Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định của khách hàng sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking tại thành phố Hồ Chí Minh
Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Số 46, 2020
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG
SỬ DỤNG DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HUỲNH QUANG MINH
Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Tóm tắt Việc hạn chế sử dụng tiền mặt, thúc đẩy thanh toán qua mạng, khuyến khích sử dụng e-banking
đã trở thành vấn đề bức thiết đang rất được quan tâm của Chính phủ Việt Nam cũng như các ngân hàng tại
Việt Nam. Agribank, là một trong những ngân hàng lớn của Việt Nam luôn quan tâm tìm hiểu thị hiếu
khách hàng nhằm có căn cứ cải tiến dịch vụ, thu hút khách hàng sử dụng e-mobile banking của Agribank
nhiều hơn. Nghiên cứu này là một nghiên cứu định lượng nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ
ảnh hưởng của các nhân tố đó đến ý định của khách hàng sử dụng dịch vụ e-mobile banking của ngân hàng
Agribank tại thành phố Hồ Chí Minh. Mô hình nghiên cứu gồm bảy (07) nhân tố độc lập: (1) nhận thức sự
hữu ích, (2) nhận thức dễ sử dụng, (3) chuẩn chủ quan, (4) chi phí, (5) nhận thức sự tín nhiệm, (6) sự đa
dạng dịch vụ, (7) tính linh hoạt, và một (01) nhân tố phụ thuộc là ý định của khách hàng cá nhân sử dụng
dịch vụ Agribank e-mobile banking. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 309 cá nhân là khách hàng của
Agribank tại thành phố Hồ Chí Minh. Với phương pháp kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số
Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy đa biến, kết quả cuối cùng cho
thấy có năm (05) nhân tố tác động đến ý định của khách hàng sử dụng Agribank e-mobile banking gồm:
(1) tính linh hoạt (LH), (2) chuẩn chủ quan (CQ), (3) nhận thức hữu ích (HI), (4) nhận thức tính dễ sử dụng
(SD), và (5) chi phí (CP). Kết quả nghiên cứu cung cấp một số hàm ý quản trị giúp Agribank tại thành phố
Hồ Chí Minh có căn cứ tham khảo nhằm cải thiện các dịch vụ thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ e-mobile
banking nhiều hơn.
Keywords: Ý định sử dụng, e-mobile banking
THE FACTORS AFFECTING CUSTOMERS’ INTENTION TO USE AGRIBANK E-
MOBILE BANKING SERVICES
IN HO CHI MINH CITY
Abstract Limiting the use of cash, promoting online payment, encouraging the use of e-banking are the
serious issues that have been greatly concerned by the Vietnamese Government as well as banks in Vietnam.
Agribank, one of the big banks in Vietnam, is always interested in understanding customer behaviors in
order to have a basis for improving services and attracting more customers to use e-mobile banking of
Agribank. This study is a quantitative study to identify the affecting factors and their affecting levels on the
intention of customers in using Agribank e-mobile banking services in Ho Chi Minh City. The research
model includes seven (07) independent factors: (1) perceived usefulness, (2) perceived ease of use, (3)
subjective norm, (4) cost, (5) perceived trust, (6) variety of Services, (7) mobility access, and one (01)
dependent factor, it is the intention of individual customers to use Agribank e-mobile banking. The research
data was collected from 309 individual customers of Agribank in Ho Chi Minh City. The Cronbach’s Alpha
test of reliability, exploratory factor analysis (EFA), and Multiple Linear Regression Analysis were used
for data analysis. The final results show that there are five (05) factors affecting individual customers on
intention to use Agribank e-mobile banking: (1) mobility access, (2) subjective norm, (3) perceived
usefulness, (4) perceived ease of use, and (5) cost. This study results contribute to provide some managerial
implications for Agribank in Ho Chi Minh City improving services to attract more customers towards using
Agribank e-mobile banking.
Keywords: Intention to use, e-mobile banking
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
124
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1. GIỚI THIỆU
Hiện nay, phần lớn giao dịch thương mại ở Việt Nam vẫn còn thanh toán bằng tiền mặt. Thực tế tồn tại này
do người Việt Nam vẫn có thói quen sử dụng tiền mặt và ngại thanh toán qua mạng [1]. Ngoài ra, còn có
một số lý do khác làm hạn chế sử dụng dịch vụ thanh toán qua mạng như khách hàng chưa biết đến những
lợi ích của việc thanh toán qua mạng cũng như ngại trả thêm phí dịch vụ [2]. Để hạn chế sử dụng tiền mặt,
Chính phủ Việt Nam đã thúc đẩy việc thanh toán qua ngân hàng đối với các dịch vụ công như thuế, điện,
nước, học phí, viện phí và chi trả các chương trình an sinh xã hội theo Quyết định 241/QĐ-TTg ban hành
ngày 23/02/2018 [3]. Đồng thời, các ngân hàng tại Việt Nam cũng đang tích cực phát triển hệ thống thanh
toán qua mạng, không dùng tiền mặt [4], và không ngừng nghiên cứu thị trường tìm hiểu thị hiếu của khách
hàng nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng và thu hút ngày càng nhiều khách hàng sử dụng thanh toán qua
25/08/2015, Agribank đã chính thức ra mắt dịch vụ Agribank e-mobile banking với các tiện ích dịch vụ
như: vấn tin tài khoản, chuyển khoản nội bộ (ATransfer), nạp tiền điện thoại trả trước và trả sau (VnTopup),
thanh toán hóa đơn (APayBill), báo cáo giao dịch; ngoài ra còn có các tiện ích gia tăng như: trao đổi thông
tin (gửi tin nhắn, chia sẻ hình ảnh, âm thanh,… miễn phí), tra cứu tỷ giá ngoại tệ, lãi suất, giá vàng, chứng
khoán; đặt vé máy bay nội địa và quốc tế; tìm kiếm ATM, chi nhánh, phòng giao dịch; đọc báo trực tuyến.
Agribank đã không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng dịch vụ, mang lại cho khách hàng các dịch vụ tốt
nhất [7, 8]. Tuy nhiên, vấn đề xác định những nhân tố ảnh hưởng đến ý định của khách hàng chọn lựa dịch
vụ e-mobile banking của Agribank tại thành phố Hồ Chí Minh và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó
như thế nào vẫn là vấn đề cần thiết nghiên cứu nhằm cập nhật thị hiếu khách hàng trong việc chọn lựa dịch
vụ e-mobile banking của Agribank, cụ thể là xác định được các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến ý định sử
dụng dịch vụ e-mobile banking của Agribank.
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
2.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử (Electronic banking viết tắt là e-banking)
E-banking là một dạng của thương mại điện tử ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Đây chính
là sự kết hợp giữa một số dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông.
Khi có nhu cầu giao dịch, khách hàng không nhất thiết phải đến ngân hàng mà vẫn có thể thực hiện giao
dịch một cách nhanh chóng thông qua các kênh phân phối điện tử.
Theo Trương Đức Bảo, với dịch vụ Ngân hàng điện tử, khách hàng có khả năng truy nhập từ xa nhằm: thu
thập thông tin; thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại ngân hàng, và
đăng ký sử dụng các dịch vụ mới [9]. Các loại hình dịch vụ ngân hàng điện tử như: trung tâm dịch vụ khách
hàng (call centre), dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (phone banking), dịch vụ ngân hàng tại nhà (home
banking), kiosk ngân hàng, dịch vụ ngân hàng qua internet (internet banking), dịch vụ ngân hàng qua điện
Theo Patrick, dịch vụ e-banking là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay mua
Tóm lại, dịch vụ e-banking là dịch vụ mà tất cả các giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng (cá nhân và tổ
chức) dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu số hóa nhằm cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng.
2.2 Khái niệm dịch vụ e-mobile banking
E-mobile banking là kênh phân phối hiện đại giúp khách hàng truy cập các dịch vụ ngân hàng từ xa bằng
cách sử dụng các thiết bị di động kết nối với mạng viễn thông không dây. Khách hàng có thể kiểm tra số
dư tài khoản, lịch sử giao dịch, chuyển tiền, thanh toán hóa đơn, kinh doanh chứng khoán và quản lý danh
mục đầu tư tài chính của khách hàng [12]. Nói cách khác cụ thể hơn, e-mobile banking là dịch vụ ngân
hàng trên điện thoại di động cho phép khách hàng thực hiện nhiều loại giao dịch với thao tác đơn giản, tiện
Tóm lại, dịch vụ e-mobile banking được hiểu là dịch vụ ngân hàng qua điện thoại di động. Thông qua ứng
dụng e-mobile banking cài đặt trên điện thoại di động có kết nối internet (GPRS/Wifi/3G/4G/5G), khách
hàng có thể thực hiện các giao dịch trực tuyến 24/7 với ngân hàng dễ dàng, thuận tiện, mọi lúc, mọi nơi,
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
125
2.3 Ý định của khách hàng cá nhân (Individual customer’s intention)
Thuyết hành vi dự định (TPB-The Theory of Planned Behaviour) được phát triển từ lý thuyết hành động
hợp lý (TRA- The Theory of Reasoned Action) chỉ ra rằng một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích
bởi các xu hướng hành vi để thực hiện hành vi đó. Mặt khác, các ý định bao gồm các yếu tố động lực cho
thấy mức độ khả năng mà mọi người sẵn sàng thử hoặc nỗ lực dự định sẽ thực hiện để thực hiện hành vi đó
[15, 16]. Ý định sử dụng là một khái niệm rất quan trọng trong nghiên cứu hành vi tiêu dùng và cũng là yếu
Một số nhân tố được các học giả trên thế giới cho là có ảnh hưởng đến ý định hành vi khách hàng được nêu
ra như sau:
2.4 Nhân tố nhận thức sự hữu ích (Perceived usefulness) (HI)
Nhận thức sự hữu ích được định nghĩa là cấp độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống đặc thù
sẽ nâng cao kết quả thực hiện công việc của họ [20-22]. Trong nghiên cứu này, nhận thức hữu ích là cấp
độ mà khách hàng tin rằng sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking sẽ mang lại hiệu quả cao hơn.
Dựa trên kết quả một số nghiên cứu đã có trước đây khẳng khẳng định có mối liên hệ giữa nhận thức hữu
H1: Nhận thức sự hữu ích (HI) càng cao sẽ càng tăng ý định sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking
của khách hàng.
2.5 Nhân tố nhận thức tính dễ sử dụng (Perceived ease of use) (SD)
Nhận thức tính dễ sử dụng là cấp độ mà một người tin rằng sử dụng một hệ thống đặc thù sẽ không cần nỗ
lực [20]. Nhận thức dễ sử dụng cũng được coi là một tiền đề quan trọng đối với độ tin cậy của Internet
Trong nghiên cứu này, nhận thức dễ sử dụng là cấp độ mà khách hàng tin rằng sử dụng dịch vụ Agribank
e-mobile banking sẽ không cần phải nỗ lực nhiều.
Theo kết quả nghiên cứu trước đây của một số tác giả, tính dễ sử dụng công nghệ giúp khách hàng chấp
H2: Nhận thức tính dễ sử dụng (SD) càng cao sẽ càng tăng ý định sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile
banking của khách hàng.
2.6 Nhân tố chuẩn chủ quan (Subjective norm) (CQ)
Chuẩn chủ quan hay ảnh hưởng từ xã hội là nhận thức của con người về áp lực xã hội để thể hiện hay không
thể hiện hành vi [16]. Các áp lực xã hội này xuất phát từ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, phương tiện truyền
thông. Nghiên cứu của Dai và Palvia (2009) tìm ra rằng chuẩn chủ quan có ảnh hưởng đến ý định sử dụng
dịch vụ qua điện thoại di động của người tiêu dùng Trung Quốc nhưng không có ảnh hưởng đến ý định sử
Do đó, tác giả đưa ra các giả thuyết:
H3: Chuẩn chủ quan (CQ) càng cao sẽ càng gia tăng ý định sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking
của khách hàng.
2.7 Nhân tố chi phí (Cost) (CP)
Nghiên cứu của Poon (2008) tại Malaysia khẳng định phí và lệ phí là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự
thành công trong phát triển dịch vụ e-banking tại các ngân hàng [32]. Ngoài ra, Dasgupta (2011) cũng cho
rằng yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ mobile banking tại Ấn độ cũng khẳng định chi phí giá
thấp có ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng dịch vụ của khách hàng [33]. Do vậy, chi phí là một nhân
tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ ngân hàng trực tuyến. Trong nghiên cứu này, chi phí
là mức độ mà khách hàng tin rằng sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking sẽ tiêu tốn nhiều chi phí của
cá nhân họ. Từ đó, tác giả đưa ra giả thuyết:
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
126
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
H4: Chi phí (CP) càng cao sẽ càng làm giảm ý định sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking của khách
hàng.
2.8 Nhân tố nhận thức sự tín nhiệm (Perceived trust) (TN)
Theo Wang & ctg (2003), nhận thức sự tín nhiệm được định nghĩa là mức độ mà một người tin rằng việc
nữa, Wang và ctg (2006) xác định người tiêu dùng sẽ sử dụng các dịch vụ di động khi họ tin rằng giao dịch
sẽ diễn ra an toàn và thông tin cá nhân của họ được bảo đảm [34]. Nhận thức sự tín nhiệm là niềm tin của
người dùng đối với dịch vụ, nếu người dùng tín nhiệm càng cao, tức là họ cảm thấy an toàn và được bảo
mật, thì khả năng lựa chọn sử dụng công nghệ đó càng cao và ngược lại. Cho nên, trong nghiên cứu này,
tác giả đưa ra giả thuyết:
H5: Nhận thức sự tín nhiệm (TN) càng cao sẽ càng gia tăng ý định sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile
banking của khách hàng.
2.9 Nhân tố sự đa dạng các dịch vụ (Variety of services) (DD)
Các dịch vụ ngân hàng di động được cung cấp cho khách hàng hiện nay khá đa dạng. Theo Agarwal & ctg
Theo Chong & ctg (2012) người tiêu dùng chưa sẵn sàng chi trả khi họ cảm thấy dịch vụ kém đa dạng, các
nhà lập trình lại không phát triển ứng dụng di động nếu không đủ người sử dụng [22]. Vì vậy, vấn đề cần
nghiên cứu là khi các nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng di động cung cấp thêm nhiều dịch vụ thì người tiêu
dùng có sử dụng dịch vụ hay không.
Một số nhà nghiên cứu khẳng định sự đa dạng các dịch vụ có ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng dịch
vụ của khách hàng. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn hạn chế số lượng nghiên cứu để khẳng định mối liên hệ này
H6: Sự đa dạng (DD) dịch vụ e-mobile banking càng cao sẽ càng gia tăng ý định sử dụng dịch vụ Agribank
e-mobile banking của khách hàng.
2.10 Nhân tố tính linh hoạt (Mobility access) (LH)
Ưu điểm nổi bật của dịch vụ ngân hàng di động là khả năng sử dụng dịch vụ ở khắp mọi nơi, kể cả lúc
người tiêu dùng đang di chuyển. Theo Kalinic và Marinkovic (2016), khi các công nghệ trên thiết bị di
động ngày càng đáp ứng được nhu cầu di chuyển linh hoạt trong cuộc sống của người tiêu dùng thì việc sử
dụng độc lập về thời gian và không gian ngày càng trở nên quan trọng với cả người tiêu dùng và nhà cung
H7: Tính linh hoạt (LH) càng cao sẽ càng gia tăng ý định sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking của
khách hàng.
3. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu của các học giả trước đây về ý định hành vi của khách hàng, điển hình là
nghiên cứu của Pin Luarn & Hsin-Hui Lin (2005) “Nghiên cứu hướng đến sự hiểu biết về ý định hành vi
sử dụng mobile banking”, trong đó mô hình nghiên cứu có 5 yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi sử dụng
dịch vụ mobile banking là: nhận thức hữu ích, nhận thức dễ sử dụng, cảm nhận sự tin tưởng, nhận thức về
năng lực bản thân, cảm nhận chi phí [40]. Mặt khác, nghiên cứu của Bong-Keun Jeong và cộng sự (2012)
khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận mobile banking dựa trên mô hình chấp nhận công nghệ
TAM (Technology Acceptance Model) mở rộng, tác giả xác định có 5 yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành
vi của người sử dụng đối với việc chấp nhận mobile banking, bao gồm: cảm nhận sự hữu ích, cảm nhận
Một số nghiên cứu có liên quan ở Việt Nam như nghiên cứu của Hoàng Quốc Cường (2010) xác định các
yếu tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ mua hàng điện tử qua mạng xác định được 6 yếu tố gồm: (1)
Mong đợi về giá, (2) Cảm nhận sự tiện lợi, (3) Cảm nhận tính dễ sử dụng, (4) Cảm nhận sự thích thú, (5)
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
127
Phạm Thị Bích Uyên (2017) về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ thương mại di động của
người tiêu dùng trong bối cảnh Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có năm nhân tố ảnh hưởng đến ý
định sử dụng dịch vụ thương mại di động của người tiêu dùng tỉnh An Giang là: (1) Tính linh hoạt, (2) Dịch
vụ đa dạng, (3) Nhận thức sự hữu ích, (4) Nhận thức sự tín nhiệm và (5) Nhận thức tính dễ sử dụng [19].
Từ các nghiên cứu nêu trên, tác giả tổng hợp các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến hành vi dự định của
khách hàng cá nhân sử dụng dịch vụ e-mobile banking của Agribank với mô hình đề xuất như sau:
H1 (+)
Nhận thức hữu ích
Sự tín nhiệm
H5(+)
H2 (+)
Nhận thức dễ sử dụng
H6(+)
Sự đa dạng dịch vụ
H3 (+)
H4 (-)
Ý định sử dụng
Agribank e-
mobile banking
Chuẩn chủ quan
H7(+)
Tính linh hoạt
Chi phí
Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử
dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này được thực hiện theo phương pháp nghiên cứu định lượng. Tác giả sử dụng kiểm định
Cronbach’s Alpha để kiểm tra độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá (EFA- Exploratory
Factor Analysis), phân tích ANOVA, phân tích hồi quy tuyến tính nhằm kiểm định sự phù hợp của mô hình
nghiên cứu và các giả thuyết của mô hình nghiên cứu với mục tiêu cuối cùng là xác định được mối quan hệ
giữa các nhân tố độc lập và phụ thuộc, cũng như mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó.
Dữ liệu thu thập được thông qua bảng câu hỏi được tác giả thiết kế sẵn gồm phần gạn lọc đối tượng được
chọn phỏng vấn là người đã từng giao dịch với Agribank tại thành phố Hồ Chí Minh, tiếp đó là thông tin
người trả lời, phần câu hỏi chính có 25 câu hỏi cho các biến độc lập và 4 câu hỏi cho biến phụ thuộc theo
mô hình nghiên cứu. Thang đo những nhân tố (Bảng 1) gồm các biến quan sát được kế thừa từ các nghiên
cứu trước đồng thời đã qua bước phỏng vấn thử, chọn lọc kỹ trước khi tiến hành khảo sát chính thức.
Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, bảng câu hỏi nghiên cứu đã thiết kế
sẵn được phát trực tiếp cho khách hàng đang giao dịch trực tiếp với ngân hàng Agribank tại thành phố Hồ
Chí Minh để họ tự điền trả lời, đồng thời bảng câu hỏi này cũng được thiết kế trên Google form và đưa lên
mạng để thu thập dữ liệu. Kết quả khảo sát cho nghiên cứu này tác giả đã nhận được 309 bảng câu hỏi có
trả lời hoàn chỉnh sau khi đã loại bớt những bảng câu hỏi có trả lời không phù hợp.
Về cỡ mẫu, theo Hair và cộng sự (2013), trong phân tích nhân tố khám phá thì số quan sát (cỡ mẫu) ít nhất
phải bằng 5 lần số biến [43]. Nghiên cứu này sử dụng phân tích nhân tố khám phá và trong mô hình nghiên
cứu có 29 biến quan sát, nên số lượng mẫu tối thiểu là: n= 29 x 5= 145. Như vậy, với số lượng 309 bảng
câu hỏi là đủ lớn và hoàn toàn phù hợp cho nghiên cứu này.
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
128
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng 1: Thang đo nghiên cứu
Nhân tố
Mã hóa
Biến quan sát
Nguồn tham khảo
Sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking giúp tôi
tiết kiệm thời gian
HI1
Sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking giúp công
việc của tôi dễ dàng hơn
Sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking giúp cho
chất lượng cuộc sống tốt hơn
Nhận
thức sự
hữu ích
(HI)
HI2
HI3
Sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking là phong
cách sống hiện đại
HI4
Tôi tin rằng tôi có thể dễ dàng học cách sử dụng dịch
vụ Agribank e-mobile banking
Tôi tin rằng tôi có thể nhanh chóng sử dụng thành thạo
dịch vụ Agribank e-mobile banking
Tôi tin rằng các chức năng trong dịch vụ Agribank e-
mobile banking thì dễ hiểu và rõ ràng
Gia đình và bạn bè có ảnh hưởng đến quyết định sử
dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking của tôi
Đồng nghiệp của tôi có ảnh hưởng đến quyết định sử
dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking của tôi
Các phương tiện truyền thông ảnh hưởng đến quyết
định sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking của
tôi
SD1
SD2
SD3
CQ1
CQ2
Nhận
thức tính
dễ sử
dụng
(SD)
Chuẩn
chủ quan
(CQ)
CQ3
Tôi thấy hầu hết mọi người xung quanh tôi đều sử
dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking
Tôi cảm thấy các thiết bị di động sử dụng được dịch vụ
Agribank E-Mobile banking rất đắt tiền
Tôi cảm thấy chi phí kết nối (3G, wifi,…) để sử dụng
dịch vụ Agribank e-mobile banking là rất đắt tiền
Tôi cảm thấy chi phí sử dụng dịch vụ Agribank e-
mobile banking rất đắt tiền
Tôi sẽ không sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile
banking vì chi phí của nó
Tôi thích chi tiền sử dụng các dịch vụ khác hơn dịch
vụ Agribank e-mobile banking
Tôi nghĩ rằng thông tin cá nhân sẽ được bảo mật khi sử
dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking
Tôi tin rằng các giao dịch qua dịch vụ Agribank e-
mobile banking sẽ được thực hiện chính xác
Tôi tin rằng các giao dịch Agribank e-mobile banking
sẽ diễn ra dễ dàng
Các dịch vụ trong Agribank e-mobile banking hiện nay
rất hấp dẫn tôi
Có rất nhiều dịch vụ trong Agribank e-mobile banking
đáp ứng được nhu cầu tôi cần
CQ4
CP1
CP2
CP3
CP4
CP5
TN1
TN2
TN3
DD1
DD2
DD3
Chi phí
(CP)
Nhận
thức sự
tín nhiệm
(TN)
Sự đa
dạng dịch
vụ
(DD)
Các dịch vụ trong Agribank e-mobile banking hiện nay
đạt mức mong đợi của tôi
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
129
Nhân tố
Mã hóa
Biến quan sát
Nguồn tham khảo
Tôi có thể sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking
bất kỳ lúc nào
Tôi có thể sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking
bất cứ nơi đâu
Dịch vụ Agribank e-mobile banking rất phù hợp với
tôi vì tôi luôn mang thiết bị di động bên cạnh
Khi có điều kiện thích hợp (tài chính, giá dịch vụ, công
việc…) tôi sẽ sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile
banking
LH1
Tính linh
hoạt
LH2
LH3
(LH)
YD1
Tôi sẽ sử dụng/tiếp tục sử dụng dịch vụ Agribank e-
mobile banking
Tôi sẽ giới thiệu cho những người khác về dịch vụ
Agribank e-mobile banking
Tôi có ý định sử dụng Agribank e-mobile banking thay
vì đến giao dịch trực tiếp tại quầy
Ý định sử
dụng
YD2
YD3
YD4
(YD)
5. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
5.1 Mô tả về mẫu nghiên cứu
Đối tượng khảo sát của nghiên cứu này là những khách hàng có giao dịch với ngân hàng Agribank tại thành
phố Hồ Chí Minh. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu như sau:
Bảng 2: Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Tần suất
143
Phần trăm (%)
46,3
Nam
Nữ
166
309
60
73
81
95
309
1
53,7
100,0
14,9
23,6
26,2
30,7
100,0
0,3
Giới tính
Độ tuổi
Tổng
18 - 24 tuổi
25 - 34 tuổi
35 - 45 tuổi
Trên 45 tuổi
Tổng
Dưới THPT
THPT
3
1,0
Trung cấp, Cao đẳng
Đại học
Sau đại học
20
123
62
309
70
99
85
55
309
6,5
Trình độ học
vấn
39,8
52,4
100,0
22,7
32,0
27,5
17,8
100,0
Tổng
Dưới 10 triệu đồng
Từ 10 – dưới 15 triệu đồng
Từ 15 – 20 triệu đồng
Trên 20 triệu đồng
Tổng
Thu nhập
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát 309 khách hàng Agribank, 2020.
5.2 Kết quả kiểm định thang đo
5.2.1 Kiểm định độ tin cậy thang đo với hệ số Cronbach’s Alpha
46], và hệ số tương quan biến tổng không nhỏ hơn 0,3 biến nào có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0,3
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
130
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Kết quả kiểm định độ tin cậy với hệ số Cronbach’s Alpha lần một cho thấy hệ số Cronbach’s Alpha là
0,843> 0,6 tuy nhiên hệ số tương quan biến tổng của một số biến không thoả điều kiện không nhỏ hơn 0,3
nên các biến đó bị loại bỏ, bao gồm: CQ4, CP5, TN1, TN2, TN3, DD1, DD2, DD3. Có nghĩa là đã loại hết
8 biến trong 29 biến quan sát, trong đó có 2 thang đo không thể hiện đủ độ tin cậy nên bị loại đó là thang
đo ‘Nhận thức về tín nhiệm’ và ‘Sự đa dạng dịch vụ’. Tiếp tục kiểm định Cronbach’s Alpha lần hai có kết
quả: hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0,6 và hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 nên 21 biến còn
lại trong các thang đo (Bảng 3) được sử dụng tiếp tục cho bước phân tích nhân tố khám phá EFA.
Bảng 3: Kiểm định độ tin cậy của thang đo Cronbach's Alpha
STT
Thang đo
Nhận thức sự hữu ích (HI)
Nhận thức tính dễ sử dụng (SD)
Chuẩn chủ quan (CQ)
Chi phí (CP)
Biến thành phần
HI1, HI2, HI3, HI4
SD1, SD2, SD3
CQ1, CQ2, CQ3
CP1, CP2, CP3, CP4
LH1, LH2, LH3
Hệ số Cronbach's Alpha
1
2
3
4
5
6
0,958
0,911
0,799
0,961
0,895
0,854
Tính linh hoạt (LH)
Ý định sử dụng (YD)
YD1, YD2, YD3, YD4
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát 309 khách hàng Agribank, 2020)
5.2.2 Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA)
Tất cả 17 biến độc lập quan sát đưa vào phân tích nhân tố khám phá, dùng phương pháp rút trích Principal
Components và phép quay Varimax. Hệ số KMO = 0,780 >0,5 nên thỏa mãn yêu cầu phân tích nhân tố (0,5≤
KMO≤1) [47], mức ý nghĩa Sig. = 0,000 <0,05 của kiểm định Bartlett cho biết có các biến quan sát tương
quan với nhau trong tổng thể có ý nghĩa thống kê, do đó các quan sát phù hợp cho việc phân tích nhân tố.
Giá trị Eigenvalues là 1,131 > 1, phân tích nhân tố đã rút trích thành 5 nhóm nhân tố với tổng phương sai
trích là 84,864% > 50% (đạt yêu cầu) [48]. Điều này chứng tỏ 84,86% biến thiên của dữ liệu được giải thích
bởi 5 nhân tố này.
Bảng 4: Kết quả phân tích nhân tố (EFA) cho biến độc lập
Hệ số tải nhân tố
Biến quan sát
HI1
1
2
3
4
5
0,923
0,895
0,898
0,891
HI2
HI3
HI4
SD1
0,933
0,874
0,887
SD2
SD3
CQ1
CQ2
CQ3
CP1
0,889
0,839
0,644
0,943
0,925
0,944
0,940
CP2
CP3
CP4
LH1
LH2
LH3
0,803
0,906
0,871
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát 309 khách hàng Agribank, 2020)
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
131
Theo bảng 4, sau khi thực hiện xoay, các nhân tố có sự thay đổi nhân tố và thành phần của nhân tố, đồng
thời kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha của của các nhân tố đã hiệu chỉnh được thể hiện như
sau:
Bảng 5: Kiểm định độ tin cậy của thang đo mới Cronbach's Alpha
STT Thang đo
Biến thành phần
HI1, HI2, HI3, HI4
SD1, SD2, SD3
CQ1, CQ2, CQ3
CP1, CP2, CP3, CP4
LH1, LH2, LH3
Hệ số Cronbach’s Alpha
1
2
3
4
5
6
Nhận thức sự hữu ích (HI)
0,635
0,688
0,640
0,747
0,627
0,642
Nhận thức tính dễ sử dụng (SD)
Chuẩn chủ quan (CQ)
Chi phí (CP)
Tính linh hoạt (LH)
Ý định sử dụng (YD)
YD1, YD2, YD3, YD4
5.3 Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh
Sau khi hân tích nhân tố EFA, thang đo được hiệu chỉnh từ thang đo của 7 nhân tố ban đầu đã loại 2 nhân tố
còn lại 5 nhân tố của các biến độc lập và 1 nhân tố của biến phụ thuộc vẫn giữ nguyên. Như vậy mô hình
nghiên cứu được hiệu chỉnh như hình sau:
H1(+)
Nhận thức hữu ích
Chi phí
H2(+)
Nhận thức dễ sử dụng
H3(+)
H4(-)
Ý định sử dụng
Agribank e-
mobile banking
H5(+)
Tính linh hoạt
Chuẩn chủ quan
Hình 2: Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh
Bảng 6: Các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh
Ký hiệu
Giả thuyết
Tương quan
Nhận thức sự hữu ích (HI) càng cao sẽ càng tăng ý định sử dụng
dịch vụ Agribank e-mobile banking của khách hàng.
Nhận thức tính dễ sử dụng (SD) càng cao sẽ càng tăng ý định sử
dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking của khách hàng
Chuẩn chủ quan (CQ) càng cao sẽ càng gia tăng ý định sử dụng
dịch vụ Agribank e-mobile banking của khách hàng
Chi phí (CP) càng cao sẽ càng làm giảm ý định sử dụng dịch vụ
Agribank e-mobile banking của khách hàng
H1
(+)
H2
H3
H4
H5
(+)
(+)
(–)
(+)
Tính linh hoạt (LH) càng cao sẽ càng gia tăng ý định sử dụng dịch
vụ Agribank e-mobile banking của khách hàng
5.4 Phân tích kết quả hồi quy
Bảng 7: Kết quả kiểm định mức độ phù hợp của mô hình
Model Summaryb
Mô hình
1
R
R2
R2 hiệu chỉnh
Sai số chuẩn
0,55284
Durbin-Watson
1,835
0,665a
0,442
0,432
a. Predictors: (Constant), LH, CP, SD, HI, CQ
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
132
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
b. Dependent Variable: YD
Hệ số R2 hiệu chỉnh cho biết 43,2% biến thiên của ý định sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking của
khách hàng được giải thích bởi các biến độc lập được đưa vào mô hình.
ANOVAa
Tổng độ
lệch bình
phương
73,225
Độ lệch bình
phương bình
quân
Mô hình
Hồi quy
Bậc tự do
F
Sig.
5
14,645
47,918
0,000b
1
Phần dư
Tổng
92,605
165,830
303
308
0,306
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát 309 khách hàng Agribank, 2020.
a. Dependent Variable: YD
b. Predictors: (Constant), LH, CP, SD, HI, CQ
Bảng 7 cho thấy giá trị kiểm định độ phù hợp của mô hình F = 47,918 với mức ý nghĩa rất nhỏ là 0,000
<0,05 nghĩa là các biến độc lập có tương quan tuyến tính với biến phụ thuộc nên mô hình đưa ra phù hợp
với tổng thể và các biến độc lập trong mô hình có thể giải thích được sự thay đổi của biến phụ thuộc. Mặt
khác, Bảng 8 cho thấy nhân tố phóng đại phương sai VIF chỉ dao động từ 1,144 đến 1,430 (nhỏ hơn 2), hệ
số Tolerance thấp, do đó không có dấu hiệu của hiện tượng đa công tuyến và không có mối tương quan chặt
chẽ giữa các biến độc lập.
Bảng 8: Hệ số hồi quy của mô hình Coefficientsa
Hệ số
Beta đã
chuẩn hóa
Hệ số Beta chưa
chuẩn hóa
Collinearity
Statistics
Biến độc lập
Gía trị t
Sig.
Std.
Error
B
Beta
Tolerance
VIF
(Constant)
1,437
0,238
0,046
0,053
0,037
0,041
0,043
6,039
3,378
2,128
3,541
-3,409
8,299
0,000
0,001
0,034
0,000
0,001
0,000
HI
0,157
0,112
0,132
-0,141
0,357
0,172
0,100
0,180
-0,157
0,426
0,710
0,842
0,710
0,874
0,699
1,408
1,187
1,409
1,144
1,430
SD
CQ
CP
LH
1
a. Dependent Variable: YD
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát 309 khách hàng Agribank, 2020.
Phương trình hồi quy với hệ số β chưa chuẩn hóa
YD = 1,437 +0,157*HI + 0,112*SD + 0,132*CQ -0,141*CP + 0,357*LH
Phương trình hồi quy với hệ số β đã chuẩn hóa
YD = 0,172*HI+0,1*SD + 0,18*CQ - 0,157*CP +0,426*LH
hay:
Ý định sử dụng Agribank e-mobile banking = 0,172 * Nhận thức hữu ích + 0,1 * Nhận thức tính dễ
sử dụng + 0,18 * Chuẩn chủ quan – 0,157* Chi phí +
0,426 * Tính linh hoạt.
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy 5 nhân tố có tác động đến ý định sử dụng dịch vụ e-banking của Agribank.
Trong đó 4 nhân tố tác động tính cực, thuận chiều và theo thứ tự là tính linh hoạt (LH), chuẩn chủ quan
(CQ), nhận thức hữu ích (HI), nhận thức tính dễ sử dụng (SD) và 1 nhân tố chi phí (CP) tác động ngược
chiều. Cụ thể:
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
133
Hệ số BHI = 0,172: Mối quan hệ giữa nhận thức hữu ích (HI) và ý định sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile
banking của khách hàng (YD) là mối quan hệ cùng chiều, nghĩa là khi nhận thức hữu ích (HI) tăng thêm 1
điểm thì ý định sử dụng dịch vụ (YD) sẽ tăng thêm 0,172 điểm.
Hệ số BSD = 0,1: Mối quan hệ giữa nhận thức tính dễ sử dụng (SD) và ý định sử dụng dịch vụ Agribank e-
mobile banking của khách hàng (YD) là mối quan hệ cùng chiều, nghĩa là khi nhận thức tính dễ sử dụng
(SD) tăng thêm 1 điểm thì ý định sử dụng dịch vụ (YD) sẽ tăng thêm 0,1 điểm.
Hệ số BCQ = 0,18: Mối quan hệ giữa chuẩn chủ quan (CQ) và ý định sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile
banking của khách hàng (YD) là mối quan hệ cùng chiều, nghĩa là khi chuẩn chủ quan (CQ) tăng thêm 1
điểm thì ý định sử dụng dịch vụ (YD) sẽ tăng thêm 0,18 điểm.
Hệ số BCP = - 0,157: Mối quan hệ giữa nhận tố chi phí (CP) và ý định sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile
banking của khách hàng (YD) là mối quan hệ ngược chiều, nghĩa là khi chi phí (CP) tăng thêm 1 điểm thì ý
định sử dụng dịch vụ (YD) sẽ giảm đi 0,157 điểm.
Hệ số BLH = 0,426: Mối quan hệ giữa tính linh hoạt (LH) và ý định sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile
banking của khách hàng (YD) là mối quan hệ cùng chiều, nghĩa là khi tính linh hoạt (LH) tăng thêm 1 điểm
thì ý định sử dụng dịch vụ (YD) sẽ tăng thêm 0,426 điểm.
5.5 Kết quả kiểm định các giả thuyết của mô hình nghiên cứu
Qua những kết quả phân tích hồi quy và giá trị Sig. của 5 nhân tố cho các giả thuyết từ H1 đến H5 đều nhỏ
hơn 0,05 nên các giả thuyết đều được chấp nhận.
Bảng 9: Kết quả kiểm định giả thuyết trong mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh
Ký hiệu
H1
Giả thuyết
Kết quả kiểm định
Chấp nhận
Nhận thức sự hữu ích (HI) càng cao sẽ càng tăng ý định sử
dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking của khách hàng.
Nhận thức tính dễ sử dụng (SD) càng cao sẽ càng tăng ý định
sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking của khách hàng
Chuẩn chủ quan (CQ) càng cao sẽ càng gia tăng ý định sử
dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking của khách hàng
Chi phí (CP) càng cao sẽ càng làm giảm ý định sử dụng dịch
vụ Agribank e-mobile banking của khách hàng
H2
Chấp nhận
H3
Chấp nhận
H4
Chấp nhận
Tính linh hoạt (LH) càng cao sẽ càng gia tăng ý định sử dụng
dịch vụ Agribank e-mobile banking của khách hàng
H5
Chấp nhận
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát 309 khách hàng Agribank, 2020.
Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết đã hiệu chỉnh được minh họa qua hình như sau:
Nhận thức hữu ích
Chi phí
H1(+), Beta: 0,172
H4(-), Beta: -0,157
H2(+), Beta: 0,1
Nhận thức dễ sử dụng
Ý định sử dụng
Agribank e-
mobile banking
H5(+), Beta: 0,426
Tính linh hoạt
H3(+), Beta: 0,18
Chuẩn chủ quan
Hình 3: Kết quả mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
134
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
6. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
6.1 Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy đối với khách hàng cá nhân của Agribank tại thành phố Hồ Chí Minh thì ý
định sử dụng dịch vụ e-mobile banking ảnh hưởng bởi 5 nhân tố chủ yếu, bao gồm (1) tính linh hoạt (LH),
(2) chuẩn chủ quan (CQ), (3) nhận thức hữu ích (HI), (4) nhận thức tính dễ sử dụng (SD) và (5) nhân tố chi
phí (CP).
Với mô hình và kết quả của nghiên cứu này, tác giả cũng như các nhà nghiên cứu có thể sử dụng như một
nguồn tài liệu tham khảo để nghiên cứu ý định sử dụng dịch vụ e-mobile banking của các ngân hàng khác
trong tương lai. Đồng thời đây cũng là tài liệu tham khảo cho Agribank tại thành phố Hồ Chí Minh sử dụng
cho việc hoàn thiện dịch vụ nhằm thu hút khách hàng sử dụng e-mobile banking của Agribank nhiều hơn.
6.2 Hàm ý quản trị
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, một số hàm ý quản trị được đề xuất cho ngân hàng Agribank tại thành phố
Hồ Chí Minh liên quan đến từng nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng e-mobile banking của khách hàng
Agribank như sau:
Thứ nhất, tính linh hoạt (LH) là một nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng dịch
vụ e-mobile banking của khác hàng cá nhân Agribank tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngày nay khách hàng
phổ biến sử dụng thiết bị di động, tính linh hoạt trong sử dụng dịch vụ e-mobile banking tập trung vào việc
giúp khách hàng có thể giao dịch bất cứ ở đâu và bất kỳ khi nào. Cho nên Agribank tại thành phố Hồ Chí
Minh cần có những chính sách thúc đẩy khách hàng sử dụng thiết bị di động để tải về phần mềm ứng dụng
của Agribank cho việc sử dụng e-mobile banking nhiều hơn.
Thứ hai, về chuẩn chủ quan (CQ) thì người thân, bạn bè, đồng nghiệp và truyền thông đều có ảnh hưởng
đến ý định sử dụng e-mobile banking của khách hàng cho nên việc quảng bá sử dụng e-mobile banking đến
những người liên quan cũng rất quan trọng. Agribank tại thành phố Hồ Chí Minh nên lưu ý thu hút khách
hàng mới thông qua những khách hàng hiện có và những phương tiện truyền thông thích hợp, tập trung nêu
bật khách hàng thoả mãn với dịch vụ, cảm nhận về tính linh hoạt, sự hữu ích, việc dễ sử dụng cũng như chi
phí hiệu quả trong việc sử dụng e-mobile banking của Agribank.
Thứ ba, về nhận thức hữu ích (HI), hiện tại Agribank cũng như nhiều ngân hàng khác ở Việt Nam đã phát
triển hệ thống e-moblie banking, có sự gia tăng số lượng số người sử dụng dịch vụ này. Tuy nhiên, theo dữ
liệu thứ cấp và thông tin phản hồi của người trả lời trong quá trình khảo sát cho nghiên cứu này thì thực tế
nhận thức của khách hàng về hữu ích của e-mobile banking vẫn còn hạn chế. Cho nên, Agribank tại thành
phố Hồ Chí Minh nên tăng cường thực hiện những chương trình quảng bá, hướng dẫn khách hàng của
Agribank về hữu ích khi sử dụng e-mobile banking nhằm tăng nhận thức về hữu ích và thu hút thêm khách
hàng mới sử dụng e-mobile banking của Agribank tại thành phố Hồ Chí Minh.
Thứ tư, nhận thức tính dễ sử dụng (SD) là nhân tố có mức độ ảnh hưởng thứ tư và tác động tích cực đối với
ý định sử dụng dịch vụ e-mobile banking của Agribank. Cho nên Agribank tại thành phố Hồ Chí Minh cần
có những những thay đổi nhằm cải thiện, nâng cao tính dễ sử dụng như: giao diện ứng dụng cần thiết kế
thân thiện, dễ hiểu và dễ sử dụng đối với người dùng, kể cả người dùng không thành thạo về công nghệ cho
tất cả các loại điện thoại thông minh. Mặt khác, cần có các video, các file hướng dẫn sử dụng được đăng tải
trên website của ngân hàng hay hướng dẫn trực tiếp tại quầy giao dịch khi khách hàng đăng ký sử dụng dịch
vụ e-mobile banking để khách hàng có thể trực tiếp tìm hiểu về dịch vụ một cách nhanh chóng và thuận tiện
nhất. Đồng thời ngân hàng bố trí bộ phận hỗ trợ trực tuyến 24/7 có thể hướng dẫn khách hàng sử dụng e-
mobile banking khi khách hàng gặp vấn đề thao tác thực hiện giao dịch.
Thứ năm, về chi phí (CP), nhân tố này tác động trái chiều với ý định sử dụng e-mobile banking. Vấn đề này
cũng phù hợp với qui luật kinh tế về cung cầu và giá cả thị trường, nếu chi phí càng cao thì càng hạn chế
việc thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ. Tuy nhiên, theo xu hướng phát triển sử dụng thiết bị di động ở
Việt Nam thì việc sử dụng điện thoại thông minh, thiết bị di động ngày càng phổ biến đã đang trở thành yếu
tố thuận lợi cho việc thu hút khách hàng mới dùng e-mobile banking mà không phải tốn kém thêm nhiều chi
phí cho việc trang bị thiết bị mới. Đồng thời, việc phổ biến dùng internet hay kết nối Wifi, mạng 4G, 5G sẽ
là điều kiện thuận tiện cho khách hàng không cảm thấy tốn kém thêm tiền để thực hiện dịch vụ e-mobile
banking. Chỉ còn vấn đề về chi phí dịch vụ khi đăng ký sử dụng và duy trì sử dụng e-mobile banking của
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
135
ngân hàng và phí phải trả cho mỗi lần giao dịch trở thành yếu tố cần lưu ý. Agribank tại thành phố Hồ Chí
Minh nên có chính sách thu phí phù hợp, cạnh tranh hơn trên thị trường để thu hút ngày càng nhiều khách
hàng dùng e-mobile banking của Agribank.
Trên đây là hàm ý quản trị dựa trên những những nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng e-mobile banking
của Agribank tại thành phố Hồ Chí Minh đã được kiểm định dựa trên nghiên cứu khảo sát với 309 khách
hàng của Agribank tại thành phố Hồ Chí Minh.
6.3 Các đóng góp của nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu giúp ngân hàng Agribank tại thành phồ Hồ Chí Minh nhận diện được các nhân tố tác
động nhiều hoặc ít đến ý định sử dụng dịch vụ e-mobile banking của khách hàng Agribank tại thành phố Hồ
Chí Minh. Đây là căn cứ giúp ngân hàng xây dựng các chính sách, chiến lược marketing để thu hút khách
hàng tiềm năng. Mặt khác, kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung tài liệu phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và
học tập cho giảng viên, sinh viên thuộc các chuyên ngành liên quan như ngân hàng, marketing, quản trị kinh
doanh.
6.4 Hạn chế và định hướng nghiên cứu tiếp theo
6.4.1 Hạn chế
Nghiên cứu này vẫn còn một số hạn chế như: phạm vi nghiên cứu chỉ thực hiện lấy mẫu nghiên cứu tại thành
phố Hồ Chí Minh nên kết quả nghiên cứu chưa thể khái quát cho Agribank trên toàn nước Việt Nam. Đồng
thời, mô hình nghiên cứu chỉ mới tập trung xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ e-
mobile banking của khách hàng cá nhân nhưng chưa đề cập đến hành vi quyết định sử dụng Agribank e-
mobile banking của khách hàng cá nhân.
6.4.2 Định hướng nghiên cứu tiếp theo
Từ những hạn chế trên, tác giả đề xuất một số hướng nghiên cứu cho những nghiên cứu tiếp theo như: mở
rộng phạm vi thu thập số liệu ở tỉnh, thành phố khác của Việt Nam, đồng thời bổ sung nghiên cứu mối quan
hệ giữa ý định và hành vi sử dụng thật sự của khách hàng cá nhân đối với e-mobile banking của Agribank.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]
L. Anh, "Người Việt vẫn ngại thanh toán qua mạng." [Online]. Available: https://nld.com.vn/kinh-te/nguoi-
[2]
P. V. Lưu, "Phát triển hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam hiện nay." [Online]. Available:
[3]
X. P. Nguyễn. "Quyết định 241/QĐ-TTg Phê duyệt đề án đẩy mạnh thanh toán qua ngân hàng đối với các
dịch vụ công: thuế, điện ,nước, học phí, viện phí và chi trả các chương trình an sinh xã hội."
thanh-toan-qua-ngan-hang-dich-vu-thue-dien-nuoc-375427.aspx (accessed 05/06/2020, 2020).
T. K. N. Nguyễn. "Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt các dịch vụ công qua ngân hàng thương mại."
thuong-mai.htm (accessed 07/04/2020).
[4]
[5]
Agribank. "Agribank E-Mobile Banking thay “áo mới”: Giao diện đẹp tinh tế và tập trung trải nghiệm người
dien-dep-tinh-te-va-tap-trung-trai-nghiem-nguoi-dung/ (accessed 07/04/2020).
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
136
[6]
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
23/01/2020, 2020).
[7]
doanh-nghiep/agribank-ra-mat-ung-dung-agribank-emobile-banking-904014.tpo (accessed 23/01/2020,
2020).
[8]
2020).
[9]
T. Đ. Bảo, "Ngân hàng điện tử và các phương tiện giao dịch điện tử," Tạp chí tin học ngân hàng, p. Số
4(58), 2003.
[10]
T. H. Ngân and N. M. Hải, "E-BANKING SERVICES IN VIETNAM," Journal of Economic Development,
pp. 06-07, 2019.
[11]
[12]
J. Patrick, "The Internet: redefining banking," The Australian banker, pp. Số 3, 110-111, 1998.
T. T. T. Phương, "Vài nét về ứng dụng Mobile Banking tại các ngân hàng Việt Nam," in Ngân hàng nhà
nước Việt Nam, ed, 2012.
[13]
Vietcombank, "Quy định sử dụng dịch vụ Mobile banking," in Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam,
ed, 2014.
[14]
[15]
Eximbank, "Dịch vụ Mobile Banking," in Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam, ed, 2015.
I. Ajzen, "The theory of planned behavior," Organizational Behavior and Human Decision Processes, vol.
50, pp. 179-211, 1991.
[16]
[17]
[18]
[19]
[20]
[21]
[22]
M. Fishbein and I. Ajzen, "Belief, attitude, intention, and behavior: An introduction to theory and research,"
1977.
L. Zhang, J. Zhu, and Q. Liu, "A meta-analysis of mobile commerce adoption and the moderating effect of
culture," Computers in Human Behavior, vol. 28, no. 5, pp. 1902-1911, 2012.
C. Kim, M. Mirusmonov, and I. Lee, "An empirical examination of factors influencing the intention to use
mobile payment," Computers in Human Behavior, vol. 26, no. 3, pp. 310-322, 2010.
N. Đ. Y. Oanh and P. T. B. Uyên, "Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ thương mại di động
của người tiêu dùng tỉnh An Giang," 2016.
F. D. Davis, R. P. Bagozzi, and P. R. Warshaw, "User acceptance of computer technology: a comparison of
two theoretical models," Management science, vol. 35, no. 8, pp. 982-1003, 1989.
T. Faziharudean and T. Li-Ly, "Consumers' behavioral intentions to use mobile data services in Malaysia,"
African journal of business management, vol. 5, no. 5, p. 1811, 2011.
A. Y.-L. Chong, F. T. Chan, and K.-B. Ooi, "Predicting consumer decisions to adopt mobile commerce:
Cross country empirical examination between China and Malaysia," Decision support systems, vol. 53, no.
1, pp. 34-43, 2012.
[23]
[24]
F. D. Davis, "Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of information technology,"
MIS quarterly, pp. 319-340, 1989.
C. M. Jackson, S. Chow, and R. A. Leitch, "Toward an understanding of the behavioral intention to use an
information system," Decision sciences, vol. 28, no. 2, pp. 357-389, 1997.
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
137
[25]
[26]
[27]
[28]
[29]
[30]
V. Venkatesh and F. D. Davis, "A theoretical extension of the technology acceptance model: Four
longitudinal field studies," Management science, vol. 46, no. 2, pp. 186-204, 2000.
Y. S. Wang, Y. M. Wang, H. H. Lin, and T. I. Tang, "Determinants of user acceptance of Internet banking:
an empirical study," International journal of service industry management, 2003.
S. K. Chitungo and S. Munongo, "Extending the technology acceptance model to mobile banking adoption
in rural Zimbabwe," Journal of Business Administration and Education, vol. 3, no. 1, 2013.
G. Mortimer, L. Neale, S. F. E. Hasan, and B. Dunphy, "Investigating the factors influencing the adoption of
m-banking: a cross cultural study," International Journal of Bank Marketing, 2015.
M. H. Koksal, "The intentions of Lebanese consumers to adopt mobile banking," International Journal of
Bank Marketing, 2016.
H. Dai and P. C. Palvi, "Mobile commerce adoption in China and the United States: a cross-cultural study,"
ACM SIGMIS Database: the DATABASE for Advances in Information Systems, vol. 40, no. 4, pp. 43-61,
2009.
[31]
[32]
[33]
[34]
[35]
[36]
J. Sripalawat, M. Thongmak, and A. Ngramyarn, "M-banking in metropolitan Bangkok and a comparison
with other countries," Journal of computer information systems, vol. 51, no. 3, pp. 67-76, 2011.
W. C. Poon, "Users' adoption of e‐ banking services: the Malaysian perspective," Journal of Business &
Industrial Marketing, 2008.
S. Dasgupta, R. Paul, and S. Fuloria, "Factors affecting behavioral intentions towards mobile banking usage:
Empirical evidence from India," Romanian journal of marketing, no. 1, p. 6, 2011.
Y. S. Wang, H. H. Lin, and P. Luarn, "Predicting consumer intention to use mobile service," Information
systems journal, vol. 16, no. 2, pp. 157-179, 2006.
N. K. Agarwal, Z. Wang, Y. Xu, and D. C. Poo, "Factors affecting 3G adoption: An empirical study,"
PACIS 2007 Proceedings, p. 3, 2007.
A. Y.-L. Chong, N. Darmawan, K.-B. Ooi, and B. Lin, "Adoption of 3G services among Malaysian
consumers: an empirical analysis," International Journal of Mobile Communications, vol. 8, no. 2, pp. 129-
149, 2010.
[37]
[38]
Z. Kalinic and V. Marinkovic, "Determinants of users’ intention to adopt m-commerce: an empirical
analysis," Information Systems and e-Business Management, vol. 14, no. 2, pp. 367-387, 2016.
N. Mallat, M. Rossi, V. K. Tuunainen, and A. Öörni, "The impact of use context on mobile services
acceptance: The case of mobile ticketing," Information & management, vol. 46, no. 3, pp. 190-195, 2009.
E. Park and K. J. Kim, "User acceptance of long‐ term evolution (LTE) services," Program, 2013.
P. Luarn and H.-H. Lin, "Toward an understanding of the behavioral intention to use mobile banking,"
Computers in Human Behavior, vol. 21, no. 6, pp. 873-891, 2005.
[39]
[40]
[41]
[42]
[43]
[44]
B.-K. Jeong and T. E. Yoon, "An empirical investigation on consumer acceptance of mobile banking
services," Business and Management Research, vol. 2, no. 1, pp. 31-40, 2013.
H. Q. Cường, "Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ mua hàng điện tử qua mạng,"
Luận văn Thạc sĩ-Quản trị kinh doanh-Trường Đại học Bách Khoa TP. HCM, 2010.
J. F. Hair, W. C. Black, B. J. Babin, and R. E. Anderson, Multivariate data analysis: Pearson new
international edition. Pearson Higher Ed, 2013.
J. C. Nunnally, Psychometric Theory: 2d Ed. McGraw-Hill, 1978.
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
138
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
[45]
[46]
[47]
[48]
R. A. Peterson, "A meta-analysis of Cronbach's coefficient alpha," Journal of consumer research, vol. 21,
no. 2, pp. 381-391, 1994.
S. F. Slater, "Issues in conducting marketing strategy research," Journal of strategic Marketing, vol. 3, no.
4, pp. 257-270, 1995.
J. Hair, B. Black, B. Babin, and R. Anderson, "Multivariate Data Analysis 7th Pearson Prentice Hall,"
Upper Saddle River, NJ, 2010.
J. C. Anderson and D. W. Gerbing, "Structural equation modeling in practice: A review and recommended
two-step approach," Psychological bulletin, vol. 103, no. 3, p. 411, 1988.
Ngày nhận bài: 24/01/2020
Ngày chấp nhận đăng: 17/06/2020
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Bạn đang xem tài liệu "Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định của khách hàng sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking tại thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
cac_nhan_to_anh_huong_den_y_dinh_cua_khach_hang_su_dung_dich.pdf

