Tài liệu Giáo dục chính trị
TRƯỜNG TRUNG CẤP VIỆT HÀN
TÀI LIỆU DẠY HỌC
GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
(Lưu hành nội bộ)
TÀI LIỆU DẠY HỌC
MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
TRONG CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ TRUNG CẤP
(Kèm theo Công văn số 147/TCGDNN-ĐTCQ ngày 22 tháng 01 năm 2020
của Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp)
MỤC LỤC
Bài mở đầu ..........................................................................................................................3
I. Vị trí, tính chất môn học............................................................................................3
II. Mục tiêu của môn học..............................................................................................3
III. Nội dung chính........................................................................................................4
IV. Phƣơng pháp dạy học và đánh giá môn học .........................................................4
Bài 1: Khái quát về chủ nghĩa Mác-Lênin.....................................................................4
I. Khái niệm chủ nghĩa Mác-Lênin.............................................................................5
II. Các bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác-Lênin .................................................6
III. Vai trò nền tảng tƣ tƣởng, kim chỉ nam cho hành động của chủ nghĩa Mác-
Lênin.......................................................................................................................18
Bài 2: Khái quát về tƣ tƣởng Hồ Chí Minh...................................................................21
I. Khái niệm tƣ tƣởng Hồ Chí Minh ............................................................................21
II. Một số nội dung cơ bản của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh .......................................24
III. Vai trò của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam..............................28
IV. Học tập và làm theo tƣ tƣởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai
đoạn hiện nay..........................................................................................................29
Bài 3: Những thành tựu của cách mạng việt nam dƣới sự lãnh đạo của Đảng .......36
I. Sự ra đời và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt
Nam.........................................................................................................................36
II. Những thành tựu của cách mạng Việt Nam dƣới sự lãnh đạo của Đảng .............50
Bài 4: Phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, con ngƣời ở Việt Nam..............................54
I. Nội dung của chủ trƣơng phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, con ngƣời ở Việt
Nam hiện nay .........................................................................................................54
II. Giải pháp phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, con ngƣời ở Việt Nam hiện nay...60
Bài 5: Tu dƣỡng, rèn luyện để trở thành ngƣời công dân tốt, ngƣời lao động tốt ..74
I. Quan niệm về ngƣời công dân tốt, ngƣời lao động tốt............................................74
II. Nội dung tu dƣỡng, rèn luyện để trở thành ngƣời công dân tốt, ngƣời lao
động tốt...................................................................................................................76
Tài liệu tham khảo .............................................................................................................82
2
BÀI MỞ ĐẦU
I. VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT MÔN HỌC
1. Vị trí
Trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chính trị trƣớc hết là bảo đảm
vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản, hiệu lực quản lý của nhà nƣớc, quyền làm chủ
của nhân dân lao động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Chính trị có vai trò to lớn. Chính trị đúng đắn giúp cho một giai cấp, mỗi
con ngƣời thực hiện đƣợc mục tiêu của mình.
Môn học Giáo dục chính trị là môn học bắt buộc thuộc khối các môn học
chung trong chƣơng trình đào tạo trình độ trung cấp.
2. Tính chất môn học
Giáo dục chính trị là bộ phận của khoa học chính trị, của công tác tƣ tƣởng,
có nội dung chủ yếu là giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh,
Cƣơng lĩnh, đƣờng lối của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc nhằm xây dựng bản lĩnh
chính trị, niềm tin và năng lực hoạt động thực tiễn cho mỗi ngƣời, đáp ứng yêu cầu
xây dựng đất nƣớc.
Môn học Giáo dục chính trị gắn bó chặt chẽ với đƣờng lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nƣớc, gắn với thực tiễn đất nƣớc, gắn với sự tu dƣỡng, rèn
luyện của ngƣời học, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc xã
hội chủ nghĩa.
II. MỤC TIÊU CỦA MÔN HỌC
Sau khi học xong môn học, ngƣời học cần đạt đƣợc:
Về kiến thức: Trình bày đƣợc một số nội dung khái quát về chủ nghĩa Mác -
Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nƣớc; yêu cầu và nội dung học tập, rèn luyện để trở thành ngƣời công
dân tốt, ngƣời lao động tốt.
Về kỹ năng: Vận dụng đƣợc các kiến thức chung đƣợc học về quan điểm,
đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc vào việc học tập, rèn
luyện, xây dựng đạo đức, lối sống để trở thành ngƣời công dân tốt, ngƣời lao động
tốt và tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
3
Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Có năng lực vận dụng các nội dung đã
học để rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; thực hiện tốt quan điểm,
đƣờng lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc.
III. NỘI DUNG CHÍNH
Môn học Giáo dục chính trị trình độ trung cấp có nội dung gồm: Khái quát
về chủ nghĩa Mác-Lênin; Khái quát về tƣ tƣởng Hồ Chí Minh; Những thành tựu
của cách mạng Việt Nam dƣới sự lãnh đạo của Đảng; Phát triển kinh tế, xã hội, văn
hóa, con ngƣời ở Việt Nam; Tu dƣỡng, rèn luyện để trở thành ngƣời công dân tốt,
ngƣời lao động tốt.
IV. PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ ĐÁNH GIÁ MÔN HỌC
1. Phƣơng pháp dạy học
Môn học Giáo dục chính trị lấy phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác-
Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh là cơ sở dạy học; sử dụng các phƣơng pháp dạy học
tích cực. Ngƣời học chú trọng tự nghiên cứu tài liệu, kết hợp với thảo luận trên lớp,
liên hệ với thực tiễn nghề nghiệp đào tạo; ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại,
tham khảo nhiều tài liệu của Đảng, Nhà nƣớc để củng cố kiến thức.
Giáo dục chính trị là môn học gắn bó chặt chẽ với thực tiễn cuộc sống.
Trong dạy và học cần liên hệ với thực tiễn hiện nay; gắn dạy lý thuyết với học
ngoại khoá, tham quan bảo tàng, thực tiễn sản xuất, các doanh nghiệp; các di tích
lịch sử, văn hoá cách mạng...
2. Đánh giá môn học
Việc đánh giá kết quả học tập của ngƣời học đƣợc thực hiện theo quy định
tại Thông tƣ số 09/2017/TT-BLĐTBXH ngày 13 tháng 3 năm 2017 của Bộ trƣởng
Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội quy định việc tổ chức thực hiện chƣơng
trình đào tạo trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng theo niên chế hoặc theo phƣơng
thức tích lũy mô đun hoặc tín chỉ; quy chế kiểm tra, thi, xét công nhận tốt nghiệp.
CÂU HỎI
1. Làm rõ vị trí và tính chất của môn Giáo dục chính trị?
2. Cần phải làm những gì để học tập tốt môn Giáo dục chính trị?
4
Bài 1
KHÁI QUÁT VỀ CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
I. KHÁI NIỆM CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết do C.Mác, Ph. Ăngghen sáng lập từ
những năm giữa thế kỷ XIX, đƣợc V.I.Lênin bổ sung, phát triển vào đầu thế kỷ
XX. Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ thống lý luận thống nhất được cấu thành từ ba bộ
phận lý luận cơ bản là triết học Mác-Lênin, kinh tế chính trị học Mác-Lênin và chủ
nghĩa xã hội khoa học. Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ thống lý luận khoa học thống
nhất về mục tiêu, con đường, biện pháp, lực lượng thực hiện sự nghiệp giải phóng
giai cấp công nhân, giải phóng xã hội, giải phóng con người, xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Ba bộ phận cấu thành của Mác- Lênin có vị trí, vai trò khác nhau nhƣng là
một thể thống nhất nêu rõ mục tiêu, con đƣờng, lực lƣợng, phƣơng thức giải phóng
xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con ngƣời.
Triết học Mác-Lênin là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên,
xã hội và tƣ duy; có vai trò trang bị cho con ngƣời cách nhìn khoa học và phƣơng
pháp đúng đắn để nhận thức, cải tạo và phát triển thế giới.
Kinh tế chính trị học Mác-Lênin là khoa học nghiên cứu các quan hệ xã hội
của sản xuất và trao đổi trong quan hệ biện chứng với trình độ phát triển của lực
lƣợng sản xuất và kiến trúc thƣợng tầng tƣơng ứng của phƣơng thức sản xuất nhất
định.
Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu những quy luật chính trị-xã hội, những
nguyên tắc cơ bản, những điều kiện, những con đƣờng và hình thức, phƣơng pháp
đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhằm thực hiện
sự chuyển hóa từ chủ nghĩa tƣ bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
- Nguồn gốc hình thành chủ nghĩa Mác
Về kinh tế-xã hội: Nền đại công nghiệp tƣ bản chủ nghĩa giữa thế kỷ XIX phát
triển mạnh ở nhiều nƣớc Tây Âu. Sự ra đời và phát triển của giai cấp vô sản với tính
cách là lực lƣợng chính trị độc lập là nhân tố quan trọng ra đời chủ nghĩa Mác.
Về tư tưởng lý luận là những đỉnh cao về triết học cổ điển Đức, kinh tế chính
trị học cổ điển ở Anh và chủ nghĩa xã hội không tƣởng phê phán ở Pháp.
Về khoa học là những phát minh về khoa học tự nhiên nhƣ thuyết tiến hóa
giống loài của Đác-uyn, thuyết bảo toàn và chuyển hóa năng lƣợng của Lô-mô-nô-
5
xốp; học thuyết về tế bào của các nhà khoa học Đức. Các học thuyết này là cơ sở
củng cố chủ nghĩa duy vật biện chứng - cơ sở phƣơng pháp luận của học thuyết
Mác.
- Nhân tố chủ quan: C.Mác (1818-1883), Ph.Ăng-ghen (1820-1895) là
những thiên tài trên nhiều lĩnh vực. Hai ông đã nghiên cứu kỹ xã hội tƣ bản, kế
thừa, tiếp thu có chọn lọc và phát triển những tiền đề tƣ tƣởng lý luận, khoa học,
phát hiện ra sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân và sáng lập ra
học thuyết mang tên mình.
- Ba giai đoạn phát triển của chủ nghĩa Mác- Lênin
Giai đoạn C.Mác, Ph.Ăng-ghen (1848-1895). Tháng 2-1848, tác phẩm
Tuyên ngôn của Đảng cộng sản do hai ông dự thảo đƣợc Đồng minh những người
cộng sản thông qua, mở đầu sự ra đời chủ nghĩa Mác. Sau đó hai ông đã viết nhiều
tác phẩm, xây dựng nên học thuyết khoa học với ba bộ phận triết học, kinh tế chính
trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học.
V.I.Lênin phát triển chủ nghĩa Mác (1895-1924): V.I.Lênin (1870-1924) đã
đấu tranh, bảo vệ và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác trong giai đoạn chủ nghĩa
đế quốc. Ngƣời đã lãnh đạo thắng lợi Cách mạng Tháng Mƣời Nga năm 1917, phát
triển nhiều vấn đề lý luận mới về xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau khi V.I.Lênin
mất, Quốc tế Cộng sản đã bổ sung, gọi chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa Mác-Lênin.
Từ năm 1924 đến nay, các Đảng cộng sản và công nhân trên thế giới coi chủ
nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tƣ tƣởng để vận dụng, bổ sung, phát triển, xây dựng
đƣờng lối cách mạng phù hợp với thực tiễn đất nƣớc.
II. CÁC BỘ PHẬN CẤU THÀNH CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
1. Triết học Mác-Lênin
a) Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập quan niệm
mọi sự vật, hiện tƣợng trong thế giới rất đa dạng nhƣng bản chất là sự tồn tại của
vật chất thông qua các sự vật cụ thể. Vật chất là cái có trƣớc, ý thức là cái có sau,
vật chất quyết định ý thức, còn ý thức chỉ là sự phản ánh một phần thế giới vật chất
vào đầu óc con ngƣời.
Vận động là phƣơng thức tồn tại của vật chất nên vận động của vật chất là
vĩnh viễn vì đó là sự vận động tự thân, do mâu thuẫn bên trong quyết định. Có 5
hình thức cơ bản của vận động là vận động cơ học, lý học, hoá học, sinh học và
6
vận động xã hội. Vận động xã hội là hình thức vận động cao nhất vì nó là sự vận
động các chế độ xã hội thông qua con ngƣời.
Ý thức là sự phản ánh tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan của óc ngƣời,
gồm ba yếu tố cơ bản nhất là tri thức, tình cảm và ý chí của con ngƣời. Do tâm,
sinh lý, mục đích, yêu cầu, động cơ và điều kiện mỗi ngƣời khác nhau nên cùng
hiện thực khách quan nhƣng ý thức con ngƣời có thể khác nhau.
Vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng, trong đó vật chất quyết định
nguồn gốc, nội dung, bản chất và sự vận động của ý thức. Ý thức có tính độc lập
tƣơng đối và tác động tích cực trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của
con ngƣời.
- Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật là:
+ Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến khẳng định thế giới có vô vàn các sự
vật, hiện tƣợng tồn tại trong mối liên hệ tƣơng hỗ, ảnh hƣởng trực tiếp hay gián
tiếp với nhau. Có mối liên hệ bên trong, bên ngoài, mối liên hệ chung, liên hệ
riêng; có mối liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp, thông qua trung gian. Vì
vậy phải có quan điểm toàn diện để xem xét các mối liên hệ bản chất, bên trong sự
vật, hiện tƣợng.
+ Nguyên lý về sự phát triển khẳng định mọi sự vật, hiện tƣợng luôn luôn
vận động và phát triển không ngừng. Có những vận động diễn ra theo khuynh
hƣớng đi lên, đi xuống, vòng tròn, lặp lại hoặc xoáy ốc đi lên. Phát triển là khuynh
hƣớng vận động từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến
hoàn thiện theo chiều hƣớng đi lên. Vì vậy cần nhận thức sự vật, hiện tƣợng theo
xu hƣớng vận động, đổi mới phát triển.
- Những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
+ Quy luật từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và
ngược lại
Quy luật này chỉ ra về cách thức vận động và phát triển của sự vật, hiện
tƣợng trong tự nhiên, xã hội và tƣ duy. Mọi sự vật, hiện tƣợng đều gồm hai mặt đối
lập chất và lƣợng. Chất là các thuộc tính khách quan, vốn có của các sự vật, hiện
tƣợng; còn lƣợng là chỉ số các yếu tố cấu thành, quy mô tồn tại và nhịp điệu biến
đổi của chúng. Tƣơng ứng với một lƣợng thì cũng có một chất nhất định và ngƣợc
lại. Lƣợng biến đổi sẽ dẫn đến mâu thuẫn, phá vỡ chất cũ, chất mới ra đời với
lƣợng mới. Lƣợng mới lại tiếp tục biến đổi đến giới hạn nào đó lại phá vỡ chất cũ.
Sự thay đổi về lƣợng đều có thể dẫn tới những sự thay đổi về chất và ngƣợc lại tạo
ra sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tƣợng.
7
+ Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
Quy luật này vạch ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển và là hạt nhân
của phép biện chứng duy vật. Theo quy luật này, mọi sự vật, hiện tƣợng đều là thể
thống nhất của các mặt đối lập có liên hệ với nhau, thâm nhập vào nhau, tác động
qua lại lẫn nhau, làm tiền đề tồn tại cho nhau. Sự thống nhất các mặt đối lập là
tƣơng đối; đấu tranh giữa các mặt đối lập là tuyệt đối. Các mặt đối lập vận động
trái chiều nhau, không ngừng tác động, ảnh hƣởng đến nhau, làm sự vật, hiện
tƣợng biến đổi, phát triển.
+ Quy luật phủ định của phủ định
Quy luật này vạch ra khuynh hƣớng vận động, phát triển của sự vật . Thế
giới vật chất tồn tại, vận động phát triển không ngừng. Sự vật, hiện tƣợng nào đó
xuất hiện, mất đi, thay thế bằng sự vật, hiện tƣợng khác. Sự thay thế đó gọi là phủ
định.
Phủ định biện chứng là sự tự phủ định do mâu thuẫn bên trong sự vật, Cái
mới phủ định cái cũ, nhƣng cái mới sẽ không phải là mới mãi, nó sẽ cũ đi và bị cái
mới khác phủ định; không có lần phủ định cuối cùng. Cái cũ tuy bị thay thế nhƣng
vẫn còn lại những yếu tố, đôi khi mạnh hơn cái mới. Cái mới còn non yếu chƣa có
khả năng thắng ngay cái cũ. Vận động phát triển đi lên, là xu hƣớng chung của thế
giới, nhƣng không diễn ra theo đƣờng thẳng tắp, mà diễn ra theo đƣờng xoáy ốc,
quanh co phức tạp.
- Lý luận nhận thức
Nhận thức là một hoạt động của con ngƣời, là quá trình phản ánh chủ động,
tích cực, sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc ngƣời. Hoạt động nhận
thức đƣợc thực hiện thông qua thực tiễn, lấy thực tiễn làm cơ sở, là mục đích, động
lực và là tiêu chuẩn xác định tính đúng đắn của nhận thức.
Chủ thể nhận thức là con ngƣời nhƣng thƣờng bị chi phối bởi điều kiện lịch
sử, về kinh tế, chính trị -xã hội, truyền thống văn hoá; đặc điểm tâm sinh lý, đặc
biệt là năng lực nhận thức, tƣ duy của chủ thể.
Nhận thức của con ngƣời không phải là thụ động mà là chủ động, tích cực,
sáng tạo, đi từ biết ít đến biết nhiều, từ biết hiện tƣợng đến hiểu bản chất sự vật, từ
trực quan sinh động đến tƣ duy trừu tƣợng.
Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là hai giai đoạn của một quá trình
nhận thức có liên hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Giai đoạn nhận thức cảm
tính, nhận thức hiện thực trực tiếp thế giới khách quan, nhƣng đó chỉ là nhận thức
8
những hiện tƣợng bề ngoài, giản đơn. Nhận thức lý tính chỉ ra những mối liên hệ
bản chất, tất yếu bên trong, vạch ra quy luật vận động phát triển của sự vật, hiện
tƣợng. Nhận thức cảm tính là tiền đề, điều kiện của nhận thức lý tính. Nhận thức lý
tính khi đã hình thành sẽ tác động trở lại làm cho nhận thức cảm tính nhạy bén
hơn, chính xác hơn. Tƣ duy trừu tƣợng phản ánh gián tiếp hiện thực nên phải kiểm
nghiệm trong thực tiễn để phân biệt đúng, sai.
- Thực tiễn và vai trò của nó đối với nhận thức
Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất của con ngƣời nhằm cải tạo thế giới
khách quan để phục vụ nhu cầu của con ngƣời. Hoạt động thực tiễn thể hiện qua ba
hình thức cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động chính trị-xã hội và hoạt
động thực nghiệm khoa học. Trong đó, hoạt động sản xuất ra của cải vật chất là
hoạt động cơ bản nhất vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển xã hội.
Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức,cung cấp những tài liệu hiện
thực, khách quan, làm cơ sở để con ngƣời nhận thức. Thực tiễn là động lực và mục
đích của nhận thức; là tiêu chuẩn của chân lý.
b) Chủ nghĩa duy vật lịch sử
Chủ nghĩa duy vật lịch sử bao gồm những quy luật vận động, phát triển của
xã hội.
- Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất
Con ngƣời hoạt động sản xuất ra của cải vật chất, tinh thần và sản xuất ra
chính con ngƣời. Để tồn tại và phát triển, trƣớc tiên con ngƣời phải ăn, uống, ở và
mặc trƣớc khi có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo, sinh sản... Muốn
vậy, họ phải lao động sản xuất ra của cải vật chất.
Phương thức sản xuất là cách thức tiến hành sản xuất vật chất trong một giai
đoạn nhất định của lịch sử. Mỗi phƣơng thức sản xuất gồm hai mặt cấu thành là lực
lƣợng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa con ngƣời với giới tự nhiên, là trình
độ chinh phục tự nhiên của con ngƣời. Lực lƣợng sản xuất bao gồm tƣ liệu sản
xuất và ngƣời lao động. Tƣ liệu sản xuất gồm đối tƣợng lao động và công cụ lao
động, trong đó công cụ lao động là yếu tố động nhất, luôn đổi mới theo sự phát
triển của sản xuất.
Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời trong quá trình sản
xuất, bao gồm quan hệ sở hữu đối với tƣ liệu sản xuất, tổ chức, quản lý và phân
9
phối sản phẩm lao động; trong đó quan hệ sở hữu đối với tƣ liệu sản xuất đóng vai
trò quyết định nhất.
Trong mỗi phƣơng thức sản xuất, lực lƣợng sản xuất và quan hệ sản xuất
gắn bó hữu cơ với nhau. Lực lƣợng sản xuất nhƣ thế nào về trình độ phát triển thì
quan hệ sản xuất phù hợp nhƣ thế ấy. Khi trình độ lực lƣợng sản xuất phát triển,
thay đổi thì quan hệ sản xuất cũng thay đổi theo. Đến mức độ nào đó, quan hệ sản
xuất cũ không còn phù hợp nữa, nó sẽ mâu thuẫn và cản trở lực lƣợng sản xuất. Để
tiếp tục phát triển, lực lƣợng sản xuất phải phá vỡ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập
quan hệ sản xuất mới, phù hợp với trình độ của lực lƣợng sản xuất.
- Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu bao gồm
quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất còn lại của hình thái kinh tế-xã hội
trƣớc đó và quan hệ sản xuất của hình thái kinh tế-xã hội tƣơng lai. Trong đó quan
hệ sản xuất thống trị giữ vai trò chủ đạo và chi phối các quan hệ sản xuất khác.
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm tƣ tƣởng chính trị, pháp
quyền, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo, triết học... và những thiết chế tƣơng ứng nhƣ
nhà nƣớc, đảng phái, giáo hội, các tổ chức quần chúng..., đƣợc hình thành trên cơ
sở hạ tầng nhất định và phản ánh cơ sở hạ tầng đó. Cơ sở hạ tầng thế nào thì kiến
trúc thƣợng tầng đƣợc xây dựng tƣơng ứng. Quan hệ sản xuất nào thống trị thì tạo
ra kiến trúc thƣợng tầng chính trị phù hợp với nó. Khi cơ sở hạ tầng biến đổi, kiến
trúc thƣợng tầng biến đổi theo. Biến đổi cơ sở hạ tầng, sớm hay muộn cũng dẫn tới
biến đổi kiến trúc thƣợng tầng. Kiến trúc thƣợng tầng tác động trở lại, bảo vệ cơ sở
hạ tầng đã sinh ra nó. Trong các bộ phận của kiến trúc thƣợng tầng, Nhà nƣớc có
vai trò quan trọng và có hiệu lực mạnh nhất vì Nhà nƣớc là công cụ quản lý hiệu
quả của giai cấp thống trị đối với xã hội
Cách mạng xã hội là bƣớc nhảy vọt về chất trong sự phát triển xã hội, là sự
thay thế hình thái kinh tế-xã hội này bằng hình thái kinh tế-xã hội khác, tiến bộ
hơn. Trong cách mạng xã hội, quần chúng nhân dân là động lực cơ bản. Quần
chúng nhân dân là ngƣời sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần cho xã hội,
tạo điều kiện cho sự phát triển xã hội,...là lực lƣợng quyết định sự phát triển của
lịch sử xã hội.
10
2. Kinh tế chính trị Mác-Lênin
a) Học thuyết giá trị và giá trị thặng dư
- Học thuyết giá trị là xuất phát điểm trong toàn bộ lý luận kinh tế của
C.Mác. Bằng việc phân tích hàng hoá, C.Mác đã vạch ra quan hệ giữa ngƣời với
ngƣời thông qua quan hệ trao đổi hàng hoá, đó chính là lao động, cơ sở của giá trị
hàng hoá.
Hàng hoá là sản phẩm của lao động, dùng để thoả mãn nhu cầu của con
ngƣời thông qua trao đổi mua bán. Hàng hoá có hai thuộc tính cơ bản là giá trị sử
dụng và giá trị trao đổi. Giá trị sử dụng của hàng hoá là công dụng của hàng hoá để
thoả mãn nhu cầu nào đó của con ngƣời. Giá trị trao đổi là một tỷ lệ, theo đó những
giá trị sử dụng loại này đƣợc trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác.
Giá trị của hàng hoá là lƣợng lao động xã hội đƣợc đo bằng thời gian lao
động xã hội cần thiết của ngƣời sản xuất hàng hoá. Để trao đổi hàng hoá đó với
nhau phải căn cứ vào giá trị xã hội của hàng hoá đó.
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một
hàng hoá trong điều kiện bình thƣờng của xã hội, với một trình độ kỹ thuật trung
bình và cƣờng độ lao động trung bình trong điều kiện xã hội nhất định.
Năng suất lao động xã hội là năng lực sản xuất của lao động đƣợc tính bằng
số lƣợng sản phẩm đƣợc sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc lƣợng thời
gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Lao động giản đơn là lao động
của bất kỳ một ngƣời bình thƣờng nào có khả năng lao động cũng có thể thực hiện
đƣợc. Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải đƣợc huấn luyện đào tạo thành
lao động lành nghề.
Việc sản xuất và trao đổi hàng hoá tất yếu sẽ dẫn đến sự xuất hiện của tiền.
Tiền, về bản chất, là một loại hàng hóa đặc biệt, là vật ngang giá chung, thƣớc đo
giá trị trong trao đổi hàng hóa; là kết quả của quá trình phát triển của sản xuất và
trao đổi hàng hóa. Tiền xuất hiện là yếu tố ngang giá chung, là hình thái biểu hiện
giá trị của hàng hóa.
Giá trị của hàng hóa biểu hiện ra bên ngoài dƣới hình thức tiền là giá cả của
hàng hóa đó. Giá trị là cơ sở của giá cả, còn giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá
trị, phụ thuộc vào giá trị. Hàng hoá nào nhiều giá trị thì giá cả của nó sẽ cao và
ngƣợc lại. Tuy nhiên ngoài giá trị, giá cả còn phụ thuộc vào các yếu tố khác nhƣ
sức cạnh tranh, cung cầu, sức mua của ngƣời tiêu dùng…
11
- Học thuyết giá trị thặng dư. Học thuyết giá trị thặng dƣ là “hòn đá tảng”
trong toàn bộ học thuyết kinh tế của C.Mác, là đóng góp to lớn của ông trong lịch
sử tƣ tƣởng nhân loại. Nó chỉ ra bản chất bóc lột của phƣơng thức sản xuất tƣ bản
chủ nghĩa.
Nội dung cơ bản của học thuyết là: Sản xuất hàng hóa phát triển đến một mức
độ nhất định thì tiền biến thành tƣ bản. Công thức của lƣu thông hàng hóa giản đơn
là Hàng-Tiền-Hàng, nghĩa là bán một hàng hóa đi để mua một hàng hóa khác....
Công thức chung của lƣu thông tƣ bản là Tiền-Hàng-Tiền nhiều hơn, nghĩa là mua
để bán nhằm có thêm lợi nhuận. Phần tiền tăng thêm so với số tiền lúc đầu bỏ vào
lƣu thông gọi là giá trị thặng dƣ.
Học thuyết giá trị thặng dƣ của C. Mác đã chỉ rõ nguồn gốc sinh ra giá trị
thặng dƣ cho nhà tƣ bản khi nhà tƣ bản thuê công nhân, tức mua đƣợc loại hàng
hóa đặc biệt là hàng hóa sức lao động. Giá trị hàng hoá sức lao động bao gồm giá
trị tƣ liệu sinh hoạt cần thiết đủ để duy trì sức khoẻ của ngƣời lao động ở trạng thái
bình thƣờng; chi phí đào tạo tuỳ theo tính chất phức tạp của lao động; giá trị tƣ liệu
sinh hoạt cho con cái của ngƣời lao động. Trên thực tế, giá trị của hàng hóa sức lao
động đƣợc thể hiện bằng tiền công, tiền lƣơng, là sự biểu thị bằng tiền giá trị sức
lao động, hay là giá cả của sức lao động.
Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động đƣợc thể hiện trong quá trình lao
động. Sức lao động tạo ra một lƣợng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó,
phần giá trị dôi ra so với giá trị sức lao động là giá trị thặng dƣ. Nhà tƣ bản sử
dụng hàng hóa sức lao động của ngƣời công nhân, tạo lợi nhuận ngày càng nhiều
cho chủ tƣ bản.
Nhà tƣ bản thƣờng sử dụng phƣơng pháp sản xuất giá trị thặng dƣ tuyệt đối
do kéo dài thời gian lao động tất yếu và sản xuất giá trị thặng dƣ tƣơng đối là giá
trị thặng dƣ thu đƣợc nhờ rút ngắn thời gian lao động tất yếu do ứng dụng các
thành tựu khoa học công nghệ, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động xã
hội.Sản xuất ra giá trị thặng dƣ là quy luật tuyệt đối, là cơ sở tồn tại và phát triển
của chủ nghĩa tƣ bản.
Học thuyết giá trị thặng dƣ đã vạch rõ bản chất của nền sản xuất tƣ bản chủ
nghĩa; chứng minh khoa học về cách thức bóc lột giai cấp công nhân của giai cấp
tƣ sản và luận chứng những mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tƣ bản.
Dƣới chủ nghĩa xã hội, nhất là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, học
thuyết giá trị thặng dƣ vẫn có giá trị. Cần quan tâm ứng dụng khoa học-công nghệ
hiện đại, phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao, không ngừng cải tiến kỹ thuật,
12
nâng cao năng suất lao động... để tạo ra nhiều giá trị thặng dƣ, vừa để nâng cao thu
nhập của mình, vừa mang lại lợi ích, xây dựng cơ sở vật chất nhiều hơn cho xã hội.
b) Về chủ nghĩa tư bản độc quyền
Chủ nghĩa tƣ bản độc quyền với 5 đặc điểm kinh tế cơ bản:
Một là, sự tích tụ, tập trung sản xuất và tập trung tƣ bản với quy mô lớn với
sự liên minh giữa các nhà tƣ bản để nắm trong tay phần lớn việc sản xuất và tiêu
thụ hàng hoá.
Hai là, sự tích tụ và tập trung tƣ bản ngân hàng ra đời các tổ chức độc quyền
ngân hàng. Tƣ bản công nghiệp và tƣ bản ngân hàng hợp tác hình thành tập đoàn
tƣ bản tài chính có tiềm lực vốn và lực lƣợng sản xuất rất mạnh.
Ba là, xuất khẩu tƣ bản để các nhà tƣ bản tài chính tiến hành khai thác sức
lao động, tài nguyên thiên nhiên,... ở các nƣớc chậm phát triển dƣới hình thức đầu
tƣ xây dựng nhà máy, doanh nghiệp, tổ chức sản xuất hoặc cho vay.
Bốn là, sự phân chia thị trƣờng thế giới về kinh tế giữa các tổ chức độc
quyền để độc chiếm nguồn nguyên liệu, quy mô sản xuất, định ra giá cả độc quyền
cao.
Năm là, sự phân chia thế giới về lãnh thổ, thực chất là phân chia thế giới về
kinh tế giữa các cƣờng quốc tƣ bản. Biểu hiện ở việc các nƣớc đế quốc xâm chiếm
thuộc địa, độc chiếm nguồn nguyên liệu, thị trƣờng tiêu thụ hàng hoá và thiết lập
căn cứ quân sự khống chế các nƣớc khác.
Chủ nghĩa tƣ bản độc quyền ra đời đã thúc đẩy nền sản xuất hàng hoá phát
triển đạt tới mức cao nhất trong lịch sử sản xuất của nhân loại. Mặt tiêu cực của sự
ra đời chủ nghĩa tƣ bản độc quyền là gắn với quá trình bóc lột chiếm lợi nhuận cao
thể hiện rõ dƣới nhiều hình thức. Các cuộc khủng hoảng kinh tế trong xã hội tƣ bản
hiện đại kéo dài, trầm trọng hơn. Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và các tầng
lớp nhân dân lao động với giai cấp tƣ sản ngày càng sâu sắc. Sự cạnh tranh kinh tế
quyết liệt giữa các nƣớc tƣ bản với nhau, các nƣớc tƣ bản với các nƣớc đang phát
triển là nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến xung đột và chiến tranh đe dọa hòa bình và ổn
định của thế giới.
3. Chủ nghĩa xã hội khoa học
a) Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin đã dùng khái niệm giai cấp công
nhân, giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại để chỉ lực lƣợng những ngƣời
lao động không phải chủ sở hữu của tƣ liệu sản xuất mà phải bán sức lao động,
13
công nhân ra đời, phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất đại công
nghiệp tƣ bản chủ nghĩa thế kỷ XIX.
Ngày nay, trong bối cảnh cách mạng khoa học và công nghệ và kinh tế tri
thức, khái niệm giai cấp công nhân đƣợc mở rộng hơn, “là một lực lượng xã hội to
lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công
hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc
sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp”1.
- Đặc điểm của giai cấp công nhân
Giai cấp công nhân ra đời và lớn lên cùng với sự phát triển của đại công
nghiệp và cách mạng khoa học và công nghệ, họ đại biểu cho lực lƣợng sản xuất
tiên tiến, có tính chất tiên tiến, gắn với xu hƣớng phát triển của xã hội.
Trong cuộc đấu tranh của mình, giai cấp công nhân có tinh thần cách mạng
triệt để không chỉ để giải phóng mình mà còn giải phóng toàn bộ xã hội...
Giai cấp công nhân lao động trong hệ thống sản xuất có tính chất dây chuyền
công nghiệp, có thói quen của lối sống ở đô thị tập trung, tuân thủ các quy định của
cộng đồng, pháp luật của nhà nƣớc nên họ có tính chất tổ chức kỷ luật cao.
Sản xuất công nghiệp và khoa học và công nghệ có tính chất quốc tế nên giai
cấp công nhân có tính chất quốc tế.
- Về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là giai cấp tiên phong, lực
lƣợng đi đầu trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ tƣ bản chủ nghĩa,
xây dựng thành công hình thái kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa và cuối cùng là
cộng sản chủ nghĩa.
Về kinh tế, giai cấp công nhân là ngƣời đại diện phƣơng thức sản xuất tiến
bộ nhất thuộc về xu thế phát triển xã hội. Giai cấp công nhân là nhân tố hàng đầu
của lực lƣợng sản xuất có tính chất xã hội hóa ngày càng cao và quan hệ sản xuất
mới phù hợp dựa trên chế độ công hữu về tƣ liệu sản xuất. Giai cấp công nhân có
điều kiện đoàn kết với nhau trong cuộc đấu tranh xóa bỏ chế độ tƣ hữu tƣ bản chủ
nghĩa về tƣ liệu sản xuất, thiết lập chế động công hữu xã hội chủ nghĩa.
Ở các nƣớc xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân đã trở thành ngƣời chủ đất
nƣớc, là lực lƣợng đi đầu lãnh đạo nhân dân lao động cuộc đấu tranh xóa bỏ chế độ
áp bức bất công và nghèo nàn lạc hậu bằng đẩy mạnh công nghiệp hóa, thực hiện
1 Đảng CSVN: Văn kiện Hội nghị BCH TƯ Đảng lần thứ 6, khoá X, Nxb CTQG. HN, 2009. tr. 287
14
một kiểu tổ chức mới về lao động, có năng suất ngày càng cao, với các nguyên tắc
sở hữu tƣ liệu sản xuất mới, cách thức quản lý sản xuất và tổ chức phân phối sản
phẩm phù hợp với sự phát triển của lực lƣợng sản xuất, thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội.
Về chính trị, giai cấp công nhân có điều kiện khách quan đứng ở vị trí trung
tâm, lãnh đạo và đoàn kết các giai cấp, tầng lớp khác trong cuộc đấu tranh chống
lại giai cấp tƣ sản, giành lấy chính quyền, tổ chức xây dựng chế độ mới, chế độ xã
hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa
Về văn hóa, tư tưởng, giai cấp công nhân tiến hành cuộc cách mạng văn hóa
tƣ tƣởng, cải tạo những tƣ tƣởng, tàn dƣ của xã hội cũ, xây dựng hệ tƣ tƣởng của
chủ nghĩa Mác-Lênin, xây dựng nền văn hóa mới trở thành nền tảng tinh thần của
xã hội; xây dựng con ngƣời mới xã hội chủ nghĩa có đạo đức, lối sống mới xã hội
chủ nghĩa.
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam ngày nay là thực hiện
thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng Việt Nam “Dân
giàu, nƣớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, xây dựng thành công chủ nghĩa
xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.
- Tất yếu hình thành chính đảng của giai cấp công nhân
Ngay từ khi mới ra đời, giai cấp công nhân đã phải đấu tranh với giai cấp tƣ
sản để bảo vệ quyền lợi của mình. Sự thất bại của phong trào công nhân tự phát
giữa thế kỷ XIX khách quan đòi hỏi có lý luận khoa học dẫn đƣờng và đảng chính
trị tiền phong lãnh đạo. Sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin và phong trào công nhân
tất yếu ra đời chính đảng của giai cấp công nhân. Đó là quy luật chung ra đời đảng
cộng sản- chính đảng của giai cấp công nhân ở các nƣớc tƣ bản phát triển.
Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định Đảng là đội tiên phong của giai cấp công
nhân. Đảng có tổ chức chặt chẽ, bao gồm những ngƣời tiên tiến về mặt nhận thức
và gƣơng mẫu về mặt hành động trong giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Đảng cộng sản đƣợc xây dựng vững mạnh về chính trị, tƣ tƣởng và tổ chức; có lý
luận tiền phong là chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tƣ tƣởng. Đảng cộng sản
lãnh đạo giai cấp công nhân tự giác nhận thức rõ mục tiêu, con đƣờng, biện pháp
đấu tranh cách mạng, thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình là lãnh đạo toàn xã hội
đấu tranh xoá bỏ chế độ xã hội cũ, xây dựng chế độ xã hội mới, xã hội chủ nghĩa
và cộng sản chủ nghĩa.
15
b) Cách mạng xã hội chủ nghĩa
Cách mạng xã hội chủ nghĩa là tất yếu khách quan do mâu thuẫn gay gắt
giữa lực lƣợng sản xuất mang tính xã hội hoá cao với tính chất tƣ nhân tƣ bản chủ
nghĩa, biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tƣ
sản. Cách mạng xã hội chủ nghĩa không diễn ra tự phát. Chỉ khi giai cấp công nhân
có lý luận dẫn đƣờng, nhận thức đƣợc sứ mệnh lịch sử của mình, có đội tiên phong
là đảng cộng sản lãnh đạo, giai cấp công nhân mới có thể tiến hành cách mạng xã
hội chủ nghĩa.
Động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa là khối đoàn kết, liên minh công
nông, trí thức và các tầng lớp lao động khác do giai cấp công nhân lãnh đạo.
Cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực chính trị, chủ yếu là đảng cộng
sản lãnh đạo giai cấp công nhân và các lực lƣợng nhân dân lao động đấu tranh lật
đổ chính quyền tƣ sản, thiết lập quyền lực chính trị về tay mình, xây dựng kiến trúc
thƣợng tầng xã hội chủ nghĩa; hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Trên lĩnh vực kinh tế, nhiệm vụ trọng tâm là phát triển lực lƣợng sản xuất,
tiến hành công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, không ngừng nâng cao năng suất lao
động xã hội; xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của
lực lƣợng sản xuất; xây dựng và phát huy quyền làm chủ của ngƣời lao động đối
với tƣ liệu sản xuất; cải thiện đời sống nhân dân.
Trên lĩnh vực tƣ tƣởng-văn hóa là tiến hành giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin
trở thành hệ tƣ tƣởng chủ đạo trong xã hội, xây dựng nền văn hoá xã hội chủ
nghĩa; xây dựng con ngƣời mới, xây dựng đạo đức, lối sống mới xã hội chủ nghĩa.
c) Sự phát triển của hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa
Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ
nghĩa phát triển từ thấp lên cao; giai đoạn đầu là xã hội chủ nghĩa, giai đoạn cao là
cộng sản chủ nghĩa. Trƣớc khi đến giai đoạn sau là thời kỳ quá độ để cải biến cách
mạng từ xã hội trƣớc sang xã hội sau.
- Về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội
Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, quá trình chuyển biến từ xã hội tƣ bản chủ nghĩa
sang xã hội xã hội chủ nghĩa tất yếu phải trải qua thời kỳ quá độ để cải biến toàn
diện và triệt để trên tất cả các lĩnh vực về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Đặc
điểm của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tƣ bản lên chủ nghĩa xã hội là tồn tại đan xen
những yếu tố của xã hội cũ chƣa xoá bỏ hết và những nhân tố mới trên các lĩnh vực
chính trị, kinh tế, văn hoá-xã hội vừa mới xây dựng chƣa đầy đủ, còn non yếu. Xây
16
dựng xã hội xã hội chủ nghĩa là quá trình mới mẻ, chƣa có tiền lệ, nhiều khó khăn
và phức tạp nên không thể tiến hành xong trong thời gian ngắn. Cần có thời kỳ quá
độ để giai cấp công nhân và nhân dân lao động lãnh đạo xây dựng, từng bƣớc hoàn
thiện về chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, con ngƣời. Thời kỳ quá độ dài ngắn khác
nhau vì phụ thuộc vào trình độ phát triển của mỗi nƣớc, điều kiện, hoàn cảnh quốc
tế và xu thế thời đại.
Về chính trị, trong thời kỳ quá độ, kẻ thù vừa bị đánh đổ luôn có sự cấu kết
trong, ngoài nƣớc tiếp tục chống phá; đấu tranh giai cấp vẫn còn tiếp tục dƣới hình
thức mới, trong điều kiện mới. Cần xây dựng, củng cố nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa,
phát huy quyền làm chủ của nhân dân và sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc; tăng
cƣờng quốc phòng, an ninh, xây dựng đảng cộng sản vững mạnh đủ sức lãnh đạo
toàn xã hội đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực và mọi âm mƣu, hành động
chống phá cách mạng của các thế lực thù địch, xây dựng chế độ mới xã hội chủ
nghĩa.
Về kinh tế, cần có thời gian để cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ
sản xuất mới xã hội chủ nghĩa. Trong đó cần thực hiện chính sách kinh tế nhiều
thành phần. Các thành phần kinh tế dƣới sự quản lý của nhà nƣớc tồn tại và phát
triển trong mối quan hệ vừa cạnh tranh, vừa hỗ trợ nhau thúc đẩy nền sản xuất phát
triển theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Cần thực hiện chính sách thu hút vốn đầu
tƣ của tƣ bản nƣớc ngoài và sử dụng chuyên gia tƣ sản vào sản xuất. Cần phát triển
các hợp tác xã, sử dụng và phát triển kinh tế tƣ nhân để nó trở thành động lực phát
triển kinh tế - xã hội.
Về tƣ tƣởng văn hoá, trong thời kỳ quá độ bên cạnh hệ tƣ tƣởng chủ nghĩa
Mác-Lênin đang xây dựng, còn tồn tại tƣ tƣởng tƣ sản, tiểu tƣ sản, phong kiến, tiểu
nông và các luồng tƣ tƣởng du nhập từ bên ngoài.... Vì vậy cần có đẩy mạnh hoạt
động đấu tranh tƣ tƣởng, khắc phục những tệ nạn xã hội do xã hội cũ để lại; xây
dựng nền văn hoá mới xã hội chủ nghĩa; từng bƣớc xây dựng con ngƣời mới xã hội
chủ nghĩa.
Theo V.I.Lênin, những nƣớc kinh tế kém phát triển có thể quá độ tiến thẳng
lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tƣ bản chủ nghĩa. Để thực hiện
bƣớc quá độ đó, cần phải có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, có sự đoàn kết toàn
dân tộc và sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nƣớc tiên tiến.
- Về xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa
Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội là giai đoạn thấp của chủ nghĩa
cộng sản có những đặc trƣng cơ bản là: Có cơ sở vật chất-kỹ thuật là nền công
17
nghiệp phát triển ở trình độ hiện đại với năng suất lao động cao hơn hẳn xã hội tƣ
bản. Có chế độ công hữu về tƣ liệu sản xuất dƣới nhiều hình thức; không còn chế
độ ngƣời bóc lột ngƣời. Cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động trên tinh thần tự
giác, tự nguyện, bình đẳng. Có nhiều hình thức phân phối, trong đó thực hiện
nguyên tắc phân phối theo lao động và phân phối theo phúc lợi xã hội ngày càng
tăng. Có nền văn hóa mới tiên tiến, phong phú, đa dạng; con ngƣời có cuộc sống
ấm no, tự do, hạnh phúc, bình đẳng, có điều kiện phát triển toàn diện. Các dân tộc
đoàn kết, bình đẳng cùng phát triển. Xã hội do nhân dân làm chủ, Nhà nƣớc có tính
nhân dân, tính dân tộc sâu sắc. Có quan hệ quốc tế rộng rãi theo chủ nghĩa quốc tế
vô sản.
- Xã hội cộng sản chủ nghĩa là xã hội có những đặc trƣng cơ bản: Lực lƣợng
sản xuất với khoa học kỹ thuật phát triển rất cao, của cải xã hội làm ra rất dồi dào,
mọi ngƣời “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”. Con ngƣời phát triển tự do và
toàn diện năng lực của mình. Lao động trở thành nhu cầu của con ngƣời ngày càng
đƣợc giảm nhẹ. Xã hội ngày càng phát triển ở trình độ văn minh; không còn sự
khác nhau giữa các giai cấp, các tầng lớp; không còn sự khác biệt giữa thành thị và
nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay. Nhân dân làm chủ ở mức độ
rất cao. Những thiết chế chính trị và pháp luật sẽ dần dần mất đi, nhà nƣớc trở
thành không cần thiết, tự tiêu vong.
III. VAI TRÕ NỀN TẢNG TƢ TƢỞNG, KIM CHỈ NAM CHO HÀNH
ĐỘNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
1. Bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin
- Chủ nghĩa Mác-Lênin là một hệ thống lý luận khoa học, thể hiện trong
toàn bộ ba bộ phận cấu thành học thuyết
Triết học Mác-Lênin trang bị cho con ngƣời thế giới quan khoa học và
phƣơng pháp luận đúng đắn để nhận thức, cải tạo và phát triển thế giới.
Kinh tế chính trị học Mác-Lênin chỉ rõ những quy luật kinh tế dƣới chủ
nghĩa tƣ bản, trong thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội và và dƣới chủ nghĩa
xã hội.
Chủ nghĩa xã hội khoa học là lý luận về về cách mạng xã hội chủ nghĩa; làm
rõ lực lƣợng xã hội to lớn để thực hiện sự nghiệp đó là giai cấp công nhân và toàn
thể nhân dân lao động dƣới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, ngƣời lãnh đạo toàn xã
hội đấu tranh xóa bỏ chế độ tƣ bản chủ nghĩa và xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa
và cộng sản chủ nghĩa.
18
- Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết duy nhất nêu rõ mục tiêu, con đường,
lực lượng, phương thức giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con
người
Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết duy nhất, nêu rõ mục tiêu xây dựng xã
hội tốt đẹp trên toàn thế giới; chỉ rõ phƣơng hƣớng, lực lƣợng, phƣơng thức để giải
phóng toàn xã hội khỏi mọi bất công, áp bức; giải phóng mọi giai cấp thoát khỏi
nghèo nàn, lạc hậu, giải phóng con ngƣời khỏi mọi sự ràng buộc của chủ nghĩa cá
nhân, đi tới tự do.
- Chủ nghĩa Mác-Lênin là một học thuyết mở, sống động, không ngừng tự
phê phán, tự đổi mới, bổ sung và phát triển trong thực tiễn cách mạng
Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết mang tính chất cách mạng, không chỉ
giải thích thế giới, mà còn cải tạo và xây dựng xã hội mới tốt đẹp. Học thuyết này
luôn sống động, nó có khả năng tự phê phán, đổi mới, bổ sung và phát triển.
- Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết cách mạng, có ý nghĩa thực tiễn, không
chỉ giải thích thế giới mà là cải tạo xã hội, xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực.
Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết cách mạng với vai trò là nền tảng tƣ
tƣởng, kim chỉ nam cho hành động của các đảng cộng sản trong cải tạo xã hội cũ
trên các lĩnh vực, xây dựng xã hội hiện thực- xã hội xã hội chủ nghĩa.
2. Chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tƣ tƣởng, kim chỉ nam cho hành
động của các đảng cộng sản
Cho đến ngày nay, chủ nghĩa Mác-Lênin lan rộng toàn thế giới và trở thành
học thuyết phổ biến trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào
giải phóng dân tộc. Hàng trăm đảng cộng sản và công nhân ra đời ở nhiều nƣớc,
đƣa chủ nghĩa Mác-Lênin vào quần chúng, trở thành lực lƣợng vật chất to lớn cho
các phong trào cách mạng. Chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tƣ tƣởng , kim chỉ
nam cho hành động của các đảng cộng sản trong phong trào cộng sản, công nhân
quốc tế phong trào giải phóng dân tộc.
Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ tƣ tƣởng, là cơ sở lý luận của các đảng cộng sản
trong việc hoạch định Cƣơng lĩnh, đƣờng lối lãnh đạo cách mạng; là hệ tƣ tƣởng
của giai cấp công nhân, là hệ tƣ tƣởng chủ đạo trong các hoạt động tinh thần của xã
hội; là định hƣớng chủ đạo trong tƣ duy mỗi ngƣời trong cuộc đấu tranh giành
chính quyền và trong cách mạng xây dựng chủ nghĩa xã hội.
19
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Giáo dục chính trị", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tai_lieu_giao_duc_chinh_tri.pdf

