Bàn về thủ tục áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài khoản tại ngân hàng
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
BÀN VỀ THỦ TꢀC ÁP DꢀNG, THAY ĐỔI, HỦY BỎ
BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI PHONG TỎA TÀI KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG
Hà Giang*
* Tòa án Quận Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ.
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Từ khóa: biện pháp khẩn cấp
tạm thời, phong tỏa tài khoản tại
ngân hàng, Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015.
Các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại Chương VIII Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015, trong đó có biện pháp phong tỏa tài khoản tại
ngân hàng. Trong quá trình giải quyết vụ án, để tránh việc tẩu tán tài sản và
đáp ứng nhu cầu của thực tiễn giải quyết tranh chấp dân sự là nhanh chóng,
kịp thời và an toàn pháp lý cho các bên đương sự, pháp luật đã quy định về
thủ tục áp dụng, thay đổi, hủy bỏ phong tỏa tài khoản tại ngân hàng. Tuy
nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy vẫn còn những vướng mắc nhất
định. Do đó, cần có những giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về
biện pháp phong tỏa tài khoản tại ngân hàng nhằm bảo đảm áp dụng pháp
luật được thống nhất, kịp thời, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 15/4/2021
: 25/4/2021
: 26/4/2021
Article Infomation:
Abstract:
Provisional emergency measures are specified in Chapter VIII of the
Civil Procedure Code of 2015, including measures of freezing accounts at
banks. In the process of resolving the case, if there are grounds to believe
that the obligor has an account at the bank and that the application of the
measure of freezing accounts at banks is necessary to keep the assets in
an account at the bank, all transactions with accounts are disabled to avoid
the dispersal of assets, contributing to the correct enforcement of the law,
meeting the needs of the practice of fast and timely civil dispute resolution
and legal safety for the involved parties. The law has provided for the
procedures for application, changing, cancellation of the application of
provisional emergency measures of freezing accounts at banks, however,
in practice there are still certain problems. Therefore, it is necessary to have
recommendations and solutions to contribute to a more unified application
of the law, to promptly protect the legitimate rights and interests of the
involved parties according to the provisional emergency measures.
Keywords:
Provisional
emergency measures; freezing
accounts at banks; the Civil
Procedure Code of 2015.
Article History:
Received
Edited
: 15 Apr. 2021
: 25 Apr. 2021
: 26 Apr. 2021
Approved
1. Thủ tục nhận và xꢀ lꢁ đơn yêu cầu áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp
tạm thời phong tỏa tài khoản tại ngân hàng
a) Thủ tục nhận và xử lý đơn yêu cầu áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong
tỏa tài khoản tại ngân hàng
khoản tại ngân hàng (TKNH) nói riêng là
một công cụ mà các bên tranh chấp được
sử dụng để bảo vệ các quyền và lợi ích của
mình một cách tạm thời cho đến khi vụ án
được giải quyết xong. Vì tính chất của việc
yêu cầu áp dụng biện pháp KCTT phong tỏa
TKNH bắt nguồn từ yêu cầu cấp bách, do
tình thế khẩn cấp nên thủ tục nhận và xử lý
Về bản chất, biện pháp khẩn cấp tạm thời
(KCTT) nói chung, biện pháp phong tỏa tài
Số 10(434) - T5/2021
39
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
đơn trong nhiều trường hợp cũng có sự khác
biệt, cụ thể như sau:
thực hiện biện pháp bảo đảm, nhưng người
yêu cầu phải xuất trình chứng cứ về việc đã
thực hiện xong trước khi HĐXX vào phòng
nghị án, nếu không chấp nhận thì HĐXX
phải thông báo ngay tại phòng xử án và ghi
vào biên bản phiên tòa.
Trường hợp 1: Đối với yêu áp dụng biện
pháp KCTT phong tỏa TKNH trong quá
trình giải quyết vụ án theo quy định của
khoản 1 Điều 111 Bộ luật TTDS năm 2015.
Theoquyđịnhcủađiểmckhoản1Điều10
Nghị quyết số 02, nếu tài liệu, chứng cứ để
chứng minh cho sự cần thiết áp dụng biện
pháp KCTT chưa đầy đủ, HĐXX tạm ngừng
phiên tòa theo quy định tại điểm c khoản 1
Điều 259 Bộ luật TTDS năm 2015 trong
thời hạn 02 ngày làm việc và đề nghị người
yêu cầu bổ sung chứng cứ.
Một là, Tòa án nhận đơn yêu cầu trước
khi mở phiên tòa thì Thẩm phán được phân
công giải quyết vụ án phải xem xét, giải
quyết. Do việc yêu cầu áp dụng biện pháp
KCTT phong tỏa TKNH nên bắt buộc phải
thực hiện biện pháp bảo đảm. Do đó, trong
thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận
đơn, ngay sau khi người đó thực hiện xong
biện pháp bảo đảm thì Thẩm phán phải ra
ngay quyết định áp dụng biện pháp KCTT;
nếu không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán
phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do
cho người yêu cầu1.
Trường hợp 2: Đối với yêu áp dụng biện
pháp KCTT phong tỏa TKNH đồng thời với
việc nộp đơn khởi kiện theo quy định của
khoản 2 Điều 111 Bộ luật TTDS năm 2015.
Theo đó, sau khi nhận được đơn yêu cầu
cùng với đơn khởi kiện và chứng cứ kèm
theo, Chánh án Tòa án phân công ngay một
Thẩm phán thụ lý giải quyết đơn yêu cầu.
Trong thời hạn 48 giờ, kể từ thời điểm nhận
được đơn yêu cầu, Thẩm phán phải xem xét
và ra quyết định áp dụng biện pháp KCTT;
nếu không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán
phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do
cho người yêu cầu biết2.
Theoquyđịnhcủađiểmakhoản1Điều10
Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP ngày
24/9/2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao (Nghị quyết số 02), nếu
tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu
cầu áp dụng chưa đầy đủ thì Thẩm phán yêu
cầu họ bổ sung trong thời hạn 24 giờ, kể
từ thời điểm nhận được yêu cầu của Thẩm
phán. Thẩm phán có thể hỏi thêm ý kiến
của họ. Như vậy, từ thời điểm nhận đơn cho
đến khi ra quyết định áp dụng biện pháp
KCTT phong tỏa TKNH có thể kéo dài
04 ngày.
Theo quy định của Điều 11 Nghị quyết
số 02, trường hợp nhận được đơn yêu cầu
áp dụng biện pháp KCTT ngoài giờ làm việc
(kể cả ngày nghỉ), người tiếp nhận đơn phải
báo cáo ngay với Chánh án Tòa án. Chánh
án phân công ngay một Thẩm phán thụ lý
giải quyết đơn. Trong thời hạn 48 giờ, kể từ
thời điểm nhận được đơn yêu cầu áp dụng
biện pháp KCTT phong tỏa TKNH, Thẩm
phán phải xem xét đơn khởi kiện và chứng
cứ kèm theo để xác định yêu cầu khởi kiện
có thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của
Tòa án đã nhận đơn hay không. Trường hợp
Hai là, khi Hội đồng xét xử (HĐXX)
nhận được đơn yêu cầu áp dụng biện pháp
KCTT tại phiên tòa thì HĐXX xem xét, thảo
luận, giải quyết tại phòng xử án. Nếu chấp
nhận, HĐXX ra quyết định áp dụng biện
pháp KCTT ngay hoặc sau khi người yêu
cầu đã thực hiện xong biện pháp bảo đảm.
Việc thực hiện biện pháp bảo đảm được bắt
đầu từ thời điểm HĐXX ra quyết định buộc
1 Khoản 2 Điều 133 Bộ luật TTDS năm 2015.
2 Khoản 3 Điều 133 Bộ luật TTDS năm 2015.
40
Số 10(434) - T5/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
yêu cầu khởi kiện thuộc thẩm quyền thì tiếp
tục xem xét giải quyết đơn yêu cầu áp dụng
biện pháp KCTT phong tỏa TKNH. Trường
hợp yêu cầu khởi kiện không thuộc thẩm
quyền thì trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu
áp dụng biện pháp KCTT và các chứng cứ
kèm theo.
Theo quy định tại Điều 139 Bộ luật
TTDS năm 2015, Quyết định áp dụng, thay
đổi, hủy bỏ biện pháp KCTT phong tỏa
TKNH có hiệu lực thi hành ngay. Tòa án
phải cấp hoặc gửi quyết định ngay sau khi
ra quyết định cho người có yêu cầu, người
bị áp dụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm
quyền và Viện kiểm sát cùng cấp.
b) Thủ tục thay đổi, hủy bỏ biện pháp
phong tỏa tài khoản tại ngân hàng
c) Các vấn đề cần lưu ý khi áp dụng,
thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm
thời phong tỏa tài khoản tại ngân hàng
Khi xét thấy biện pháp KCTT đang được
áp dụng không còn phù hợp mà cần thiết
phải thay đổi hoặc áp dụng bổ sung biện
pháp KCTT khác thì Tòa án ra ngay quyết
định hủy bỏ biện pháp KCTT đã được áp
dụng khi thuộc một trong các trường hợp
sau đây:
Thứ nhất, người yêu cầu áp dụng biện
pháp KCTT phong toản TKNH phải nộp
cho Tòa án chứng từ bảo lãnh được bảo đảm
bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín
dụng khác hoặc của cơ quan, tổ chức, cá
nhân khác hoặc gửi một khoản tiền, kim khí
quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Tòa án ấn
định nhưng phải tương đương với tổn thất
hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả
của việc áp dụng biện pháp KCTT không
đúng để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng
biện pháp KCTT và ngăn ngừa sự lạm dụng
quyền yêu cầu áp dụng biện pháp KCTT từ
phía người có quyền yêu cầu.
(i) Người yêu cầu áp dụng biện pháp
KCTT đề nghị hủy bỏ;
(ii) Người phải thi hành quyết định áp
dụng biện pháp KCTT nộp tài sản hoặc có
người khác thực hiện biện pháp bảo đảm thi
hành nghĩa vụ đối với bên có yêu cầu;
(iii) Nghĩa vụ dân sự của bên có nghĩa vụ
chấm dứt theo quy định của Bộ luật Dân sự;
(iv) Việc giải quyết vụ án được đình chỉ
theo quy định;
Bộ luật TTDS năm 2015 không quy định
như thế nào là phải tương đương với tổn thất
hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của
việc áp dụng biện pháp KCTT không đúng.
Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Điều 13
Nghị quyết số 02, để ấn định một khoản
tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá
tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể
phát sinh do hậu quả của việc áp dụng biện
pháp KCTT không đúng thì Thẩm phán hoặc
HĐXX phải dự kiến và tạm tính có tính chất
tương đối thiệt hại thực tế có thể xảy ra nhưng
không thấp hơn 20% giá trị tạm tính của tài
sản bị áp dụng biện pháp KCTT, trừ trường
hợp có chứng cứ rõ ràng chứng minh tổn thất
hoặc thiệt hại thấp hơn 20% giá trị tạm tính
của tài sản bị áp dụng biện pháp KCTT.
(v) Quyết định áp dụng biện pháp KCTT
không đúng theo quy định;
(vi) Căn cứ của việc áp dụng biện pháp
KCTT không còn;
(vii) Vụ việc đã được giải quyết bằng bản
án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật;
(viii) Các trường hợp Tòa án trả lại đơn
khởi kiện theo quy định của Bộ luật TTDS.
Trường hợp đã có bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật thì việc giải
quyết yêu cầu hủy quyết định áp dụng biện
pháp KCTT do một Thẩm phán được Chánh
án của Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện
pháp KCTT phân công giải quyết3.
3 Điều 137, Điều 138 Bộ luật TTDS năm 2015.
Số 10(434) - T5/2021
41
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
Việc dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế
có thể xảy ra tùy thuộc vào từng biện pháp
KCTT cụ thể, từng trường hợp cụ thể và
được thực hiện như sau:
và thông báo tên, địa chỉ của ngân hàng
mà mình lựa chọn cho Tòa án biết để ra
quyết định thực hiện biện pháp bảo đảm.
Thứ hai, theo quy định của khoản 4 Điều
133 Bộ luật TTDS năm 2015, chỉ được
phong tỏa tài khoản tương đương với nghĩa
vụ tài sản mà người bị áp dụng có nghĩa vụ
phải thực hiện. BLTTDS 2015 không quy
định như thế nào là tương đương với nghĩa
vụ tài sản mà người bị áp dụng có nghĩa vụ
phải thực hiện. Tuy nhiên, theo hướng dẫn
của Điều 12 Nghị quyết số 02, khi áp dụng
biện pháp KCTT phong tỏa TKNH cần phân
biệt như sau:
(i) Thẩm phán hoặc HĐXX đề nghị
người yêu cầu áp dụng biện pháp KCTT
dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể
xảy ra;
(ii) Dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế
có thể xảy ra phải được lập thành văn bản,
nêu rõ các khoản thiệt hại và mức thiệt hại
có thể xảy ra, các căn cứ, cơ sở của việc dự
kiến và tạm tính đó; nếu tại phiên tòa thì
không phải lập thành văn bản nhưng phải
ghi vào biên bản phiên tòa;
(i) Việc xác định nghĩa vụ tài sản mà
người bị áp dụng biện pháp KCTT có nghĩa
vụ thực hiện phải căn cứ theo đơn khởi
kiện, đơn phản tố của bị đơn và đơn yêu
cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan;
(iii) Thẩm phán hoặc HĐXX xem xét
các dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có
thể xảy ra, căn cứ vào các quy định của các
văn bản quy phạm pháp luật liên quan để ấn
định một khoản tiền, kim khí quý, đá quý
hoặc giấy tờ có giá và buộc người yêu cầu
áp dụng biện pháp KCTT thực hiện biện
pháp bảo đảm.
(ii) Tòa án chỉ được phong tỏa tài khoản
có giá trị bằng hoặc thấp hơn nghĩa vụ tài
sản mà người bị áp dụng biện pháp KCTT
có nghĩa vụ phải thực hiện. Người yêu cầu
áp dụng biện pháp KCTT có nghĩa vụ chứng
minh giá trị tài khoản bị phong tỏa. Người
yêu cầu áp dụng biện pháp KCTT phải chịu
trách nhiệm về tính trung thực, chính xác
của tài liệu liên quan đến việc xác định giá
trị tài khoản cần phong tỏa;
Theo quy định, khoản tiền, kim khí
quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá phải
được gửi vào tài khoản phong tỏa tại
ngân hàng nơi có trụ sở của Tòa án quyết
định áp dụng biện pháp KCTT trong thời
hạn do Tòa án ấn định. Trong trường hợp
thực hiện biện pháp bảo đảm vào ngày lễ
hoặc ngày nghỉ thì khoản tiền bảo đảm
được gửi giữ tại Tòa án. Tòa án phải làm
thủ tục giao nhận và gửi ngay khoản tiền
đó vào ngân hàng vào ngày làm việc tiếp
theo. Mặc dù, Bộ luật TTDS không quy
định trường hợp có nhiều ngân hàng nơi
có trụ sở của Tòa án cũng như thời hạn
thực hiện biện pháp bảo đảm. Tuy nhiên,
theo hướng dẫn của Điều 14 Nghị quyết
số 02, trường hợp nơi có trụ sở của Tòa
án quyết định áp dụng biện pháp KCTT
có nhiều ngân hàng, thì người phải thực
hiện biện pháp bảo đảm được lựa chọn
một ngân hàng trong số các ngân hàng đó
(iii) Trường hợp tài sản bị yêu cầu
phong tỏa là tài sản không thể phân chia
được (không thể phong tỏa một phần tài
sản) có giá trị cao hơn nghĩa vụ tài sản
mà người bị áp dụng biện pháp KCTT
có nghĩa vụ phải thực hiện theo đơn khởi
kiện, Tòa án giải thích cho người yêu cầu
biết để họ làm đơn yêu cầu áp dụng phong
tỏa tài sản khác hoặc áp dụng biện pháp
KCTT khác. Nếu họ vẫn giữ nguyên đơn
yêu cầu, Tòa án căn cứ vào khoản 4 Điều
133 của Bộ luật TTDS năm 2015 không
chấp nhận đơn yêu cầu áp dụng biện pháp
KCTT của họ.
42
Số 10(434) - T5/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
2. Thực tiễn áp dụng quy định của pháp
luật về biện pháp khẩn cấp tạm thời
phong tỏa tài khoản tại ngân hàng
thẩm áp dụng biện pháp KCTT như vậy là
không đúng quy định của pháp luật.
Cấp phúc thẩm nhận định: Tòa án cấp
sơ thẩm tuyên duy trì Quyết định áp dụng
biện pháp KCTT số 02/2016/QĐ-BPKCTT
ngày 15/8/2016, nhưng tuyên hủy bỏ Quyết
định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm. Mặt
khác, bị đơn là Công ty V là doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài, đang hoạt động
bình thường, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm áp
dụng biện pháp KCTT “phong tỏa tài khoản
tại ngân hàng” của bị đơn để bảo đảm cho
việc thi hành án là không đúng. Tòa án cấp
phúc thẩm, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
phúc thẩm, căn cứ vào đơn yêu cầu của bị
đơn và Điều 291 của Bộ luật TTDS năm
2015 đã ra quyết định hủy bỏ biện pháp
KCTT nêu trên. Từ đó, HĐXX cấp phúc
thẩm không xem xét việc áp dụng biện pháp
KCTT trong phần quyết định của bản án.
- Vụ việc thứ nhất: Tranh chấp hợp đồng
mua bán hàng hóa giữa nguyên đơn bà Ngô
ThịA, bị đơn Công ty V4. Giữa bàAvà Công
ty V có ký nhiều hợp đồng mua bán gà thịt.
Bà A đã bán cho Công ty V số lượng gà thịt
theo 02 đợt giao nhận nhưng Công ty V chưa
thanh toán tiền hàng là 3.329.247.562 đồng.
Nay bà A khởi kiện yêu cầu Công ty V phải
trả cho bà A tổng số tiền là 5.308.799.110
đồng. Trong đó, bao gồm: Tiền mua hàng
chưa thanh toán là: 3.329.247.562 đồng, tiền
bồi thường thiệt hại thực tế đã phát sinh là:
1.500.000.000 đồng, tiền phạt tương đương
8% giá trị hợp đồng do bị đơn vi phạm nghĩa
vụ thanh toán là 479.551.548 đồng.
Ngày 15/8/2016, Tòa án ban hành Quyết
địnhápdụngbiệnphápKCTTsố02/2016/QĐ-
BPKCTT, phong tỏa tài khoản của Công ty V
tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N - Chi
nhánh Long An với số tiền là 5.308.799.110
đồng (có buộc bà A thực hiện biện pháp bảo
đảm, số tiền 500.000.000 đồng).
- Vụ việc thứ hai: Tranh chấp liên quan
đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng
vô hiệu và yêu cầu hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn Công
ty TNHH H, bị đơn là bà Lê Thị C và ông
Nguyễn Ngọc Kh5. Theo đó, tài sản là quyền
sử dụng đất của bà Lê Thị C sẽ được dùng để
thi hành án theo bản án số 06/2014/KDTM-
ST ngày 30/9/2014 đã có hiệu lực của TAND
thị xã Đ, tỉnh Bình Phước đối với Công ty
H. Bà Lê Thị C chuyển nhượng tài sản này
cho Ông Nguyễn Ngọc Kh là hành vi tẩu tán
tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.
Vì Vậy, Công ty H yêu cầu Tòa án tuyên:
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa Bà Lê Thị C và Ông Nguyễn Ngọc Kh
là vô hiệu; hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
Theo Bản án sơ thẩm số 02/2017/DS-ST
ngày 19/01/2017 của TAND huyện B, tỉnh
Bình Dương tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn. Buộc Công ty V
phải thanh toán cho bà Ngô Thị A tổng số
tiền 5.308.799.110 đồng. Ngoài ra, bản án
còn tuyên về quyết định áp dụng BPKCTT.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện
Kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Bình
Dương có ý kiến: Đề nghị HĐXX chấp nhận
kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan hủy bản án sơ thẩm; trong
đó, phần quyết định của bản án sơ thẩm tuyên
giữ nguyên quyết định áp dụng biện pháp
KCTT nhưng tuyên hủy quyết định buộc
thực hiện biện pháp bảo đảm. Tòa án cấp sơ
Tại Bản án sơ thẩm số 10/2018/DS-ST
ngày 29/5/2018 của TAND thị xã Đ tuyên:
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn Công ty H; quyết định áp
4 Bản án số 16/2017/KDTM-PT ngày 25/9/2017 của TAND tỉnh Bình Dương.
5 Bản án số 111/2018/DS-PT ngày 30/10/2018 của TAND tỉnh Bình Phước.
Số 10(434) - T5/2021
43
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
dụng BPKCTT số 04/2018/QĐ-BPKCTT
ngày 19/4/2018 của TAND thị xã Đ sẽ hết
hiệu lực khi bản án này có hiệu lực pháp luật.
pháp KCTT phong tỏa TKNH ở giai đoạn
chuẩn bị xét xử phúc thẩm nên không cần
thiết phải hủy bản án sơ thẩm. Tuy nhiên,
bản án sơ thẩm tuyên giữ nguyên quyết định
áp dụng biện pháp KCTT nhưng tuyên hủy
quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo
đảm là không phù hợp.
Quan điểm của Đại diện VKSND tỉnh
Bình Phước: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản
4 Điều 308, Điều 311 của Bộ luật TTDS
năm 2015 hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ
giải quyết vụ án do đây là việc dân sự.
Hai là, giữa Tòa án cấp sơ thẩm và
Tòa án phúc thẩm chưa thống nhất về
việc tuyên áp dụng biện pháp KCTT. Cụ
thể, đối với vụ việc thứ hai, Tòa án cấp
sơ thẩm tuyên:“Quyết định áp dụng biện
pháp KCTT số 04/2018/QĐ-BPKCTT ngày
19/4/2018 của TAND thị xã Đ sẽ hết hiệu
lực khi bản án này có hiệu lực pháp luật”;
Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: “Hủy bỏ Quyết
định áp dụng biện pháp KCTT số 04/2018/
QĐ-BPBĐ ngày 17/4/2018 của TAND thị
xã Đ. Giải tỏa đối với tài khoản bị phong
tỏa: 0251002695943; Tên tài khoản: Công
ty TNHH H Việt Nam; Số tiền phong tỏa:
50.000.000 đồng theo xác nhận phong tỏa
tài khoản tại Ngân hàng TMCP N Việt Nam -
Chi nhánh Bình Phước ngày 19/4/2018”.
Cấp phúc thẩm nhận định, ý kiến của
đại diện VKSND tỉnh Bình Phước tại phiên
tòa phúc thẩm cho rằng đây là việc dân sự
nên cần hủy bản án sơ thẩm, đình chỉ xét xử
phúc thẩm là không phù hợp nên không được
chấp nhận. Tuyên: không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn Công ty H. Đồng
thời, hủy bỏ Quyết định áp dụng BPKCTT
số 04/2018/QĐ-BPBĐ ngày 17/4/2018 của
TAND thị xã Đ. Giải tỏa đối với tài khoản bị
phong tỏa: 0251002695943; Tên tài khoản:
Công ty TNHH H Việt Nam; Số tiền phong
tỏa: 50.000.000 đồng theo xác nhận phong tỏa
tài khoản tại Ngân hàng TMCP N Việt Nam -
Chi nhánh Bình Phước ngày 19/4/2018.
- Nhận xét:
Tác giả cho rằng, trong trường hợp này,
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là chưa
đúng pháp luật. Bởi lẽ, theo quy định của
khoản 1 Điều 139 Bộ luật TTDS năm 2015,
quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện
pháp KCTT có hiệu lực thi hành ngay. Tuy
nhiên, đương sự vẫn có quyền kháng cáo,
VKDND có quyền kháng nghị đối với quyết
định của Tòa án cấp sơ thẩm. Do đó, thời
điểm “hết hiệu lực khi bản án này có hiệu
lực pháp luật” và “có hiệu lực thi hành
ngay” là hai thời điểm hoàn toàn khác nhau
nên việc tuyên hủy bỏ quyết định áp dụng
biện pháp KCTT của cấp phúc thẩm nêu
trên là phù hợp.
Một là, giữa VKSND và Tòa án cấp phúc
thẩm chưa có sự thống nhất về cách nhận
định. Cụ thể, đối với vụ việc thứ nhất, đại diện
VKSND đề nghị hủy bản án sơ thẩm do phần
quyết định của bản án tuyên giữ nguyên quyết
định áp dụng biện pháp KCTT nhưng tuyên
hủy quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo
đảm là không đúng quy định của pháp luật.
Nhận định này của VKSND không được Tòa
án cấp phúc thẩm chấp nhận; bởi lẽ, trong giai
đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, căn cứ vào
đơn yêu cầu của bị đơn và Điều 291 Bộ luật
TTDS năm 2015, Tòa án cấp phúc thẩm đã ra
quyết định hủy bỏ biện pháp KCTT nêu trên.
Từ đó, HĐXX cấp phúc thẩm không xem xét
việc áp dụng biện pháp KCTT trong phần
quyết định của bản án.
Theo hướng dẫn của Nghị quyết số 02,
Tòa án áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp
KCTT trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên
tòa bằng một quyết định riêng và phải ghi
rõ trong bản án. Việc Tòa án cấp phúc thẩm
Tác giả cho rằng, nhận định của Tòa án
cấp phúc thẩm như trên là đúng pháp luật.
Bởi lẽ, Tòa án cấp phúc thẩm đã hủy bỏ biện
44
Số 10(434) - T5/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
không ban hành quyết định riêng là không
đúng quy định6.
Thẩm phán là có sai lầm hoặc không đúng
pháp luật mà không cần thiết phải thay thế
bằng một biện pháp KCTT khác thì để đảm
bảo quyền lợi chính đáng của người bị áp
dụng biện pháp KCTT, Tòa án phải thay
đổi, hủy bỏ quyết định đã áp dụng7. Xét về
hiệu lực quyết định áp dụng, thay đổi, hủy
bỏ biện pháp KCTT là loại quyết định đặc
thù trong TTDS, có hiệu lực thi hành ngay
và không thể bị kháng cáo, kháng nghị. Tuy
vậy, đương sự vẫn có quyền khiếu nại đối
với quyết định này nếu không đồng ý với
quyết định để được xem xét lại việc ra quyết
định8. Tuy nhiên, việc không quy định thời
điểm chấm dứt hiệu lực của quyết định là
còn thiếu sót, dẫn đến nhiều cách hiểu và áp
dụng trên thực tiễn khác nhau.
Ba là, giữa các cấp tòa và VKSND không
thống nhất cách hiểu về bản chất vụ việc nên
dẫn đến đường lối giải quyết khác nhau. Cụ
thể, đối với vụ việc thứ hai, Tòa án cấp sơ
thẩm xác định giữa các bên có sự tranh chấp
nên áp dụng trình tự, thủ tục giải quyết vụ
án, nên trường hợp này Tòa án cấp sơ thẩm
được áp dụng biện pháp KCTT. Tuy nhiên,
quan điểm của VKSND lại cho rằng, yêu
cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
là việc dân sự nên không được áp dụng biện
pháp KCTT đề nghị hủy bản án sơ thẩm và
đình chỉ giải quyết vụ án; Tòa án cấp phúc
thẩm lại nhận định rằng, có tranh chấp nên
không phải là việc dân sự, từ đó không chấp
nhận đề nghị của VKSND.
3. Kiến nghị
Để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp
luật về áp dụng biện pháp KCTT phong
tỏa TKNH trên thực tiến, tác giả kiến nghị
TANDTC cần tiếp tục hướng dẫn về thời
điểm chấm dứt hiệu lực của quyết định áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp KCTT;
theo đó, hiệu lực của quyết định sẽ đương
nhiên chấm dứt trong các trường hợp
sau đây:
Tác giả cho rằng, nhận định của Tòa án
cấp phúc thẩm là phù hợp với bản chất của
vụ việc. Bởi lẽ, giữa các bên, ngoài tranh
chấp liên quan đến văn bản công chứng,
còn có tranh chấp liên quan đến giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Do đó, theo quy
định của Điều 26 Bộ luật TTDS năm 2015,
đây thuộc trường hợp những tranh chấp về
dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án
cấp phúc thẩm xem xét áp dụng biện pháp
KCTT là có căn cứ.
Thứ nhất, trường hợp bản án đã quyết
định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
hoặc yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập
mà người khởi kiện, người phản tố hoặc
người có yêu cầu độc lập chính là người
đã yêu cầu áp dụng biện pháp KCTT
phong tỏa TKNH.
Tuy nhiên, Bộ luật TTDS năm 2015 cũng
như Nghị quyết số 02 không quy định thời
điểm chấm dứt hiệu lực của quyết định áp
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp KCTT.
Điều này dẫn đến nhiều cách hiểu và xử lý
khác nhau như những trường hợp đã phân
tích nêu trên. Tác giả cho rằng, xét về mặt
thực tế nếu như sau khi ra quyết định áp
dụng biện pháp KCTT mà quyết định của
Thứ hai, trường hợp bản án đã quyết định
chấp nhận yêu cầu khởi kiện hoặc yêu cầu
phản tố hoặc yêu cầu độc lập thì tính đến
thời điểm có quyết định thi hành án của cơ
quan thi hành án
6 Khoản 1 Điều 19 Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP.
7 Trần Anh Tuấn, Chế định BPKCTT trong BLTTDS Việt Nam, Trường Đại học Kiểm sát, https://tks.edu.vn/
thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/81/401, truy cập ngày 07/3/2021.
8 Đoàn Tấn Minh, Nguyễn Ngọc Điệp (2016), Bình luận khoa học Bộ luật TTDS năm 2015, Nxb. Lao động,
tr.132.
Số 10(434) - T5/2021
45
Bạn đang xem tài liệu "Bàn về thủ tục áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài khoản tại ngân hàng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
ban_ve_thu_tuc_ap_dung_thay_doi_huy_bo_bien_phap_khan_cap_ta.pdf

