Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 10 - Năm 2021
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
XÃ HỘI HỌC XÂY DỰNG PHÁP LUẬT
CHÍNH SÁCH THUẾ TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
BẤT ĐỘNG SẢN
Số 10 (434)
Tháng 5/2021
PHÁP LUẬT VỀ TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP CỦA LIÊN BANG NGA VÀ NHỮNG GỢI MỞ CHO VIỆT NAM
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
XÃ HỘI HỌC XÂY DỰNG PHÁP LUẬT
CHÍNH SÁCH THUẾ TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
BẤT ĐỘNG SẢN
Số 10 (434)
Tháng 5/2021
Mục lục Số 10/2021
PHÁP LUẬT VỀ TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP CỦA LIÊN BANG NGA VÀ NHỮNG GỢI MỞ CHO VIỆT NAM
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Xã hội học xây dựng pháp luật
3
TS. Phạm Thị Duyên Thảo
Công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài - kinh
nghiệm từ Công ước New York năm 1958 và Luật Mẫu Uncitral
12
Nguyễn Thị Thanh Ngân
CHÍNH SÁCH
Chính sách thuế trong mối tương quan với hoạt động kinh
doanh bất động sản
21
Bꢀi Trang Kim Yꢁn
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
Nội dung của di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015
TS. Hoàng Thị Loan
29
35
39
Văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015
ThS. Ngô Văn Lượng
Bàn về thủ tục áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp
tạm thời phong tỏa tài khoản tại ngân hàng
Hà Giang
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
Pháp luật về tình trạng khẩn cấp của Liên bang Nga và những
gợi mở cho Việt Nam
46
52
TS. Cao Vũ Minh
Quyền sung công vì lợi ích công cộng theo pháp luật Cộng
hòa Pháp
ThS. Nguyễn Dương Anh Thꢂng
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Phân cấp, ủy quyền tổ chức chính quyền đô thị Thành phố
Hồ Chí Minh
60
Ảnh bìa: Thác Hang Én, Gia Lai
Ảnh: ST
TS. Phan Hải Hồ
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
XÃ HỘI HỌC XÂY DỰNG PHÁP LUẬT
CHÍNH SÁCH THUẾ TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
BẤT ĐỘNG SẢN
Số 10 (434)
Tháng 5/2021
Legis No 10/2021
PHÁP LUẬT VỀ TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP CỦA LIÊN BANG NGA VÀ NHỮNG GỢI MỞ CHO VIỆT NAM
STATE AND LAW
Sociology of Lawmaking
3
Dr. Pham Thi Duyen Thao
Recognition and Enforcement of Foreign Arbitral Awards -
Experience from the 1958 New York Convention and the
Uncitral Model Law
12
Nguyen Thi Thanh Ngan
POLICY
Tax Policy in Relation to Real Estate Business
Bui Trang Kim Yen
21
LEGAL PRACTICE
Contents of Wills under the Civil Code of 2015
Dr. Hoang Thi Loan
29
35
39
Guidelines for Enforcement of the Penal Code of 2015
LLM. Ngo Van Luong
Discussion of the Procedure for Application, Modification and
Remove of the Provincial Emergency Measures of Freezing
Accounts at Banks
Ha Giang
FOREIGN EXPERIENCE
Law on State of Emergency of the Russian Federation and
Suggestions for Vietnam
46
52
Dr. Cao Vu Minh
Right to Expropriation for Public Utilities under the Law of the
Republic of France
LLM. Nguyen Duong Anh Thang
LOCAL GOVERNMENT ADMINISTRATION
Decentralization and Authorization for Organization of Urban
Government in Ho Chi Minh City
60
Dr. Phan Hai Ho
PRICE: 25.000VND
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
XÃ HỘI HỌC XÂY DỰNG PHÁP LUẬT
Phạm Thị Duyên Thảo
TS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Xã hội học xây dựng pháp luật là một loại nghiên cứu pháp lý - xã hội; theo đó,
xây dựng pháp luật được tiếp cận dưới góc độ là một hiện tượng xã hội, xem xét
các khía cạnh, bản chất xã hội, các bảo đảm cơ sở xã hội học của xây dựng pháp
luật, các yếu tố xã hội tác động đến xây dựng pháp luật, cơ chế xã hội của xây
dựng pháp luật cũng như hiệu quả, sự tác động ngược trở lại của xây dựng pháp
luật đối với đời sống xã hội.
Từ khóa: Xã hội học, xây dựng
pháp luật.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 20/3/2021
: 16/4/2021
: 22/4/2021
Article Infomation:
Abstract:
Sociology of lawmaking is a type of socio-legal study; accordingly, law-making
is approached from the perspective of a social phenomenon to consider the
concept and nature of sociology so that it is to ensure the sociological basis of
law-making, the social factors to impact on law-making, the social mechanism
of law-making as well as the effectiveness, the reverse impacts of law-making
on social life.
Keywords: Sociology; lawmaking.
Article History:
Received
Edited
: 20 Mar. 2021
: 16 Apr. 2021
: 22 Apr. 2021
Approved
1. Bản chất xã hội của xây dựng
pháp luật
XDPL tạo ra các khung khổ để thay đổi các
hành vi có xu hướng cản trở sự phát triển
(đặc biệt là hành vi của các công chức nhà
nước) và ngược lại.
Trước hết, xây dựng pháp luật (XDPL)
chính là một loại thiết kế xã hội1, bao gồm
việc dựng cho xã hội một “bản vẽ”, một bộ
khung, mô hình, góp phần vào việc định
hình, định hướng xã hội theo một hệ thống
các quy ước nhất định. Hoạt động XDPL
thực chất là tạo nên các quy phạm pháp
luật (QPPL) - quy tắc của hành vi - để tác
động vào các quan hệ xã hội, làm chúng
đi theo đúng khuôn khổ mà xã hội mong
muốn. Các khuôn khổ đó sẽ cung cấp quy
tắc ứng xử, mô hình hóa hành vi của các
thành viên trong xã hội, kiềm chế họ không
thực hiện hoặc bắt buộc phải thực hiện
những hành vi nhất định, hoặc sẽ hành xử
như thế này mà không phải như thế khác.
XDPL xuất phát từ nhu cầu của xã hội,
trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Nhu cầu điều chỉnh này, cùng các quyền, lợi
ích, phần lớn trùng hợp với mong muốn của
các cá nhân, các nhóm trong xã hội. Hoạt
động XDPL không những nằm trong quá
trình vận hành chung của xã hội, mà với các
QPPL được xây dựng chủ động, mang tính
“đón đầu”, “phòng ngừa” xã hội trong quá
trình điều chỉnh, còn thể hiện sự định hướng
xã hội.
XDPL được vận hành nhờ các chất liệu
đa dạng từ cuộc sống, chịu sự tác động
nhiều chiều từ các khía cạnh, yếu tố khác
1 Võ Khánh Vinh, Xã hội học pháp luật - những vấn đề cơ bản, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015, tr.268.
Số 10(434) - T5/2021
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
nhau trong xã hội. Từ các yếu tố chung như:
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, bối cảnh
quốc tế, ý thức pháp luật, truyền thống lịch
sử cho đến các yếu tố trực tiếp như: tổ chức,
năng lực, kỹ năng, kỹ thuật soạn thảo, phạm
vi, tính chất, đối tượng điều chỉnh...
mâu thuẫn về lợi ích, mức độ thiếu tương
thích trong đáp ứng nhu cầu xã hội, sự yếu
kém về kỹ thuật lập pháp, sự biến động của
các quan hệ xã hội hoặc đến từ những tình
huống xã hội thuộc phạm vi quản lý của
Nhà nước. Những tình huống xã hội xuất
hiện lặp đi lặp lại, nhất là tình huống mang
yếu tố không bình thường, không chỉ giúp
cho việc nhận diện vấn đề mà còn cho thấy
các lỗ hổng của pháp luật hiện hành, kéo
theo nhu cầu phải sửa đổi, bổ sung các quy
định của pháp luật liên quan. Ví dụ, việc
gia tăng các giao dịch về cây hoa phong
lan đột biến với giá hàng chục, hàng trăm
tỷ đồng đã thu hút không ít người lao vào
đầu tư với mong muốn kiếm siêu lợi nhuận
vì tin rằng sẽ có người bỏ tiền nhiều hơn
để mua lại. Các hành vi lừa đảo theo đó
cũng gia tăng, dẫn đến nhiều nghi vấn về
tính xác thực của giao dịch. Ở góc độ pháp
lý, nhiều ý kiến cho rằng, để những tình
huống xã hội dạng này ngày càng xuất hiện
là do những bất cập về pháp luật. Cụ thể,
trong trường hợp nếu hộ gia đình, cá nhân
trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất
nông nghiệp (trồng trọt) chưa qua chế biến
thành các sản phẩm khác, thì sản phẩm
nông nghiệp trong trường hợp này không
chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định tại
khoản 1 Điều 1 Luật Thuế giá trị gia tăng
năm 2016 và được miễn thuế thu nhập cá
nhân theo quy định tại Điều 4 Luật Thuế
thu nhập cá nhân năm 2007. Theo đó, việc
cân nhắc, bổ sung các quy định về thuế và
cơ chế kiểm soát đối với loại tình huống
pháp lý này sẽ có ý nghĩa quan trọng trong
việc minh định các giao dịch, giúp người
dân không bị cuốn vào những giao dịch
tiềm ẩn đầy rủi ro, bất ổn có thể làm đảo
lộn cuộc sống và mất trật tự an ninh.
XDPL, đến lượt mình, cũng tác động trở
lại mạnh mẽ đến các khía cạnh xã hội. Nó
không chỉ là hoạt động chủ đạo góp phần
tạo nên cơ sở pháp lý cho việc điều chỉnh,
định hướng các quan hệ xã hội, mà còn là
một hệ thống các thông tin xã hội tương ứng
được thể hiện qua nội dung, cách thức điều
chỉnh của các QPPL. XDPL góp phần quy
phạm hóa các chuẩn mực xã hội khác như:
đạo đức, phong tục, tập quán, các quy tắc
của tổ chức chính trị, xã hội, làm đa dạng
cách thức và gia tăng hiệu quả điều chỉnh
các quan hệ xã hội.
2. Cơ chế xã hội của xây dựng pháp luật
Khác với cơ chế pháp lý trong XDPL,
luôn mang tính quyền lực nhà nước với
các quy trình luật định, cơ chế xã hội trong
XDPL có đặc thù riêng, là quá trình gắn với
sự tham gia của các lực lượng xã hội, gồm
công dân, nhóm, tổ chức, hội nghề nghiệp,
các thành phần khác nhau của xã hội dân sự
vào việc XDPL của Nhà nước.
Cơ chế xã hội trong XDPL có thể xuất
hiện ở giai đoạn này hay giai đoạn khác,
hoặc lặp đi lặp lại trong các giai đoạn của
quá trình XDPL. Các hình thức của cơ chế
đó là: nhận biết, phản ánh, thiết lập; tham
gia; phản kháng, phản biện xã hội và giám
sát xã hội trong XDPL.
Nhận biết, phản ánh, thường xuất hiện
ở giai đoạn đầu của quá trình XDPL. Từ
thực tiễn, các thành phần xã hội nhận
thức, đánh giá về trạng thái, tính chất,
hiệu quả của các quy phạm pháp luật hiện
hành trong khi điều chỉnh quan hệ xã hội.
Những bất cập, thiếu khuyết của pháp luật
sẽ được nhận diện. Bất cập có thể đến từ sự
Gắn liền với nhận thức, hoạt động phản
ánh sẽ diễn ra, nhằm tái hiện các vấn đề xã
hội - pháp lý liên quan đến các đặc trưng,
hệ quả xã hội hoặc tính chất của các QPPL,
4
Số 10(434) - T5/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
nhằm đạt được những nhu cầu từ thực tiễn.
Một biểu hiện phổ biến trong cơ chế nhận
thức, phản ánh là dư luận xã hội. Dư luận xã
hội là các ý kiến còn lại sau quá trình phân
tích, đánh giá của các thành phần xã hội về
những vấn đề mà họ cảm thấy có ý nghĩa
hoặc động chạm đến lợi ích, giá trị chung.
Thông qua dư luận xã hội, quá trình nhận
biết, phản ánh trong XDPL của các thành
phần xã hội được công khai, cập nhật.
cách là các đối tượng nghiên cứu thụ động,
mà với tư cách là các chủ thể tích cực, chủ
động vào các chương trình phân tích được
tiến hành “sẽ thúc đẩy một chương trình
lập pháp ngày càng dân chủ”2.
Ở Việt Nam, sự tham gia của xã hội vào
XDPL được ghi nhận tại Điều 28 Hiến pháp
năm 2013, cụ thể hóa tại Điều 5 Luật Ban
hành văn bản QPPL năm 2015 “bảo đảm
công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận,
phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ
quan, tổ chức trong quá trình xây dựng, ban
hành văn bản QPPL”. Cơ chế tham gia của
xã hội vào XDPL không chỉ đảm bảo quyền
của công dân, nhằm thu hút, phát huy năng
lực sáng tạo của nhân dân mà còn gia tăng
trách nhiệm của Nhà nước trong quá trình
tạo ra các sản phẩm pháp luật đáp ứng nhu
cầu xã hội, phục vụ con người3.
Sự tham gia trong XDPL là quá trình
người dân, các lực lượng xã hội có thể góp
phần hoạt động của mình vào xây dựng các
quyết định, chính sách pháp luật có ảnh
hưởng đến hành vi, các quyền và lợi ích
của họ. Sự tham gia của xã hội vào XDPL
thông thường đến từ các đối tượng chịu sự
tác động trực tiếp từ các văn bản QPPL,
các đối tượng khác chịu sự tác động của
các dự thảo văn bản QPPL, của các tổ chức
xã hội, chuyên gia, hoặc từ các chủ thể
khác trong tương quan với nhận thức, mức
độ quan tâm của họ đến XDPL. Các đối
tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn
bản QPPL thuộc nhóm yếu thế như phụ nữ,
trẻ em, người khuyết tật, cơ chế tham gia
có những đặc thù, ảnh hưởng từ yếu tố thể
chất, tinh thần của nhóm. Sự tham gia của
các chuyên gia, nhà khoa học có ý nghĩa
quan trọng, bởi họ thường có tri thức, kỹ
năng, gia tăng cơ hội xây dựng được các
VBQPPL có chất lượng, hiệu quả. Sự tham
gia của các đối tượng có lợi ích liên quan
có thể làm cho họ hành xử khác đi. Đặc
biệt, khi sự tham gia không phải với tư
Phản biện, phản kháng xã hội: Phản
biện xã hội trong XDPL là việc bày tỏ
ý kiến một cách có hệ thống và có cơ sở
khoa học đối với các chính sách, pháp luật
ở những công đoạn nhất định của quá trình
XDPL, là “nhận diện, tìm ra điểm đúng,
sai, bất hợp lý của chính sách được đưa ra
để giải quyết vấn đề phát sinh, từ đó có thể
kiến nghị điều chỉnh hay thậm chí là hủy
bỏ chính sách đó, đề xuất chính sách mới,
phù hợp hơn để giải quyết vấn đề”4. Nhờ
cơ chế phản biện, mức độ tương thích, hiệu
quả của chính sách pháp luật sẽ được nhận
diện, những lập luận, đề xuất đưa ra sẽ góp
phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của
chính sách pháp luật khi được ban hành.
2 Ann Seidman, Robert B. Seidman, Nalin Abeyesekere, Soạn thảo luật pháp vì tiến bộ xã hội dân chủ, Nxb.
Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2003, tr.197.
3 Xem Đặng Minh Tuấn, Nguyễn Thị Minh Hà, Thúc đẩy sự tham gia của người dân trong hoạt động XDPL
ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu cả cách tiếp cận dựa trên quyền con người, in trong sách “Sự tham gia của xã
hội vào quản trị nhà nước và phòng, chống tham nhũng trên thế giới và ở Việt Nam”, Nxb. Chính trị Quốc gia
Sự thật, Hà Nội, 2020, tr.125-150
4 Lê Thị Thiều Hoa, Phản biện xã hội và vai trò của phản biện xã hội ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu
tro-cua-phan-bien-xa-hoi-o-Viet-Nam-hien-nay.html.
Số 10(434) - T5/2021
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Phản biện có thể diễn ra trực tiếp tại các hội
nghị lấy ý kiến, tiếp xúc cử tri của đại biểu
dân cử hoặc thông qua việc đăng tải ý kiến
trên phương tiện thông tin đại chúng, thông
qua các tổ chức mà mình là thành viên hoặc
qua việc đối thoại với các chủ thể có văn
bản được phản biện.
sự tham gia đa dạng, chủ động của nhân dân
vào hoạt động XDPL, cũng là sự cạnh tranh
cần thiết trong tương quan với việc nâng
cao chất lượng, hiệu quả của cơ chế pháp
lý của XDPL.
3. Bảo đảm cơ sở xã hội học của xây dựng
pháp luật
Phản kháng xã hội trong XDPL có mục
đích loại bỏ hoặc kiềm chế việc xây dựng
hoặc ban hành những chính sách, pháp luật
mà các chủ thể phản kháng thấy không hợp
lý, không có ích cho xã hội, cộng đồng.
Phản kháng và phản biện xã hội trong
XDPL không hoàn toàn giống nhau, nhưng
đều là những cách thức thể hiện thái độ,
phản ứng tích cực của xã hội đối với các
vấn đề liên quan đến XDPL, nhằm hướng
tới chất lượng, hiệu quả của các sản phẩm
lập pháp, lập quy.
Bảo đảm cơ sở xã hội học của XDPL
là những yếu tố làm cho XDPL chắc chắn
được thực hiện, duy trì hoặc có đầy đủ
những gì cần thiết để triển khai hiệu quả.
“Trong xã hội học pháp luật, hoạt động thu
thập và phân tích thông tin xã hội cần thiết
cho việc soạn thảo có kết quả các QPPL
được hiểu là cơ sở xã hội học của hoạt động
XDPL”5. Nội dung bảo đảm cơ sở xã hội
học trong XDPL gồm:
- Thông tin xã hội học về chính sách
pháp luật
Giám sát xã hội trong XDPL là việc
công dân, các thành phần xã hội, thông qua
các cách thức được pháp luật quy định, tiến
hành quan sát, theo dõi, kiểm tra hoạt động
XDPL của các chủ thể có thẩm quyền xem
có đúng đắn, hợp pháp, hợp lý, chất lượng,
hiệu quả không. Cách thức giám sát có thể
qua khiếu nại, tố cáo, qua báo chí, phương
tiện truyền thông đại chúng hoặc qua việc
thực hiện dân chủ ở cơ sở trong liên quan
đến quá trình XDPL.
Là một trong những chính sách công có
vị trí quan trọng trong đời sống pháp lý,
chính sách pháp luật là “chiến lược hoạt
động của Nhà nước trong lĩnh vực điều
chỉnh pháp luật, cũng như hoạt động phản
ánh các lợi ích xã hội trong việc phân bổ lại
các lĩnh vực ảnh hưởng của các điều chỉnh
xã hội khác nhau”6. XDPL cần phải có các
thông tin xã hội học về chính sách pháp
luật vì, “chính sách là nội dung, văn bản
pháp luật là vỏ bọc chứa đựng các chính
sách đó dưới dạng ngôn ngữ và hình thức
pháp lý”7. Thông tin xã hội học về chính
sách pháp luật cơ bản đến từ quá trình phân
tích chính sách. Quá trình này cần thiết,
bởi nó đảm bảo mục tiêu của pháp luật là
phục vụ lợi ích công cộng hoặc một bộ phận
nhất định trong công chúng; giúp cho các
nhà lập pháp hiểu rõ “mức độ tác động của
các biện pháp cưỡng chế thi hành tới đâu
Các hình thức của cơ chế xã hội của
XDPL có quan hệ mật thiết, tiếp nối, hòa
trộn trong quá trình XDPL. Để giám sát,
cần nhận biết, phản ánh và ngược lại. Giám
sát cung cấp dữ liệu sống động cho quá
trình phản kháng, phản biện xã hội, nhằm
hướng tới chất lượng, hiệu lực thực sự của
pháp luật. Ở góc độ tích cực nhất, các cơ
chế xã hội của XDPL là biểu hiện mạnh mẽ
5 Võ Khánh Vinh, Xã hội học pháp luật - những vấn đề cơ bản, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015, tr.275.
6 Võ Khánh Vinh, Xã hội học pháp luật - những vấn đề cơ bản, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015, tr.195.
7 Nguyễn Đức Lam, Phân tích chính sách trong quy trình lập pháp ở các nước, https://thongtinphapluatdansu.
edu.vn/2009/04/06/2615/.
6
Số 10(434) - T5/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
và lường trước những phản ứng ngược lại;
đặt sản phẩm lập pháp trong một chuỗi các
hoạt động theo trật tự cố định, từ lúc nhận
biết nhu cầu, xác định phương án, thiết kế
phương án, cho đến lúc thông qua; giúp
nhận biết mối liên hệ của văn bản chuẩn bị
ban hành với những văn bản cùng lĩnh vực,
từ đó tăng tính hiệu quả; hướng tới mức độ
tương thích giữa chi phí và lợi ích để cân
nhắc xem có cần ban hành văn bản QPPL
đó hay không8. Trong quá trình phân tích
chính sách, sự tham vấn rộng rãi ý kiến của
quần chúng, các bộ ngành liên quan sẽ góp
phần nâng cao chất lượng, làm minh bạch
hóa, đời sống hóa hoạt động XDPL.
chính là một trong những nguyên nhân dẫn
đến hoạt động XDPL. Nhờ những thông tin
này, mà các chủ thể có thẩm quyền nhận
thức được trạng thái của QPPL hiện hành
dưới góc độ hiệu quả xã hội, từ đó có những
ứng xử phù hợp liên quan đến những văn
bản pháp luật sắp ban hành một cách thực
chất, tránh hình thức, phiến diện. Qua các
thông tin về hiệu quả xã hội của QPPL hiện
hành, các chủ thể xây dựng pháp luật có cơ
sở thực tiễn để cân nhắc kỹ lưỡng việc ban
hành QPPL liên quan.
- Thông tin xã hội học về nhu cầu và các
lợi ích pháp lý - xã hội
Nhu cầu là những đòi hỏi, mong muốn
của con người về vật chất, tinh thần hoặc
sự vật, hiện tượng nào đó như là điều kiện
để tồn tại và phát triển. Lợi ích, ở một khía
cạnh nhất định, nó “như là nhu cầu khách
quan được chế định bởi vị trí xã hội của một
cá nhân, một dân tộc, một nhóm xã hội nào
đó”, “là sự phản ánh chủ quan những nhu
cầu tồn tại khách quan”9, “là mối quan hệ
lựa chọn đã được nhận thức của nhu cầu”10.
Trong thực tế, có rất nhiều nhu cầu và các
lợi ích pháp lý - xã hội với các tính chất và
mức độ khác nhau cần phải được nhận thức
trong quá trình XDPL. Đó có thể là những
nhu cầu, lợi ích chung thuộc tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội, có thể là nhu cầu
của cá nhân, tổ chức, các nhóm cộng đồng
nhất định tương ứng. Việc xác định chính
xác thông tin về nhu cầu và các lợi ích pháp
lý - xã hội liên quan trong XDPL giúp cho
việc lựa chọn được các nhu cầu, lợi ích
mang tính ưu tiên, phù hợp với thực tiễn,
- Thông tin xã hội học về hiệu quả của
các QPPL hiện hành
Thông tin xã hội học về hiệu quả của
QPPL hiện hành là toàn bộ các “kết quả như
yêu cầu” của QPPL, những thông báo, dữ
liệu thu nhận dưới góc độ xã hội về quá trình
QPPL phát huy giá trị, vai trò của nó trong
khi điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan.
Các thông tin này có thể là: mức độ đáp ứng
về mục tiêu, phạm vi, tính chất điều chỉnh
các quan hệ xã hội trực tiếp của QPPL; kết
quả của việc điều chỉnh ở cả góc độ tích
cực, tiêu cực, nguyên nhân dẫn tới những
kết quả đó; mức độ tương tác của QPPL với
các QPPL liên quan và với cả hệ thống pháp
luật; mức độ hiện thực hóa các dự báo của
QPPL trong quá trình ban hành trước đó;
những yêu cầu đặt ra cùng các giải pháp cụ
thể để tiếp tục hoàn thiện QPPL, đáp ứng
mục tiêu điều chỉnh xã hội. Thông tin xã hội
học về hiệu quả của QPPL hiện hành cũng
8 Nguyễn Đức Lam, Phân tích chính sách trong quy trình lập pháp ở các nước, https://thongtinphapluatdansu.
edu.vn/2009/04/06/2615/
9
V.I. Pripisnov được dẫn theo bài viết “Lợi ích và vai trò động lực của nó đối với sự phát triển xã hội -
Phần I”, https://caphesach.wordpress.com/2017/04/05/loi-ich-va-vai-tro-dong-luc-cua-no-doi-voi-su-phat-
trien-xa-hoi-phan-i/.
10
N.A. Gnilickij được dẫn theo bài viết “Lợi ích và vai trò động lực của nó đối với sự phát triển xã hội -
Phần I”, https://caphesach.wordpress.com/2017/04/05/loi-ich-va-vai-tro-dong-luc-cua-no-doi-voi-su-phat -
trien-xa-hoi-phan-i/.
Số 10(434) - T5/2021
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
trong tương quan với sự điều chỉnh trực tiếp
của quy phạm pháp luật sắp ban hành. “Ở
đây cần phải giải quyết hai nhiệm vụ có mối
liên hệ chặt chẽ với nhau: bảo đảm việc thu
thập thông tin đầy đủ và chính xác về các
lợi ích xã hội, các lợi ích pháp luật và có
khả năng phân biệt lợi ích khách quan với
các lợi ích chủ quan”11.
trong tương quan với các yếu tố tác động,
điều kiện đảm bảo của xã hội và pháp luật.
Cơ chế này là sự kết hợp giữa quá trình điều
chỉnh xã hội của pháp luật, thông qua các
yếu tố pháp lý đặc thù với quá trình tham
gia của các thành phần, yếu tố xã hội khác.
Thông tin xã hội học về cơ chế hoạt động
pháp lý - xã hội của QPPL được soạn thảo
cung cấp một họa đồ các công đoạn điều
chỉnh pháp luật của QPPL trong xã hội,
trong tương quan với quá trình điều chỉnh
của các QPPL liên quan. Từ đó, có thể nhận
diện được sự phù hợp hay không của QPPL
trong quá trình điều chỉnh, mức độ đáp ứng
các yêu cầu của xã hội, mức độ tương thích
của QPPL trong hệ thống pháp luật nói
chung, hiệu quả điều chỉnh của QPPL đó
ra sao.
Để xác định được nhu cầu, lợi ích mang
tính ưu tiên dẫn đến các ưu tiên trong XDPL,
cần căn cứ vào các thông tin như: sự nghiêm
trọng của vấn đề xã hội cần điều chỉnh,
phạm vi những vấn đề xã hội được xác định
ảnh hưởng đến dân chúng, ai nằm trong
nhóm bị ảnh hưởng; tác động xã hội của các
văn bản QPPL được đề xuất, ai được lợi,
ai chịu thiệt và trong phạm vi nào12... Các
tiêu chí xác định việc ưu tiên trong XDPL
có thể dựa vào việc giải quyết các vấn đề:
“Cải thiện chất lượng điều hành nhà nước
không, như thế nào? tạo thêm nhiều cơ hội
việc làm không? Nâng cao sản xuất, hàng
hóa và dịch vụ để đáp ứng nhu cầu căn bản
của đại bộ phận dân chúng không? Nâng
cao sự công bằng không, nâng cao như thế
nào?”13. Thông tin xã hội học về nhu cầu
và các lợi ích pháp lý - xã hội sẽ giúp các
cơ quan xây dựng pháp luật sử dụng các dữ
kiện thực tế để quyết định dành các nguồn
lực cho dự luật nào và theo thứ tự ra sao.
Thông qua cơ chế hoạt động pháp lý - xã
hội của QPPL được soạn thảo, tác động của
các yếu tố như: kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội, các quy phạm xã hội khác như đạo
đức, tập quán, tín điều tôn giáo cũng được
xem xét. Việc phân tích thực trạng và tìm
lời giải cho mối tương quan giữa các yếu
tố pháp lý với các yếu tố xã hội, giữa các
quy phạm pháp luật với các quy phạm xã
hội như đạo đức, tập quán cũng sẽ giúp thúc
đẩy hay cản trở việc đạt được những mục
đích, yêu cầu của pháp luật trong tương lai.
- Thông tin xã hội học về cơ chế hoạt
động pháp lý - xã hội của các QPPL được
soạn thảo
- Thông tin dự báo về hiệu quả, tác động
xã hội của QPPL sẽ được ban hành
“Dự báo pháp luật là loại nghiên cứu
nhằm mục đích dự đoán các trạng thái tương
lai của pháp luật và của các hiện tượng do
pháp luật quy định, mang tính chất xác
suất, nhiều phương án”14. Mặc dù, chỉ mang
Cơ chế hoạt động pháp lý - xã hội của
các QPPL được soạn thảo là cách thức, quá
trình các QPPL hiện thực hóa việc tác động
đến các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh,
11 Võ Khánh Vinh, Xã hội học pháp luật - những vấn đề cơ bản, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015, tr. 289.
12 Ann Seidman, Robert B. Seidman, Nalin Abeyesekere, Soạn thảo luật pháp vì tiến bộ xã hội dân chủ, Nxb.
Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2003, tr.64.
13Ann Seidman, Robert B. Seidman, NalinAbeyesekere, Xem xét Dự án Luật, Cẩm nang cho các nhà lập pháp,
Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2004, tr.39.
14 Võ Khánh Vinh, Xã hội học pháp luật - những vấn đề cơ bản, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015, tr. 541.
8
Số 10(434) - T5/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
tính chất dự đoán tương lai, dự đoán những
thay đổi tiếp theo của trạng thái hiện có,
nhưng dự báo về hiệu quả, tác động xã hội
của QPPL sẽ được ban hành được xem là
một trong những đảm bảo quan trọng của
XDPL. Bởi lẽ, nó cung cấp các thông tin
mang tính báo trước về tình hình hiệu quả,
tác động xã hội của QPPL sẽ được ban hành
có nhiều khả năng sẽ xảy ra, dựa trên cơ
sở những số liệu, những thông tin đã có.
Thông thường, các dự báo sẽ được gửi kèm
các dự án đề xuất xây dựng hoặc dự thảo
văn bản QPPL, và càng nhiều thông tin về
dự báo càng tốt cho quá trình quyết định
của chủ thể có thẩm quyền. Ở cấp độ cơ bản
nhất, các dự báo phải chỉ rõ được ai sẽ là
người được hưởng lợi, ai sẽ là người chịu
ảnh hưởng; các chi phí của chính phủ; tác
động của QPPL với các quan hệ xã hội mà
nó điều chỉnh cùng tương quan với hệ thống
các QPPL liên quan; mức độ trật tự và sự ổn
định của các quan hệ xã hội sau khi được
điều chỉnh; tình trạng pháp chế trong đời
sống xã hội; những lợi ích vật chất và tinh
thần được tạo ra; những hiện tượng và các
quá trình khác của đời sống xã hội có thể
xảy ra khi chịu sự tác động của pháp luật và
quá trình điều chỉnh pháp luật...
hình thành một loạt chế định của các ngành
pháp luật khác, như chế độ tiền lương trong
Luật Lao động hoặc chế định tiền trợ cấp
và sở hữu của vợ chồng trong pháp luật hôn
nhân gia đình...; trong sự hình thành và hoạt
động của pháp luật về đất đai, tài nguyên
thiên nhiên”15.
Chính trị, theo nghĩa chung nhất, là sự
ổn định, bền vững của thể chế, của hệ thống
chính trị, góp phần tạo lập môi trường thuận
lợi cho XDPL. Cụ thể hơn, chính trị thể hiện
qua chủ trương, chính sách của đảng cầm
quyền, là cơ sở tư tưởng cho quá trình thể
chế hóa hành pháp luật của Nhà nước, cung
cấp những định hướng phát triển cho các
lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội.
Yếu tố pháp luật có tác động mạnh mẽ
đến XDPL. Nó không chỉ thể hiện tính chất,
mức độ điều chỉnh các quan hệ xã hội, lý
do của việc XDPL mà còn tạo khuôn khổ
pháp lý cho hoạt động này. Hệ thống pháp
luật hiện hành có tác động trực tiếp đến quá
trình XDPL bởi nó bộc lộ tính chất, phạm vi
điều chỉnh cũng như sự thiếu hụt, mức độ,
sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung. Đặc biệt,
các quy định về quy trình, thủ tục, thẩm
quyền, cũng như trách nhiệm pháp lý trong
XDPL sẽ tác động đến chất lượng, cách
thức XDPL.
4. Các yếu tố tác động đến xây dựng
pháp luật
Văn hóa nói chung, văn hóa pháp luật
nói riêng cũng có tác động không nhỏ đến
XDPL. Nó chi phối nhận thức, thái độ, kỹ
năng của chủ thể có thẩm quyền, đồng thời
tác động đến mức độ quan tâm, tham gia
của các chủ thể khác trong xã hội vào quá
trình kiểm tra, giám sát, đóng góp ý kiến
trong XDPL. Nếu ý thức pháp luật của các
cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước
mang tính tích cực, coi trọng trách nhiệm,
đạo đức công vụ, sẽ góp phần nâng cao chất
lượng, tạo niềm tin cho các chủ thể liên
quan trong XDPL.
Yếu tố tác động là những yếu tố làm cho
quá trình XDPL có những ảnh hưởng, biến
đổi nhất định. Đó có thể là các yếu tố chung
như: kinh tế, chính trị, văn hóa, bối cảnh
quốc tế, pháp luật, cũng có thể là các yếu
tố cụ thể như: năng lực xây dựng pháp luật,
vấn đề tổ chức, dư luận xã hội, cơ sở vật
chất, kinh phí...
Kinh tế là yếu tố mang tính nền tảng,
tác động đến XDPL ở nhiều khía cạnh, từ
tính chất, cơ cấu cho đến nội dung, “kinh tế
đóng vai trò liên kết, quyết định cả trong sự
15 Võ Khánh Vinh, Xã hội học pháp luật - những vấn đề cơ bản, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015, tr. 241.
Số 10(434) - T5/2021
9
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Yếu tố năng lực XDPL là khả năng tạo
ra được các dự thảo văn bản quy phạm
pháp luật có chất lượng, hiệu quả, thuộc
về đội ngũ các chủ thể có thẩm quyền
XDPL. Nó được tạo nên bởi một tổng thể
gồm năng lực chuyên môn, khả năng đáp
ứng mục tiêu, trách nhiệm về lòng trung
thành, tính cẩn mật, khả năng chấm dứt
hoặc từ chối tuân theo các chỉ đạo có
thể gây ảnh hưởng đến tính minh bạch,
chất lượng của quá trình XDPL. Năng
lực XDPL là yếu tố tác động mang tính
quyết định đối với chất lượng của các văn
bản QPPL được ban hành, bởi nó trực
tiếp biến các chính sách, chủ trương, định
hướng chính trị, mong muốn, nhu cầu của
xã hội... thành các quy định cụ thể của
pháp luật, cái sẽ tác động trực tiếp đến
hành vi của các chủ thể liên quan.
Yếu tố tổ chức cũng rất cần cho XDPL,
vì suy cho cùng, mọi hoạt động muốn đạt
hiệu quả, bắt buộc phải được tổ chức tốt.
Yếu tố tổ chức trong XDPL đến từ nhiều
khía cạnh, từ việc bố trí hợp lý về cơ cấu
các chủ thể chịu trách nhiệm, cho đến
tính khả thi của mọi công đoạn khi triển
khai. Tất cả đều phải được nghiên cứu,
tính toán hợp lý, khoa học, có kế hoạch
cụ thể. Trong quá trình đó, trách nhiệm
của các cá nhân phải được phát huy cao
nhất, các bước, công đoạn phải có lộ trình
và khả thi.
Yếu tố chi phí và cơ sở vật chất trong
thực tiễn cũng ảnh hưởng lớn tới quá trình
XDPL. Nó không chỉ làm cho hoạt động
XDPL vận hành trôi chảy, mà còn chi phối
cả đến thời gian hoàn thành, phạm vi, tính
chất của văn bản pháp luật được soạn thảo.
Nếu kinh phí, cơ sở vật chất thiếu thốn,
không đáp ứng yêu cầu, không hợp lý, thì
các chủ thể có thẩm quyền khó bảo đảm
tiến độ triển khai nhiệm vụ, việc tổ chức
cho các thành phần xã hội, cơ quan, tổ chức
và người dân tham gia XDPL theo quy định
ở các công đoạn cũng khó đạt chất lượng
như mong muốn.
Dư luận xã hội là yếu tố để các lực lượng
xã hội thể hiện quan điểm của mình về các
vấn đề xã hội, trong đó có hoạt động XDPL.
Dư luận xã hội góp phần tạo điều kiện để
các tầng lớp nhân dân phát huy quyền làm
chủ, thể hiện ý chí, mở rộng nền dân chủ
xã hội, tích cực tham gia vào quá trình
XDPL. Dư luận xã hội cũng là nguồn thông
tin phản hồi có ý nghĩa quan trọng và thiết
thực với XDPL, bởi mọi vướng mắc, thiếu
hụt, khe hở của pháp luật đều có thể được
nhận diện qua dư luận, từ đó giúp chủ thể có
thẩm quyền ra các văn bản, quyết định phù
hợp lòng dân. Dư luận xã hội cũng có sức
mạnh to lớn trong việc định hướng, điều
chỉnh hành vi của các thành viên trong xã
hội, trong đó có hành vi của các chủ thể trực
tiếp thực hiện hoạt động XDPL, để các chủ
thể này lắng nghe dư luận một cách nghiêm
túc, có những phân tích khoa học để rút
ra được những kết luận chính xác về thực
trạng các quan hệ xã hội đang cần có pháp
luật điều chỉnh16.
Các yếu tố cơ bản nêu trên, trong quá
trình tác động đến XDPL luôn có tác động
nhất định đến nhau, ảnh hưởng đến XDPL
cả ở góc độ tích cực lẫn tiêu cực. Việc xem
xét, nghiên cứu các yếu tố tác động đến
XDPL là một khía cạnh quan trọng của các
nghiên cứu pháp lý xã hội thuộc lĩnh vực
XDPL. Nó giúp việc nhận diện mức độ, tính
chất tác động, ảnh hưởng của các nhân tố xã
hội, đồng thời phản ảnh nhu cầu của xã hội
đối với quá trình điều chỉnh các lĩnh vực
quan hệ xã hội nhất định. Từ đó, có thể đưa
ra các phương án, giải pháp tối ưu, nhằm
nâng cao chất lượng hoạt động và sản phẩm
của XDPL.
16 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Xã hội học pháp luật, Nxb. Tư pháp, năm 2018, tr.253-255.
10
Số 10(434) - T5/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
5. Tác động xã hội của xây dựng pháp luật
Thông qua XDPL, người dân, các lực
lượng khác nhau trong xã hội thể hiện quan
điểm, nhu cầu, nguyện vọng của mình,
cũng chính là những yêu cầu đối với Nhà
nước trong quá trình hiện thực hóa các
quyền mà nhân dân giao phó. XDPL cũng
chính là quá trình hiện thực hóa các quyền
con người, hiện thực hóa chủ quyền nhân
dân và các trách nhiệm của Nhà nước. “Khi
Nhà nước đề ra một chính sách và sau đó
cam kết thực hiện chính sách đó, thì các nhà
soạn thảo pháp luật phải chuyển hóa chính
sách đó thành quy định của pháp luật để
cho các cán bộ nhà nước khác thực thi. Sau
cùng, Nhà nước chỉ có một con đường là
thực thi các chính sách của mình thông qua
việc ban hành và thực thi pháp luật”19.
Như đã trình bày, XDPL chính là một
loại thiết kế xã hội, XDPL trước hết là
việc quy phạm hóa các hành vi mang
tính điển hình, phổ biến của các chủ thể
trong xã hội vào phạm vi điều chỉnh của
pháp luật. Từ đó, tạo ra một khung khổ
pháp lý cho các quan hệ xã hội vận hành
theo đúng mong muốn của Nhà nước và
cộng đồng xã hội, tạo tiền đề cho một xã
hội trật tự, ổn định, phát triển. “XDPL là
việc biến ý chí của Nhà nước thành pháp
luật và tạo cho nó một đặc tính pháp
lý, nó cũng biến các yêu cầu của người
dân thành pháp luật - yêu cầu mang tính
quyền lực”17.
XDPL cũng là hoạt động tạo nên sự
kết nối giữa các thành viên trong quá
trình tham gia vào các cơ chế xã hội -
pháp lý của XDPL. Sự kết nối có thể
qua việc cùng tạo nên dư luận xã hội về
một vấn đề nhất định mà cộng đồng quan
tâm, cũng có thể qua việc đóng góp ý
kiến, tham gia, phản biện, phản kháng
hoặc kiểm tra, giám sát quá trình XDPL
của các chủ thể có thẩm quyền. XDPL vì
vậy, có tác dụng tạo ra những liên kết và
đồng thuận xã hội giữa các thành viên.
“Cân nhắc các vấn đề có tầm quan trọng
quốc gia, các vấn đề và nhu cầu của công
chúng là một chức năng quan trọng của
lập pháp hiện đại. Thông qua chức năng
này, lập pháp phản ánh dư luận xã hội về
nhiều vấn đề khác nhau. Các cuộc tranh
luận được tổ chức trong quá trình lập
pháp có giá trị giáo dục rất lớn đối với
người dân”18.
XDPL đôi khi cũng làm cản trở tiến trình
dân chủ, hạn chế các quyền con người, nếu
quá trình xây dựng diễn ra một cách hình
thức, không thể hiện được ý chí, nguyện
vọng cũng như sự tham gia của các thành
phần xã hội, đặc biệt, khi sản phẩm của quá
trình XDPL là những văn bản QPPL có chất
lượng kém, không đáp ứng nhu cầu hoặc mâu
thuẫn với hệ thống pháp luật đã ban hành.
Như vậy, xã hội học XDPL là loại nghiên
cứu pháp lý - xã hội nhằm nhận thức hoạt
động XDPL một cách sống động nhất, gắn
liền với hơi thở của xã hội. Thông qua những
khía cạnh xã hội trong hoạt động XDPL,
vai trò của các thành phần xã hội ngày càng
được nhìn nhận trong quá trình XDPL; đồng
thời, hoạt động XDPL lập pháp được đảm
bảo bởi cơ sở xã hội vững chắc góp phần
nâng cao chất lượng, tính khả thi của các văn
bản QPPL trong thực tiễn
17
yourarticlelibrary.com/constitution/legislature-meaning-functions-and-types-of-legislature/40337.
18
yourarticlelibrary.com/constitution/legislature-meaning-functions-and-types-of-legislature/40337.
19 Ann Seidman, Robert B. Seidman, Nalin Abeyesekere, Soạn thảo Luật pháp vì tiến bộ xã hội dân chủ, Nxb.
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.13.
Số 10(434) - T5/2021
11
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI -
KINH NGHIỆM TỪ CÔNG ƯỚC NEW YORK NĂM 1958
VÀ LUẬT MẪU UNCITRAL
Nguyễn Thị Thanh Ngân
Công ty cổ phần Superbrain Group
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Từ khóa: Phán quyết của trọng
tài nước ngoài, Công ước New
York năm 1958, Luật Mẫu
UNCITRAL.
Đứng trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế quốc tế và giao lưu
thương mại, nhu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài
nước ngoài tại Việt Nam cũng bắt đầu tăng theo. Với nhiều nỗ lực trong
việc phát triển phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, đánh
dấu sự ra đời của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (Luật TTTM năm
2010) và cải thiện thủ tục công nhận và cho thi hành phán quyết của
trọng tài nước ngoài bằng những sửa đổi, bổ sung các quy định tương
ứng trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Bộ luật TTDS năm 2015).
Tuy nhiên, trong suốt thời gian qua hoạt động công nhận và cho thi hành
phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập.
Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày, phân tích các quy định về
công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Công
ước New York năm 1958; Luật Mẫu UNCITRAL về trọng tài quốc tế
năm 1985 (Luật Mẫu); và các quy định của pháp luật Việt Nam về công
nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài, trong đó chỉ ra
một số bất cập và đưa ra kiến nghị hoàn thiện.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 11/01/2021
: 26/01/2021
: 03/02/2021
Article Infomation:
Abstract:
Keywords: Foreign arbitral
awards; the New York Convention
1958; UNCITRAL Model Law on
International Arbitration 1985
Faced with the strong development of the international economy and
trade exchanges, the demand for recognition and enforcement of foreign
arbitral awards in Vietnam has increased. With efforts in developing the
method of dispute settlement by arbitration, marking issuance of the
Law on Commercial Arbitration 2010 and the improved procedures for
recognition and enforcement of awards of foreign arbitration by amending
the corresponding provisions in the Civil Procedure Code of 2015.
However, several shortcomings have been unveiled in recognizing and
enforcing foreign arbitral awards in Vietnam for the last time. Within the
scope of this article, the author provides an introduction and analysis of the
provisions on recognition and enforcement of foreign arbitral awards in
the New York Convention 1958; UNCITRAL Model Law on International
Arbitration 1985 (Model Law); and the provisions of Vietnamese law on
the recognition and enforcement of foreign arbitral awards, which point
out some shortcomings and make recommendations for improvement.
Article History:
Received
Edited
: 11 Jan. 2021
: 26 Jan. 2021
: 03 Feb. 2021
Approved
1. Dẫn nhập
nước ngoài tại Việt Nam còn ở mức cao so
với các nước trong khu vực và trên thế giới,
ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết tranh
Số liệu thống kê gần đây cho thấy, tỷ lệ
không công nhận phán quyết của trọng tài
12
Số 10(434) - T5/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
chấp bằng trọng tài1. Nguyên nhân xuất phát
từ việc các tòa án cấp sơ thẩm vẫn còn gặp
một số khó khăn trong việc diễn giải các quy
định có liên quan của Bộ luật TTDS cũng
như Công ước New York năm 1958 (Công
ước). Từ đó, dẫn đến việc áp dụng không
thống nhất các quy định này trong giải quyết
đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán
quyết của trọng tài nước ngoài. Việc tòa
án không công nhận phán quyết của trọng
tài nước ngoài với tỷ lệ cao mà không có
cơ sở thuyết phục có thể gián tiếp khuyến
khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
vi phạm hợp đồng, vi phạm thỏa thuận ảnh
hưởng đến uy tín của doanh nghiệp, tổ chức
cá nhân của Việt Nam trong hoạt động kinh
doanh2, từ đó làm suy giảm uy tín của Việt
Nam trên trường quốc tế. Bên cạnh đó, việc
Việt Nam không công nhận phán quyết của
trọng tài nước ngoài phù hợp với Công ước
còn có thể dẫn đến việc phía nước ngoài
kiện Chính phủ Việt Nam theo các hiệp định
khuyến khích và bảo hộ đầu tư cũng như
các điều ước quốc tế khác mà Việt Nam là
thành viên, gây ra hệ lụy phức tạp, tốn kém
về nguồn lực xử lý.
và có tính ràng buộc thay vì đưa ra tòa án.
Phán quyết trọng tài có 03 (ba) đặc điểm:
(i) có sự đồng thuận dựa trên sự thỏa thuận
của các bên; (ii) là biện pháp giải quyết
tranh chấp có tính chung thẩm (có hiệu lực
pháp luật ngay) và ràng buộc các bên; (iii)
là phương thức thay thế tố tụng tại tòa án.
Khác với quyết định của trọng tài là
quyết định được ban hành trong quá trình
giải quyết tranh chấp, phán quyết của trọng
tài là quyết định giải quyết toàn bộ tranh
chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài. Những
phán quyết này sẽ được xem xét để công
nhận và cho thi hành tại một quốc gia khác
không phải là quốc gia nơi phán quyết
được tuyên.
2.1. Quy định của Công ước New York
năm 1958 về công nhận và cho thi hành
phán quyết của trọng tài nước ngoài
Với mong muốn thiết lập một cơ chế
công nhận và cho thi hành đơn giản, hiệu
quả, Công ước tiếp cận trên tinh thần ủng
hộ cho việc thi hành theo cơ chế chọn - bỏ,
điều đó có nghĩa là, về cơ bản các phán quyết
của trọng tài nước ngoài sẽ được công nhận
và cho thi hành tại các quốc gia là thành
viên của Công ước, chỉ trừ một số trường
hợp hữu hạn mà bị từ chối. Các phán quyết
trọng tài nước ngoài sẽ được thi hành như
những quyết định của tòa án địa phương và
hệ thống các cơ quan tư pháp của Nhà nước
có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế để
thi hành phán quyết3.
2. Quy định của Công ước New York
năm 1958, Luật Mẫu về công nhận và
cho thi hành phán quyết của trọng tài
nước ngoài
Thể thức trọng tài là một phương thức
giải quyết tranh chấp mà trong đó các bên
thống nhất đưa tranh chấp ra một bên thứ
ba là bên sẽ đưa ra quyết định chung thẩm
1 Nguyễn Mạnh Dũng (2020), Báo cáo đánh giá, so sánh quy định của pháp luật Việt Nam về công nhận và cho
thi hành phán quyết trọng tài với Luật Mẫu UNCITRAL, đề xuất khả năng áp dụng Luật Mẫu tại Việt Nam, tr.6.
2 Hiện nay, nhiều đối tác nước ngoài như Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Bắc Ai Len, Thụy Sĩ, Hiệp hội trọng tài
Bông quốc tế,… đã nhiều lần gửi thư và gặp các cơ quan của Việt Nam (Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công
thương, Tòa án nhân dân tối cao,..) chính thức bày tỏ quan ngại về tỷ lệ lớn các phán quyết của trọng tài nước
ngoài không được công nhận tại Việt Nam, việc giải thích các yêu cầu công nhận và thi hành phán quyết của
trọng tài nước ngoài tại Việt Nam chưa phù hợp với Công ước.
3 Tòa án nhân dân tối cao (2018), Chuyên đề: Công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài
tại Việt Nam, tài liệu tập huấn trực tuyến ngày 25/6/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, tr.2.
Số 10(434) - T5/2021
13
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Công ước xác định những nguyên tắc
chính trong quá trình công nhận và cho thi
hành phán quyết của trọng tài nước ngoài
như sau:
Theo đó, bên phải thi hành có nghĩa vụ
chứng minh các bên trong một thỏa thuận
trọng tài, theo pháp luật của mỗi bên không
có đủ năng lực pháp luật để tham gia thỏa
thuận hoặc thỏa thuận trọng tài không có
giá trị pháp luật theo pháp luật các bên chịu
sự điều chỉnh hoặc theo pháp luật của nước
nơi phán quyết được tuyên.
- Các quốc gia thành viên Công ước thừa
nhận giá trị hiệu lực của một thỏa thuận
trọng tài bằng văn bản, đồng thời đảm bảo
các tòa án của họ sẽ từ chối thụ lý vụ kiện
trong trường hợp các bên tranh chấp đã có
một thỏa thuận trọng tài;
Một trường hợp khác, bên phải thi
hành phán quyết phải chứng minh được
rằng mình không được thông báo một
cách phù hợp về việc chỉ định trọng tài
viên hoặc về tố tụng trọng tài hoặc do một
nguyên nhân khác không thể trình bày vụ
việc của mình.
- Các quốc gia thành viên bảo đảm việc
công nhận và cho thi hành trên lãnh thổ của
quốc gia mình một phán quyết của trọng tài
đã được tuyên trên lãnh thổ quốc gia thành
viên khác;
- Các quốc gia thành viên không được có
sự phân biệt đối xử giữa công nhận và thi
hành phán quyết của trọng tài nước ngoài
so với phán quyết của trọng tài trong nước;4
Bên cạnh đó, liên quan đến trường hợp
vượt quá yêu cầu khởi kiện, người phải
thi hành phải chứng minh phán quyết giải
quyết tranh chấp không được dự liệu trong
các điều khoản của đơn yêu cầu đưa ra trọng
tài giải quyết hay nằm ngoài điều khoản đó
hoặc phán quyết trọng tài bao gồm các quyết
định nằm ngoài phạm vi yêu cầu giải quyết
bằng trọng tài. Tuy nhiên, trong trường hợp
các quyết định nằm ngoài đó có thể tách rời
với các quyết định nằm trong phạm vi yêu
cầu thì phần quyết định thuộc phạm vi yêu
cầu đó vẫn có thể được xem xét công nhận
và cho thi hành.
- Công ước không loại trừ quyền được áp
dụng các quy định có lợi hơn đối với việc
công nhận và cho thi hành phán quyết của
trọng tài được quy định trong các điều ước
quốc tế khác hoặc pháp luật quốc gia.
Bên cạnh đó, Công ước cũng đề ra một
số trường hợp mà căn cứ theo đó, quốc gia
thành viên có thể từ chối công nhận và cho
thi hành phán quyết của trọng tài của quốc
gia thành viên khác, bao gồm:
Vi phạm thủ tục tố tụng trọng tài: Đây là
trường hợp mà quá trình tiến hành tố tụng
hoặc thành phần tham gia tố tụng trọng tài
vi phạm sự thỏa thuận của các bên hoặc
pháp luật nơi tiến hành tố tụng (nếu không
có thỏa thuận). Phán quyết chưa có hiệu lực
pháp luật hoặc bị đình chỉ, bị hủy theo pháp
luật hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước
nơi phán quyết được tuyên cũng là một căn
cứ từ chối công nhận và cho thi hành theo
các điều khoản của Công ước.
- Nhóm 1: Các trường hợp mà người
phải thi hành có nghĩa vụ chứng minh: (i)
các bên không có năng lực thỏa thuận trọng
tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu; (ii)
vi phạm thủ tục thông báo hoặc không thể
trình bày vụ việc; (iii) phán quyết vượt khỏi
yêu cầu khởi kiện; (iv) vi phạm thủ tục tố
tụng trọng tài; (v) phán quyết chưa có hiệu
lực pháp luật hoặc bị đình chỉ, bị hủy theo
pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền của
nước nơi phán quyết được tuyên.
4 Không phân biệt đối xử nghĩa là không được đặt ra các điều kiện khó khăn đáng kể hoặc các khoản phí cao
hơn so với công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài trong nước.
14
Số 10(434) - T5/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
- Nhóm 2: Các trường hợp tòa án tự
xem xét để ra quyết định từ chối công
nhận và cho thi hành: (i) đối tượng tranh
chấp theo pháp luật của nước có yêu cầu
công nhận và cho thi hành không được
giải quyết bằng trọng tài; (ii) việc công
nhận và cho thi hành là trái với trật tự
công cộng của nơi công nhận và cho thi
hành phán quyết.
Hiện nay, Luật Mẫu ngày càng khẳng
định vị trí của mình khi nhận được sự đồng
thuận của nhiều quốc gia đối với các vấn
đề quan trọng trong thực tiễn tố tụng trọng
tài. Chỉ tính riêng khu vực ASEAN, đã có
tới 7/10 quốc gia thành viên áp dụng Luật
Mẫu6. Đặc biệt, trong những năm gần đây,
nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ đã đưa
Luật Mẫu trở thành pháp luật điều chỉnh
hoạt động trọng tài ở nước mình7.
Như vậy, Công ước quy định rất rõ các
nguyên tắc và các căn cứ từ chối công nhận
và cho thi hành phán quyết của trọng tài
nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi để các
quốc gia thành viên thực thi Công ước một
cách có hiệu quả nhất.
Tính chất quốc tế của trọng tài theo quy
định của Luật Mẫu không được xác định
trên cơ sở quốc tịch của trọng tài viên8.
Theo đó, tính quốc tế trước tiên phụ thuộc
vào địa điểm kinh doanh của các bên trong
thỏa thuận trọng tài. Nếu địa điểm kinh
doanh của các bên tại các quốc gia khác
nhau, thì trọng tài được xem là “quốc tế”.
Trong trường hợp địa điểm kinh doanh của
các bên không cùng ở tại một quốc gia, các
yếu tố khác sẽ được xem xét để xác định
địa điểm tố tụng trọng tài, bất kỳ địa điểm
nào mà một phần đáng kể của các nghĩa vụ
trong quan hệ thương mại được thực hiện,
… Bên cạnh đó, yếu tố quốc tế của trọng tài
còn có thể được xác định theo thỏa thuận
của các bên9.
2.2. Quy định của Luật Mẫu về công
nhận và cho thi hành phán quyết của trọng
tài nước ngoài
Khác với Công ước chỉ quy định về hai
hoạt động là thi hành thỏa thuận trọng tài và
công nhận và cho thi hành phán quyết trọng
tài, các quy định của Luật Mẫu bao gồm
toàn bộ quá trình tố tụng trọng tài. Bên cạnh
đó, Luật Mẫu không có tính chất như một
điều ước quốc tế, không buộc các quốc gia
phải tuân thủ tuyệt đối. Luật Mẫu chỉ mang
tính chất khuyến nghị và mềm dẻo, linh
hoạt để các quốc gia vận dụng và chuyển
hóa vào hệ thống pháp luật trong nước, đảm
bảo tối đa sự hài hòa pháp luật về trọng tài
của các quốc gia5.
Công nhận và cho thi hành phán quyết
trọng tài10 được quy định tại Điều 35 và các
căn cứ từ chối công nhận và cho thi hành
quy định tại Điều 36 Luật Mẫu. Có thể thấy
5 Nguyễn Mạnh Dũng (2020), tlđd (1), tr.10.
6 Bao gồm: Brunei, Malaysia, Philippines, Campuchia, Myanmar, Singapore, Thái Lan. Bên cạnh đó Luật Mẫu
cũng được áp dụng tại nhiều quốc gia nơi có hệ thống trọng tài phát triển như Anh, Singapore, Hồng Kông,
Nhật bản, Hàn Quốc,…
7 Điển hình như Quatar, Mông Cổ, Nam Phi, MaCao, …
8 Theo khoản 3 Điều 1 Luật Mẫu.
9 Các bên đồng ý rằng nội dung của thỏa thuận trọng tài liên quan đến nhiều hơn một quốc gia.
10 Luật Mẫu không giải thích hoặc định nghĩa như thế nào là phán quyết trọng tài. Thay vào đó Luật Mẫu chỉ
quy định phán quyết trọng tài bao gồm cả phán quyết theo thỏa thuận ghi nhận sự thỏa thuận của các bên trong
quá trình tiến hành tố tụng trọng tài; phán quyết phải bằng văn bản do trọng tài viên hoặc các trọng tài viên ký.
Nội dung phán quyết bao gồm: (i) lý do đưa ra phán quyết và (ii) ngày tháng, địa điểm tố tụng trọng tài (Xem
Điều 30, Điều 31 Luật Mẫu).
Số 10(434) - T5/2021
15
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
tiêu đề của chương VII, Điều 35 và Điều 36
đều không nhắc tới “phán quyết trọng tài
nước ngoài” như Công ước. Nội dung của
Điều 35 cũng khẳng định việc công nhận
và cho thi hành phán quyết của trọng tài là
“không phụ thuộc vào quốc gia phán quyết
được tuyên”. Việc áp dụng chung thủ tục
công nhận và cho thi hành với tất cả các
phán quyết không phân biệt nơi phán quyết
được tuyên để tạo ra cơ chế công bằng cho
cả phán quyết trọng tài trong nước và phán
quyết trọng tài quốc tế. Như vậy, có thể
thấy, phạm vi áp dụng của Luật Mẫu là rộng
hơn Công ước bởi lẽ việc công nhận và cho
thi hành không chỉ bị giới hạn trong phạm
vi phán quyết “nước ngoài”.
hay không là quyền của tòa án nơi công
nhận và cho thi hành.
Các quyết định về biện pháp tạm thời
cũng sẽ được công nhận và cho thi hành
theo Luật Mẫu. Các quy định về công nhận
và cho thi hành quyết định về biện pháp tạm
thời không bị giới hạn bởi việc hội đồng
trọng tài ban hành biện pháp tạm thời tại
nơi tiến hành tố tụng trọng tài. Tòa án nơi
quốc gia có yêu cầu công nhận hoặc cho thi
hành có thể buộc bên đưa ra yêu cầu thực
hiện bảo đảm phù hợp nếu xét thấy là hành
động cần thiết để bảo vệ quyền của bên thứ
ba. Tòa án cũng sẽ không xem xét lại nội
dung của biện pháp bảo đảm mà chỉ xem
xét các căn cứ để từ chối công nhận và cho
thi hành.
Luật Mẫu không quy định về thời hạn
công nhận và cho thi hành phán quyết trọng
tài. Theo đó, người được thi hành phán
quyết trọng tài tùy theo điều kiện và khả
năng của bản thân có thể nộp đơn đề nghị
tòa án nơi phán quyết được thi hành bất cứ
lúc nào. Tuy nhiên, ở các quốc gia thành
viên của Công ước nơi mà phán quyết sẽ
được công nhận và cho thi hành hầu hết đều
quy định về thời hạn để người được thi hành
nộp đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành.
3. Quy định của pháp luật Việt Nam về
công nhận và cho thi hành phán quyết
của trọng tài nước ngoài
Theo pháp luật Việt Nam, trọng tài nước
ngoài là trọng tài được thành lập trên cơ sở
quy định của pháp luật nước ngoài do các
bên thỏa thuận lựa chọn để tiến hành giải
quyết tranh chấp có thể phát sinh ở ngoài
lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ
Việt Nam11. Phán quyết của trọng tài nước
ngoài là phán quyết do trọng tài nước ngoài
tuyên để giải quyết tranh chấp do các bên
thỏa thuận lựa chọn12, tức là không phụ
thuộc vào địa điểm giải quyết tranh chấp.
Luật TTTM năm 2010 không quy định rõ
địa điểm tố tụng trọng tài có ảnh hưởng như
thế nào đến tính chất “nước ngoài” của trọng
tài và căn cứ nào để xác định trọng tài được
thành lập theo pháp luật nước ngoài13. Đối
với trọng tài quy chế, việc xác định trọng tài
đối với vụ việc cụ thể có thể được xác định
Luật Mẫu còn bổ sung một quy định về
việc tòa án nơi công nhận hoặc thi hành có
thể hoãn việc ra quyết định nếu có đơn yêu
cầu hủy hoặc đình chỉ phán quyết trọng tài
tại quốc gia nơi phán quyết được tuyên và
khi đó tòa án, theo yêu cầu của bên đề nghị
công nhận và cho thi hành phán quyết yêu
cầu bên phải thi hành nộp phí bảo đảm. Đây
là quy định nhằm mục đích đảm bảo và cân
bằng quyền lợi của các bên trong tố tụng
trọng tài ở giai đoạn công nhận và cho thi
hành. Tuy nhiên, việc có hoãn ra quyết định
11 Khoản 11 Điều 3 Luật TTTM năm 2010.
12 Khoản 12 Điều 3 Luật TTTM năm 2010.
13
Nguyễn Mạnh Dũng (2020), tlđd (1), tr.19.
16
Số 10(434) - T5/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
dễ dàng hơn. Tuy nhiên, đối với trọng tài
vụ việc mà tố tụng trọng tài hoàn toàn phụ
thuộc vào sự thỏa thuận của các bên thì việc
xác định trọng tài được thành lập theo nước
nào có thể gặp không ít khó khăn, nhất là
khi yếu tố địa điểm tố tụng trọng tài không
được nhắc đến. Với quy định hiện hành của
pháp luật Việt Nam, việc xác định một phán
quyết trọng tài có phải là phán quyết trọng
tài nước ngoài hay không sẽ là rất khó khăn.
Trên cơ sở Công ước, khi gia nhập Việt
Nam đã giới hạn phạm vi áp dụng của Công
ước tại Quyết định số 453/QĐ-CTN ngày
28/7/1995 của Chủ tịch nước về việc tham gia
Công ước New York năm 1958 (Quyết định
số 453). Điều 2 Quyết định số 453 đưa ra 03
(ba) điều bảo lưu cơ bản của Việt Nam16:
(1) Công ước chỉ áp dụng đối với việc
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
quyết định của trọng tài nước ngoài được
tuyên tại lãnh thổ của các quốc gia thành
viên của Công ước; đối với quyết định
trọng tài nước ngoài được tuyên tại lãnh thổ
quốc gia chưa ký kết hoặc tham gia Công
ước, Công ước áp dụng tại Việt Nam theo
nguyên tắc có đi có lại.
Hiện nay, thủ tục công nhận và cho thi
hành phán quyết trọng tài nước ngoài được
quy định trong phần thứ bảy Bộ luật TTDS
năm 2015. Để phân biệt giữa phán quyết
trọng tài (quyết định giải quyết nội dung
vụ việc) và các quyết định khác của trọng
tài (về trình tự tố tụng), Bộ luật TTDS năm
2015 đã sử dụng từ “phán quyết” thay cho
“quyết định”, đồng thời dẫn chiếu đến các
khái niệm đã được định nghĩa trong pháp
luật trọng tài14. Bộ luật TTDS năm 2015
cũng đã bổ sung trở lại nghĩa vụ chứng minh
của bên phải thi hành trong các trường hợp
không công nhận theo quy định của Công
Ước15. Trình tự thủ tục công nhận và cho thi
hành có những sửa đổi theo hướng rút ngắn
thời hạn, giảm bớt khâu trung gian để đẩy
mạnh tiến trình công nhận và cho thi hành.
(2) Chỉ áp dụng Công ước đối với tranh
chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật
thương mại.
(3) Mọi sự giải thích Công ước trước tòa
án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của
Việt Nam phải tuân thủ các quy định của
Hiến pháp và pháp luật Việt Nam.
Hiện nay, khoản 3 Điều 2 Bộ luật TTDS
năm 2015 quy định: “Bộ luật TTDS được
áp dụng đối với việc giải quyết việc dân sự
có yếu tố nước ngoài; trường hợp điều ước
14 Luật Trọng tài thương mại năm 2010; Nghị định số 63/2011/NĐ-CP ngày 28/7/2011 của Chính phủ quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trọng tài thương mại và các văn bản sửa đổi, bổ sung; Thông
tư số 12/2012/TT-BTP ngày 07/11/2012/TT-BTP ngày 07/11/2012 của Bộ Tư pháp ban hành một số biểu mẫu và
tổ chức hoạt động của trọng tài thương mại; Nghị quyết số 01/2014/NQ - HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng
thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại.
15 Văn bản điều chỉnh việc công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài đầu tiên là Pháp lệnh
công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài năm 1995 (Pháp lệnh năm 1995). Pháp lệnh đã
quy định nhiều nội dung rất gần với các quy định của Công ước và Luật Mẫu, trong đó có quy định các trường
hợp không công nhận và cho thi hành nếu bên phải thi hành có sự chứng minh hợp lý (Xem Điều 16 Pháp lệnh
năm 1995). Tuy vậy, tại thời điểm đó, các quy định về tố tụng dân sự của Việt Nam còn chưa được thống nhất
nên hiệu quả mà Pháp lệnh 1995 mang lại là không cao. Tiếp theo đó, năm 2004, Bộ luật TTDS năm 2004, tại
phần thứ sáu quy định về thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài,
Điều 370 Bộ luật TTDS năm 2004 lại bỏ nội dung về nghĩa vụ chứng minh các trường hợp không công nhận
thuộc về người phải thi hành, gây ra nhiều vướng mắc trong thực tiễn áp dụng dẫn đến nhiều trường hợp quyết
định của trọng tài nước ngoài không được công nhận và cho thi hành.
16 Điều 2 Quyết định số 453.
Số 10(434) - T5/2021
17
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên có quy định khác thì áp
dụng quy định của điều ước quốc tế đó”.
- Nhóm 2: Khi tòa án Việt Nam xét thấy:
(i) vụ tranh chấp không được giải quyết theo
thể thức trọng tài theo pháp luật Việt Nam19;
và (ii) việc công nhận và cho thi hành phán
quyết tại Việt Nam là trái với các nguyên
tắc cơ bản của pháp luật nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.
Theo quy định của Điều 424 Bộ luật TTDS
năm 2015, Tòa án Việt Nam xem xét đơn yêu
cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
phán quyết của trọng tài nước ngoài theo hai
nguyên tắc cơ bản: trên cơ sở điều ước quốc
tế17 và trên nguyên tắc có đi có lại18.
Khi xem xét đơn yêu cầu công nhận
và cho thi hành, Hội đồng trọng tài không
được xét xử lại tranh chấp đã được trọng
tài nước ngoài ra phán quyết mà chỉ được
kiểm tra, đối chiếu phán quyết của trọng
tài nước ngoài, giấy tờ, tài liệu kèm theo
đơn yêu cầu để làm cơ sở cho việc ra quyết
định công nhận hoặc không công nhận phán
quyết đó. Hội đồng xét đơn yêu cầu phải
đánh giá chứng cứ do các bên xuất trình
một cách cẩn trọng, kỹ lưỡng và vô tư20.
Khi một phán quyết trọng tài nước ngoài
được tòa án Việt Nam công nhận và cho thi
hành tại Việt Nam thì phán quyết đó sẽ có
“hiệu lực pháp luật” như quyết định của tòa
án Việt Nam đã có hiệu lực pháp luật. Do
đó, khi tòa án được yêu cầu công nhận phán
quyết trọng tài, tòa án không chỉ được yêu
cầu công nhận hiệu lực pháp lý của phán
quyết mà còn phải đảm bảo phán quyết đó
được thi hành21. Điều 427 Bộ luật TTDS
năm 2015 quy định, phán quyết được công
nhận sẽ được thi hành theo thủ tục thi hành
án dân sự và chỉ được thi hành sau khi có
quyết định của tòa án Việt Nam công nhận
và cho thi hành phán quyết của trọng tài
nước ngoài có hiệu lực pháp luật.
Bộ luật TTDS năm 2015 đã nội luật hóa
Điều V của Công ước về các trường hợp từ
chối công nhận và cho thi hành phán quyết
của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam (Điều
459). Theo đó, căn cứ để tòa án không công
nhận và cho thi hành phán quyết của trọng
tài nước ngoài gồm hai nhóm sau:
- Nhóm 1: Bên có nghĩa vụ phải thi hành
cung cấp chứng cứ cho tòa án chứng minh
rằng: (i) các bên ký thỏa thuận trọng tài
không có năng lực để ký kết theo pháp luật
mỗi bên; (ii) thỏa thuận trọng tài không có
giá trị pháp lý; (iii) bên phải thi hành không
được thông báo kịp thời và hợp thức về
việc giải quyết vụ tranh chấp hoặc không
thể thực hiện được quyền tố tụng của mình
(với lý do chính đáng); (iv) phán quyết
được tuyên không được các bên yêu cầu
giải quyết hoặc vượt quá yêu cầu của các
bên; (v) thành phần, thủ tục giải quyết tranh
chấp không phù hợp; (vi) phán quyết chưa
có hiệu lực bắt buộc đối với các bên; (vii)
phán quyết bị cơ quan có thẩm quyền của
nước nơi phán quyết đã được tuyên hoặc
của nước có pháp luật đã được áp dụng hủy
bỏ hoặc đình chỉ thi hành.
Do vậy, công nhận và cho thi hành tại
Việt Nam phán quyết của trọng tài nước
17 Điểm a khoản 1 Điều 424 Bộ luật TTDS 2015.
18 Điểm b khoản 1 Điều 424 Bộ luật TTDS 2015.
19
Một tranh chấp có thể được coi là không thể trọng tài nếu nó thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án
Việt Nam theo Điều 470 Bộ luật TTDS năm 2015.
20 Tòa án nhân dân tối cao (2018), tlđd (2), tr.16.
21 Tòa án nhân dân tối cao (2018), tlđd (2), tr. 3.
18
Số 10(434) - T5/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
ngoài là một thủ tục tố tụng đặc biệt do tòa
án tiến hành nhằm xem xét để công nhận
tính hiệu lực của phán định trọng tài nước
ngoài trên phạm vi lãnh thổ của Việt Nam.
kịp thời các thông tin hoặc không thể tham
gia thực hiện quyền tố tụng của mình với lý
do chính đáng; (iii) việc công nhận và cho
thi hành là trái với nguyên tắc cơ bản của
pháp luật Việt Nam.
Tuy nhiên, ranh giới giữa việc xem xét
các yêu cầu để ra quyết định có công nhận
phán quyết trọng tài hay không với việc
xem xét nội dung của phán quyết trong
nhiều trường hợp khó phân biệt rõ ràng như
căn cứ liên quan đến năng lực của các bên,
hiệu lực của thỏa thuận trọng tài hoặc vi
phạm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật
Việt Nam.
Những bất cập nêu trên xuất phát từ
những nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất, chưa có văn bản hướng
dẫn thống nhất về xác định người phải
thi hành, nguyên tắc có đi có lại, căn cứ
hủy phán quyết và từ chối công nhận do
vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật
Việt Nam.
Theo thống kê số liệu giai đoạn báo cáo
từ ngày 01/02/2012 đến ngày 30/9/201922
có 33 yêu cầu công nhận và cho thi hành
phán quyết trọng tài nước ngoài không
được tòa án thụ lý giải quyết; 84 vụ việc
thu thập được các quyết định giải quyết và
đưa ra kết quả giải quyết23 tập trung ở các
tòa án Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh,
Bình Dương, Long An24 trong đó 39 vụ việc
được công nhận và cho thi hành, 33 vụ việc
không được công nhận, 12 vụ việc đình chỉ
giải quyết.
Thứ hai, cách hiểu và áp dụng Công ước
của các tòa án không được thống nhất (có
tòa án sẽ đánh giá quyết định của trọng tài
nước ngoài so với quy định của Công ước
và Bộ luật TTDS; có tòa án lại không đề cập
gì đến Công ước hoặc có tòa án chỉ nhắc
đến tên Công ước mà không có phân tích
gì thêm).
Thứ ba, công tác tổng kết, rà soát, đánh
giá, đôn đốc việc công nhận và cho thi hành
phán quyết trọng tài cũng như thực hiện
Công ước chưa được quan tâm đúng mức.
Một nghiên cứu chỉ ra rằng25, việc tòa
án không công nhận và cho thi hành phán
quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam
thường dựa vào các lý do như: (i) các bên
tham gia thỏa thuận trọng tài không có năng
lực để ký thỏa thuận; (ii) cá nhân, tổ chức
có nghĩa vụ thi hành không được thông báo
4. Khả năng áp dụng Luật Mẫu trong
thủ tục công nhận và cho thi hành phán
quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam
Mặc dù Công ước đã có hiệu lực tại
Việt Nam trong 25 năm, tỉ lệ công nhận
và cho thi hành phán quyết trọng tài ở
22 Có 55/66 Tòa án có báo cáo. Số liệu được nêu có thể không phản ánh hoàn toàn chính xác thực trạng công
nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài ở Việt Nam do số liệu cung cấp không đầy đủ.
23 Số lượng được giải quyết theo Bộ luật TTDS năm 2015 là 23 vụ việc, trong đó 11 vụ việc được công nhận
và cho thi hành, 5 vụ việc không công nhận và 7 vụ việc đình chỉ giải quyết.
24 Tòa án Tp. Hà Nội: 15 vụ việc; Tòa án Tp. Hồ Chí Minh: 38 vụ việc; Tòa án tỉnh Bình Dương: 5 vụ việc;
Tòa án tỉnh Long An: 5 vụ việc.
25 Nguyễn Mạnh Dũng (2020), tlđd (1), tr. 29. Các căn cứ này được quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1 và
điểm b khoản 2 Điều V Công ước; điểm a, c khoản 1 Điều 370 Bộ luật TTDS năm 2004; điểm b khoản 2 Điều
370 Bộ luật TTDS năm 2004. Đối với 5 vụ việc không được công nhận kể từ khi Bộ luật TTDS năm 2015,
tòa án dựa vào căn cứ tại điểm a, c khoản 1 Điều 459, điểm b khoản 2 Điều 459 Bộ luật TTDS năm 2015.
Số 10(434) - T5/2021
19
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 10 - Năm 2021", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tap_chi_nghien_cuu_lap_phap_so_10_nam_2021.pdf

