trường hợp,
trong quá trình giải quyết khiếu nại, người
có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có thể
tự mình thực hiện hoặc giao cho cơ quan, tổ
chức, cá nhân khác thực hiện. Trong khi đó,
Luật Khiếu nại năm 2011
Tất cả các hành vi nêu trên đều là hành vi
người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại vi
phạm khi trực tiếp thực hiện thẩm quyền của
mình trong quá trình giải quyết khiếu nại.
Không có hành vi nào trong số đó là hành
vi của người có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại với tư cách là người giao quyền cho
người khác thực hiện thẩm quyền của mình.
Không trực tiếp quy định người có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại có thẩm quyền
này. Để bảo đảm tính thống nhất của hệ
thống pháp luật, tác giả cho rằng, cần sửa
đổi Nghị định số 124 cho phù hợp với Luật
Khiếu nại năm 2011. Tuy nhiên, trên thực
tế, việc chuyển giao thẩm quyền như quy
định của Nghị định số 124 là hợp lý. Vì vậy,
Các hành vi vi phạm kỷ luật của người
được giao nhiệm vụ xác minh nội dung
khiếu nại gồm13:
- Sách nhiễu, cản trở, gây khó khăn,
phiền hà cho người khiếu nại, người được
ủy quyền khiếu nại, người bị khiếu nại;
12 Điều 40 Nghị định số 124.
13 Điều 41 Nghị định số 124.
Số 13(437) - T7/2021
19
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 13 - Năm 2021", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tap_chi_nghien_cuu_lap_phap_so_13_nam_2021.pdf

