Bàn về thủ tục áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài khoản tại ngân hàng

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
BÀN VỀ THỦ TꢀC ÁP DꢀNG, THAY ĐỔI, HỦY BỎ  
BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI PHONG TỎA TÀI KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG  
Hà Giang*  
* Tòa án Quận Thốt Nốt, Thành phố Cần Thơ.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: biện pháp khẩn cấp  
tạm thời, phong tỏa tài khoản tại  
ngân hàng, Bộ luật Tố tụng dân  
sự năm 2015.  
Các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại Chương VIII Bộ luật  
Tố tụng dân sự năm 2015, trong đó có biện pháp phong tỏa tài khoản tại  
ngân hàng. Trong quá trình giải quyết vụ án, để tránh việc tẩu tán tài sản và  
đáp ứng nhu cầu của thực tiễn giải quyết tranh chấp dân sự là nhanh chóng,  
kịp thời và an toàn pháp lý cho các bên đương sự, pháp luật đã quy định về  
thủ tục áp dụng, thay đổi, hủy bỏ phong tỏa tài khoản tại ngân hàng. Tuy  
nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy vẫn còn những vướng mắc nhất  
định. Do đó, cần có những giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về  
biện pháp phong tỏa tài khoản tại ngân hàng nhằm bảo đảm áp dụng pháp  
luật được thống nhất, kịp thời, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 15/4/2021  
: 25/4/2021  
: 26/4/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Provisional emergency measures are specified in Chapter VIII of the  
Civil Procedure Code of 2015, including measures of freezing accounts at  
banks. In the process of resolving the case, if there are grounds to believe  
that the obligor has an account at the bank and that the application of the  
measure of freezing accounts at banks is necessary to keep the assets in  
an account at the bank, all transactions with accounts are disabled to avoid  
the dispersal of assets, contributing to the correct enforcement of the law,  
meeting the needs of the practice of fast and timely civil dispute resolution  
and legal safety for the involved parties. The law has provided for the  
procedures for application, changing, cancellation of the application of  
provisional emergency measures of freezing accounts at banks, however,  
in practice there are still certain problems. Therefore, it is necessary to have  
recommendations and solutions to contribute to a more unified application  
of the law, to promptly protect the legitimate rights and interests of the  
involved parties according to the provisional emergency measures.  
Keywords:  
Provisional  
emergency measures; freezing  
accounts at banks; the Civil  
Procedure Code of 2015.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 15 Apr. 2021  
: 25 Apr. 2021  
: 26 Apr. 2021  
Approved  
1. Thủ tục nhận và xꢀ lꢁ đơn yêu cầu áp  
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp  
tạm thời phong tỏa tài khoản tại ngân hàng  
a) Thủ tục nhận và xử lý đơn yêu cầu áp  
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong  
tỏa tài khoản tại ngân hàng  
khoản tại ngân hàng (TKNH) nói riêng là  
một công cụ mà các bên tranh chấp được  
sử dụng để bảo vệ các quyền và lợi ích của  
mình một cách tạm thời cho đến khi vụ án  
được giải quyết xong. Vì tính chất của việc  
yêu cầu áp dụng biện pháp KCTT phong tỏa  
TKNH bắt nguồn từ yêu cầu cấp bách, do  
tình thế khẩn cấp nên thủ tục nhận và xử lý  
Về bản chất, biện pháp khẩn cấp tạm thời  
(KCTT) nói chung, biện pháp phong tỏa tài  
Số 10(434) - T5/2021  
39  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
đơn trong nhiều trường hợp cũng có sự khác  
biệt, cụ thể như sau:  
thực hiện biện pháp bảo đảm, nhưng người  
yêu cầu phải xuất trình chứng cứ về việc đã  
thực hiện xong trước khi HĐXX vào phòng  
nghị án, nếu không chấp nhận thì HĐXX  
phải thông báo ngay tại phòng xử án và ghi  
vào biên bản phiên tòa.  
Trường hợp 1: Đối với yêu áp dụng biện  
pháp KCTT phong tỏa TKNH trong quá  
trình giải quyết vụ án theo quy định của  
khoản 1 Điều 111 Bộ luật TTDS năm 2015.  
Theoquyđịnhcủađiểmckhoản1Điều10  
Nghị quyết số 02, nếu tài liệu, chứng cứ để  
chứng minh cho sự cần thiết áp dụng biện  
pháp KCTT chưa đầy đủ, HĐXX tạm ngừng  
phiên tòa theo quy định tại điểm c khoản 1  
Điều 259 Bộ luật TTDS năm 2015 trong  
thời hạn 02 ngày làm việc và đề nghị người  
yêu cầu bổ sung chứng cứ.  
Một là, Tòa án nhận đơn yêu cầu trước  
khi mở phiên tòa thì Thẩm phán được phân  
công giải quyết vụ án phải xem xét, giải  
quyết. Do việc yêu cầu áp dụng biện pháp  
KCTT phong tỏa TKNH nên bắt buộc phải  
thực hiện biện pháp bảo đảm. Do đó, trong  
thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận  
đơn, ngay sau khi người đó thực hiện xong  
biện pháp bảo đảm thì Thẩm phán phải ra  
ngay quyết định áp dụng biện pháp KCTT;  
nếu không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán  
phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do  
cho người yêu cầu1.  
Trường hợp 2: Đối với yêu áp dụng biện  
pháp KCTT phong tỏa TKNH đồng thời với  
việc nộp đơn khởi kiện theo quy định của  
khoản 2 Điều 111 Bộ luật TTDS năm 2015.  
Theo đó, sau khi nhận được đơn yêu cầu  
cùng với đơn khởi kiện và chứng cứ kèm  
theo, Chánh án Tòa án phân công ngay một  
Thẩm phán thụ lý giải quyết đơn yêu cầu.  
Trong thời hạn 48 giờ, kể từ thời điểm nhận  
được đơn yêu cầu, Thẩm phán phải xem xét  
và ra quyết định áp dụng biện pháp KCTT;  
nếu không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán  
phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do  
cho người yêu cầu biết2.  
Theoquyđịnhcủađiểmakhoản1Điều10  
Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP ngày  
24/9/2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án  
nhân dân tối cao (Nghị quyết số 02), nếu  
tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu  
cầu áp dụng chưa đầy đủ thì Thẩm phán yêu  
cầu họ bổ sung trong thời hạn 24 giờ, kể  
từ thời điểm nhận được yêu cầu của Thẩm  
phán. Thẩm phán có thể hỏi thêm ý kiến  
của họ. Như vậy, từ thời điểm nhận đơn cho  
đến khi ra quyết định áp dụng biện pháp  
KCTT phong tỏa TKNH có thể kéo dài  
04 ngày.  
Theo quy định của Điều 11 Nghị quyết  
số 02, trường hợp nhận được đơn yêu cầu  
áp dụng biện pháp KCTT ngoài giờ làm việc  
(kể cả ngày nghỉ), người tiếp nhận đơn phải  
báo cáo ngay với Chánh án Tòa án. Chánh  
án phân công ngay một Thẩm phán thụ lý  
giải quyết đơn. Trong thời hạn 48 giờ, kể từ  
thời điểm nhận được đơn yêu cầu áp dụng  
biện pháp KCTT phong tỏa TKNH, Thẩm  
phán phải xem xét đơn khởi kiện và chứng  
cứ kèm theo để xác định yêu cầu khởi kiện  
có thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của  
Tòa án đã nhận đơn hay không. Trường hợp  
Hai là, khi Hội đồng xét xử (HĐXX)  
nhận được đơn yêu cầu áp dụng biện pháp  
KCTT tại phiên tòa thì HĐXX xem xét, thảo  
luận, giải quyết tại phòng xử án. Nếu chấp  
nhận, HĐXX ra quyết định áp dụng biện  
pháp KCTT ngay hoặc sau khi người yêu  
cầu đã thực hiện xong biện pháp bảo đảm.  
Việc thực hiện biện pháp bảo đảm được bắt  
đầu từ thời điểm HĐXX ra quyết định buộc  
1 Khoản 2 Điều 133 Bộ luật TTDS năm 2015.  
2 Khoản 3 Điều 133 Bộ luật TTDS năm 2015.  
40  
Số 10(434) - T5/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
yêu cầu khởi kiện thuộc thẩm quyền thì tiếp  
tục xem xét giải quyết đơn yêu cầu áp dụng  
biện pháp KCTT phong tỏa TKNH. Trường  
hợp yêu cầu khởi kiện không thuộc thẩm  
quyền thì trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu  
áp dụng biện pháp KCTT và các chứng cứ  
kèm theo.  
Theo quy định tại Điều 139 Bộ luật  
TTDS năm 2015, Quyết định áp dụng, thay  
đổi, hủy bỏ biện pháp KCTT phong tỏa  
TKNH có hiệu lực thi hành ngay. Tòa án  
phải cấp hoặc gửi quyết định ngay sau khi  
ra quyết định cho người có yêu cầu, người  
bị áp dụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên  
quan, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm  
quyền và Viện kiểm sát cùng cấp.  
b) Thủ tục thay đổi, hủy bỏ biện pháp  
phong tỏa tài khoản tại ngân hàng  
c) Các vấn đề cần lưu ý khi áp dụng,  
thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm  
thời phong tỏa tài khoản tại ngân hàng  
Khi xét thấy biện pháp KCTT đang được  
áp dụng không còn phù hợp mà cần thiết  
phải thay đổi hoặc áp dụng bổ sung biện  
pháp KCTT khác thì Tòa án ra ngay quyết  
định hủy bỏ biện pháp KCTT đã được áp  
dụng khi thuộc một trong các trường hợp  
sau đây:  
Thứ nhất, người yêu cầu áp dụng biện  
pháp KCTT phong toản TKNH phải nộp  
cho Tòa án chứng từ bảo lãnh được bảo đảm  
bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín  
dụng khác hoặc của cơ quan, tổ chức, cá  
nhân khác hoặc gửi một khoản tiền, kim khí  
quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Tòa án ấn  
định nhưng phải tương đương với tổn thất  
hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả  
của việc áp dụng biện pháp KCTT không  
đúng để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng  
biện pháp KCTT và ngăn ngừa sự lạm dụng  
quyền yêu cầu áp dụng biện pháp KCTT từ  
phía người có quyền yêu cầu.  
(i) Người yêu cầu áp dụng biện pháp  
KCTT đề nghị hủy bỏ;  
(ii) Người phải thi hành quyết định áp  
dụng biện pháp KCTT nộp tài sản hoặc có  
người khác thực hiện biện pháp bảo đảm thi  
hành nghĩa vụ đối với bên có yêu cầu;  
(iii) Nghĩa vụ dân sự của bên có nghĩa vụ  
chấm dứt theo quy định của Bộ luật Dân sự;  
(iv) Việc giải quyết vụ án được đình chỉ  
theo quy định;  
Bộ luật TTDS năm 2015 không quy định  
như thế nào là phải tương đương với tổn thất  
hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của  
việc áp dụng biện pháp KCTT không đúng.  
Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Điều 13  
Nghị quyết số 02, để ấn định một khoản  
tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá  
tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể  
phát sinh do hậu quả của việc áp dụng biện  
pháp KCTT không đúng thì Thẩm phán hoặc  
HĐXX phải dự kiến và tạm tính có tính chất  
tương đối thiệt hại thực tế có thể xảy ra nhưng  
không thấp hơn 20% giá trị tạm tính của tài  
sản bị áp dụng biện pháp KCTT, trừ trường  
hợp có chứng cứ rõ ràng chứng minh tổn thất  
hoặc thiệt hại thấp hơn 20% giá trị tạm tính  
của tài sản bị áp dụng biện pháp KCTT.  
(v) Quyết định áp dụng biện pháp KCTT  
không đúng theo quy định;  
(vi) Căn cứ của việc áp dụng biện pháp  
KCTT không còn;  
(vii) Vụ việc đã được giải quyết bằng bản  
án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực  
pháp luật;  
(viii) Các trường hợp Tòa án trả lại đơn  
khởi kiện theo quy định của Bộ luật TTDS.  
Trường hợp đã có bản án, quyết định của  
Tòa án có hiệu lực pháp luật thì việc giải  
quyết yêu cầu hủy quyết định áp dụng biện  
pháp KCTT do một Thẩm phán được Chánh  
án của Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện  
pháp KCTT phân công giải quyết3.  
3 Điều 137, Điều 138 Bộ luật TTDS năm 2015.  
Số 10(434) - T5/2021  
41  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Việc dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế  
có thể xảy ra tùy thuộc vào từng biện pháp  
KCTT cụ thể, từng trường hợp cụ thể và  
được thực hiện như sau:  
và thông báo tên, địa chỉ của ngân hàng  
mà mình lựa chọn cho Tòa án biết để ra  
quyết định thực hiện biện pháp bảo đảm.  
Thứ hai, theo quy định của khoản 4 Điều  
133 Bộ luật TTDS năm 2015, chỉ được  
phong tỏa tài khoản tương đương với nghĩa  
vụ tài sản mà người bị áp dụng có nghĩa vụ  
phải thực hiện. BLTTDS 2015 không quy  
định như thế nào là tương đương với nghĩa  
vụ tài sản mà người bị áp dụng có nghĩa vụ  
phải thực hiện. Tuy nhiên, theo hướng dẫn  
của Điều 12 Nghị quyết số 02, khi áp dụng  
biện pháp KCTT phong tỏa TKNH cần phân  
biệt như sau:  
(i) Thẩm phán hoặc HĐXX đề nghị  
người yêu cầu áp dụng biện pháp KCTT  
dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể  
xảy ra;  
(ii) Dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế  
có thể xảy ra phải được lập thành văn bản,  
nêu rõ các khoản thiệt hại và mức thiệt hại  
có thể xảy ra, các căn cứ, cơ sở của việc dự  
kiến và tạm tính đó; nếu tại phiên tòa thì  
không phải lập thành văn bản nhưng phải  
ghi vào biên bản phiên tòa;  
(i) Việc xác định nghĩa vụ tài sản mà  
người bị áp dụng biện pháp KCTT có nghĩa  
vụ thực hiện phải căn cứ theo đơn khởi  
kiện, đơn phản tố của bị đơn và đơn yêu  
cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa  
vụ liên quan;  
(iii) Thẩm phán hoặc HĐXX xem xét  
các dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có  
thể xảy ra, căn cứ vào các quy định của các  
văn bản quy phạm pháp luật liên quan để ấn  
định một khoản tiền, kim khí quý, đá quý  
hoặc giấy tờ có giá và buộc người yêu cầu  
áp dụng biện pháp KCTT thực hiện biện  
pháp bảo đảm.  
(ii) Tòa án chỉ được phong tỏa tài khoản  
có giá trị bằng hoặc thấp hơn nghĩa vụ tài  
sản mà người bị áp dụng biện pháp KCTT  
có nghĩa vụ phải thực hiện. Người yêu cầu  
áp dụng biện pháp KCTT có nghĩa vụ chứng  
minh giá trị tài khoản bị phong tỏa. Người  
yêu cầu áp dụng biện pháp KCTT phải chịu  
trách nhiệm về tính trung thực, chính xác  
của tài liệu liên quan đến việc xác định giá  
trị tài khoản cần phong tỏa;  
Theo quy định, khoản tiền, kim khí  
quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá phải  
được gửi vào tài khoản phong tỏa tại  
ngân hàng nơi có trụ sở của Tòa án quyết  
định áp dụng biện pháp KCTT trong thời  
hạn do Tòa án ấn định. Trong trường hợp  
thực hiện biện pháp bảo đảm vào ngày lễ  
hoặc ngày nghỉ thì khoản tiền bảo đảm  
được gửi giữ tại Tòa án. Tòa án phải làm  
thủ tục giao nhận và gửi ngay khoản tiền  
đó vào ngân hàng vào ngày làm việc tiếp  
theo. Mặc dù, Bộ luật TTDS không quy  
định trường hợp có nhiều ngân hàng nơi  
có trụ sở của Tòa án cũng như thời hạn  
thực hiện biện pháp bảo đảm. Tuy nhiên,  
theo hướng dẫn của Điều 14 Nghị quyết  
số 02, trường hợp nơi có trụ sở của Tòa  
án quyết định áp dụng biện pháp KCTT  
có nhiều ngân hàng, thì người phải thực  
hiện biện pháp bảo đảm được lựa chọn  
một ngân hàng trong số các ngân hàng đó  
(iii) Trường hợp tài sản bị yêu cầu  
phong tỏa là tài sản không thể phân chia  
được (không thể phong tỏa một phần tài  
sản) có giá trị cao hơn nghĩa vụ tài sản  
mà người bị áp dụng biện pháp KCTT  
có nghĩa vụ phải thực hiện theo đơn khởi  
kiện, Tòa án giải thích cho người yêu cầu  
biết để họ làm đơn yêu cầu áp dụng phong  
tỏa tài sản khác hoặc áp dụng biện pháp  
KCTT khác. Nếu họ vẫn giữ nguyên đơn  
yêu cầu, Tòa án căn cứ vào khoản 4 Điều  
133 của Bộ luật TTDS năm 2015 không  
chấp nhận đơn yêu cầu áp dụng biện pháp  
KCTT của họ.  
42  
Số 10(434) - T5/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
2. Thực tiễn áp dụng quy định của pháp  
luật về biện pháp khẩn cấp tạm thời  
phong tỏa tài khoản tại ngân hàng  
thẩm áp dụng biện pháp KCTT như vậy là  
không đúng quy định của pháp luật.  
Cấp phúc thẩm nhận định: Tòa án cấp  
sơ thẩm tuyên duy trì Quyết định áp dụng  
biện pháp KCTT số 02/2016/QĐ-BPKCTT  
ngày 15/8/2016, nhưng tuyên hủy bỏ Quyết  
định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm. Mặt  
khác, bị đơn là Công ty V là doanh nghiệp  
có vốn đầu tư nước ngoài, đang hoạt động  
bình thường, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm áp  
dụng biện pháp KCTT “phong tỏa tài khoản  
tại ngân hàng” của bị đơn để bảo đảm cho  
việc thi hành án là không đúng. Tòa án cấp  
phúc thẩm, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử  
phúc thẩm, căn cứ vào đơn yêu cầu của bị  
đơn và Điều 291 của Bộ luật TTDS năm  
2015 đã ra quyết định hủy bỏ biện pháp  
KCTT nêu trên. Từ đó, HĐXX cấp phúc  
thẩm không xem xét việc áp dụng biện pháp  
KCTT trong phần quyết định của bản án.  
- Vụ việc thứ nhất: Tranh chấp hợp đồng  
mua bán hàng hóa giữa nguyên đơn bà Ngô  
ThịA, bị đơn Công ty V4. Giữa bàAvà Công  
ty V có ký nhiều hợp đồng mua bán gà thịt.  
Bà A đã bán cho Công ty V số lượng gà thịt  
theo 02 đợt giao nhận nhưng Công ty V chưa  
thanh toán tiền hàng là 3.329.247.562 đồng.  
Nay bà A khởi kiện yêu cầu Công ty V phải  
trả cho bà A tổng số tiền là 5.308.799.110  
đồng. Trong đó, bao gồm: Tiền mua hàng  
chưa thanh toán là: 3.329.247.562 đồng, tiền  
bồi thường thiệt hại thực tế đã phát sinh là:  
1.500.000.000 đồng, tiền phạt tương đương  
8% giá trị hợp đồng do bị đơn vi phạm nghĩa  
vụ thanh toán là 479.551.548 đồng.  
Ngày 15/8/2016, Tòa án ban hành Quyết  
địnhápdụngbiệnphápKCTTsố02/2016/QĐ-  
BPKCTT, phong tỏa tài khoản của Công ty V  
tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N - Chi  
nhánh Long An với số tiền là 5.308.799.110  
đồng (có buộc bà A thực hiện biện pháp bảo  
đảm, số tiền 500.000.000 đồng).  
- Vụ việc thứ hai: Tranh chấp liên quan  
đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng  
vô hiệu và yêu cầu hủy giấy chứng nhận  
quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn Công  
ty TNHH H, bị đơn là bà Lê Thị C và ông  
Nguyễn Ngọc Kh5. Theo đó, tài sản là quyền  
sử dụng đất của bà Lê Thị C sẽ được dùng để  
thi hành án theo bản án số 06/2014/KDTM-  
ST ngày 30/9/2014 đã có hiệu lực của TAND  
thị xã Đ, tỉnh Bình Phước đối với Công ty  
H. Bà Lê Thị C chuyển nhượng tài sản này  
cho Ông Nguyễn Ngọc Kh là hành vi tẩu tán  
tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.  
Vì Vậy, Công ty H yêu cầu Tòa án tuyên:  
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất  
giữa Bà Lê Thị C và Ông Nguyễn Ngọc Kh  
là vô hiệu; hủy giấy chứng nhận quyền sử  
dụng đất và tài sản gắn liền với đất.  
Theo Bản án sơ thẩm số 02/2017/DS-ST  
ngày 19/01/2017 của TAND huyện B, tỉnh  
Bình Dương tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu  
khởi kiện của nguyên đơn. Buộc Công ty V  
phải thanh toán cho bà Ngô Thị A tổng số  
tiền 5.308.799.110 đồng. Ngoài ra, bản án  
còn tuyên về quyết định áp dụng BPKCTT.  
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện  
Kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Bình  
Dương có ý kiến: Đề nghị HĐXX chấp nhận  
kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi,  
nghĩa vụ liên quan hủy bản án sơ thẩm; trong  
đó, phần quyết định của bản án sơ thẩm tuyên  
giữ nguyên quyết định áp dụng biện pháp  
KCTT nhưng tuyên hủy quyết định buộc  
thực hiện biện pháp bảo đảm. Tòa án cấp sơ  
Tại Bản án sơ thẩm số 10/2018/DS-ST  
ngày 29/5/2018 của TAND thị xã Đ tuyên:  
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện  
của nguyên đơn Công ty H; quyết định áp  
4 Bản án số 16/2017/KDTM-PT ngày 25/9/2017 của TAND tỉnh Bình Dương.  
5 Bản án số 111/2018/DS-PT ngày 30/10/2018 của TAND tỉnh Bình Phước.  
Số 10(434) - T5/2021  
43  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
dụng BPKCTT số 04/2018/QĐ-BPKCTT  
ngày 19/4/2018 của TAND thị xã Đ sẽ hết  
hiệu lực khi bản án này có hiệu lực pháp luật.  
pháp KCTT phong tỏa TKNH ở giai đoạn  
chuẩn bị xét xử phúc thẩm nên không cần  
thiết phải hủy bản án sơ thẩm. Tuy nhiên,  
bản án sơ thẩm tuyên giữ nguyên quyết định  
áp dụng biện pháp KCTT nhưng tuyên hủy  
quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo  
đảm là không phù hợp.  
Quan điểm của Đại diện VKSND tỉnh  
Bình Phước: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản  
4 Điều 308, Điều 311 của Bộ luật TTDS  
năm 2015 hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ  
giải quyết vụ án do đây là việc dân sự.  
Hai là, giữa Tòa án cấp sơ thẩm và  
Tòa án phúc thẩm chưa thống nhất về  
việc tuyên áp dụng biện pháp KCTT. Cụ  
thể, đối với vụ việc thứ hai, Tòa án cấp  
sơ thẩm tuyên:“Quyết định áp dụng biện  
pháp KCTT số 04/2018/QĐ-BPKCTT ngày  
19/4/2018 của TAND thị xã Đ sẽ hết hiệu  
lực khi bản án này có hiệu lực pháp luật”;  
Tòa án cấp phúc thẩm tuyên: “Hủy bỏ Quyết  
định áp dụng biện pháp KCTT số 04/2018/  
QĐ-BPBĐ ngày 17/4/2018 của TAND thị  
xã Đ. Giải tỏa đối với tài khoản bị phong  
tỏa: 0251002695943; Tên tài khoản: Công  
ty TNHH H Việt Nam; Số tiền phong tỏa:  
50.000.000 đồng theo xác nhận phong tỏa  
tài khoản tại Ngân hàng TMCP N Việt Nam -  
Chi nhánh Bình Phước ngày 19/4/2018”.  
Cấp phúc thẩm nhận định, ý kiến của  
đại diện VKSND tỉnh Bình Phước tại phiên  
tòa phúc thẩm cho rằng đây là việc dân sự  
nên cần hủy bản án sơ thẩm, đình chỉ xét xử  
phúc thẩm là không phù hợp nên không được  
chấp nhận. Tuyên: không chấp nhận yêu cầu  
khởi kiện của nguyên đơn Công ty H. Đồng  
thời, hủy bỏ Quyết định áp dụng BPKCTT  
số 04/2018/QĐ-BPBĐ ngày 17/4/2018 của  
TAND thị xã Đ. Giải tỏa đối với tài khoản bị  
phong tỏa: 0251002695943; Tên tài khoản:  
Công ty TNHH H Việt Nam; Số tiền phong  
tỏa: 50.000.000 đồng theo xác nhận phong tỏa  
tài khoản tại Ngân hàng TMCP N Việt Nam -  
Chi nhánh Bình Phước ngày 19/4/2018.  
- Nhận xét:  
Tác giả cho rằng, trong trường hợp này,  
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là chưa  
đúng pháp luật. Bởi lẽ, theo quy định của  
khoản 1 Điều 139 Bộ luật TTDS năm 2015,  
quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện  
pháp KCTT có hiệu lực thi hành ngay. Tuy  
nhiên, đương sự vẫn có quyền kháng cáo,  
VKDND có quyền kháng nghị đối với quyết  
định của Tòa án cấp sơ thẩm. Do đó, thời  
điểm “hết hiệu lực khi bản án này có hiệu  
lực pháp luật” và “có hiệu lực thi hành  
ngay” là hai thời điểm hoàn toàn khác nhau  
nên việc tuyên hủy bỏ quyết định áp dụng  
biện pháp KCTT của cấp phúc thẩm nêu  
trên là phù hợp.  
Một là, giữa VKSND và Tòa án cấp phúc  
thẩm chưa có sự thống nhất về cách nhận  
định. Cụ thể, đối với vụ việc thứ nhất, đại diện  
VKSND đề nghị hủy bản án sơ thẩm do phần  
quyết định của bản án tuyên giữ nguyên quyết  
định áp dụng biện pháp KCTT nhưng tuyên  
hủy quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo  
đảm là không đúng quy định của pháp luật.  
Nhận định này của VKSND không được Tòa  
án cấp phúc thẩm chấp nhận; bởi lẽ, trong giai  
đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, căn cứ vào  
đơn yêu cầu của bị đơn và Điều 291 Bộ luật  
TTDS năm 2015, Tòa án cấp phúc thẩm đã ra  
quyết định hủy bỏ biện pháp KCTT nêu trên.  
Từ đó, HĐXX cấp phúc thẩm không xem xét  
việc áp dụng biện pháp KCTT trong phần  
quyết định của bản án.  
Theo hướng dẫn của Nghị quyết số 02,  
Tòa án áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp  
KCTT trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên  
tòa bằng một quyết định riêng và phải ghi  
rõ trong bản án. Việc Tòa án cấp phúc thẩm  
Tác giả cho rằng, nhận định của Tòa án  
cấp phúc thẩm như trên là đúng pháp luật.  
Bởi lẽ, Tòa án cấp phúc thẩm đã hủy bỏ biện  
44  
Số 10(434) - T5/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
không ban hành quyết định riêng là không  
đúng quy định6.  
Thẩm phán là có sai lầm hoặc không đúng  
pháp luật mà không cần thiết phải thay thế  
bằng một biện pháp KCTT khác thì để đảm  
bảo quyền lợi chính đáng của người bị áp  
dụng biện pháp KCTT, Tòa án phải thay  
đổi, hủy bỏ quyết định đã áp dụng7. Xét về  
hiệu lực quyết định áp dụng, thay đổi, hủy  
bỏ biện pháp KCTT là loại quyết định đặc  
thù trong TTDS, có hiệu lực thi hành ngay  
và không thể bị kháng cáo, kháng nghị. Tuy  
vậy, đương sự vẫn có quyền khiếu nại đối  
với quyết định này nếu không đồng ý với  
quyết định để được xem xét lại việc ra quyết  
định8. Tuy nhiên, việc không quy định thời  
điểm chấm dứt hiệu lực của quyết định là  
còn thiếu sót, dẫn đến nhiều cách hiểu và áp  
dụng trên thực tiễn khác nhau.  
Ba là, giữa các cấp tòa và VKSND không  
thống nhất cách hiểu về bản chất vụ việc nên  
dẫn đến đường lối giải quyết khác nhau. Cụ  
thể, đối với vụ việc thứ hai, Tòa án cấp sơ  
thẩm xác định giữa các bên có sự tranh chấp  
nên áp dụng trình tự, thủ tục giải quyết vụ  
án, nên trường hợp này Tòa án cấp sơ thẩm  
được áp dụng biện pháp KCTT. Tuy nhiên,  
quan điểm của VKSND lại cho rằng, yêu  
cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu  
là việc dân sự nên không được áp dụng biện  
pháp KCTT đề nghị hủy bản án sơ thẩm và  
đình chỉ giải quyết vụ án; Tòa án cấp phúc  
thẩm lại nhận định rằng, có tranh chấp nên  
không phải là việc dân sự, từ đó không chấp  
nhận đề nghị của VKSND.  
3. Kiến nghị  
Để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp  
luật về áp dụng biện pháp KCTT phong  
tỏa TKNH trên thực tiến, tác giả kiến nghị  
TANDTC cần tiếp tục hướng dẫn về thời  
điểm chấm dứt hiệu lực của quyết định áp  
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp KCTT;  
theo đó, hiệu lực của quyết định sẽ đương  
nhiên chấm dứt trong các trường hợp  
sau đây:  
Tác giả cho rằng, nhận định của Tòa án  
cấp phúc thẩm là phù hợp với bản chất của  
vụ việc. Bởi lẽ, giữa các bên, ngoài tranh  
chấp liên quan đến văn bản công chứng,  
còn có tranh chấp liên quan đến giấy chứng  
nhận quyền sử dụng đất. Do đó, theo quy  
định của Điều 26 Bộ luật TTDS năm 2015,  
đây thuộc trường hợp những tranh chấp về  
dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa  
án. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án  
cấp phúc thẩm xem xét áp dụng biện pháp  
KCTT là có căn cứ.  
Thứ nhất, trường hợp bản án đã quyết  
định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện  
hoặc yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập  
mà người khởi kiện, người phản tố hoặc  
người có yêu cầu độc lập chính là người  
đã yêu cầu áp dụng biện pháp KCTT  
phong tỏa TKNH.  
Tuy nhiên, Bộ luật TTDS năm 2015 cũng  
như Nghị quyết số 02 không quy định thời  
điểm chấm dứt hiệu lực của quyết định áp  
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp KCTT.  
Điều này dẫn đến nhiều cách hiểu và xử lý  
khác nhau như những trường hợp đã phân  
tích nêu trên. Tác giả cho rằng, xét về mặt  
thực tế nếu như sau khi ra quyết định áp  
dụng biện pháp KCTT mà quyết định của  
Thứ hai, trường hợp bản án đã quyết định  
chấp nhận yêu cầu khởi kiện hoặc yêu cầu  
phản tố hoặc yêu cầu độc lập thì tính đến  
thời điểm có quyết định thi hành án của cơ  
quan thi hành án  
6 Khoản 1 Điều 19 Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP.  
7 Trần Anh Tuấn, Chế định BPKCTT trong BLTTDS Việt Nam, Trường Đại học Kiểm sát, https://tks.edu.vn/  
thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/81/401, truy cập ngày 07/3/2021.  
8 Đoàn Tấn Minh, Nguyễn Ngọc Điệp (2016), Bình luận khoa học Bộ luật TTDS năm 2015, Nxb. Lao động,  
tr.132.  
Số 10(434) - T5/2021  
45  
pdf 7 trang Thùy Anh 16980 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bàn về thủ tục áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài khoản tại ngân hàng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfban_ve_thu_tuc_ap_dung_thay_doi_huy_bo_bien_phap_khan_cap_ta.pdf