Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 10 - Năm 2021

VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI  
XÃ HỘI HỌC XÂY DỰNG PHÁP LUẬT  
CHÍNH SÁCH THUẾ TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH  
BẤT ĐỘNG SẢN  
Số 10 (434)  
Tháng 5/2021  
PHÁP LUẬT VỀ TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP CỦA LIÊN BANG NGA VÀ NHỮNG GỢI MỞ CHO VIỆT NAM  
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI  
XÃ HỘI HỌC XÂY DỰNG PHÁP LUẬT  
CHÍNH SÁCH THUẾ TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH  
BẤT ĐỘNG SẢN  
Số 10 (434)  
Tháng 5/2021  
Mục lục Số 10/2021  
PHÁP LUẬT VỀ TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP CỦA LIÊN BANG NGA VÀ NHỮNG GỢI MỞ CHO VIỆT NAM  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Xã hội học xây dựng pháp luật  
3
TS. Phạm Thị Duyên Thảo  
Công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài - kinh  
nghiệm từ Công ước New York năm 1958 và Luật Mẫu Uncitral  
12  
Nguyễn Thị Thanh Ngân  
CHÍNH SÁCH  
Chính sách thuế trong mối tương quan với hoạt động kinh  
doanh bất động sản  
21  
Bꢀi Trang Kim Yꢁn  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Nội dung của di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015  
TS. Hoàng Thị Loan  
29  
35  
39  
Văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015  
ThS. Ngô Văn Lượng  
Bàn về thủ tục áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp  
tạm thời phong tỏa tài khoản tại ngân hàng  
Hà Giang  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
Pháp luật về tình trạng khẩn cấp của Liên bang Nga và những  
gợi mở cho Việt Nam  
46  
52  
TS. Cao Vũ Minh  
Quyền sung công vì lợi ích công cộng theo pháp luật Cộng  
hòa Pháp  
ThS. Nguyễn Dương Anh Thꢂng  
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
Phân cấp, ủy quyền tổ chức chính quyền đô thị Thành phố  
Hồ Chí Minh  
60  
Ảnh bìa: Thác Hang Én, Gia Lai  
Ảnh: ST  
TS. Phan Hải Hồ  
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI  
XÃ HỘI HỌC XÂY DỰNG PHÁP LUẬT  
CHÍNH SÁCH THUẾ TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH  
BẤT ĐỘNG SẢN  
Số 10 (434)  
Tháng 5/2021  
Legis No 10/2021  
PHÁP LUẬT VỀ TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP CỦA LIÊN BANG NGA VÀ NHỮNG GỢI MỞ CHO VIỆT NAM  
STATE AND LAW  
Sociology of Lawmaking  
3
Dr. Pham Thi Duyen Thao  
Recognition and Enforcement of Foreign Arbitral Awards -  
Experience from the 1958 New York Convention and the  
Uncitral Model Law  
12  
Nguyen Thi Thanh Ngan  
POLICY  
Tax Policy in Relation to Real Estate Business  
Bui Trang Kim Yen  
21  
LEGAL PRACTICE  
Contents of Wills under the Civil Code of 2015  
Dr. Hoang Thi Loan  
29  
35  
39  
Guidelines for Enforcement of the Penal Code of 2015  
LLM. Ngo Van Luong  
Discussion of the Procedure for Application, Modification and  
Remove of the Provincial Emergency Measures of Freezing  
Accounts at Banks  
Ha Giang  
FOREIGN EXPERIENCE  
Law on State of Emergency of the Russian Federation and  
Suggestions for Vietnam  
46  
52  
Dr. Cao Vu Minh  
Right to Expropriation for Public Utilities under the Law of the  
Republic of France  
LLM. Nguyen Duong Anh Thang  
LOCAL GOVERNMENT ADMINISTRATION  
Decentralization and Authorization for Organization of Urban  
Government in Ho Chi Minh City  
60  
Dr. Phan Hai Ho  
PRICE: 25.000VND  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
XÃ HỘI HỌC XÂY DỰNG PHÁP LUẬT  
Phạm Thị Duyên Thảo  
TS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Xã hội học xây dựng pháp luật là một loại nghiên cứu pháp lý - xã hội; theo đó,  
xây dựng pháp luật được tiếp cận dưới góc độ là một hiện tượng xã hội, xem xét  
các khía cạnh, bản chất xã hội, các bảo đảm cơ sở xã hội học của xây dựng pháp  
luật, các yếu tố xã hội tác động đến xây dựng pháp luật, cơ chế xã hội của xây  
dựng pháp luật cũng như hiệu quả, sự tác động ngược trở lại của xây dựng pháp  
luật đối với đời sống xã hội.  
Từ khóa: Xã hội học, xây dựng  
pháp luật.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 20/3/2021  
: 16/4/2021  
: 22/4/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Sociology of lawmaking is a type of socio-legal study; accordingly, law-making  
is approached from the perspective of a social phenomenon to consider the  
concept and nature of sociology so that it is to ensure the sociological basis of  
law-making, the social factors to impact on law-making, the social mechanism  
of law-making as well as the effectiveness, the reverse impacts of law-making  
on social life.  
Keywords: Sociology; lawmaking.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 20 Mar. 2021  
: 16 Apr. 2021  
: 22 Apr. 2021  
Approved  
1. Bản chất xã hội của xây dựng  
pháp luật  
XDPL tạo ra các khung khổ để thay đổi các  
hành vi có xu hướng cản trở sự phát triển  
(đặc biệt là hành vi của các công chức nhà  
nước) và ngược lại.  
Trước hết, xây dựng pháp luật (XDPL)  
chính là một loại thiết kế xã hội1, bao gồm  
việc dựng cho xã hội một “bản vẽ”, một bộ  
khung, mô hình, góp phần vào việc định  
hình, định hướng xã hội theo một hệ thống  
các quy ước nhất định. Hoạt động XDPL  
thực chất là tạo nên các quy phạm pháp  
luật (QPPL) - quy tắc của hành vi - để tác  
động vào các quan hệ xã hội, làm chúng  
đi theo đúng khuôn khổ mà xã hội mong  
muốn. Các khuôn khổ đó sẽ cung cấp quy  
tắc ứng xử, mô hình hóa hành vi của các  
thành viên trong xã hội, kiềm chế họ không  
thực hiện hoặc bắt buộc phải thực hiện  
những hành vi nhất định, hoặc sẽ hành xử  
như thế này mà không phải như thế khác.  
XDPL xuất phát từ nhu cầu của xã hội,  
trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội.  
Nhu cầu điều chỉnh này, cùng các quyền, lợi  
ích, phần lớn trùng hợp với mong muốn của  
các cá nhân, các nhóm trong xã hội. Hoạt  
động XDPL không những nằm trong quá  
trình vận hành chung của xã hội, mà với các  
QPPL được xây dựng chủ động, mang tính  
“đón đầu”, “phòng ngừa” xã hội trong quá  
trình điều chỉnh, còn thể hiện sự định hướng  
xã hội.  
XDPL được vận hành nhờ các chất liệu  
đa dạng từ cuộc sống, chịu sự tác động  
nhiều chiều từ các khía cạnh, yếu tố khác  
1 Võ Khánh Vinh, Xã hội học pháp luật - những vấn đề cơ bản, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015, tr.268.  
Số 10(434) - T5/2021  
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
nhau trong xã hội. Từ các yếu tố chung như:  
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, bối cảnh  
quốc tế, ý thức pháp luật, truyền thống lịch  
sử cho đến các yếu tố trực tiếp như: tổ chức,  
năng lực, kỹ năng, kỹ thuật soạn thảo, phạm  
vi, tính chất, đối tượng điều chỉnh...  
mâu thuẫn về lợi ích, mức độ thiếu tương  
thích trong đáp ứng nhu cầu xã hội, sự yếu  
kém về kỹ thuật lập pháp, sự biến động của  
các quan hệ xã hội hoặc đến từ những tình  
huống xã hội thuộc phạm vi quản lý của  
Nhà nước. Những tình huống xã hội xuất  
hiện lặp đi lặp lại, nhất là tình huống mang  
yếu tố không bình thường, không chỉ giúp  
cho việc nhận diện vấn đề mà còn cho thấy  
các lỗ hổng của pháp luật hiện hành, kéo  
theo nhu cầu phải sửa đổi, bổ sung các quy  
định của pháp luật liên quan. Ví dụ, việc  
gia tăng các giao dịch về cây hoa phong  
lan đột biến với giá hàng chục, hàng trăm  
tỷ đồng đã thu hút không ít người lao vào  
đầu tư với mong muốn kiếm siêu lợi nhuận  
vì tin rằng sẽ có người bỏ tiền nhiều hơn  
để mua lại. Các hành vi lừa đảo theo đó  
cũng gia tăng, dẫn đến nhiều nghi vấn về  
tính xác thực của giao dịch. Ở góc độ pháp  
lý, nhiều ý kiến cho rằng, để những tình  
huống xã hội dạng này ngày càng xuất hiện  
là do những bất cập về pháp luật. Cụ thể,  
trong trường hợp nếu hộ gia đình, cá nhân  
trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất  
nông nghiệp (trồng trọt) chưa qua chế biến  
thành các sản phẩm khác, thì sản phẩm  
nông nghiệp trong trường hợp này không  
chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định tại  
khoản 1 Điều 1 Luật Thuế giá trị gia tăng  
năm 2016 và được miễn thuế thu nhập cá  
nhân theo quy định tại Điều 4 Luật Thuế  
thu nhập cá nhân năm 2007. Theo đó, việc  
cân nhắc, bổ sung các quy định về thuế và  
cơ chế kiểm soát đối với loại tình huống  
pháp lý này sẽ có ý nghĩa quan trọng trong  
việc minh định các giao dịch, giúp người  
dân không bị cuốn vào những giao dịch  
tiềm ẩn đầy rủi ro, bất ổn có thể làm đảo  
lộn cuộc sống và mất trật tự an ninh.  
XDPL, đến lượt mình, cũng tác động trở  
lại mạnh mẽ đến các khía cạnh xã hội. Nó  
không chỉ là hoạt động chủ đạo góp phần  
tạo nên cơ sở pháp lý cho việc điều chỉnh,  
định hướng các quan hệ xã hội, mà còn là  
một hệ thống các thông tin xã hội tương ứng  
được thể hiện qua nội dung, cách thức điều  
chỉnh của các QPPL. XDPL góp phần quy  
phạm hóa các chuẩn mực xã hội khác như:  
đạo đức, phong tục, tập quán, các quy tắc  
của tổ chức chính trị, xã hội, làm đa dạng  
cách thức và gia tăng hiệu quả điều chỉnh  
các quan hệ xã hội.  
2. Cơ chế xã hội của xây dựng pháp luật  
Khác với cơ chế pháp lý trong XDPL,  
luôn mang tính quyền lực nhà nước với  
các quy trình luật định, cơ chế xã hội trong  
XDPL có đặc thù riêng, là quá trình gắn với  
sự tham gia của các lực lượng xã hội, gồm  
công dân, nhóm, tổ chức, hội nghề nghiệp,  
các thành phần khác nhau của xã hội dân sự  
vào việc XDPL của Nhà nước.  
Cơ chế xã hội trong XDPL có thể xuất  
hiện ở giai đoạn này hay giai đoạn khác,  
hoặc lặp đi lặp lại trong các giai đoạn của  
quá trình XDPL. Các hình thức của cơ chế  
đó là: nhận biết, phản ánh, thiết lập; tham  
gia; phản kháng, phản biện xã hội và giám  
sát xã hội trong XDPL.  
Nhận biết, phản ánh, thường xuất hiện  
ở giai đoạn đầu của quá trình XDPL. Từ  
thực tiễn, các thành phần xã hội nhận  
thức, đánh giá về trạng thái, tính chất,  
hiệu quả của các quy phạm pháp luật hiện  
hành trong khi điều chỉnh quan hệ xã hội.  
Những bất cập, thiếu khuyết của pháp luật  
sẽ được nhận diện. Bất cập có thể đến từ sự  
Gắn liền với nhận thức, hoạt động phản  
ánh sẽ diễn ra, nhằm tái hiện các vấn đề xã  
hội - pháp lý liên quan đến các đặc trưng,  
hệ quả xã hội hoặc tính chất của các QPPL,  
4
Số 10(434) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
nhằm đạt được những nhu cầu từ thực tiễn.  
Một biểu hiện phổ biến trong cơ chế nhận  
thức, phản ánh là dư luận xã hội. Dư luận xã  
hội là các ý kiến còn lại sau quá trình phân  
tích, đánh giá của các thành phần xã hội về  
những vấn đề mà họ cảm thấy có ý nghĩa  
hoặc động chạm đến lợi ích, giá trị chung.  
Thông qua dư luận xã hội, quá trình nhận  
biết, phản ánh trong XDPL của các thành  
phần xã hội được công khai, cập nhật.  
cách là các đối tượng nghiên cứu thụ động,  
mà với tư cách là các chủ thể tích cực, chủ  
động vào các chương trình phân tích được  
tiến hành “sẽ thúc đẩy một chương trình  
lập pháp ngày càng dân chủ”2.  
Ở Việt Nam, sự tham gia của xã hội vào  
XDPL được ghi nhận tại Điều 28 Hiến pháp  
năm 2013, cụ thể hóa tại Điều 5 Luật Ban  
hành văn bản QPPL năm 2015 “bảo đảm  
công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận,  
phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ  
quan, tổ chức trong quá trình xây dựng, ban  
hành văn bản QPPL”. Cơ chế tham gia của  
xã hội vào XDPL không chỉ đảm bảo quyền  
của công dân, nhằm thu hút, phát huy năng  
lực sáng tạo của nhân dân mà còn gia tăng  
trách nhiệm của Nhà nước trong quá trình  
tạo ra các sản phẩm pháp luật đáp ứng nhu  
cầu xã hội, phục vụ con người3.  
Sự tham gia trong XDPL là quá trình  
người dân, các lực lượng xã hội có thể góp  
phần hoạt động của mình vào xây dựng các  
quyết định, chính sách pháp luật có ảnh  
hưởng đến hành vi, các quyền và lợi ích  
của họ. Sự tham gia của xã hội vào XDPL  
thông thường đến từ các đối tượng chịu sự  
tác động trực tiếp từ các văn bản QPPL,  
các đối tượng khác chịu sự tác động của  
các dự thảo văn bản QPPL, của các tổ chức  
xã hội, chuyên gia, hoặc từ các chủ thể  
khác trong tương quan với nhận thức, mức  
độ quan tâm của họ đến XDPL. Các đối  
tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn  
bản QPPL thuộc nhóm yếu thế như phụ nữ,  
trẻ em, người khuyết tật, cơ chế tham gia  
có những đặc thù, ảnh hưởng từ yếu tố thể  
chất, tinh thần của nhóm. Sự tham gia của  
các chuyên gia, nhà khoa học có ý nghĩa  
quan trọng, bởi họ thường có tri thức, kỹ  
năng, gia tăng cơ hội xây dựng được các  
VBQPPL có chất lượng, hiệu quả. Sự tham  
gia của các đối tượng có lợi ích liên quan  
có thể làm cho họ hành xử khác đi. Đặc  
biệt, khi sự tham gia không phải với tư  
Phản biện, phản kháng xã hội: Phản  
biện xã hội trong XDPL là việc bày tỏ  
ý kiến một cách có hệ thống và có cơ sở  
khoa học đối với các chính sách, pháp luật  
ở những công đoạn nhất định của quá trình  
XDPL, là “nhận diện, tìm ra điểm đúng,  
sai, bất hợp lý của chính sách được đưa ra  
để giải quyết vấn đề phát sinh, từ đó có thể  
kiến nghị điều chỉnh hay thậm chí là hủy  
bỏ chính sách đó, đề xuất chính sách mới,  
phù hợp hơn để giải quyết vấn đề”4. Nhờ  
cơ chế phản biện, mức độ tương thích, hiệu  
quả của chính sách pháp luật sẽ được nhận  
diện, những lập luận, đề xuất đưa ra sẽ góp  
phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của  
chính sách pháp luật khi được ban hành.  
2 Ann Seidman, Robert B. Seidman, Nalin Abeyesekere, Soạn thảo luật pháp vì tiến bộ xã hội dân chủ, Nxb.  
Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2003, tr.197.  
3 Xem Đặng Minh Tuấn, Nguyễn Thị Minh Hà, Thúc đẩy sự tham gia của người dân trong hoạt động XDPL  
ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu cả cách tiếp cận dựa trên quyền con người, in trong sách “Sự tham gia của xã  
hội vào quản trị nhà nước và phòng, chống tham nhũng trên thế giới và ở Việt Nam”, Nxb. Chính trị Quốc gia  
Sự thật, Hà Nội, 2020, tr.125-150  
4 Lê Thị Thiều Hoa, Phản biện xã hội và vai trò của phản biện xã hội ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu  
tro-cua-phan-bien-xa-hoi-o-Viet-Nam-hien-nay.html.  
Số 10(434) - T5/2021  
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Phản biện có thể diễn ra trực tiếp tại các hội  
nghị lấy ý kiến, tiếp xúc cử tri của đại biểu  
dân cử hoặc thông qua việc đăng tải ý kiến  
trên phương tiện thông tin đại chúng, thông  
qua các tổ chức mà mình là thành viên hoặc  
qua việc đối thoại với các chủ thể có văn  
bản được phản biện.  
sự tham gia đa dạng, chủ động của nhân dân  
vào hoạt động XDPL, cũng là sự cạnh tranh  
cần thiết trong tương quan với việc nâng  
cao chất lượng, hiệu quả của cơ chế pháp  
lý của XDPL.  
3. Bảo đảm cơ sở xã hội học của xây dựng  
pháp luật  
Phản kháng xã hội trong XDPL có mục  
đích loại bỏ hoặc kiềm chế việc xây dựng  
hoặc ban hành những chính sách, pháp luật  
mà các chủ thể phản kháng thấy không hợp  
lý, không có ích cho xã hội, cộng đồng.  
Phản kháng và phản biện xã hội trong  
XDPL không hoàn toàn giống nhau, nhưng  
đều là những cách thức thể hiện thái độ,  
phản ứng tích cực của xã hội đối với các  
vấn đề liên quan đến XDPL, nhằm hướng  
tới chất lượng, hiệu quả của các sản phẩm  
lập pháp, lập quy.  
Bảo đảm cơ sở xã hội học của XDPL  
là những yếu tố làm cho XDPL chắc chắn  
được thực hiện, duy trì hoặc có đầy đủ  
những gì cần thiết để triển khai hiệu quả.  
“Trong xã hội học pháp luật, hoạt động thu  
thập và phân tích thông tin xã hội cần thiết  
cho việc soạn thảo có kết quả các QPPL  
được hiểu là cơ sở xã hội học của hoạt động  
XDPL”5. Nội dung bảo đảm cơ sở xã hội  
học trong XDPL gồm:  
- Thông tin xã hội học về chính sách  
pháp luật  
Giám sát xã hội trong XDPL là việc  
công dân, các thành phần xã hội, thông qua  
các cách thức được pháp luật quy định, tiến  
hành quan sát, theo dõi, kiểm tra hoạt động  
XDPL của các chủ thể có thẩm quyền xem  
có đúng đắn, hợp pháp, hợp lý, chất lượng,  
hiệu quả không. Cách thức giám sát có thể  
qua khiếu nại, tố cáo, qua báo chí, phương  
tiện truyền thông đại chúng hoặc qua việc  
thực hiện dân chủ ở cơ sở trong liên quan  
đến quá trình XDPL.  
Là một trong những chính sách công có  
vị trí quan trọng trong đời sống pháp lý,  
chính sách pháp luật là “chiến lược hoạt  
động của Nhà nước trong lĩnh vực điều  
chỉnh pháp luật, cũng như hoạt động phản  
ánh các lợi ích xã hội trong việc phân bổ lại  
các lĩnh vực ảnh hưởng của các điều chỉnh  
xã hội khác nhau”6. XDPL cần phải có các  
thông tin xã hội học về chính sách pháp  
luật vì, “chính sách là nội dung, văn bản  
pháp luật là vỏ bọc chứa đựng các chính  
sách đó dưới dạng ngôn ngữ và hình thức  
pháp lý”7. Thông tin xã hội học về chính  
sách pháp luật cơ bản đến từ quá trình phân  
tích chính sách. Quá trình này cần thiết,  
bởi nó đảm bảo mục tiêu của pháp luật là  
phục vụ lợi ích công cộng hoặc một bộ phận  
nhất định trong công chúng; giúp cho các  
nhà lập pháp hiểu rõ “mức độ tác động của  
các biện pháp cưỡng chế thi hành tới đâu  
Các hình thức của cơ chế xã hội của  
XDPL có quan hệ mật thiết, tiếp nối, hòa  
trộn trong quá trình XDPL. Để giám sát,  
cần nhận biết, phản ánh và ngược lại. Giám  
sát cung cấp dữ liệu sống động cho quá  
trình phản kháng, phản biện xã hội, nhằm  
hướng tới chất lượng, hiệu lực thực sự của  
pháp luật. Ở góc độ tích cực nhất, các cơ  
chế xã hội của XDPL là biểu hiện mạnh mẽ  
5 Võ Khánh Vinh, Xã hội học pháp luật - những vấn đề cơ bản, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015, tr.275.  
6 Võ Khánh Vinh, Xã hội học pháp luật - những vấn đề cơ bản, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015, tr.195.  
7 Nguyễn Đức Lam, Phân tích chính sách trong quy trình lập pháp ở các nước, https://thongtinphapluatdansu.  
edu.vn/2009/04/06/2615/.  
6
Số 10(434) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
và lường trước những phản ứng ngược lại;  
đặt sản phẩm lập pháp trong một chuỗi các  
hoạt động theo trật tự cố định, từ lúc nhận  
biết nhu cầu, xác định phương án, thiết kế  
phương án, cho đến lúc thông qua; giúp  
nhận biết mối liên hệ của văn bản chuẩn bị  
ban hành với những văn bản cùng lĩnh vực,  
từ đó tăng tính hiệu quả; hướng tới mức độ  
tương thích giữa chi phí và lợi ích để cân  
nhắc xem có cần ban hành văn bản QPPL  
đó hay không8. Trong quá trình phân tích  
chính sách, sự tham vấn rộng rãi ý kiến của  
quần chúng, các bộ ngành liên quan sẽ góp  
phần nâng cao chất lượng, làm minh bạch  
hóa, đời sống hóa hoạt động XDPL.  
chính là một trong những nguyên nhân dẫn  
đến hoạt động XDPL. Nhờ những thông tin  
này, mà các chủ thể có thẩm quyền nhận  
thức được trạng thái của QPPL hiện hành  
dưới góc độ hiệu quả xã hội, từ đó có những  
ứng xử phù hợp liên quan đến những văn  
bản pháp luật sắp ban hành một cách thực  
chất, tránh hình thức, phiến diện. Qua các  
thông tin về hiệu quả xã hội của QPPL hiện  
hành, các chủ thể xây dựng pháp luật có cơ  
sở thực tiễn để cân nhắc kỹ lưỡng việc ban  
hành QPPL liên quan.  
- Thông tin xã hội học về nhu cầu và các  
lợi ích pháp lý - xã hội  
Nhu cầu là những đòi hỏi, mong muốn  
của con người về vật chất, tinh thần hoặc  
sự vật, hiện tượng nào đó như là điều kiện  
để tồn tại và phát triển. Lợi ích, ở một khía  
cạnh nhất định, nó “như là nhu cầu khách  
quan được chế định bởi vị trí xã hội của một  
cá nhân, một dân tộc, một nhóm xã hội nào  
đó”, “là sự phản ánh chủ quan những nhu  
cầu tồn tại khách quan”9, “là mối quan hệ  
lựa chọn đã được nhận thức của nhu cầu”10.  
Trong thực tế, có rất nhiều nhu cầu và các  
lợi ích pháp lý - xã hội với các tính chất và  
mức độ khác nhau cần phải được nhận thức  
trong quá trình XDPL. Đó có thể là những  
nhu cầu, lợi ích chung thuộc tất cả các lĩnh  
vực của đời sống xã hội, có thể là nhu cầu  
của cá nhân, tổ chức, các nhóm cộng đồng  
nhất định tương ứng. Việc xác định chính  
xác thông tin về nhu cầu và các lợi ích pháp  
lý - xã hội liên quan trong XDPL giúp cho  
việc lựa chọn được các nhu cầu, lợi ích  
mang tính ưu tiên, phù hợp với thực tiễn,  
- Thông tin xã hội học về hiệu quả của  
các QPPL hiện hành  
Thông tin xã hội học về hiệu quả của  
QPPL hiện hành là toàn bộ các “kết quả như  
yêu cầu” của QPPL, những thông báo, dữ  
liệu thu nhận dưới góc độ xã hội về quá trình  
QPPL phát huy giá trị, vai trò của nó trong  
khi điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan.  
Các thông tin này có thể là: mức độ đáp ứng  
về mục tiêu, phạm vi, tính chất điều chỉnh  
các quan hệ xã hội trực tiếp của QPPL; kết  
quả của việc điều chỉnh ở cả góc độ tích  
cực, tiêu cực, nguyên nhân dẫn tới những  
kết quả đó; mức độ tương tác của QPPL với  
các QPPL liên quan và với cả hệ thống pháp  
luật; mức độ hiện thực hóa các dự báo của  
QPPL trong quá trình ban hành trước đó;  
những yêu cầu đặt ra cùng các giải pháp cụ  
thể để tiếp tục hoàn thiện QPPL, đáp ứng  
mục tiêu điều chỉnh xã hội. Thông tin xã hội  
học về hiệu quả của QPPL hiện hành cũng  
8 Nguyễn Đức Lam, Phân tích chính sách trong quy trình lập pháp ở các nước, https://thongtinphapluatdansu.  
edu.vn/2009/04/06/2615/  
9
V.I. Pripisnov được dẫn theo bài viết “Lợi ích và vai trò động lực của nó đối với sự phát triển xã hội -  
trien-xa-hoi-phan-i/.  
10  
N.A. Gnilickij được dẫn theo bài viết “Lợi ích và vai trò động lực của nó đối với sự phát triển xã hội -  
trien-xa-hoi-phan-i/.  
Số 10(434) - T5/2021  
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
trong tương quan với sự điều chỉnh trực tiếp  
của quy phạm pháp luật sắp ban hành. “Ở  
đây cần phải giải quyết hai nhiệm vụ có mối  
liên hệ chặt chẽ với nhau: bảo đảm việc thu  
thập thông tin đầy đủ và chính xác về các  
lợi ích xã hội, các lợi ích pháp luật và có  
khả năng phân biệt lợi ích khách quan với  
các lợi ích chủ quan”11.  
trong tương quan với các yếu tố tác động,  
điều kiện đảm bảo của xã hội và pháp luật.  
Cơ chế này là sự kết hợp giữa quá trình điều  
chỉnh xã hội của pháp luật, thông qua các  
yếu tố pháp lý đặc thù với quá trình tham  
gia của các thành phần, yếu tố xã hội khác.  
Thông tin xã hội học về cơ chế hoạt động  
pháp lý - xã hội của QPPL được soạn thảo  
cung cấp một họa đồ các công đoạn điều  
chỉnh pháp luật của QPPL trong xã hội,  
trong tương quan với quá trình điều chỉnh  
của các QPPL liên quan. Từ đó, có thể nhận  
diện được sự phù hợp hay không của QPPL  
trong quá trình điều chỉnh, mức độ đáp ứng  
các yêu cầu của xã hội, mức độ tương thích  
của QPPL trong hệ thống pháp luật nói  
chung, hiệu quả điều chỉnh của QPPL đó  
ra sao.  
Để xác định được nhu cầu, lợi ích mang  
tính ưu tiên dẫn đến các ưu tiên trong XDPL,  
cần căn cứ vào các thông tin như: sự nghiêm  
trọng của vấn đề xã hội cần điều chỉnh,  
phạm vi những vấn đề xã hội được xác định  
ảnh hưởng đến dân chúng, ai nằm trong  
nhóm bị ảnh hưởng; tác động xã hội của các  
văn bản QPPL được đề xuất, ai được lợi,  
ai chịu thiệt và trong phạm vi nào12... Các  
tiêu chí xác định việc ưu tiên trong XDPL  
có thể dựa vào việc giải quyết các vấn đề:  
“Cải thiện chất lượng điều hành nhà nước  
không, như thế nào? tạo thêm nhiều cơ hội  
việc làm không? Nâng cao sản xuất, hàng  
hóa và dịch vụ để đáp ứng nhu cầu căn bản  
của đại bộ phận dân chúng không? Nâng  
cao sự công bằng không, nâng cao như thế  
nào?”13. Thông tin xã hội học về nhu cầu  
và các lợi ích pháp lý - xã hội sẽ giúp các  
cơ quan xây dựng pháp luật sử dụng các dữ  
kiện thực tế để quyết định dành các nguồn  
lực cho dự luật nào và theo thứ tự ra sao.  
Thông qua cơ chế hoạt động pháp lý - xã  
hội của QPPL được soạn thảo, tác động của  
các yếu tố như: kinh tế, chính trị, văn hóa,  
xã hội, các quy phạm xã hội khác như đạo  
đức, tập quán, tín điều tôn giáo cũng được  
xem xét. Việc phân tích thực trạng và tìm  
lời giải cho mối tương quan giữa các yếu  
tố pháp lý với các yếu tố xã hội, giữa các  
quy phạm pháp luật với các quy phạm xã  
hội như đạo đức, tập quán cũng sẽ giúp thúc  
đẩy hay cản trở việc đạt được những mục  
đích, yêu cầu của pháp luật trong tương lai.  
- Thông tin xã hội học về cơ chế hoạt  
động pháp lý - xã hội của các QPPL được  
soạn thảo  
- Thông tin dự báo về hiệu quả, tác động  
xã hội của QPPL sẽ được ban hành  
“Dự báo pháp luật là loại nghiên cứu  
nhằm mục đích dự đoán các trạng thái tương  
lai của pháp luật và của các hiện tượng do  
pháp luật quy định, mang tính chất xác  
suất, nhiều phương án”14. Mặc dù, chỉ mang  
Cơ chế hoạt động pháp lý - xã hội của  
các QPPL được soạn thảo là cách thức, quá  
trình các QPPL hiện thực hóa việc tác động  
đến các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh,  
11 Võ Khánh Vinh, Xã hội học pháp luật - những vấn đề cơ bản, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015, tr. 289.  
12 Ann Seidman, Robert B. Seidman, Nalin Abeyesekere, Soạn thảo luật pháp vì tiến bộ xã hội dân chủ, Nxb.  
Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2003, tr.64.  
13Ann Seidman, Robert B. Seidman, NalinAbeyesekere, Xem xét Dự án Luật, Cẩm nang cho các nhà lập pháp,  
Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2004, tr.39.  
14 Võ Khánh Vinh, Xã hội học pháp luật - những vấn đề cơ bản, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015, tr. 541.  
8
Số 10(434) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
tính chất dự đoán tương lai, dự đoán những  
thay đổi tiếp theo của trạng thái hiện có,  
nhưng dự báo về hiệu quả, tác động xã hội  
của QPPL sẽ được ban hành được xem là  
một trong những đảm bảo quan trọng của  
XDPL. Bởi lẽ, nó cung cấp các thông tin  
mang tính báo trước về tình hình hiệu quả,  
tác động xã hội của QPPL sẽ được ban hành  
có nhiều khả năng sẽ xảy ra, dựa trên cơ  
sở những số liệu, những thông tin đã có.  
Thông thường, các dự báo sẽ được gửi kèm  
các dự án đề xuất xây dựng hoặc dự thảo  
văn bản QPPL, và càng nhiều thông tin về  
dự báo càng tốt cho quá trình quyết định  
của chủ thể có thẩm quyền. Ở cấp độ cơ bản  
nhất, các dự báo phải chỉ rõ được ai sẽ là  
người được hưởng lợi, ai sẽ là người chịu  
ảnh hưởng; các chi phí của chính phủ; tác  
động của QPPL với các quan hệ xã hội mà  
nó điều chỉnh cùng tương quan với hệ thống  
các QPPL liên quan; mức độ trật tự và sự ổn  
định của các quan hệ xã hội sau khi được  
điều chỉnh; tình trạng pháp chế trong đời  
sống xã hội; những lợi ích vật chất và tinh  
thần được tạo ra; những hiện tượng và các  
quá trình khác của đời sống xã hội có thể  
xảy ra khi chịu sự tác động của pháp luật và  
quá trình điều chỉnh pháp luật...  
hình thành một loạt chế định của các ngành  
pháp luật khác, như chế độ tiền lương trong  
Luật Lao động hoặc chế định tiền trợ cấp  
và sở hữu của vợ chồng trong pháp luật hôn  
nhân gia đình...; trong sự hình thành và hoạt  
động của pháp luật về đất đai, tài nguyên  
thiên nhiên”15.  
Chính trị, theo nghĩa chung nhất, là sự  
ổn định, bền vững của thể chế, của hệ thống  
chính trị, góp phần tạo lập môi trường thuận  
lợi cho XDPL. Cụ thể hơn, chính trị thể hiện  
qua chủ trương, chính sách của đảng cầm  
quyền, là cơ sở tư tưởng cho quá trình thể  
chế hóa hành pháp luật của Nhà nước, cung  
cấp những định hướng phát triển cho các  
lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội.  
Yếu tố pháp luật có tác động mạnh mẽ  
đến XDPL. Nó không chỉ thể hiện tính chất,  
mức độ điều chỉnh các quan hệ xã hội, lý  
do của việc XDPL mà còn tạo khuôn khổ  
pháp lý cho hoạt động này. Hệ thống pháp  
luật hiện hành có tác động trực tiếp đến quá  
trình XDPL bởi nó bộc lộ tính chất, phạm vi  
điều chỉnh cũng như sự thiếu hụt, mức độ,  
sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung. Đặc biệt,  
các quy định về quy trình, thủ tục, thẩm  
quyền, cũng như trách nhiệm pháp lý trong  
XDPL sẽ tác động đến chất lượng, cách  
thức XDPL.  
4. Các yếu tố tác động đến xây dựng  
pháp luật  
Văn hóa nói chung, văn hóa pháp luật  
nói riêng cũng có tác động không nhỏ đến  
XDPL. Nó chi phối nhận thức, thái độ, kỹ  
năng của chủ thể có thẩm quyền, đồng thời  
tác động đến mức độ quan tâm, tham gia  
của các chủ thể khác trong xã hội vào quá  
trình kiểm tra, giám sát, đóng góp ý kiến  
trong XDPL. Nếu ý thức pháp luật của các  
cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước  
mang tính tích cực, coi trọng trách nhiệm,  
đạo đức công vụ, sẽ góp phần nâng cao chất  
lượng, tạo niềm tin cho các chủ thể liên  
quan trong XDPL.  
Yếu tố tác động là những yếu tố làm cho  
quá trình XDPL có những ảnh hưởng, biến  
đổi nhất định. Đó có thể là các yếu tố chung  
như: kinh tế, chính trị, văn hóa, bối cảnh  
quốc tế, pháp luật, cũng có thể là các yếu  
tố cụ thể như: năng lực xây dựng pháp luật,  
vấn đề tổ chức, dư luận xã hội, cơ sở vật  
chất, kinh phí...  
Kinh tế là yếu tố mang tính nền tảng,  
tác động đến XDPL ở nhiều khía cạnh, từ  
tính chất, cơ cấu cho đến nội dung, “kinh tế  
đóng vai trò liên kết, quyết định cả trong sự  
15 Võ Khánh Vinh, Xã hội học pháp luật - những vấn đề cơ bản, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015, tr. 241.  
Số 10(434) - T5/2021  
9
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Yếu tố năng lực XDPL là khả năng tạo  
ra được các dự thảo văn bản quy phạm  
pháp luật có chất lượng, hiệu quả, thuộc  
về đội ngũ các chủ thể có thẩm quyền  
XDPL. Nó được tạo nên bởi một tổng thể  
gồm năng lực chuyên môn, khả năng đáp  
ứng mục tiêu, trách nhiệm về lòng trung  
thành, tính cẩn mật, khả năng chấm dứt  
hoặc từ chối tuân theo các chỉ đạo có  
thể gây ảnh hưởng đến tính minh bạch,  
chất lượng của quá trình XDPL. Năng  
lực XDPL là yếu tố tác động mang tính  
quyết định đối với chất lượng của các văn  
bản QPPL được ban hành, bởi nó trực  
tiếp biến các chính sách, chủ trương, định  
hướng chính trị, mong muốn, nhu cầu của  
xã hội... thành các quy định cụ thể của  
pháp luật, cái sẽ tác động trực tiếp đến  
hành vi của các chủ thể liên quan.  
Yếu tố tổ chức cũng rất cần cho XDPL,  
vì suy cho cùng, mọi hoạt động muốn đạt  
hiệu quả, bắt buộc phải được tổ chức tốt.  
Yếu tố tổ chức trong XDPL đến từ nhiều  
khía cạnh, từ việc bố trí hợp lý về cơ cấu  
các chủ thể chịu trách nhiệm, cho đến  
tính khả thi của mọi công đoạn khi triển  
khai. Tất cả đều phải được nghiên cứu,  
tính toán hợp lý, khoa học, có kế hoạch  
cụ thể. Trong quá trình đó, trách nhiệm  
của các cá nhân phải được phát huy cao  
nhất, các bước, công đoạn phải có lộ trình  
và khả thi.  
Yếu tố chi phí và cơ sở vật chất trong  
thực tiễn cũng ảnh hưởng lớn tới quá trình  
XDPL. Nó không chỉ làm cho hoạt động  
XDPL vận hành trôi chảy, mà còn chi phối  
cả đến thời gian hoàn thành, phạm vi, tính  
chất của văn bản pháp luật được soạn thảo.  
Nếu kinh phí, cơ sở vật chất thiếu thốn,  
không đáp ứng yêu cầu, không hợp lý, thì  
các chủ thể có thẩm quyền khó bảo đảm  
tiến độ triển khai nhiệm vụ, việc tổ chức  
cho các thành phần xã hội, cơ quan, tổ chức  
và người dân tham gia XDPL theo quy định  
ở các công đoạn cũng khó đạt chất lượng  
như mong muốn.  
Dư luận xã hội là yếu tố để các lực lượng  
xã hội thể hiện quan điểm của mình về các  
vấn đề xã hội, trong đó có hoạt động XDPL.  
Dư luận xã hội góp phần tạo điều kiện để  
các tầng lớp nhân dân phát huy quyền làm  
chủ, thể hiện ý chí, mở rộng nền dân chủ  
xã hội, tích cực tham gia vào quá trình  
XDPL. Dư luận xã hội cũng là nguồn thông  
tin phản hồi có ý nghĩa quan trọng và thiết  
thực với XDPL, bởi mọi vướng mắc, thiếu  
hụt, khe hở của pháp luật đều có thể được  
nhận diện qua dư luận, từ đó giúp chủ thể có  
thẩm quyền ra các văn bản, quyết định phù  
hợp lòng dân. Dư luận xã hội cũng có sức  
mạnh to lớn trong việc định hướng, điều  
chỉnh hành vi của các thành viên trong xã  
hội, trong đó có hành vi của các chủ thể trực  
tiếp thực hiện hoạt động XDPL, để các chủ  
thể này lắng nghe dư luận một cách nghiêm  
túc, có những phân tích khoa học để rút  
ra được những kết luận chính xác về thực  
trạng các quan hệ xã hội đang cần có pháp  
luật điều chỉnh16.  
Các yếu tố cơ bản nêu trên, trong quá  
trình tác động đến XDPL luôn có tác động  
nhất định đến nhau, ảnh hưởng đến XDPL  
cả ở góc độ tích cực lẫn tiêu cực. Việc xem  
xét, nghiên cứu các yếu tố tác động đến  
XDPL là một khía cạnh quan trọng của các  
nghiên cứu pháp lý xã hội thuộc lĩnh vực  
XDPL. Nó giúp việc nhận diện mức độ, tính  
chất tác động, ảnh hưởng của các nhân tố xã  
hội, đồng thời phản ảnh nhu cầu của xã hội  
đối với quá trình điều chỉnh các lĩnh vực  
quan hệ xã hội nhất định. Từ đó, có thể đưa  
ra các phương án, giải pháp tối ưu, nhằm  
nâng cao chất lượng hoạt động và sản phẩm  
của XDPL.  
16 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Xã hội học pháp luật, Nxb. Tư pháp, năm 2018, tr.253-255.  
10  
Số 10(434) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
5. Tác động xã hội của xây dựng pháp luật  
Thông qua XDPL, người dân, các lực  
lượng khác nhau trong xã hội thể hiện quan  
điểm, nhu cầu, nguyện vọng của mình,  
cũng chính là những yêu cầu đối với Nhà  
nước trong quá trình hiện thực hóa các  
quyền mà nhân dân giao phó. XDPL cũng  
chính là quá trình hiện thực hóa các quyền  
con người, hiện thực hóa chủ quyền nhân  
dân và các trách nhiệm của Nhà nước. “Khi  
Nhà nước đề ra một chính sách và sau đó  
cam kết thực hiện chính sách đó, thì các nhà  
soạn thảo pháp luật phải chuyển hóa chính  
sách đó thành quy định của pháp luật để  
cho các cán bộ nhà nước khác thực thi. Sau  
cùng, Nhà nước chỉ có một con đường là  
thực thi các chính sách của mình thông qua  
việc ban hành và thực thi pháp luật”19.  
Như đã trình bày, XDPL chính là một  
loại thiết kế xã hội, XDPL trước hết là  
việc quy phạm hóa các hành vi mang  
tính điển hình, phổ biến của các chủ thể  
trong xã hội vào phạm vi điều chỉnh của  
pháp luật. Từ đó, tạo ra một khung khổ  
pháp lý cho các quan hệ xã hội vận hành  
theo đúng mong muốn của Nhà nước và  
cộng đồng xã hội, tạo tiền đề cho một xã  
hội trật tự, ổn định, phát triển. “XDPL là  
việc biến ý chí của Nhà nước thành pháp  
luật và tạo cho nó một đặc tính pháp  
lý, nó cũng biến các yêu cầu của người  
dân thành pháp luật - yêu cầu mang tính  
quyền lực”17.  
XDPL cũng là hoạt động tạo nên sự  
kết nối giữa các thành viên trong quá  
trình tham gia vào các cơ chế xã hội -  
pháp lý của XDPL. Sự kết nối có thể  
qua việc cùng tạo nên dư luận xã hội về  
một vấn đề nhất định mà cộng đồng quan  
tâm, cũng có thể qua việc đóng góp ý  
kiến, tham gia, phản biện, phản kháng  
hoặc kiểm tra, giám sát quá trình XDPL  
của các chủ thể có thẩm quyền. XDPL vì  
vậy, có tác dụng tạo ra những liên kết và  
đồng thuận xã hội giữa các thành viên.  
“Cân nhắc các vấn đề có tầm quan trọng  
quốc gia, các vấn đề và nhu cầu của công  
chúng là một chức năng quan trọng của  
lập pháp hiện đại. Thông qua chức năng  
này, lập pháp phản ánh dư luận xã hội về  
nhiều vấn đề khác nhau. Các cuộc tranh  
luận được tổ chức trong quá trình lập  
pháp có giá trị giáo dục rất lớn đối với  
người dân”18.  
XDPL đôi khi cũng làm cản trở tiến trình  
dân chủ, hạn chế các quyền con người, nếu  
quá trình xây dựng diễn ra một cách hình  
thức, không thể hiện được ý chí, nguyện  
vọng cũng như sự tham gia của các thành  
phần xã hội, đặc biệt, khi sản phẩm của quá  
trình XDPL là những văn bản QPPL có chất  
lượng kém, không đáp ứng nhu cầu hoặc mâu  
thuẫn với hệ thống pháp luật đã ban hành.  
Như vậy, xã hội học XDPL là loại nghiên  
cứu pháp lý - xã hội nhằm nhận thức hoạt  
động XDPL một cách sống động nhất, gắn  
liền với hơi thở của xã hội. Thông qua những  
khía cạnh xã hội trong hoạt động XDPL,  
vai trò của các thành phần xã hội ngày càng  
được nhìn nhận trong quá trình XDPL; đồng  
thời, hoạt động XDPL lập pháp được đảm  
bảo bởi cơ sở xã hội vững chắc góp phần  
nâng cao chất lượng, tính khả thi của các văn  
bản QPPL trong thực tiễn  
17  
yourarticlelibrary.com/constitution/legislature-meaning-functions-and-types-of-legislature/40337.  
18  
yourarticlelibrary.com/constitution/legislature-meaning-functions-and-types-of-legislature/40337.  
19 Ann Seidman, Robert B. Seidman, Nalin Abeyesekere, Soạn thảo Luật pháp vì tiến bộ xã hội dân chủ, Nxb.  
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.13.  
Số 10(434) - T5/2021  
11  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI -  
KINH NGHIỆM TỪ CÔNG ƯỚC NEW YORK NĂM 1958  
VÀ LUẬT MẪU UNCITRAL  
Nguyễn Thị Thanh Ngân  
Công ty cổ phần Superbrain Group  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Phán quyết của trọng  
tài nước ngoài, Công ước New  
York năm 1958, Luật Mẫu  
UNCITRAL.  
Đứng trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế quốc tế và giao lưu  
thương mại, nhu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài  
nước ngoài tại Việt Nam cũng bắt đầu tăng theo. Với nhiều nỗ lực trong  
việc phát triển phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, đánh  
dấu sự ra đời của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (Luật TTTM năm  
2010) và cải thiện thủ tục công nhận và cho thi hành phán quyết của  
trọng tài nước ngoài bằng những sửa đổi, bổ sung các quy định tương  
ứng trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Bộ luật TTDS năm 2015).  
Tuy nhiên, trong suốt thời gian qua hoạt động công nhận và cho thi hành  
phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập.  
Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày, phân tích các quy định về  
công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Công  
ước New York năm 1958; Luật Mẫu UNCITRAL về trọng tài quốc tế  
năm 1985 (Luật Mẫu); và các quy định của pháp luật Việt Nam về công  
nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài, trong đó chỉ ra  
một số bất cập và đưa ra kiến nghị hoàn thiện.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 11/01/2021  
: 26/01/2021  
: 03/02/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Keywords: Foreign arbitral  
awards; the New York Convention  
1958; UNCITRAL Model Law on  
International Arbitration 1985  
Faced with the strong development of the international economy and  
trade exchanges, the demand for recognition and enforcement of foreign  
arbitral awards in Vietnam has increased. With efforts in developing the  
method of dispute settlement by arbitration, marking issuance of the  
Law on Commercial Arbitration 2010 and the improved procedures for  
recognition and enforcement of awards of foreign arbitration by amending  
the corresponding provisions in the Civil Procedure Code of 2015.  
However, several shortcomings have been unveiled in recognizing and  
enforcing foreign arbitral awards in Vietnam for the last time. Within the  
scope of this article, the author provides an introduction and analysis of the  
provisions on recognition and enforcement of foreign arbitral awards in  
the New York Convention 1958; UNCITRAL Model Law on International  
Arbitration 1985 (Model Law); and the provisions of Vietnamese law on  
the recognition and enforcement of foreign arbitral awards, which point  
out some shortcomings and make recommendations for improvement.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 11 Jan. 2021  
: 26 Jan. 2021  
: 03 Feb. 2021  
Approved  
1. Dẫn nhập  
nước ngoài tại Việt Nam còn ở mức cao so  
với các nước trong khu vực và trên thế giới,  
ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết tranh  
Số liệu thống kê gần đây cho thấy, tỷ lệ  
không công nhận phán quyết của trọng tài  
12  
Số 10(434) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
chấp bằng trọng tài1. Nguyên nhân xuất phát  
từ việc các tòa án cấp sơ thẩm vẫn còn gặp  
một số khó khăn trong việc diễn giải các quy  
định có liên quan của Bộ luật TTDS cũng  
như Công ước New York năm 1958 (Công  
ước). Từ đó, dẫn đến việc áp dụng không  
thống nhất các quy định này trong giải quyết  
đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán  
quyết của trọng tài nước ngoài. Việc tòa  
án không công nhận phán quyết của trọng  
tài nước ngoài với tỷ lệ cao mà không có  
cơ sở thuyết phục có thể gián tiếp khuyến  
khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp  
vi phạm hợp đồng, vi phạm thỏa thuận ảnh  
hưởng đến uy tín của doanh nghiệp, tổ chức  
cá nhân của Việt Nam trong hoạt động kinh  
doanh2, từ đó làm suy giảm uy tín của Việt  
Nam trên trường quốc tế. Bên cạnh đó, việc  
Việt Nam không công nhận phán quyết của  
trọng tài nước ngoài phù hợp với Công ước  
còn có thể dẫn đến việc phía nước ngoài  
kiện Chính phủ Việt Nam theo các hiệp định  
khuyến khích và bảo hộ đầu tư cũng như  
các điều ước quốc tế khác mà Việt Nam là  
thành viên, gây ra hệ lụy phức tạp, tốn kém  
về nguồn lực xử lý.  
và có tính ràng buộc thay vì đưa ra tòa án.  
Phán quyết trọng tài có 03 (ba) đặc điểm:  
(i) có sự đồng thuận dựa trên sự thỏa thuận  
của các bên; (ii) là biện pháp giải quyết  
tranh chấp có tính chung thẩm (có hiệu lực  
pháp luật ngay) và ràng buộc các bên; (iii)  
là phương thức thay thế tố tụng tại tòa án.  
Khác với quyết định của trọng tài là  
quyết định được ban hành trong quá trình  
giải quyết tranh chấp, phán quyết của trọng  
tài là quyết định giải quyết toàn bộ tranh  
chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài. Những  
phán quyết này sẽ được xem xét để công  
nhận và cho thi hành tại một quốc gia khác  
không phải là quốc gia nơi phán quyết  
được tuyên.  
2.1. Quy định của Công ước New York  
năm 1958 về công nhận và cho thi hành  
phán quyết của trọng tài nước ngoài  
Với mong muốn thiết lập một cơ chế  
công nhận và cho thi hành đơn giản, hiệu  
quả, Công ước tiếp cận trên tinh thần ủng  
hộ cho việc thi hành theo cơ chế chọn - bỏ,  
điều đó có nghĩa là, về cơ bản các phán quyết  
của trọng tài nước ngoài sẽ được công nhận  
và cho thi hành tại các quốc gia là thành  
viên của Công ước, chỉ trừ một số trường  
hợp hữu hạn mà bị từ chối. Các phán quyết  
trọng tài nước ngoài sẽ được thi hành như  
những quyết định của tòa án địa phương và  
hệ thống các cơ quan tư pháp của Nhà nước  
có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế để  
thi hành phán quyết3.  
2. Quy định của Công ước New York  
năm 1958, Luật Mẫu về công nhận và  
cho thi hành phán quyết của trọng tài  
nước ngoài  
Thể thức trọng tài là một phương thức  
giải quyết tranh chấp mà trong đó các bên  
thống nhất đưa tranh chấp ra một bên thứ  
ba là bên sẽ đưa ra quyết định chung thẩm  
1 Nguyễn Mạnh Dũng (2020), Báo cáo đánh giá, so sánh quy định của pháp luật Việt Nam về công nhận và cho  
thi hành phán quyết trọng tài với Luật Mẫu UNCITRAL, đề xuất khả năng áp dụng Luật Mẫu tại Việt Nam, tr.6.  
2 Hiện nay, nhiều đối tác nước ngoài như Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Bắc Ai Len, Thụy Sĩ, Hiệp hội trọng tài  
Bông quốc tế,… đã nhiều lần gửi thư và gặp các cơ quan của Việt Nam (Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công  
thương, Tòa án nhân dân tối cao,..) chính thức bày tỏ quan ngại về tỷ lệ lớn các phán quyết của trọng tài nước  
ngoài không được công nhận tại Việt Nam, việc giải thích các yêu cầu công nhận và thi hành phán quyết của  
trọng tài nước ngoài tại Việt Nam chưa phù hợp với Công ước.  
3 Tòa án nhân dân tối cao (2018), Chuyên đề: Công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài  
tại Việt Nam, tài liệu tập huấn trực tuyến ngày 25/6/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, tr.2.  
Số 10(434) - T5/2021  
13  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Công ước xác định những nguyên tắc  
chính trong quá trình công nhận và cho thi  
hành phán quyết của trọng tài nước ngoài  
như sau:  
Theo đó, bên phải thi hành có nghĩa vụ  
chứng minh các bên trong một thỏa thuận  
trọng tài, theo pháp luật của mỗi bên không  
có đủ năng lực pháp luật để tham gia thỏa  
thuận hoặc thỏa thuận trọng tài không có  
giá trị pháp luật theo pháp luật các bên chịu  
sự điều chỉnh hoặc theo pháp luật của nước  
nơi phán quyết được tuyên.  
- Các quốc gia thành viên Công ước thừa  
nhận giá trị hiệu lực của một thỏa thuận  
trọng tài bằng văn bản, đồng thời đảm bảo  
các tòa án của họ sẽ từ chối thụ lý vụ kiện  
trong trường hợp các bên tranh chấp đã có  
một thỏa thuận trọng tài;  
Một trường hợp khác, bên phải thi  
hành phán quyết phải chứng minh được  
rằng mình không được thông báo một  
cách phù hợp về việc chỉ định trọng tài  
viên hoặc về tố tụng trọng tài hoặc do một  
nguyên nhân khác không thể trình bày vụ  
việc của mình.  
- Các quốc gia thành viên bảo đảm việc  
công nhận và cho thi hành trên lãnh thổ của  
quốc gia mình một phán quyết của trọng tài  
đã được tuyên trên lãnh thổ quốc gia thành  
viên khác;  
- Các quốc gia thành viên không được có  
sự phân biệt đối xử giữa công nhận và thi  
hành phán quyết của trọng tài nước ngoài  
so với phán quyết của trọng tài trong nước;4  
Bên cạnh đó, liên quan đến trường hợp  
vượt quá yêu cầu khởi kiện, người phải  
thi hành phải chứng minh phán quyết giải  
quyết tranh chấp không được dự liệu trong  
các điều khoản của đơn yêu cầu đưa ra trọng  
tài giải quyết hay nằm ngoài điều khoản đó  
hoặc phán quyết trọng tài bao gồm các quyết  
định nằm ngoài phạm vi yêu cầu giải quyết  
bằng trọng tài. Tuy nhiên, trong trường hợp  
các quyết định nằm ngoài đó có thể tách rời  
với các quyết định nằm trong phạm vi yêu  
cầu thì phần quyết định thuộc phạm vi yêu  
cầu đó vẫn có thể được xem xét công nhận  
và cho thi hành.  
- Công ước không loại trừ quyền được áp  
dụng các quy định có lợi hơn đối với việc  
công nhận và cho thi hành phán quyết của  
trọng tài được quy định trong các điều ước  
quốc tế khác hoặc pháp luật quốc gia.  
Bên cạnh đó, Công ước cũng đề ra một  
số trường hợp mà căn cứ theo đó, quốc gia  
thành viên có thể từ chối công nhận và cho  
thi hành phán quyết của trọng tài của quốc  
gia thành viên khác, bao gồm:  
Vi phạm thủ tục tố tụng trọng tài: Đây là  
trường hợp mà quá trình tiến hành tố tụng  
hoặc thành phần tham gia tố tụng trọng tài  
vi phạm sự thỏa thuận của các bên hoặc  
pháp luật nơi tiến hành tố tụng (nếu không  
có thỏa thuận). Phán quyết chưa có hiệu lực  
pháp luật hoặc bị đình chỉ, bị hủy theo pháp  
luật hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước  
nơi phán quyết được tuyên cũng là một căn  
cứ từ chối công nhận và cho thi hành theo  
các điều khoản của Công ước.  
- Nhóm 1: Các trường hợp mà người  
phải thi hành có nghĩa vụ chứng minh: (i)  
các bên không có năng lực thỏa thuận trọng  
tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu; (ii)  
vi phạm thủ tục thông báo hoặc không thể  
trình bày vụ việc; (iii) phán quyết vượt khỏi  
yêu cầu khởi kiện; (iv) vi phạm thủ tục tố  
tụng trọng tài; (v) phán quyết chưa có hiệu  
lực pháp luật hoặc bị đình chỉ, bị hủy theo  
pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền của  
nước nơi phán quyết được tuyên.  
4 Không phân biệt đối xử nghĩa là không được đặt ra các điều kiện khó khăn đáng kể hoặc các khoản phí cao  
hơn so với công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài trong nước.  
14  
Số 10(434) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
- Nhóm 2: Các trường hợp tòa án tự  
xem xét để ra quyết định từ chối công  
nhận và cho thi hành: (i) đối tượng tranh  
chấp theo pháp luật của nước có yêu cầu  
công nhận và cho thi hành không được  
giải quyết bằng trọng tài; (ii) việc công  
nhận và cho thi hành là trái với trật tự  
công cộng của nơi công nhận và cho thi  
hành phán quyết.  
Hiện nay, Luật Mẫu ngày càng khẳng  
định vị trí của mình khi nhận được sự đồng  
thuận của nhiều quốc gia đối với các vấn  
đề quan trọng trong thực tiễn tố tụng trọng  
tài. Chỉ tính riêng khu vực ASEAN, đã có  
tới 7/10 quốc gia thành viên áp dụng Luật  
Mẫu6. Đặc biệt, trong những năm gần đây,  
nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ đã đưa  
Luật Mẫu trở thành pháp luật điều chỉnh  
hoạt động trọng tài ở nước mình7.  
Như vậy, Công ước quy định rất rõ các  
nguyên tắc và các căn cứ từ chối công nhận  
và cho thi hành phán quyết của trọng tài  
nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi để các  
quốc gia thành viên thực thi Công ước một  
cách có hiệu quả nhất.  
Tính chất quốc tế của trọng tài theo quy  
định của Luật Mẫu không được xác định  
trên cơ sở quốc tịch của trọng tài viên8.  
Theo đó, tính quốc tế trước tiên phụ thuộc  
vào địa điểm kinh doanh của các bên trong  
thỏa thuận trọng tài. Nếu địa điểm kinh  
doanh của các bên tại các quốc gia khác  
nhau, thì trọng tài được xem là “quốc tế”.  
Trong trường hợp địa điểm kinh doanh của  
các bên không cùng ở tại một quốc gia, các  
yếu tố khác sẽ được xem xét để xác định  
địa điểm tố tụng trọng tài, bất kỳ địa điểm  
nào mà một phần đáng kể của các nghĩa vụ  
trong quan hệ thương mại được thực hiện,  
… Bên cạnh đó, yếu tố quốc tế của trọng tài  
còn có thể được xác định theo thỏa thuận  
của các bên9.  
2.2. Quy định của Luật Mẫu về công  
nhận và cho thi hành phán quyết của trọng  
tài nước ngoài  
Khác với Công ước chỉ quy định về hai  
hoạt động là thi hành thỏa thuận trọng tài và  
công nhận và cho thi hành phán quyết trọng  
tài, các quy định của Luật Mẫu bao gồm  
toàn bộ quá trình tố tụng trọng tài. Bên cạnh  
đó, Luật Mẫu không có tính chất như một  
điều ước quốc tế, không buộc các quốc gia  
phải tuân thủ tuyệt đối. Luật Mẫu chỉ mang  
tính chất khuyến nghị và mềm dẻo, linh  
hoạt để các quốc gia vận dụng và chuyển  
hóa vào hệ thống pháp luật trong nước, đảm  
bảo tối đa sự hài hòa pháp luật về trọng tài  
của các quốc gia5.  
Công nhận và cho thi hành phán quyết  
trọng tài10 được quy định tại Điều 35 và các  
căn cứ từ chối công nhận và cho thi hành  
quy định tại Điều 36 Luật Mẫu. Có thể thấy  
5 Nguyễn Mạnh Dũng (2020), tlđd (1), tr.10.  
6 Bao gồm: Brunei, Malaysia, Philippines, Campuchia, Myanmar, Singapore, Thái Lan. Bên cạnh đó Luật Mẫu  
cũng được áp dụng tại nhiều quốc gia nơi có hệ thống trọng tài phát triển như Anh, Singapore, Hồng Kông,  
Nhật bản, Hàn Quốc,…  
7 Điển hình như Quatar, Mông Cổ, Nam Phi, MaCao, …  
8 Theo khoản 3 Điều 1 Luật Mẫu.  
9 Các bên đồng ý rằng nội dung của thỏa thuận trọng tài liên quan đến nhiều hơn một quốc gia.  
10 Luật Mẫu không giải thích hoặc định nghĩa như thế nào là phán quyết trọng tài. Thay vào đó Luật Mẫu chỉ  
quy định phán quyết trọng tài bao gồm cả phán quyết theo thỏa thuận ghi nhận sự thỏa thuận của các bên trong  
quá trình tiến hành tố tụng trọng tài; phán quyết phải bằng văn bản do trọng tài viên hoặc các trọng tài viên ký.  
Nội dung phán quyết bao gồm: (i) lý do đưa ra phán quyết và (ii) ngày tháng, địa điểm tố tụng trọng tài (Xem  
Điều 30, Điều 31 Luật Mẫu).  
Số 10(434) - T5/2021  
15  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
tiêu đề của chương VII, Điều 35 và Điều 36  
đều không nhắc tới “phán quyết trọng tài  
nước ngoài” như Công ước. Nội dung của  
Điều 35 cũng khẳng định việc công nhận  
và cho thi hành phán quyết của trọng tài là  
“không phụ thuộc vào quốc gia phán quyết  
được tuyên”. Việc áp dụng chung thủ tục  
công nhận và cho thi hành với tất cả các  
phán quyết không phân biệt nơi phán quyết  
được tuyên để tạo ra cơ chế công bằng cho  
cả phán quyết trọng tài trong nước và phán  
quyết trọng tài quốc tế. Như vậy, có thể  
thấy, phạm vi áp dụng của Luật Mẫu là rộng  
hơn Công ước bởi lẽ việc công nhận và cho  
thi hành không chỉ bị giới hạn trong phạm  
vi phán quyết “nước ngoài”.  
hay không là quyền của tòa án nơi công  
nhận và cho thi hành.  
Các quyết định về biện pháp tạm thời  
cũng sẽ được công nhận và cho thi hành  
theo Luật Mẫu. Các quy định về công nhận  
và cho thi hành quyết định về biện pháp tạm  
thời không bị giới hạn bởi việc hội đồng  
trọng tài ban hành biện pháp tạm thời tại  
nơi tiến hành tố tụng trọng tài. Tòa án nơi  
quốc gia có yêu cầu công nhận hoặc cho thi  
hành có thể buộc bên đưa ra yêu cầu thực  
hiện bảo đảm phù hợp nếu xét thấy là hành  
động cần thiết để bảo vệ quyền của bên thứ  
ba. Tòa án cũng sẽ không xem xét lại nội  
dung của biện pháp bảo đảm mà chỉ xem  
xét các căn cứ để từ chối công nhận và cho  
thi hành.  
Luật Mẫu không quy định về thời hạn  
công nhận và cho thi hành phán quyết trọng  
tài. Theo đó, người được thi hành phán  
quyết trọng tài tùy theo điều kiện và khả  
năng của bản thân có thể nộp đơn đề nghị  
tòa án nơi phán quyết được thi hành bất cứ  
lúc nào. Tuy nhiên, ở các quốc gia thành  
viên của Công ước nơi mà phán quyết sẽ  
được công nhận và cho thi hành hầu hết đều  
quy định về thời hạn để người được thi hành  
nộp đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành.  
3. Quy định của pháp luật Việt Nam về  
công nhận và cho thi hành phán quyết  
của trọng tài nước ngoài  
Theo pháp luật Việt Nam, trọng tài nước  
ngoài là trọng tài được thành lập trên cơ sở  
quy định của pháp luật nước ngoài do các  
bên thỏa thuận lựa chọn để tiến hành giải  
quyết tranh chấp có thể phát sinh ở ngoài  
lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ  
Việt Nam11. Phán quyết của trọng tài nước  
ngoài là phán quyết do trọng tài nước ngoài  
tuyên để giải quyết tranh chấp do các bên  
thỏa thuận lựa chọn12, tức là không phụ  
thuộc vào địa điểm giải quyết tranh chấp.  
Luật TTTM năm 2010 không quy định rõ  
địa điểm tố tụng trọng tài có ảnh hưởng như  
thế nào đến tính chất “nước ngoài” của trọng  
tài và căn cứ nào để xác định trọng tài được  
thành lập theo pháp luật nước ngoài13. Đối  
với trọng tài quy chế, việc xác định trọng tài  
đối với vụ việc cụ thể có thể được xác định  
Luật Mẫu còn bổ sung một quy định về  
việc tòa án nơi công nhận hoặc thi hành có  
thể hoãn việc ra quyết định nếu có đơn yêu  
cầu hủy hoặc đình chỉ phán quyết trọng tài  
tại quốc gia nơi phán quyết được tuyên và  
khi đó tòa án, theo yêu cầu của bên đề nghị  
công nhận và cho thi hành phán quyết yêu  
cầu bên phải thi hành nộp phí bảo đảm. Đây  
là quy định nhằm mục đích đảm bảo và cân  
bằng quyền lợi của các bên trong tố tụng  
trọng tài ở giai đoạn công nhận và cho thi  
hành. Tuy nhiên, việc có hoãn ra quyết định  
11 Khoản 11 Điều 3 Luật TTTM năm 2010.  
12 Khoản 12 Điều 3 Luật TTTM năm 2010.  
13  
Nguyễn Mạnh Dũng (2020), tlđd (1), tr.19.  
16  
Số 10(434) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
dễ dàng hơn. Tuy nhiên, đối với trọng tài  
vụ việc mà tố tụng trọng tài hoàn toàn phụ  
thuộc vào sự thỏa thuận của các bên thì việc  
xác định trọng tài được thành lập theo nước  
nào có thể gặp không ít khó khăn, nhất là  
khi yếu tố địa điểm tố tụng trọng tài không  
được nhắc đến. Với quy định hiện hành của  
pháp luật Việt Nam, việc xác định một phán  
quyết trọng tài có phải là phán quyết trọng  
tài nước ngoài hay không sẽ là rất khó khăn.  
Trên cơ sở Công ước, khi gia nhập Việt  
Nam đã giới hạn phạm vi áp dụng của Công  
ước tại Quyết định số 453/QĐ-CTN ngày  
28/7/1995 của Chủ tịch nước về việc tham gia  
Công ước New York năm 1958 (Quyết định  
số 453). Điều 2 Quyết định số 453 đưa ra 03  
(ba) điều bảo lưu cơ bản của Việt Nam16:  
(1) Công ước chỉ áp dụng đối với việc  
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam  
quyết định của trọng tài nước ngoài được  
tuyên tại lãnh thổ của các quốc gia thành  
viên của Công ước; đối với quyết định  
trọng tài nước ngoài được tuyên tại lãnh thổ  
quốc gia chưa ký kết hoặc tham gia Công  
ước, Công ước áp dụng tại Việt Nam theo  
nguyên tắc có đi có lại.  
Hiện nay, thủ tục công nhận và cho thi  
hành phán quyết trọng tài nước ngoài được  
quy định trong phần thứ bảy Bộ luật TTDS  
năm 2015. Để phân biệt giữa phán quyết  
trọng tài (quyết định giải quyết nội dung  
vụ việc) và các quyết định khác của trọng  
tài (về trình tự tố tụng), Bộ luật TTDS năm  
2015 đã sử dụng từ “phán quyết” thay cho  
“quyết định”, đồng thời dẫn chiếu đến các  
khái niệm đã được định nghĩa trong pháp  
luật trọng tài14. Bộ luật TTDS năm 2015  
cũng đã bổ sung trở lại nghĩa vụ chứng minh  
của bên phải thi hành trong các trường hợp  
không công nhận theo quy định của Công  
Ước15. Trình tự thủ tục công nhận và cho thi  
hành có những sửa đổi theo hướng rút ngắn  
thời hạn, giảm bớt khâu trung gian để đẩy  
mạnh tiến trình công nhận và cho thi hành.  
(2) Chỉ áp dụng Công ước đối với tranh  
chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật  
thương mại.  
(3) Mọi sự giải thích Công ước trước tòa  
án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của  
Việt Nam phải tuân thủ các quy định của  
Hiến pháp và pháp luật Việt Nam.  
Hiện nay, khoản 3 Điều 2 Bộ luật TTDS  
năm 2015 quy định: “Bộ luật TTDS được  
áp dụng đối với việc giải quyết việc dân sự  
có yếu tố nước ngoài; trường hợp điều ước  
14 Luật Trọng tài thương mại năm 2010; Nghị định số 63/2011/NĐ-CP ngày 28/7/2011 của Chính phủ quy định  
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trọng tài thương mại và các văn bản sửa đổi, bổ sung; Thông  
tư số 12/2012/TT-BTP ngày 07/11/2012/TT-BTP ngày 07/11/2012 của Bộ Tư pháp ban hành một số biểu mẫu và  
tổ chức hoạt động của trọng tài thương mại; Nghị quyết số 01/2014/NQ - HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng  
thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại.  
15 Văn bản điều chỉnh việc công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài đầu tiên là Pháp lệnh  
công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài năm 1995 (Pháp lệnh năm 1995). Pháp lệnh đã  
quy định nhiều nội dung rất gần với các quy định của Công ước và Luật Mẫu, trong đó có quy định các trường  
hợp không công nhận và cho thi hành nếu bên phải thi hành có sự chứng minh hợp lý (Xem Điều 16 Pháp lệnh  
năm 1995). Tuy vậy, tại thời điểm đó, các quy định về tố tụng dân sự của Việt Nam còn chưa được thống nhất  
nên hiệu quả mà Pháp lệnh 1995 mang lại là không cao. Tiếp theo đó, năm 2004, Bộ luật TTDS năm 2004, tại  
phần thứ sáu quy định về thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài,  
Điều 370 Bộ luật TTDS năm 2004 lại bỏ nội dung về nghĩa vụ chứng minh các trường hợp không công nhận  
thuộc về người phải thi hành, gây ra nhiều vướng mắc trong thực tiễn áp dụng dẫn đến nhiều trường hợp quyết  
định của trọng tài nước ngoài không được công nhận và cho thi hành.  
16 Điều 2 Quyết định số 453.  
Số 10(434) - T5/2021  
17  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt  
Nam là thành viên có quy định khác thì áp  
dụng quy định của điều ước quốc tế đó”.  
- Nhóm 2: Khi tòa án Việt Nam xét thấy:  
(i) vụ tranh chấp không được giải quyết theo  
thể thức trọng tài theo pháp luật Việt Nam19;  
và (ii) việc công nhận và cho thi hành phán  
quyết tại Việt Nam là trái với các nguyên  
tắc cơ bản của pháp luật nước Cộng hòa xã  
hội chủ nghĩa Việt Nam.  
Theo quy định của Điều 424 Bộ luật TTDS  
năm 2015, Tòa án Việt Nam xem xét đơn yêu  
cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam  
phán quyết của trọng tài nước ngoài theo hai  
nguyên tắc cơ bản: trên cơ sở điều ước quốc  
tế17 và trên nguyên tắc có đi có lại18.  
Khi xem xét đơn yêu cầu công nhận  
và cho thi hành, Hội đồng trọng tài không  
được xét xử lại tranh chấp đã được trọng  
tài nước ngoài ra phán quyết mà chỉ được  
kiểm tra, đối chiếu phán quyết của trọng  
tài nước ngoài, giấy tờ, tài liệu kèm theo  
đơn yêu cầu để làm cơ sở cho việc ra quyết  
định công nhận hoặc không công nhận phán  
quyết đó. Hội đồng xét đơn yêu cầu phải  
đánh giá chứng cứ do các bên xuất trình  
một cách cẩn trọng, kỹ lưỡng và vô tư20.  
Khi một phán quyết trọng tài nước ngoài  
được tòa án Việt Nam công nhận và cho thi  
hành tại Việt Nam thì phán quyết đó sẽ có  
“hiệu lực pháp luật” như quyết định của tòa  
án Việt Nam đã có hiệu lực pháp luật. Do  
đó, khi tòa án được yêu cầu công nhận phán  
quyết trọng tài, tòa án không chỉ được yêu  
cầu công nhận hiệu lực pháp lý của phán  
quyết mà còn phải đảm bảo phán quyết đó  
được thi hành21. Điều 427 Bộ luật TTDS  
năm 2015 quy định, phán quyết được công  
nhận sẽ được thi hành theo thủ tục thi hành  
án dân sự và chỉ được thi hành sau khi có  
quyết định của tòa án Việt Nam công nhận  
và cho thi hành phán quyết của trọng tài  
nước ngoài có hiệu lực pháp luật.  
Bộ luật TTDS năm 2015 đã nội luật hóa  
Điều V của Công ước về các trường hợp từ  
chối công nhận và cho thi hành phán quyết  
của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam (Điều  
459). Theo đó, căn cứ để tòa án không công  
nhận và cho thi hành phán quyết của trọng  
tài nước ngoài gồm hai nhóm sau:  
- Nhóm 1: Bên có nghĩa vụ phải thi hành  
cung cấp chứng cứ cho tòa án chứng minh  
rằng: (i) các bên ký thỏa thuận trọng tài  
không có năng lực để ký kết theo pháp luật  
mỗi bên; (ii) thỏa thuận trọng tài không có  
giá trị pháp lý; (iii) bên phải thi hành không  
được thông báo kịp thời và hợp thức về  
việc giải quyết vụ tranh chấp hoặc không  
thể thực hiện được quyền tố tụng của mình  
(với lý do chính đáng); (iv) phán quyết  
được tuyên không được các bên yêu cầu  
giải quyết hoặc vượt quá yêu cầu của các  
bên; (v) thành phần, thủ tục giải quyết tranh  
chấp không phù hợp; (vi) phán quyết chưa  
có hiệu lực bắt buộc đối với các bên; (vii)  
phán quyết bị cơ quan có thẩm quyền của  
nước nơi phán quyết đã được tuyên hoặc  
của nước có pháp luật đã được áp dụng hủy  
bỏ hoặc đình chỉ thi hành.  
Do vậy, công nhận và cho thi hành tại  
Việt Nam phán quyết của trọng tài nước  
17 Điểm a khoản 1 Điều 424 Bộ luật TTDS 2015.  
18 Điểm b khoản 1 Điều 424 Bộ luật TTDS 2015.  
19  
Một tranh chấp có thể được coi là không thể trọng tài nếu nó thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án  
Việt Nam theo Điều 470 Bộ luật TTDS năm 2015.  
20 Tòa án nhân dân tối cao (2018), tlđd (2), tr.16.  
21 Tòa án nhân dân tối cao (2018), tlđd (2), tr. 3.  
18  
Số 10(434) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
ngoài là một thủ tục tố tụng đặc biệt do tòa  
án tiến hành nhằm xem xét để công nhận  
tính hiệu lực của phán định trọng tài nước  
ngoài trên phạm vi lãnh thổ của Việt Nam.  
kịp thời các thông tin hoặc không thể tham  
gia thực hiện quyền tố tụng của mình với lý  
do chính đáng; (iii) việc công nhận và cho  
thi hành là trái với nguyên tắc cơ bản của  
pháp luật Việt Nam.  
Tuy nhiên, ranh giới giữa việc xem xét  
các yêu cầu để ra quyết định có công nhận  
phán quyết trọng tài hay không với việc  
xem xét nội dung của phán quyết trong  
nhiều trường hợp khó phân biệt rõ ràng như  
căn cứ liên quan đến năng lực của các bên,  
hiệu lực của thỏa thuận trọng tài hoặc vi  
phạm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật  
Việt Nam.  
Những bất cập nêu trên xuất phát từ  
những nguyên nhân sau đây:  
Thứ nhất, chưa có văn bản hướng  
dẫn thống nhất về xác định người phải  
thi hành, nguyên tắc có đi có lại, căn cứ  
hủy phán quyết và từ chối công nhận do  
vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật  
Việt Nam.  
Theo thống kê số liệu giai đoạn báo cáo  
từ ngày 01/02/2012 đến ngày 30/9/201922  
có 33 yêu cầu công nhận và cho thi hành  
phán quyết trọng tài nước ngoài không  
được tòa án thụ lý giải quyết; 84 vụ việc  
thu thập được các quyết định giải quyết và  
đưa ra kết quả giải quyết23 tập trung ở các  
tòa án Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh,  
Bình Dương, Long An24 trong đó 39 vụ việc  
được công nhận và cho thi hành, 33 vụ việc  
không được công nhận, 12 vụ việc đình chỉ  
giải quyết.  
Thứ hai, cách hiểu và áp dụng Công ước  
của các tòa án không được thống nhất (có  
tòa án sẽ đánh giá quyết định của trọng tài  
nước ngoài so với quy định của Công ước  
và Bộ luật TTDS; có tòa án lại không đề cập  
gì đến Công ước hoặc có tòa án chỉ nhắc  
đến tên Công ước mà không có phân tích  
gì thêm).  
Thứ ba, công tác tổng kết, rà soát, đánh  
giá, đôn đốc việc công nhận và cho thi hành  
phán quyết trọng tài cũng như thực hiện  
Công ước chưa được quan tâm đúng mức.  
Một nghiên cứu chỉ ra rằng25, việc tòa  
án không công nhận và cho thi hành phán  
quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam  
thường dựa vào các lý do như: (i) các bên  
tham gia thỏa thuận trọng tài không có năng  
lực để ký thỏa thuận; (ii) cá nhân, tổ chức  
có nghĩa vụ thi hành không được thông báo  
4. Khả năng áp dụng Luật Mẫu trong  
thủ tục công nhận và cho thi hành phán  
quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam  
Mặc dù Công ước đã có hiệu lực tại  
Việt Nam trong 25 năm, tỉ lệ công nhận  
và cho thi hành phán quyết trọng tài ở  
22 Có 55/66 Tòa án có báo cáo. Số liệu được nêu có thể không phản ánh hoàn toàn chính xác thực trạng công  
nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài ở Việt Nam do số liệu cung cấp không đầy đủ.  
23 Số lượng được giải quyết theo Bộ luật TTDS năm 2015 là 23 vụ việc, trong đó 11 vụ việc được công nhận  
và cho thi hành, 5 vụ việc không công nhận và 7 vụ việc đình chỉ giải quyết.  
24 Tòa án Tp. Hà Nội: 15 vụ việc; Tòa án Tp. Hồ Chí Minh: 38 vụ việc; Tòa án tỉnh Bình Dương: 5 vụ việc;  
Tòa án tỉnh Long An: 5 vụ việc.  
25 Nguyễn Mạnh Dũng (2020), tlđd (1), tr. 29. Các căn cứ này được quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1 và  
điểm b khoản 2 Điều V Công ước; điểm a, c khoản 1 Điều 370 Bộ luật TTDS năm 2004; điểm b khoản 2 Điều  
370 Bộ luật TTDS năm 2004. Đối với 5 vụ việc không được công nhận kể từ khi Bộ luật TTDS năm 2015,  
tòa án dựa vào căn cứ tại điểm a, c khoản 1 Điều 459, điểm b khoản 2 Điều 459 Bộ luật TTDS năm 2015.  
Số 10(434) - T5/2021  
19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 66 trang Thùy Anh 16761 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 10 - Năm 2021", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftap_chi_nghien_cuu_lap_phap_so_10_nam_2021.pdf