Tài liệu Đánh dấu không gian xã hội dân sự Việt Nam

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
APF Diễn đàn nhân dân ASEAN  
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á  
CEDAW Công ước về xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ  
CIVICUS Liên minh thế giới vì sự tham gia của công dân  
CSI Chỉ số xã hội dân sự  
CSO Tổ chức xã hội dân sự  
CSO Pride Tự hào các tổ chức xã hội dân sự  
CSR Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp  
DFID Bộ phát triển quốc tế Anh  
EU Liên minh Châu Âu  
EVN Tập đoàn điện lực Việt Nam  
FTA Hiệp định thương mại tự do  
HIV Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải  
IA Cơ quan viện trợ Ireland  
IDS Viện nghiên cứu phát triển  
INGO Tổ chức phi chính phủ quốc tế  
iSEE Viện nghiên cứu xã hội kinh tế và môi trường  
LGBT Người đồng tính, song tính và chuyển giới  
MTTQ Mặt trận tổ quốc  
NGO Tổ chức phi chính phủ  
PTTH Phổ thông trung học  
SOGI Xu hướng tính dục và bản dạng giới  
TPP Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương  
U&I Tổ chức không đăng ký và hoạt động độc lập  
UBND Ủy ban nhân dân  
UPR Kiểm điểm định kỳ phổ quát  
USAID Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ  
WTO Tổ chức thương mại thế giới  
XHDS Xã hội dân sự  
6
MỤC LỤC  
Lời Nhà xuất bản ...........................................................................................................................  
Danh mục các từ viết tắt ..........................................................................................  
Lời cảm ơn ......................................................................................................................................................  
Lời ghi nhận ...............................................................................................................................................  
Lời nói đầu .....................................................................................................................................................  
3
4
6
7
8
4.2.2. Cấu phần năng lực xã hội  
dân sự .................................................................................................... 35  
4.2.3. Cấu phần quản lý nhà nước  
về XHDS ............................................................................................ 36  
4.2.4. Cấu phần ảnh hưởng  
Tóm tắt kết quả ................................................................................................................................ 10  
1. Xã hội dân sự và không gian XHDS .................................. 15  
1.1. Khái niệm về xã hội dân sự ............................................... 15  
1.2. Không gian xã hội dân sự ...................................................... 17  
2. Phương pháp đo lường không gian XHDS ......... 20  
2.1. Khái niệm ........................................................................................................................ 20  
2.2. Thu thập thông tin định lượng ............................... 21  
2.3. Xây dựng bộ chỉ số đo lường ......................................... 22  
2.4. Thử nghiệm bộ chỉ số ....................................................................... 23  
3. Thu thập và phân tích số liệu .......................................................... 25  
3.1. Thu thập số liệu định lượng ............................................ 25  
3.2. Phân tích số liệu định lượng .......................................... 25  
3.2.1. Phân tích nhân tố trong  
của xã hội dân sự ..................................................... 37  
4.2.5. Mô hình các cấu phần phản  
ánh không gian XHDS ................................ 38  
4.3. Kết quả đo không gian XHDS ................................. 39  
4.3.1. Không gian XHDS ................................................... 39  
4.3.2. Mối tương quan giữa các  
cấu phần không gian XHDS ......... 40  
4.4. Kết quả áp dụng thang đo cho từng  
cấu phần và đánh giá của XHDS  
về từng chỉ số .................................................................................................... 41  
4.4.1. Nền tảng văn hóa, xã hội  
(2,94 điểm) ............................................................................. 42  
4.4.2. Năng lực của xã hội dân sự  
(2,91 điểm) ............................................................................. 54  
4.4.3. Quản lý nhà nước  
xây dựng bộ chỉ số đo lường  
không gian XHDS ......................................................... 25  
3.2.2. Phân tích giá trị đo lường  
(2,24 điểm)............................................................................. 84  
4.4.4. Tác động của xã hội dân sự  
(2,92 điểm) ............................................................................. 98  
4.5. Mức độ mở rộng của không gian  
XHDS Việt Nam ............................................................................................. 113  
các cấu phần tạo nên không  
gian XHDS trên mẫu tổng ..................... 27  
3.3. Thu thập thông tin định tính ....................................... 27  
3.4. Phân tích số liệu định tính .................................................. 28  
3.5. Đạo đức nghiên cứu ............................................................................. 28 5. Kết luận ............................................................................................................................................... 119  
3.6. Bàn luận về phương pháp  
Phụ lục ............................................................................................................................................................... 123  
nghiên cứu ................................................................................................................... 29 Phụ lục 1: Các chỉ số bị loại ra khỏi  
4. Kết quả nghiên cứu ................................................................................................... 30  
mô hình ........................................................................................................... 123  
4.1. Đặc điểm của XHDS tham gia  
Phụ lục 2: Quan hệ nhà nước và XHDS ..........................147  
khảo sát ................................................................................................................................ 30 Phụ lục 3: Các công cụ đo và đánh giá  
4.2. Kết quả phân tích nhân tố trong  
xây dựng thang đo các cấu phần  
không gian XHDS ........................................................................................ 34  
4.2.1. Cấu phần giá trị nền tảng  
văn hóa xã hội ...................................................................... 34  
XHDS ......................................................................................................................... 156  
Phụ lục 4: Đặc điểm 30 người tham gia thử  
bảng hỏi và phỏng vấn sâu .......................... 162  
Phụ lục 5: Danh mục 33 chỉ số  
của bảng hỏi ....................................................................................... 163  
Tài liệu tham khảo .............................................................................................................. 164  
7
LỜI CẢM ƠN  
Chúng tôi vô cùng biết ơn và cảm thấy vinh hạnh được phỏng vấn những người đồng ý tham gia  
nghiên cứu. Họ đại diện cho những góc nhìn khác nhau về không gian xã hội dân sự, dựa trên trải  
nghiệm của phần không gian do chính họ tạo ra, và bản thân họ là một phần của không gian đó.  
Nhưng quan trọng hơn, sự cảm nhận không gian này dựa trên những giới hạn mà họ chạm đến  
trong quá trình hoạt động của mình. Chỉ khi họ chạm đến giới hạn của không gian, họ mới biết  
giới hạn không gian đó ở đâu. Chúng tôi cảm kích vì họ đã bộc bạch những trải nghiệm để giúp  
bạn đọc biết không gian đó đang rộng hay hẹp.  
Chúng tôi viết báo cáo này như là một tổng hợp của cảm nhận các không gian xã hội dân sự  
từ các góc nhìn khác nhau. Tuy nhiên, có một số chia sẻ mà chúng tôi không đưa được vào báo  
cáo này, một phần do khả năng của chúng tôi trong việc thấu hiểu và truyền đạt cảm nhận của  
những người tham gia nghiên cứu, một phần là giới hạn do nhóm nghiên cứu tự đặt ra. Chúng  
tôi quyết định như vậy vì muốn hạn chế rắc rối cho những người đã mở lòng với mình. Chúng tôi  
viết báo cáo này không nhằm cụ thể vào một nhóm đối tượng nào, không nhằm phục vụ bất cứ  
bên nào. Chúng tôi chỉ muốn hiểu thấu vấn đề nghiên cứu từ các góc nhìn khác nhau, và muốn  
bày các góc nhìn khác nhau để mỗi người có cơ hội nhìn thấy góc nhìn của người khác. Chúng tôi  
mong muốn những người đọc báo cáo này cũng chia sẻ điều này với chúng tôi, và cùng đọc báo  
cáo không phải từ lợi ích của phe phái mình, vì mục đích mình đang theo đuổi, mà vì tương lai  
của xã hội Việt Nam.  
Với điều đó, chúng tôi một lần nữa cảm ơn những người đã tham gia nghiên cứu. Không có sự  
chân thành và rộng lượng của họ, chúng tôi không thể hoàn thành nghiên cứu này.  
Nhóm nghiên cứu  
8
LỜI GHI NHẬN  
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn tổ chức Oxfam tại Việt Nam, Cơ quan viện trợ Ireland (Irish Aid),  
Bộ phát triển quốc tế Anh (DFID), Đại sứ quán Nauy tại Việt Nam và Viện nghiên cứu xã hội kinh  
tế và môi trường (iSEE) đã hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho nghiên cứu này.  
Chúng tôi trân trọng sự ủng hộ và góp ý cho nghiên cứu của ông Andrew Wells-Dang, ông Phạm  
Quang Tú và những đóng góp của Ban cố vấn, những người đã đồng hành cùng nhóm nghiên cứu  
từ ý tưởng ban đầu, cho đến khi sản phẩm được ra đời.  
Quan điểm trong báo cáo này là của tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của tổ chức  
Oxfam tại Việt Nam, Cơ quan viện trợ Ireland (Irish Aid), Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID), Đại sứ  
quán Nauy tại Việt Nam và Viện nghiên cứu xã hội kinh tế và môi trường (iSEE)  
9
LỜI NÓI ĐẦU  
Từ năm 1986 khi Việt Nam tiến hành đổi mới nhiều không gian dân sự đã được khôi phục và tạo  
mới. Đầu những năm 1990, khi các tổ chức từ thiện, phát triển quốc tế vào Việt Nam, khái niệm  
“phi chính phủ”, “xã hội dân sự” dần dần được giới thiệu với các cơ quan nhà nước, cộng đồng  
hưởng lợi, và xã hội. Những tổ chức phi chính phủ Việt Nam đầu tiên cũng được thành lập như  
những tổ chức “khoa học công nghệ không vì mục đích lợi nhuận” bên cạnh các tổ chức quần  
chúng của nhà nước. Hoạt động từ thiện cũng được khôi phục bởi cả Mặt trận tổ quốc, các đoàn  
thể và người dân. Khi internet có mặt ở Việt Nam vào năm 1997, hội nhập kinh tế sâu rộng hơn,  
người dân trở nên độc lập hơn thì không gian dân sự càng được mở rộng. Nhiều tổ chức dân sự  
độc lập ra đời, hoạt động phản biện chính sách của nhà nước, bảo vệ quyền con người, và phản  
đối sự xâm lấn của Trung Quốc ở biển Đông.  
Xã hội dân sự trở thành một chủ để hấp dẫn nhiều nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế. Một số  
nghiên cứu nhìn vào bản chất, vai trò và thành phần của XHDS Việt Nam, ví dụ như nghiên cứu  
của Norlund (2007) tập trung vào phân loại các hình thức tổ chức khác nhau (đoàn thể, tổ chức  
nghề nghiệp, NGO và các tổ chức cộng đồng); nghiên cứu của CIVICUS (2006) thì chia thành đoàn  
thể, tổ chức chủ quản, hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) làm về khoa học công  
nghệ, các NGO khác, các nhóm phi chính thức, các tổ chức tôn giáo, và các NGO quốc tế.  
Một số nhà nghiên cứu khác thì quan tâm hơn đến mối quan hệ giữa nhà nước và các tổ chức xã  
hội dân sự. Kerkvliet và cộng sự (2008) nghiên cứu sự tương tác giữa xã hội dân sự và nhà nước ở  
bốn lĩnh vực: cung cấp dịch vụ, phản ánh tiếng nói của người dân đến với công chức, giám sát và  
đảm bảo trách nhiệm giải trình của công chức, và quá trình hoạch định chính sách và luật pháp.  
Wells-Dang (2012) thì phân tích bản chất “mạng lưới” của XHDS với sự tham gia của nhiều cá  
nhân, tổ chức trong và ngoài nhà nước cùng nhau gây ảnh hưởng để đạt được mục đích chung.  
Thayer (2009) phân tích mối quan hệ của các nhóm xã hội dân sự chính trị trong việc đối đầu với  
nhà nước, đặc biệt vai trò độc tôn của Đảng cộng sản để dự đoán các kịch bản khác nhau.  
Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu sâu nào về không gian xã hội dân sự, mức độ rộng  
hay hẹp của không gian, và đâu là nguyên nhân của sự mở rộng hay thu hẹp này. Bên cạnh đó,  
các nghiên cứu trước đây dường như chỉ tập trung vào một thành phần nhất định của xã hội dân  
sự, ví dụ như CIVICUS thì nghiên cứu các tổ chức“chính thức”có đăng ký, còn Thayer nhìn vào các  
nhóm bị nhà nước coi là bất đồng chính kiến, thậm chí phản động. Chưa có nghiên cứu nào phân  
tích sâu mối tương tác giữa các thành phần này, và giữa các thành phần này với nhà nước, báo  
chí và doanh nghiệp.  
Nghiên cứu “Đánh dấu không gian xã hội dân sự Việt Nam”là sáng kiến đầu tiên nhằm đo lường  
không gian đang được tạo ra và sử dụng bởi các tác nhân xã hội dân sự. Nó nhằm đo cảm nhận  
của những người trong cuộc về không gian họ có, và đâu là các cơ hội cũng như thách thức cho  
10  
việc mở rộng không gian này. Nó là một lát cắt nhằm giúp những bên liên quan hiểu hơn về XHDS  
Việt Nam từ đó có những điều chỉnh về chính sách, về phương thức hoạt động, hoặc về thái độ  
hợp tác nhằm đạt được mục đích chung.  
Vì là nghiên cứu đầu tiên nên chắc chắn có nhiều thiếu sót và hạn chế cần phải khắc phục. Đầu  
tiên, do số mẫu ít hơn dự kiến nên có thể một số chỉ số quan trọng, đặc biệt trong cấu phần về sự  
quản lý của nhà nước đã bị loại ra khỏi mô hình đo lường. Trong những lần đo tới, cần bổ sung số  
mẫu đủ lớn để thử lại nhằm phản ánh các yếu tố ảnh hưởng đến không gian xã hội dân sự. Thứ  
hai, do nghiên cứu đánh giá 33 chỉ số khác nhau, mỗi chỉ số xứng đáng một nghiên cứu riêng,  
nên không thể phân tích sâu từng chỉ số. Bên cạnh đó, các chỉ số này đo cảm nhận của những  
người hoạt động trong xã hội dân sự nên có thể có những khác biệt với ý kiến chuyên gia, hoặc  
của những người thuộc cấu phần “nhà nước” hoặc “thị trường”. Đây cũng là một hướng nghiên  
cứu sâu cho những nhà nghiên cứu quan tâm đến một chỉ số nhất định. Thứ ba, nhóm nghiên  
cứu gặp khó khăn trong việc “phân loại” những người tham gia phỏng vấn vì bản thân họ tham  
gia nhiều nhóm khác nhau, có nhiều bản dạng khác nhau. Chính vì vậy, có nhiều phần, đặc biệt  
phần về sự hợp tác giữa các nhóm XHDS, có thể làm một số người đọc không hài lòng, đặc biệt với  
những người muốn có sự phân chia rõ ràng về các thành phần của XHDS. Cuối cùng, vì nghiên cứu  
tập trung vào những người hoạt động trong XHDS nên chỉ phản ánh cảm nhận của người trong  
cuộc. Cảm nhận này có thể khác với cảm nhận của những người làm trong các cơ quan nhà nước,  
hoặc trong lĩnh vực kinh doanh. Điều này là bình thường, nhưng cũng có thể là đề tài nghiên cứu  
để so sánh sự giống nhau và khác nhau về cảm nhận không gian xã hội dân sự của những thành  
phần khác nhau trong xã hội.  
11  
TÓM TẮT KẾT QUẢ  
“Không gian” (space) là một phạm trù khá trừu tượng. Khác với “place”  
như là một nơi chốn có tính cụ thể và vật chất, “space” nhấn mạnh  
vào sự cảm nhận và trải nghiệm. “Space” không chỉ là không gian vật  
chất, không gian hữu hình, mà quan trọng hơn là không gian văn hóa,  
không gian trải nghiệm, không gian xã hội. Như Lefebvre viết: “không  
gian (xã hội) là một sản phẩm (xã hội)... do đó, không gian được sản  
sinh ra như công cụ của tư tưởng và hành động..., thêm nữa, là phương  
tiện sản xuất, nó cũng là phương tiện để kiểm soát, và do đó để thiết  
lập sự thống trị của quyền lực”.1 Bởi không gian mang tính kiến tạo xã  
hội, được cấu thành từ những mối quan hệ xã hội nên không tĩnh mà  
luôn động.  
Không gian xã hội dân sự mở rộng hay thu hẹp phụ thuộc vào ba yếu  
tố quan trọng. Yếu tố thứ nhất là các giá trị văn hóa, xã hội thúc đẩy  
hoặc ngăn cản sự phát triển của xã hội dân sự do nhà nước và xã hội  
dân sự đều được bao trong “xã hội”. Thứ hai là năng lực và sự chủ động  
của các tác nhân xã hội dân sự trong việc thúc đẩy không gian tự do  
của mình. Nếu các tác nhân xã hội dân sự càng mạnh, càng chủ động,  
càng hợp tác thì họ càng có khả năng mở rộng không gian dân sự. Thứ  
ba là sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động dân sự, quan điểm  
và thái độ của nhà nước với xã hội dân sự. Có thể hiểu rằng, nếu nhà  
nước càng bao dung với xã hội dân sự, càng ít can thiệp vào, kiểm soát  
các tác nhân dân sự, thì không gian xã hội dân sự càng rộng (vì sự hiện  
diện, bao sân của nhà nước thu hẹp).  
Không gian XHDS không thể đo lường trực tiếp mà phải thông qua 3  
cấu phần cụ thể là: 1) Nền tảng xã hội; 2) Năng lực của XHDS; và 3) Sự  
quản lý của nhà nước. Mỗi cấu phần này lại được phản ánh qua các  
chỉ số cụ thể. Để kiểm chứng rằng sự thay đổi 3 cấu phần này sẽ làm  
không gian XHDS mở rộng hay thu hẹp, cấu phần “Ảnh hưởng của xã  
1
Henri Lefebvre. 1991. The Production of Space. Donald Nicholson-Smith trans. Oxford: Basil Blackwell.  
12  
hội dân sự” được sử dụng để đánh giá gián tiếp tính xác thực của công  
cụ đo lường được tạo nên bởi 3 cấu phần trên – Nếu không gian hoạt  
động của XHDS càng rộng, ảnh hưởng của XHDS tới xã hội càng cao và  
ngược lại. Sau khi chạy mô hình một nhân tố, nghiên cứu cho thấy mô  
hình này hoàn toàn phù hợp để sử dụng đo không gian xã hội dân sự.  
Không gian xã hội dân sự Việt Nam được đánh giá là hẹp bởi đa số  
người tham gia nghiên cứu, và được khẳng định bởi kết quả thang đo  
không gian XHDS. Trên thang điểm 5, tất cả các cấu phần đều có điểm  
thấp hơn điểm trung bình (3), cụ thể, cấu phần quản lý nhà nước có  
điểm thấp nhất, chỉ đạt 2,24 điểm. Cấu phần nền tảng văn hóa xã hội  
có điểm cao nhất là 2,94 điểm, tiếp đó là ảnh hưởng của XHDS và năng  
lực của XHDS tương ứng là 2,92 điểm và 2,91 điểm.  
Cấu phần năng lực của XHDS có mối tương quan thuận cao với không  
gian XHDS (0,86), điều này chứng tỏ không gian XHDS hiện có chủ  
yếu được tạo ra nhờ năng lực của XHDS. Tương tự như vậy, mối tương  
quan của năng lực XHDS và Ảnh hưởng của XHDS cũng cao (0,63), nên  
năng lực XHDS không chỉ quyết định độ rộng hẹp của không gian dân  
sự, mà còn quyết định ảnh hưởng của nó lên xã hội. Mối tương quan  
giữa quản lý nhà nước và không gian xã hội dân sự rất thấp (0,36) càng  
chứng tỏ không gian rộng hay hẹp phụ thuộc nhiều vào năng lực của  
XHDS hơn là sự quản lý của nhà nước. Như vậy, đầu tư vào năng lực  
của XHDS là một đầu tư hiệu quả và thông minh trong việc mở rộng  
không gian XHDS cũng như ảnh hưởng của XHDS lên xã hội.  
Trong các chỉ số của cấu phần nền tảng văn hóa xã hội, chỉ số “đóng  
góp của người dân cho hoạt động từ thiện” và “mức độ quan tâm đến  
bất công” khá cao, có điểm số trên mức trung bình là 3,12 và 3,65. Tuy  
nhiên, nền tảng này vẫn đang bị bao trùm bởi tư tưởng độc tôn nhà  
nước, nhà nước lo tất nên người dân trở thành thụ động, e ngại tham  
gia hoạt động cộng đồng, hành động tập thể để giải quyết các vấn đề  
chung của mình. Chính vì vậy, mức độ ủng hộ phản biện độc lập và  
mức độ chấp nhận khác biệt tư tưởng của người dân rất thấp, chỉ có  
2,63 và 2,64 điểm. Diễn ngôn tiêu cực về XHDS, về hoạt động dân sự  
như phản biện xã hội, biểu tình, tự do hiệp hội và lập hội càng ngăn cản  
13  
người dân tham gia và ủng hộ các hoạt động của XHDS. Một số người  
cho rằng vấn đề này chỉ được giải quyết khi kiến thức và ý thức chính trị  
của người dân được nâng lên, khi họ hiểu rõ hơn những nguyên nhân  
sâu xa của bất công, của các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa mà họ đang  
phải đối mặt.  
Năng lực của XHDS được thể hiện qua nhiều chỉ số khác nhau và còn  
khá thấp. Trong những năm gần đây thành phần (3,97 điểm) và hoạt  
động của XHDS (3,77 điểm) ngày càng đa dạng nhưng vẫn có những  
khoảng trống, cụ thể là sự thiếu hụt hoặc vai trò mờ nhạt các think-  
tanks, các tổ chức tôn giáo, và sự tham gia của các trường đại học. Vì  
đây là những mắt xích quan trọng nên ảnh hưởng đến năng lực và chất  
lượng của XHDS. Nhân sự của xã hội dân sự được đánh giá là vững  
về chuyên môn kỹ thuật, nhưng yếu về phương pháp hoạt động dân  
sự (civic activism) (3,08 điểm). Năng lực tài chính còn phụ thuộc vào  
bên ngoài (như nhóm NGO) hoặc rất hạn hẹp (như nhóm U&I) dẫn  
đến những hạn chế trong việc thực hiện các hoạt động sâu rộng (2,51  
điểm). Cơ hội quyên góp nguồn lực từ doanh nghiệp và người dân  
chưa mở được do doanh nghiệp VN phần lớn “thân” hoặc “sợ” chính  
phủ, và người dân chưa quen với hoạt động của XHDS. Hợp tác giữa  
các tổ chức xã hội dân sự (2,88 điểm) đã được cải thiện trong thời gian  
gần đây, nhưng còn rất nhiều thách thức do cả yếu tố bên trong (chưa  
thực sự tôn trọng và thấu hiểu vai trò của nhau), cũng như yếu tố bên  
ngoài (sự ngăn cản của chính quyền). Quan hệ của XHDS với nhà nước  
(2,36 điểm) rất yếu do quan hệ không bình đẳng, “xin phép-cho phép”  
và tâm thế của nhà nước đang là kiểm soát hơn là hỗ trợ XHDS. Quan  
hệ với báo chí (2,94 điểm) và XHDS quốc tế (2,73 điểm) đang có những  
tiến bộ mới, đặc biệt nhờ mạng xã hội và internet, nhưng vẫn còn thấp.  
Mức độ kiểm soát của nhà nước với XHDS rất chặt chẽ, thậm chí ngăn  
cản với một số nhóm hoạt động về quyền con người, hay có tinh thần  
phản kháng. Tự do lập hội (2,16 điểm) chưa được bảo vệ, và việc thành  
lập NGO, Hội đặc biệt khó khăn hơn trong TP. HCM và các tỉnh phía  
Nam. Việc tiếp cận internet được mở rộng ở Việt Nam nhưng tự do  
thông tin (2,05 điểm) còn nhiều hạn chế. Lĩnh vực xuất bản (2,37 điểm)  
là một bức tranh “lốm đốm da báo”, về thể chế chính thức thì chưa có  
14  
tự do xuất bản, nhưng thực tế thì khá cởi mở do sự tham gia của các  
đơn vị tư nhân kết hợp với các nhà xuất bản của nhà nước. Tự do báo  
chí cũng được đánh giá thấp (2,27 điểm) vì còn kiểm duyệt, tự kiểm  
duyệt cũng như Luật báo chí đang sửa đổi chưa thừa nhận báo chí tư  
nhân, chưa có cơ chế bảo vệ nhà báo, đặc biệt báo chí điều tra. Tự do  
gây quỹ được đánh giá cao nhất nhưng vẫn dưới điểm trung bình (2,93)  
do chưa có khung pháp lý rõ ràng, và các tổ chức, cá nhân gây quỹ đang  
hoạt động trong vùng mờ, và nhà nước chưa can thiệp.  
Ảnh hưởng của XHDS lên việc bảo vệ quyền con người chưa được đánh  
giá cao (2,94 điểm) vì tự kiểm duyệt của NGO, cản trở của nhà nước,  
cũng như năng lực của các tổ chức XHDS. Các tổ chức xã hội dân sự  
chưa truyền tải tốt và đầy đủ tiếng nói của các nhóm thiểu số (3,07  
điểm), cơ bản vì thiếu các tổ chức XHDS của chính những nhóm này,  
hoặc sự thấu hiểu và nhạy cảm của XHDS với nhu cầu và quyền của họ.  
Việc ảnh hưởng lên trách nhiệm giải trình của nhà nước cũng thấp (2,44  
điểm) vì chưa có khung pháp lý bảo vệ quyền này. Tuy nhiên, mạng xã  
hội và các nhóm XHDS khi kết hợp với báo chí và người dân đã tạo ra  
những tiền lệ như Bộ trưởng y tế sử dụng facebook để “giải trình” các  
vụ việc liên quan, hoặc UBND Hà Nội dừng vụ chặt cây. Mức độ ảnh  
hưởng của XHDS lên bình đẳng giới (3,14 điểm) và xóa đói giảm nghèo  
(3,18 điểm) được đánh giá cao hơn, tuy nhiên, để hiệu quả hơn nữa thì  
cần có những đột phá về cách làm. Cụ thể cần thách thức nguyên nhân  
sâu xa của bất bình đẳng giới (quan hệ quyền lực nam-nữ) cũng như  
đói nghèo (tham nhũng, lãng phí, chính sách tạo ra sự lệ thuộc). Cuối  
cùng, ảnh hưởng của XHDS lên văn hóa dân chủ còn yếu (2,84 điểm),  
chủ yếu do năng lực, hiểu biết cũng như bản thân nhiều tổ chức XHDS  
chưa thực hành văn hóa dân chủ trong nội bộ tổ chức mình, giữa mình  
với nhau, và giữa mình với xã hội.  
Tuy còn hẹp nhưng 61% người tham gia nghiên cứu cho rằng không  
gian xã hội dân sự đã được mở rộng trong 3 năm vừa qua, và hy vọng  
tiếp tục được mở rộng. Nguyên nhân chủ yếu do sự xuất hiện của  
internet, mạng xã hội giúp người dân biết nhiều thông tin, dễ dàng lên  
tiếng, và kết nối với nhau. Bên cạnh đó, sự xuất hiện của nhiều nhóm  
tự do, thậm chí đối kháng nên đã đẩy biên giới rộng ra, mở thêm được  
15  
không gian dân sự. Sự chuyển mình của các tổ chức NGO qua mảng  
vận động chính sách, phong trào xã hội, và đặc biệt là sự phát triển của  
các nhóm tình nguyện thanh niên, nhóm từ thiện…đã tạo ra nhiều  
không gian mới. Sự chuyển mình trong hợp tác, điều phối, và tôn trọng  
nhau giữa các nhóm xã hội dân sự cũng tăng hiệu quả hoạt động cũng  
như tạo tiền đề cho không gian XHDS được mở rộng hơn.  
Xã hội dân sự Việt Nam đang ở giai đoạn phát triển quan trọng khi  
không gian ngày càng được mở rộng, sự hợp tác đang được hình thành,  
và nhà nước đang soạn thảo một loạt luật như Luật về hội, Luật tiếp  
cận thông tin, Luật biểu tình, Luật báo chí…Có thể nói, ảnh hưởng  
của XHDS lên đời sống xã hội, kinh tế và chính trị ngày càng lớn, theo  
hướng thúc đẩy dân chủ hóa, mich bạch hóa, tự do hóa. Tuy nhiên,  
xã hội dân sự Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn học hỏi, thử nghiệm và  
phát triển. Xã hội dân sự chưa kết tụ vì chưa đủ lực (con người, tài  
chính, ảnh hưởng) để trở thành một trụ cột quan trọng của xã hội. Có  
lẽ, XHDS cần tiếp tục được nuôi dưỡng, thúc đẩy ít nhất 5-10 năm nữa  
để các nhóm NGO độc lập hơn về tài chính, vững vàng hơn về kỹ năng  
vận động xã hội; các nhóm U&I mạnh hơn về phương pháp hoạt động  
dân sự (activism); các tác nhân dân sự mới như think-tanks, tổ chức  
tôn giáo, các trường đại học chủ động tham gia vào hoạt động dân sự;  
và đặc biệt những nhóm thanh niên, sinh viên bây giờ trưởng thành và  
trở thành lực lượng chính trong mạng lưới xã hội dân sự, với không chỉ  
kiến thức và kỹ năng mà cả những giá trị bình đẳng, tự do, khoan dung  
họ mang trên người.  
16  
XÃ HỘI DÂN SỰ  
VÀ KHÔNG GIAN XÃ HỘI DÂN SỰ  
1
1.1. KHÁI NIỆM VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ  
Thuật ngữ “xã hội dân sự” có nguồn gốc từ trong tư tưởng chính trị Hi  
Lạp cổ, với những hàm ý về sự hợp tác xã hội để tồn tại. Ở buổi ban đầu  
thuật ngữ “xã hội dân sự” cũng tương đương với thuật ngữ “nhà nước”.  
Xã hội dân sự (XHDS) không bị xem là tách biệt với cộng đồng và chính  
trị. Theo Keane2, sự phân tách dần dần XHDS khỏi nhà nước chỉ bắt  
đầu từ thế kỷ XVII. Với sự phát triển của các nhà nước thương mại châu  
Âu ở thế kỷ XVIII, XHDS – lúc đó được xem như lĩnh vực hàng hoá,  
cạnh tranh theo định hướng thị trường – mới được xem là lĩnh vực công  
được bảo vệ và tách biệt khỏi gia đình và nhà nước3. Ở dạng thức hiện  
đại như hiện nay, người ta thường lấy mốc từ Adam Ferguson, người  
cho rằng XHDS nổi lên vào thời kỳ Khai sáng ở thế kỷ XVIII ở Scotland.  
Tuy nhiên, Ferguson (1995) vẫn không cho rằng XHDS có thể tách khỏi  
chính trị: “xã hội không thể tách khỏi dạng thức nhà nước của nó, cũng  
như con người kinh tế không thể bị tách rời khỏi con người chính trị”4.  
Sang đến giữa thế kỷ XIX, ý tưởng XHDS bị lãng quên do mối quan tâm  
hướng sang các hậu quả chính trị và xã hội của cuộc cách mạng công  
nghiệp. SauThế chiến thứ II ý tưởng về XHDS được khơi lại bởi Antonio  
Gramsci - người xem “xã hội dân sự” như là một vũ khí đặc biệt của  
hành động chính trị độc lập.  
Vài thập kỷ qua, thuật ngữ này ngày càng trở nên thịnh hành xuất phát  
từ sự nổi lên của các phong trào xã hội dân chủ5. Ngày nay, trong kỷ  
2
3
John Keane, ed. 1988. Civil Society and the State. NewYork:Verso.  
Muthiah Alagappa, (2004). Civil Society and Political Change in Asia: Expanding and Contracting Democratic Space. Stanford  
University Press. California.  
4
Ferguson, A. 1995. An Essay on the History of Civil Society . Cambridge: Cambridge University Press.  
17  
ĐÁNH DẤU KHÔNG GIAN XÃ HỘI DÂN SỰ VIỆ T NAM  
nguyên hiện đại, thuật ngữ “xã hội dân sự” gợi lên nhiều ý nghĩa: đó  
là lãnh địa trung gian giữa cá nhân và nhà nước, thế giới của những  
tổ chức phi lợi nhuận và từ thiện, mạng lưới của các NGOs..vv: “Với  
thuật ngữ XHDS, chúng tôi đề cập tới một địa hạt nơi mà các nhóm, các  
phong trào và các cá nhân tự tổ chức, với sự tự trị tương đối khỏi nhà  
nước, nỗ lực truyền bá các giá trị, tạo nên các hiệp hội và những sự đoàn  
kết, và thể hiện mối quan tâm của họ. XHDS có thể bao gồm những  
phong trào xã hội nhiều lớp… và các hiệp hội công dân từ mọi giai tầng  
trong xã hội6. Nhìn chung, có một số cách hiểu hiện nay về XHDS:  
-
“XHDS” như là một ý tưởng có tính chuẩn mực/“lý tưởng”: tổ chức  
xã hội lý tưởng nằm ngoài sự kiểm soát của nhà nước;  
“XHDS” như là một không gian công cộng được bảo vệ (có tính  
thiết chế) khỏi sự xâm lấn chuyên quyền của nhà nước, mà trong  
đó cá nhân được tự do lập hội;  
-
-
-
“XHDS” như là một tập hợp các hiệp hội/nhóm có tổ chức mà  
thành viên chủ động hành động tập thể để đạt đến mục đích chung;  
“XHDS” là những “phong trào công dân” (đối lại với các thiết chế  
nhà nước và các hãng thương mại).  
Mặt khác, có thể thấy thuật ngữ XHDS thường được lý thuyết hoá xoay  
quanh 7 khía cạnh cơ bản (Sievers 1999):  
-
-
-
-
-
-
-
Các thiết chế tự nguyện và phi lợi nhuận;  
Quyền của cá nhân;  
Mục đích chung;  
Nguyên tắc luật pháp;  
Từ thiện;  
Tự do thể hiện;  
Khoan dung.  
Dù cách hiểu có khác nhau, thì có điểm chung, đó là nói đến XHDS là  
nói đến hai khía cạnh cơ bản, đó là: tính đa nguyên/đa dạng và lợi ích  
xã hội. Để hiểu hơn về quan hệ giữa XHDS và nhà nước, xin xem thêm  
Phụ lục 2 ở cuối báo cáo này.  
5
6
Cohen, J.L and Arato, A. 1992. Civil Society and PoliticalTheory. Cambridge, Mass.: MIT Press.  
Juan Linz and Alfred Stepan. 1996. Problems of democratic transition and consolidation. Baltimore: Johns Hopkins University  
Press, tr. 8.  
18  
1. XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ KHÔNG GIAN XÃ HỘI DÂN SỰ  
1.2. KHÔNG GIAN XÃ HỘI DÂN SỰ  
Vậy không gian XHDS bị qui định bởi những yếu tố nào? “Không gian”  
(space) là một phạm trù khá trừu tượng. Khác với “place” như là một  
nơi chốn có tính cụ thể và vật chất, “space” nhấn mạnh vào sự cảm  
nhận và trải nghiệm. “Space” không chỉ là không gian vật chất, không  
gian hữu hình, mà quan trọng hơn là không gian văn hóa, không gian  
trải nghiệm, không gian xã hội. Bản thân không gian cũng là một sản  
phẩm xã hội, hoặc một kiến tạo xã hội phức hợp (dựa trên các giá trị và  
sản phẩm xã hội của ý nghĩa), qui định những cảm nhận và cách con  
người ta thực hành xã hội7. Không gian ấy không phải mang tính địa  
lý tự nhiên được tạo nên bởi những nhà qui hoạch đô thị, những nhà  
kiến trúc (mặc dù họ có vai trò không nhỏ trong việc thiết kế để tạo nên  
không gian vật chất cho xã hội ấy), mà không gian xã hội được tạo nên  
chính bởi những cá nhân sống trong đó. Trong tác phẩm Phê phán đời  
sống thường ngày, Lefebvre viết: “không gian (xã hội) là một sản phẩm  
(xã hội)...do đó, không gian được sản sinh ra như công cụ của tư tưởng  
và hành động..., thêm nữa, là phương tiện sản xuất, nó cũng là phương  
tiện để kiểm soát, và do đó để thiết lập sự thống trị của quyền lực.”8 Bởi  
không gian mang tính kiến tạo xã hội, được cấu thành từ những mối  
quan hệ xã hội nên không tĩnh mà luôn động.  
Với không gian XHDS, trước hết có thể thấy nhà nước và xã hội đều là  
những hệ thống xã hội (social system), mà các thành tố/bộ phận của  
nó đều ràng buộc nhau bởi những hệ thống giá trị có tính phổ quát và  
có tính thống nhất. Thông qua luật pháp, ban bệ hành chính và các  
phương tiện khác mà nhà nước đóng vai trò tác động tạo nên những  
thay đổi trong đời sống xã hội.Vì vậy, có thể thấy trước hết, sự can thiệp  
của nhà nước càng ít thì dường như không gian của XHDS càng rộng.  
Tuy nhiên, không chỉ có nhà nước tạo ra sự thay đổi – ở đây là không  
gian cho XHDS - mà bản thân xã hội hay cộng đồng cũng tác động, tạo  
ra và duy trì những cách riêng biệt để kiến tạo nên đời sống hàng ngày.  
Theo quan điểm của Habermas về địa hạt công, bản thân năng lực của  
7
8
Henri Lefebvre (1991). The Production of Space. Donald Nicholson-Smith trans. Oxford: Basil Blackwell  
Henri Lefebvre (1991)The Critique of Everyday Life, Volume 1, John Moore trans., London:Verso.  
19  
ĐÁNH DẤU KHÔNG GIAN XÃ HỘI DÂN SỰ VIỆ T NAM  
các tác nhân tham gia vào XHDS, những người tạo ra, chứ không chỉ  
đơn thuần là người sử dụng không gian ấy, sẽ góp phần mở rộng không  
gian XHDS. Một quá trình xây dựng dân chủ sẽ diễn ra, nhưng không  
nằm ở bản thân thiết chế, mà nằm ở nền tảng hàng ngày, trong sự nỗ  
lực xây dựng các giá trị dân chủ thông qua các mối quan hệ xã hội và  
văn hoá chính trị (Habermas 1996). Vì vậy mà quá trình dân chủ hoá  
nằm ở giao điểm của nhà nước, thiết chế chính trị và XHDS9. Ở góc độ  
khác, Cohen và Arato (1992) cho rằng trong khi các dạng thức truyền  
thống của lĩnh vực chính trị như phương thức truyền thông theo kiểu  
cũ có thể bị giới hạn chặt chẽ, đã xuất hiện“công chúng mới” ngày càng  
được mở rộng, đa dạng cả về nội dung lẫn cách thức truyền thông. Và  
sự thay đổi này ở cấp độ dưới này đã tạo ra một sự chuyển đổi trong các  
thiết chế chính trị chính thức10.  
Như vậy, về cơ bản, không gian xã hội dân sự mở rộng hay thu hẹp phụ  
thuộc vào ba yếu tố quan trọng. Yếu tố thứ nhất là môi trường hay dung  
môi thúc đẩy hoặc ngăn cản sự phát triển của xã hội dân sự do nhà  
nước và xã hội dân sự đều được bao trong “xã hội”. Nói cách khác, nếu  
một xã hội có các giá trị, niềm tin vào tự do, dân chủ, đa dạng về tư  
tưởng và sự tự thân của người dân thì nền tảng để các tổ chức xã hội dân  
sự phát triển, điều này đồng nghĩa với việc mở rộng của không gian xã  
hội dân sự. Ngược lại, nếu các giá trị này càng yếu thì các tổ chức XHDS  
càng khó phát triển, và không gian xã hội dân sự càng bị thu hẹp.  
Thứ hai là năng lực và sự chủ động của các tác nhân xã hội dân sự trong  
việc thúc đẩy không gian tự do của mình. Nếu các tổ chức xã hội dân  
sự càng mạnh, càng chủ động, càng hợp tác thì họ càng có khả năng  
mở rộng không gian của mình, và như vậy không gian xã hội dân sự sẽ  
được mở rộng. Bên cạnh đó, sự hiện diện và kết quả của các hoạt động  
của xã hội dân sự cũng góp phần vào nâng cao vị thế của các tổ chức xã  
hội dân sự và không gian xã hội dân sự.  
9
Natalia Massaco Koga. 2012. Shifts in the relationship between the state and civil society in Brazil’s recent democracy. PhD  
thesis, University ofWestminster.  
10 Koga, 2012, sđd  
20  
1. XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ KHÔNG GIAN XÃ HỘI DÂN SỰ  
Thứ ba là sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động dân sự, quan  
điểm và thái độ của nhà nước với xã hội dân sự. Có thể hiểu rằng, nếu  
nhà nước càng bao dung với xã hội dân sự, càng ít can thiệp vào, kiểm  
soát các tác nhân dân sự, thì không gian xã hội dân sự càng rộng (vì sự  
hiện diện, bao sân của nhà nước thu hẹp). Ngược lại, nếu nhà nước  
kiểm soát, ngăn chặn hoạt động hoặc hạn chế tiếp cận nguồn lực của  
các tác nhân dân sự thì không gian xã hội dân sự sẽ bị thu hẹp.  
21  
PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG  
KHÔNG GIAN XÃ HỘI DÂN SỰ  
2
2.1. KHÁI NIỆM  
Đo không gian xã hội dân sự là một thách thức vì bản thân khái  
niệm xã hội dân sự (XHDS) chưa có sự thống nhất cả về lý thuyết  
lẫn thực hành áp dụng. Trên thực tế, tùy từng hoàn cảnh xã hội  
chính trị ở từng quốc gia mà cấu phần cũng như sự hình thành và  
hoạt động của XHDS sẽ khác nhau. Tuy nhiên, nếu hiểu không gian  
XHDS là nơi mà các thành phần của xã hội dân sự tạo lập được  
trong xã hội thì không gian này sẽ phụ thuộc cụ thể vào môi trường  
chính sách, điều kiện và mối quan hệ với nhà nước, khối tư nhân và  
công chúng nói chung.  
Trong nghiên cứu này, khái niệm không gian xã hội dân sự được tạo  
nên từ 3 cấu phần: 1) Nền tảng xã hội liên quan tới các giá trị mà XHDS  
theo đuổi; 2) Năng lực của XHDS để thực hiện sứ mệnh của mình; và  
3) Sự quản lý của nhà nước với xã hội dân sự. Cấu phần 2 và 3 chính là  
các điều kiện cụ thể tác động tới không gian của XHDS. Hai cấu phần  
này có mối tương quan với nhau. Ví dụ khi XHDS có năng lực tốt và  
đẩy mạnh hoạt động sẽ làm thay đổi các qui định, chính sách của nhà  
nước về XHDS, do đó có thể làm mở rộng không gian của XHDS. Tuy  
nhiên mối tương quan này có thể ở các mức độ khác nhau do còn có  
thể có các yếu tố tác động khác tới mối tương quan này. Cấu phần 1  
vừa là tiềm năng để XHDS thúc đẩy hoạt động của họ, vừa là yếu tố ảnh  
hưởng đến thái độ của nhà nước đối với XHDS. Ngược lại, bản thân  
giá trị nền tảng của xã hội là yếu tố động và thay đổi theo thời gian do  
các tác động của sự phát triển kinh tế xã hội, trong đó có tác động của  
chính XHDS. Như vậy, 3 cấu phần tạo nên không gian XHDS đều có  
mối tương quan lẫn nhau.  
22  
2. PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG KHÔNG GIAN XÃ HỘI DÂN SỰ  
Với khái niệm không gian XHDS như đã nêu, việc đo lường và so sánh  
không gian này theo thời gian sẽ không phụ thuộc vào cấu trúc của  
XHDS nếu cấu trúc này được xác định ngay từ ban đầu và ổn định (cụ  
thể ai là thành phần của XHDS), hay khái niệm xã hội dân sự được làm  
rõ. Dĩ nhiên sự thay đổi về số lượng của từng thành phần trong cấu  
trúc XHDS sẽ tác động tới không gian XHDS nói chung, nhưng nếu  
không có sự biến động lớn về thành phần của XHDS thì kết quả đo  
lường không gian XHDS sẽ dễ so sánh theo thời gian hơn.  
TạiViệt Nam, XHDS vẫn chưa được khái niệm hóa một cách chính thức,  
ít nhất là trong các văn bản chính sách của nhà nước. Dựa trên một số  
nghiên cứu trước đây, như nghiên cứu của Norlund (2007), CIVICUS  
(2006), Ben Kerkvliet và cộng sự (2008) nhóm nghiên cứu xác định xã  
hội dân sự ởViệt Nam trong nghiên cứu này bao gồm các tổ chức ngoài  
nhà nước, không nhận kinh phí từ nhà nước như các tổ chức phi chính  
phủ, các hội đoàn độc lập, các tổ chức cộng đồng, các câu lạc bộ, các  
nhóm tự lực, nhóm sở thích, cá nhân hoạt động độc lập, các nhà hoạt  
động vì quyền, bloggers và nhóm trên các mạng xã hội. Mặc dù các  
tổ chức phi chính phủ quốc tế tại Việt Nam trên thực tế đóng góp rất  
nhiều vào hoạt động chung của xã hội dân sự Việt Nam, nhưng chúng  
tôi loại thành phần này ra khỏi nghiên cứu vì muốn tập trung hơn vào  
không gian tạo ra bởi các tác nhân dân sự trong nước.  
2.2. THU THẬP THÔNG TIN ĐỊNH LƯỢNG  
Các bài phân tích về một số bộ công cụ đo lường XHDS, trong đó có  
không gian XHDS, của USAID, CIVICUS, v.v11,12 [xem thêm Phụ lục 3]  
cho thấy một số vấn đề còn tranh cãi như (i) áp dụng cùng bộ chỉ số đo  
lường ở những quốc gia có quan niệm khác nhau về XHDS; (ii) đánh  
giá/cho điểm phụ thuộc vào nhóm được coi là chuyên gia về XHDS ở  
các nước; (iii) số liệu định tính được “qui đổi” thành định lượng, v.v.  
11 Kees Biekart (2008). Measuring Civil Society Strength: How and forWhom? Development and Change, 39 (6): 1171-1180.  
12 Joseph Hannah (2007). Local Non-Government Organizations in Vietnam: Development, Civil Society and State-society  
Relations. (Doctor of Philosophy Dissertation). University ofWashington.  
23  
ĐÁNH DẤU KHÔNG GIAN XÃ HỘI DÂN SỰ VIỆ T NAM  
Nghiên cứu này không lặp lại các điểm hạn chế đó vì:  
-
Các chỉ số được kế thừa và xây dựng để đo lường sự thay đổi không  
gian XHDS theo thời gian ở bối cảnh Việt Nam;  
Kết quả đo lường là đánh giá của tất cả các thành phần XHDS  
thông qua thang đánh giá định lượng, không chỉ phụ thuộc vào  
nhóm chuyên gia.  
-
Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng, bao gồm  
các hoạt động sau:  
-
-
-
-
Tham khảo các tài liệu, nghiên cứu liên quan;  
Xây dựng bộ chỉ số đo lường không gian XHDS;  
Thử nghiệm bộ chỉ số;  
Khảo sát bảng hỏi và phỏng vấn sâu đại diện các thành phần  
XHDS.  
2.3. XÂY DỰNG BỘ CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG  
Như phần khái niệm đã nêu, cấu trúc hay thành phần của XHDS rất  
đa dạng, không chỉ là các tổ chức phi chính phủ đã đăng ký hoạt động.  
Do đó việc thống kê số lượng các thành phần để hiểu mẫu nghiên cứu  
là rất khó khăn. Dựa trên các đầu mối làm việc, Nhóm nghiên cứu lên  
danh sách được 200 các tổ chức, nhóm, hội, cá nhân hoạt động độc  
lập. Với quần thể dân số nghiên cứu xác định được nhỏ như vậy, để xây  
dựng bộ chỉ số và xác định tính xác thực (validity) sẽ đòi hỏi mất rất  
nhiều thời gian và nguồn lực để tìm và mời đối tượng nghiên cứu tham  
dự. Bên cạnh đó, các bộ chỉ số đo lường XHDS đã được phát triển, xác  
thực và áp dụng ở nhiều nước trên thế giới (trình bày ở phụ lục 3), nên  
nhóm nghiên cứu quyết định xây dựng bộ chỉ số dựa trên nguyên tắc  
kế thừa các chỉ số phù hợp với bối cảnh phát triển ở Việt Nam và bổ  
sung thêm một số chỉ số thích hợp khác  
Như đã nêu ở phần Khái niệm 2.1, không gian XHDS không thể đo  
lường trực tiếp mà phải thông qua 3 cấu phần tạo nên hay phản ánh  
không gian đó: 1) Nền tảng xã hội; 2) Năng lực của XHDS; và 3) Sự quản  
lý của nhà nước. Hai câu hỏi quan trọng đặt ra: Các cấu phần này có  
thực sự đo lường được không gian XHDS hay không?Và điều gì sẽ kiểm  
24  
2. PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG KHÔNG GIAN XÃ HỘI DÂN SỰ  
chứng rằng sự thay đổi 3 cấu phần này sẽ làm không gian XHDS mở  
rộng hay thu hẹp? Để trả lời, Nhóm nghiên cứu quyết định sử dụng cấu  
phần“Ảnh hưởng của xã hội dân sự” để đánh giá gián tiếp tính xác thực  
của công cụ đo lường được tạo nên bởi 3 cấu phần trên – Nếu không  
gian hoạt động của XHDS càng rộng, ảnh hưởng của XHDS tới xã hội  
càng cao và ngược lại.  
Nhóm nghiên cứu tiến hành chọn lọc các chỉ số của các cấu phần đo  
lường tương ứng ở các bộ công cụ đo lường XHDS phù hợp với bối  
cảnh phát triển hiện tại của Việt Nam. Đảm bảo mỗi chỉ số chỉ phản  
ánh 1 nội dung rõ ràng, dễ hiểu và được cho điểm dựa trên thang điểm  
Likert từ 1 đến 5 theo mức độ tăng dần với mỗi nội dung. Kết quả có 43  
chỉ số phản ánh 4 cấu phần đo lường, gồm 3 cấu phần tạo nên không  
gian XHDS (Nền tảng văn hóa xã hội; Năng lực của XHDS; và Quản lý  
của nhà nước) và một cấu phần phản ánh gián tiếp không gian XHDS  
(Ảnh hưởng của xã hội dân sự).  
Sau khi bộ chỉ số được nhóm nghiên cứu hoàn thiện, một nhóm nhỏ  
các chuyên gia XHDS được mời để đánh giá tính phù hợp của bộ chỉ số.  
Nhóm chuyên gia XHDS bao gồm các cá nhân hiện đang tham gia các  
mạng lưới làm việc về các vấn đề khác nhau của XHDS tại Hà Nội. Mục  
tiêu tham vấn nhóm chuyên gia là để chọn lọc các chỉ số đánh giá làm  
sao số chỉ số ít nhất nhưng đảm bảo phản ánh tốt nhất các khía cạnh  
quan trọng của các cấu phần đo lường. Đồng thời nhóm chuyên gia  
cũng giúp hiệu chỉnh lại ngôn ngữ và nội dung trong các chỉ số. Nhóm  
chuyên gia quyết định thêm 2 chỉ số mới và loại 10 chỉ số không cần  
thiết. Cuối cùng 33 chỉ số được lựa chọn trong đó 7 chỉ số phản ánh  
Nền tảng văn hóa xã hội liên quan tới các giá trị mà XHDS theo đuổi, 9  
chỉ số phản ánh Năng lực của XHDS, 9 chỉ số phản ánh Sự quản lý của  
nhà nước, và 8 chỉ số phản ánh Ảnh hưởng của XHDS (xem Phụ lục 5)  
2.4. THỬ NGHIỆM BỘ CHỈ SỐ  
Bảng hỏi gồm phần giới thiệu thông tin nghiên cứu, các thông tin nhân  
khẩu xã hội và bộ chỉ số đo lường được thử nghiệm trực tiếp với 30 đại  
diện được chọn từ danh sách 200 người, đại diện cho các thành phần  
25  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 167 trang Thùy Anh 9740 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Đánh dấu không gian xã hội dân sự Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_danh_dau_khong_gian_xa_hoi_dan_su_viet_nam.pdf