Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định của khách hàng sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking tại thành phố Hồ Chí Minh

Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Số 46, 2020  
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG  
SỬ DỤNG DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING  
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
HUỲNH QUANG MINH  
Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
Tóm tắt Việc hạn chế sử dụng tiền mặt, thúc đẩy thanh toán qua mạng, khuyến khích sử dụng e-banking  
đã trở thành vấn đề bức thiết đang rất được quan tâm của Chính phủ Việt Nam cũng như các ngân hàng tại  
Việt Nam. Agribank, là một trong những ngân hàng lớn của Việt Nam luôn quan tâm tìm hiểu thị hiếu  
khách hàng nhằm có căn cứ cải tiến dịch vụ, thu hút khách hàng sử dụng e-mobile banking của Agribank  
nhiều hơn. Nghiên cứu này là một nghiên cứu định lượng nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ  
ảnh hưởng của các nhân tố đó đến ý định của khách hàng sử dụng dịch vụ e-mobile banking của ngân hàng  
Agribank tại thành phố Hồ Chí Minh. Mô hình nghiên cứu gồm bảy (07) nhân tố độc lập: (1) nhận thức sự  
hữu ích, (2) nhận thức dễ sử dụng, (3) chuẩn chủ quan, (4) chi phí, (5) nhận thức sự tín nhiệm, (6) sự đa  
dạng dịch vụ, (7) tính linh hoạt, và một (01) nhân tố phụ thuộc là ý định của khách hàng cá nhân sử dụng  
dịch vụ Agribank e-mobile banking. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 309 cá nhân là khách hàng của  
Agribank tại thành phố Hồ Chí Minh. Với phương pháp kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số  
Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy đa biến, kết quả cuối cùng cho  
thấy có năm (05) nhân tố tác động đến ý định của khách hàng sử dụng Agribank e-mobile banking gồm:  
(1) tính linh hoạt (LH), (2) chuẩn chủ quan (CQ), (3) nhận thức hữu ích (HI), (4) nhận thức tính dễ sử dụng  
(SD), và (5) chi phí (CP). Kết quả nghiên cứu cung cấp một số hàm ý quản trị giúp Agribank tại thành phố  
Hồ Chí Minh có căn cứ tham khảo nhằm cải thiện các dịch vụ thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ e-mobile  
banking nhiều hơn.  
Keywords: Ý định sử dụng, e-mobile banking  
THE FACTORS AFFECTING CUSTOMERS’ INTENTION TO USE AGRIBANK E-  
MOBILE BANKING SERVICES  
IN HO CHI MINH CITY  
Abstract Limiting the use of cash, promoting online payment, encouraging the use of e-banking are the  
serious issues that have been greatly concerned by the Vietnamese Government as well as banks in Vietnam.  
Agribank, one of the big banks in Vietnam, is always interested in understanding customer behaviors in  
order to have a basis for improving services and attracting more customers to use e-mobile banking of  
Agribank. This study is a quantitative study to identify the affecting factors and their affecting levels on the  
intention of customers in using Agribank e-mobile banking services in Ho Chi Minh City. The research  
model includes seven (07) independent factors: (1) perceived usefulness, (2) perceived ease of use, (3)  
subjective norm, (4) cost, (5) perceived trust, (6) variety of Services, (7) mobility access, and one (01)  
dependent factor, it is the intention of individual customers to use Agribank e-mobile banking. The research  
data was collected from 309 individual customers of Agribank in Ho Chi Minh City. The Cronbach’s Alpha  
test of reliability, exploratory factor analysis (EFA), and Multiple Linear Regression Analysis were used  
for data analysis. The final results show that there are five (05) factors affecting individual customers on  
intention to use Agribank e-mobile banking: (1) mobility access, (2) subjective norm, (3) perceived  
usefulness, (4) perceived ease of use, and (5) cost. This study results contribute to provide some managerial  
implications for Agribank in Ho Chi Minh City improving services to attract more customers towards using  
Agribank e-mobile banking.  
Keywords: Intention to use, e-mobile banking  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
124  
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG  
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
1. GIỚI THIỆU  
Hiện nay, phần lớn giao dịch thương mại ở Việt Nam vẫn còn thanh toán bằng tiền mặt. Thực tế tồn tại này  
do người Việt Nam vẫn có thói quen sử dụng tiền mặt và ngại thanh toán qua mạng [1]. Ngoài ra, còn có  
một số lý do khác làm hạn chế sử dụng dịch vụ thanh toán qua mạng như khách hàng chưa biết đến những  
lợi ích của việc thanh toán qua mạng cũng như ngại trả thêm phí dịch vụ [2]. Để hạn chế sử dụng tiền mặt,  
Chính phủ Việt Nam đã thúc đẩy việc thanh toán qua ngân hàng đối với các dịch vụ công như thuế, điện,  
nước, học phí, viện phí và chi trả các chương trình an sinh xã hội theo Quyết định 241/QĐ-TTg ban hành  
ngày 23/02/2018 [3]. Đồng thời, các ngân hàng tại Việt Nam cũng đang tích cực phát triển hệ thống thanh  
toán qua mạng, không dùng tiền mặt [4], và không ngừng nghiên cứu thị trường tìm hiểu thị hiếu của khách  
hàng nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng và thu hút ngày càng nhiều khách hàng sử dụng thanh toán qua  
mạng, dùng dịch vụ ngân hàng điện tử [5].  
Agribank là một ngân hàng điển hình nằm trong 10 doanh nghiệp lớn nhất của Việt Nam [6]. Từ ngày  
25/08/2015, Agribank đã chính thức ra mắt dịch vụ Agribank e-mobile banking với các tiện ích dịch vụ  
như: vấn tin tài khoản, chuyển khoản nội bộ (ATransfer), nạp tiền điện thoại trả trước và trả sau (VnTopup),  
thanh toán hóa đơn (APayBill), báo cáo giao dịch; ngoài ra còn có các tiện ích gia tăng như: trao đổi thông  
tin (gửi tin nhắn, chia sẻ hình ảnh, âm thanh,… miễn phí), tra cứu tỷ giá ngoại tệ, lãi suất, giá vàng, chứng  
khoán; đặt vé máy bay nội địa và quốc tế; tìm kiếm ATM, chi nhánh, phòng giao dịch; đọc báo trực tuyến.  
Agribank đã không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng dịch vụ, mang lại cho khách hàng các dịch vụ tốt  
nhất [7, 8]. Tuy nhiên, vấn đề xác định những nhân tố ảnh hưởng đến ý định của khách hàng chọn lựa dịch  
vụ e-mobile banking của Agribank tại thành phố Hồ Chí Minh và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó  
như thế nào vẫn là vấn đề cần thiết nghiên cứu nhằm cập nhật thị hiếu khách hàng trong việc chọn lựa dịch  
vụ e-mobile banking của Agribank, cụ thể là xác định được các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến ý định sử  
dụng dịch vụ e-mobile banking của Agribank.  
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU  
2.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử (Electronic banking viết tắt là e-banking)  
E-banking là một dạng của thương mại điện tử ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Đây chính  
là sự kết hợp giữa một số dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông.  
Khi có nhu cầu giao dịch, khách hàng không nhất thiết phải đến ngân hàng mà vẫn có thể thực hiện giao  
dịch một cách nhanh chóng thông qua các kênh phân phối điện tử.  
Theo Trương Đức Bảo, với dịch vụ Ngân hàng điện tử, khách hàng có khả năng truy nhập từ xa nhằm: thu  
thập thông tin; thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại ngân hàng, và  
đăng ký sử dụng các dịch vụ mới [9]. Các loại hình dịch vụ ngân hàng điện tử như: trung tâm dịch vụ khách  
hàng (call centre), dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (phone banking), dịch vụ ngân hàng tại nhà (home  
banking), kiosk ngân hàng, dịch vụ ngân hàng qua internet (internet banking), dịch vụ ngân hàng qua điện  
thoại di động (mobile banking) [10].  
Theo Patrick, dịch vụ e-banking là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay mua  
dịch vụ ngân hàng thông qua việc nối mạng máy vi tính của mình với ngân hàng [11].  
Tóm lại, dịch vụ e-banking là dịch vụ mà tất cả các giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng (cá nhân và tổ  
chức) dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu số hóa nhằm cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng.  
2.2 Khái niệm dịch vụ e-mobile banking  
E-mobile banking là kênh phân phối hiện đại giúp khách hàng truy cập các dịch vụ ngân hàng từ xa bằng  
cách sử dụng các thiết bị di động kết nối với mạng viễn thông không dây. Khách hàng có thể kiểm tra số  
dư tài khoản, lịch sử giao dịch, chuyển tiền, thanh toán hóa đơn, kinh doanh chứng khoán và quản lý danh  
mục đầu tư tài chính của khách hàng [12]. Nói cách khác cụ thể hơn, e-mobile banking là dịch vụ ngân  
hàng trên điện thoại di động cho phép khách hàng thực hiện nhiều loại giao dịch với thao tác đơn giản, tiện  
lợi trên chiếc điện thoại di động [13].  
Tóm lại, dịch vụ e-mobile banking được hiểu là dịch vụ ngân hàng qua điện thoại di động. Thông qua ứng  
dụng e-mobile banking cài đặt trên điện thoại di động có kết nối internet (GPRS/Wifi/3G/4G/5G), khách  
hàng có thể thực hiện các giao dịch trực tuyến 24/7 với ngân hàng dễ dàng, thuận tiện, mọi lúc, mọi nơi,  
tiết kiệm thời gian và chi phí [14].  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG  
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
125  
2.3 Ý định của khách hàng cá nhân (Individual customer’s intention)  
Thuyết hành vi dự định (TPB-The Theory of Planned Behaviour) được phát triển từ lý thuyết hành động  
hợp lý (TRA- The Theory of Reasoned Action) chỉ ra rằng một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích  
bởi các xu hướng hành vi để thực hiện hành vi đó. Mặt khác, các ý định bao gồm các yếu tố động lực cho  
thấy mức độ khả năng mà mọi người sẵn sàng thử hoặc nỗ lực dự định sẽ thực hiện để thực hiện hành vi đó  
[15, 16]. Ý định sử dụng là một khái niệm rất quan trọng trong nghiên cứu hành vi tiêu dùng và cũng là yếu  
tố quan trọng nhất quyết định hành vi tiêu dùng thực tế [17-19].  
Một số nhân tố được các học giả trên thế giới cho là có ảnh hưởng đến ý định hành vi khách hàng được nêu  
ra như sau:  
2.4 Nhân tố nhận thức sự hữu ích (Perceived usefulness) (HI)  
Nhận thức sự hữu ích được định nghĩa là cấp độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống đặc thù  
sẽ nâng cao kết quả thực hiện công việc của họ [20-22]. Trong nghiên cứu này, nhận thức hữu ích là cấp  
độ mà khách hàng tin rằng sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking sẽ mang lại hiệu quả cao hơn.  
Dựa trên kết quả một số nghiên cứu đã có trước đây khẳng khẳng định có mối liên hệ giữa nhận thức hữu  
ích và ý định sử dụng dịch vụ [23-25], tác giả đưa ra giả thuyết như sau:  
H1: Nhận thức sự hữu ích (HI) càng cao sẽ càng tăng ý định sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking  
của khách hàng.  
2.5 Nhân tố nhận thức tính dễ sử dụng (Perceived ease of use) (SD)  
Nhận thức tính dễ sử dụng là cấp độ mà một người tin rằng sử dụng một hệ thống đặc thù sẽ không cần nỗ  
lực [20]. Nhận thức dễ sử dụng cũng được coi là một tiền đề quan trọng đối với độ tin cậy của Internet  
banking [26].  
Trong nghiên cứu này, nhận thức dễ sử dụng là cấp độ mà khách hàng tin rằng sử dụng dịch vụ Agribank  
e-mobile banking sẽ không cần phải nỗ lực nhiều.  
Theo kết quả nghiên cứu trước đây của một số tác giả, tính dễ sử dụng công nghệ giúp khách hàng chấp  
nhận sử dụng dịch vụ mobile banking [27-29], do đó tác giả đưa giả thuyết:  
H2: Nhận thức tính dễ sử dụng (SD) càng cao sẽ càng tăng ý định sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile  
banking của khách hàng.  
2.6 Nhân tố chuẩn chủ quan (Subjective norm) (CQ)  
Chuẩn chủ quan hay ảnh hưởng từ xã hội là nhận thức của con người về áp lực xã hội để thể hiện hay không  
thể hiện hành vi [16]. Các áp lực xã hội này xuất phát từ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, phương tiện truyền  
thông. Nghiên cứu của Dai và Palvia (2009) tìm ra rằng chuẩn chủ quan có ảnh hưởng đến ý định sử dụng  
dịch vụ qua điện thoại di động của người tiêu dùng Trung Quốc nhưng không có ảnh hưởng đến ý định sử  
dụng dịch vụ qua điện thoại di động của người tiêu dùng Mỹ [30]. Tuy nhiên, một số học giả đã chứng  
minh chuẩn chủ quan có ảnh hưởng đến ý định sử dụng thương mại di động và mobile banking [22, 31].  
Do đó, tác giả đưa ra các giả thuyết:  
H3: Chuẩn chủ quan (CQ) càng cao sẽ càng gia tăng ý định sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking  
của khách hàng.  
2.7 Nhân tố chi phí (Cost) (CP)  
Nghiên cứu của Poon (2008) tại Malaysia khẳng định phí và lệ phí là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự  
thành công trong phát triển dịch vụ e-banking tại các ngân hàng [32]. Ngoài ra, Dasgupta (2011) cũng cho  
rằng yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ mobile banking tại Ấn độ cũng khẳng định chi phí giá  
thấp có ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng dịch vụ của khách hàng [33]. Do vậy, chi phí là một nhân  
tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ ngân hàng trực tuyến. Trong nghiên cứu này, chi phí  
là mức độ mà khách hàng tin rằng sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking sẽ tiêu tốn nhiều chi phí của  
cá nhân họ. Từ đó, tác giả đưa ra giả thuyết:  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
126  
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG  
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
H4: Chi phí (CP) càng cao sẽ càng làm giảm ý định sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking của khách  
hàng.  
2.8 Nhân tố nhận thức sự tín nhiệm (Perceived trust) (TN)  
Theo Wang & ctg (2003), nhận thức sự tín nhiệm được định nghĩa là mức độ mà một người tin rằng việc  
sử dụng ngân hàng ngân hàng di động sẽ không có mối đe dọa về bảo mật hoặc quyền riêng tư [26]. Hơn  
nữa, Wang và ctg (2006) xác định người tiêu dùng sẽ sử dụng các dịch vụ di động khi họ tin rằng giao dịch  
sẽ diễn ra an toàn và thông tin cá nhân của họ được bảo đảm [34]. Nhận thức sự tín nhiệm là niềm tin của  
người dùng đối với dịch vụ, nếu người dùng tín nhiệm càng cao, tức là họ cảm thấy an toàn và được bảo  
mật, thì khả năng lựa chọn sử dụng công nghệ đó càng cao và ngược lại. Cho nên, trong nghiên cứu này,  
tác giả đưa ra giả thuyết:  
H5: Nhận thức sự tín nhiệm (TN) càng cao sẽ càng gia tăng ý định sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile  
banking của khách hàng.  
2.9 Nhân tố sự đa dạng các dịch vụ (Variety of services) (DD)  
Các dịch vụ ngân hàng di động được cung cấp cho khách hàng hiện nay khá đa dạng. Theo Agarwal & ctg  
(2007) thì sự đa dạng hơn của dịch vụ có thể tăng thêm giá trị cho người tiêu dùng [35].  
Theo Chong & ctg (2012) người tiêu dùng chưa sẵn sàng chi trả khi họ cảm thấy dịch vụ kém đa dạng, các  
nhà lập trình lại không phát triển ứng dụng di động nếu không đủ người sử dụng [22]. Vì vậy, vấn đề cần  
nghiên cứu là khi các nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng di động cung cấp thêm nhiều dịch vụ thì người tiêu  
dùng có sử dụng dịch vụ hay không.  
Một số nhà nghiên cứu khẳng định sự đa dạng các dịch vụ có ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng dịch  
vụ của khách hàng. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn hạn chế số lượng nghiên cứu để khẳng định mối liên hệ này  
[36]. Cho nên tác giả đưa ra giả thuyết sau:  
H6: Sự đa dạng (DD) dịch vụ e-mobile banking càng cao sẽ càng gia tăng ý định sử dụng dịch vụ Agribank  
e-mobile banking của khách hàng.  
2.10 Nhân tố tính linh hoạt (Mobility access) (LH)  
Ưu điểm nổi bật của dịch vụ ngân hàng di động là khả năng sử dụng dịch vụ ở khắp mọi nơi, kể cả lúc  
người tiêu dùng đang di chuyển. Theo Kalinic và Marinkovic (2016), khi các công nghệ trên thiết bị di  
động ngày càng đáp ứng được nhu cầu di chuyển linh hoạt trong cuộc sống của người tiêu dùng thì việc sử  
dụng độc lập về thời gian và không gian ngày càng trở nên quan trọng với cả người tiêu dùng và nhà cung  
cấp dịch vụ [37]. Yếu tố này đã được nhiều nghiên cứu chứng minh là có ảnh hưởng đến ý định sử dụng  
các dịch vụ di động [38, 39]. Do đó, tác giả đưa ra giả thuyết như sau:  
H7: Tính linh hoạt (LH) càng cao sẽ càng gia tăng ý định sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking của  
khách hàng.  
3. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU  
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu của các học giả trước đây về ý định hành vi của khách hàng, điển hình là  
nghiên cứu của Pin Luarn & Hsin-Hui Lin (2005) “Nghiên cứu hướng đến sự hiểu biết về ý định hành vi  
sử dụng mobile banking”, trong đó mô hình nghiên cứu có 5 yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi sử dụng  
dịch vụ mobile banking là: nhận thức hữu ích, nhận thức dễ sử dụng, cảm nhận sự tin tưởng, nhận thức về  
năng lực bản thân, cảm nhận chi phí [40]. Mặt khác, nghiên cứu của Bong-Keun Jeong và cộng sự (2012)  
khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận mobile banking dựa trên mô hình chấp nhận công nghệ  
TAM (Technology Acceptance Model) mở rộng, tác giả xác định có 5 yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành  
vi của người sử dụng đối với việc chấp nhận mobile banking, bao gồm: cảm nhận sự hữu ích, cảm nhận  
tính dễ sử dụng, cảm nhận sự tin tưởng, cảm nhận sự hiệu quả, cảm nhận chi phí [41].  
Một số nghiên cứu có liên quan ở Việt Nam như nghiên cứu của Hoàng Quốc Cường (2010) xác định các  
yếu tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ mua hàng điện tử qua mạng xác định được 6 yếu tố gồm: (1)  
Mong đợi về giá, (2) Cảm nhận sự tiện lợi, (3) Cảm nhận tính dễ sử dụng, (4) Cảm nhận sự thích thú, (5)  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG  
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
127  
Ảnh hưởng xã hội, (6) Cảm nhận sự rủi ro khi sử dụng [42]. Nghiên cứu của Nguyễn Đinh Yến Oanh và  
Phạm Thị Bích Uyên (2017) về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ thương mại di động của  
người tiêu dùng trong bối cảnh Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có năm nhân tố ảnh hưởng đến ý  
định sử dụng dịch vụ thương mại di động của người tiêu dùng tỉnh An Giang là: (1) Tính linh hoạt, (2) Dịch  
vụ đa dạng, (3) Nhận thức sự hữu ích, (4) Nhận thức sự tín nhiệm và (5) Nhận thức tính dễ sử dụng [19].  
Từ các nghiên cứu nêu trên, tác giả tổng hợp các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến hành vi dự định của  
khách hàng cá nhân sử dụng dịch vụ e-mobile banking của Agribank với mô hình đề xuất như sau:  
H1 (+)  
Nhận thức hữu ích  
Sự tín nhiệm  
H5(+)  
+
H2 (+)  
Nhận thức dễ sử dụng  
H6(+)  
Sự đa dạng dịch vụ  
H3 (+)  
H4 (-)  
Ý định sử dụng  
Agribank e-  
mobile banking  
Chuẩn chủ quan  
H7(+)  
Tính linh hoạt  
Chi phí  
Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử  
dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking  
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Nghiên cứu này được thực hiện theo phương pháp nghiên cứu định lượng. Tác giả sử dụng kiểm định  
Cronbach’s Alpha để kiểm tra độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá (EFA- Exploratory  
Factor Analysis), phân tích ANOVA, phân tích hồi quy tuyến tính nhằm kiểm định sự phù hợp của mô hình  
nghiên cứu và các giả thuyết của mô hình nghiên cứu với mục tiêu cuối cùng là xác định được mối quan hệ  
giữa các nhân tố độc lập và phụ thuộc, cũng như mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó.  
Dữ liệu thu thập được thông qua bảng câu hỏi được tác giả thiết kế sẵn gồm phần gạn lọc đối tượng được  
chọn phỏng vấn là người đã từng giao dịch với Agribank tại thành phố Hồ Chí Minh, tiếp đó là thông tin  
người trả lời, phần câu hỏi chính có 25 câu hỏi cho các biến độc lập và 4 câu hỏi cho biến phụ thuộc theo  
mô hình nghiên cứu. Thang đo những nhân tố (Bảng 1) gồm các biến quan sát được kế thừa từ các nghiên  
cứu trước đồng thời đã qua bước phỏng vấn thử, chọn lọc kỹ trước khi tiến hành khảo sát chính thức.  
Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, bảng câu hỏi nghiên cứu đã thiết kế  
sẵn được phát trực tiếp cho khách hàng đang giao dịch trực tiếp với ngân hàng Agribank tại thành phố Hồ  
Chí Minh để họ tự điền trả lời, đồng thời bảng câu hỏi này cũng được thiết kế trên Google form và đưa lên  
mạng để thu thập dữ liệu. Kết quả khảo sát cho nghiên cứu này tác giả đã nhận được 309 bảng câu hỏi có  
trả lời hoàn chỉnh sau khi đã loại bớt những bảng câu hỏi có trả lời không phù hợp.  
Về cỡ mẫu, theo Hair và cộng sự (2013), trong phân tích nhân tố khám phá thì số quan sát (cỡ mẫu) ít nhất  
phải bằng 5 lần số biến [43]. Nghiên cứu này sử dụng phân tích nhân tố khám phá và trong mô hình nghiên  
cứu có 29 biến quan sát, nên số lượng mẫu tối thiểu là: n= 29 x 5= 145. Như vậy, với số lượng 309 bảng  
câu hỏi là đủ lớn và hoàn toàn phù hợp cho nghiên cứu này.  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
128  
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG  
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Bảng 1: Thang đo nghiên cứu  
Nhân tố  
Mã hóa  
Biến quan sát  
Nguồn tham khảo  
Sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking giúp tôi  
tiết kiệm thời gian  
HI1  
Sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking giúp công  
việc của tôi dễ dàng hơn  
Sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking giúp cho  
chất lượng cuộc sống tốt hơn  
Nhận  
thức sự  
hữu ích  
(HI)  
HI2  
HI3  
Sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking là phong  
cách sống hiện đại  
HI4  
Tôi tin rằng tôi có thể dễ dàng học cách sử dụng dịch  
vụ Agribank e-mobile banking  
Tôi tin rằng tôi có thể nhanh chóng sử dụng thành thạo  
dịch vụ Agribank e-mobile banking  
Tôi tin rằng các chức năng trong dịch vụ Agribank e-  
mobile banking thì dễ hiểu và rõ ràng  
Gia đình và bạn bè có ảnh hưởng đến quyết định sử  
dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking của tôi  
Đồng nghiệp của tôi có ảnh hưởng đến quyết định sử  
dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking của tôi  
Các phương tiện truyền thông ảnh hưởng đến quyết  
định sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking của  
tôi  
SD1  
SD2  
SD3  
CQ1  
CQ2  
Nhận  
thức tính  
dễ sử  
dụng  
(SD)  
Chuẩn  
chủ quan  
(CQ)  
CQ3  
Tôi thấy hầu hết mọi người xung quanh tôi đều sử  
dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking  
Tôi cảm thấy các thiết bị di động sử dụng được dịch vụ  
Agribank E-Mobile banking rất đắt tiền  
Tôi cảm thấy chi phí kết nối (3G, wifi,…) để sử dụng  
dịch vụ Agribank e-mobile banking là rất đắt tiền  
Tôi cảm thấy chi phí sử dụng dịch vụ Agribank e-  
mobile banking rất đắt tiền  
Tôi sẽ không sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile  
banking vì chi phí của nó  
Tôi thích chi tiền sử dụng các dịch vụ khác hơn dịch  
vụ Agribank e-mobile banking  
Tôi nghĩ rằng thông tin cá nhân sẽ được bảo mật khi sử  
dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking  
Tôi tin rằng các giao dịch qua dịch vụ Agribank e-  
mobile banking sẽ được thực hiện chính xác  
Tôi tin rằng các giao dịch Agribank e-mobile banking  
sẽ diễn ra dễ dàng  
Các dịch vụ trong Agribank e-mobile banking hiện nay  
rất hấp dẫn tôi  
Có rất nhiều dịch vụ trong Agribank e-mobile banking  
đáp ứng được nhu cầu tôi cần  
CQ4  
CP1  
CP2  
CP3  
CP4  
CP5  
TN1  
TN2  
TN3  
DD1  
DD2  
DD3  
Chi phí  
(CP)  
Nhận  
thức sự  
tín nhiệm  
(TN)  
Sự đa  
dạng dịch  
vụ  
(DD)  
Các dịch vụ trong Agribank e-mobile banking hiện nay  
đạt mức mong đợi của tôi  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG  
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
129  
Nhân tố  
Mã hóa  
Biến quan sát  
Nguồn tham khảo  
Tôi có thể sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking  
bất kỳ lúc nào  
Tôi có thể sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking  
bất cứ nơi đâu  
Dịch vụ Agribank e-mobile banking rất phù hợp với  
tôi vì tôi luôn mang thiết bị di động bên cạnh  
Khi có điều kiện thích hợp (tài chính, giá dịch vụ, công  
việc…) tôi sẽ sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile  
banking  
LH1  
Tính linh  
hoạt  
LH2  
LH3  
(LH)  
YD1  
Tôi sẽ sử dụng/tiếp tục sử dụng dịch vụ Agribank e-  
mobile banking  
Tôi sẽ giới thiệu cho những người khác về dịch vụ  
Agribank e-mobile banking  
Tôi có ý định sử dụng Agribank e-mobile banking thay  
vì đến giao dịch trực tiếp tại quầy  
Ý định sử  
dụng  
YD2  
YD3  
YD4  
(YD)  
5. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
5.1 Mô tả về mẫu nghiên cứu  
Đối tượng khảo sát của nghiên cứu này là những khách hàng có giao dịch với ngân hàng Agribank tại thành  
phố Hồ Chí Minh. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu như sau:  
Bảng 2: Đặc điểm mẫu nghiên cứu  
Tần suất  
143  
Phần trăm (%)  
46,3  
Nam  
Nữ  
166  
309  
60  
73  
81  
95  
309  
1
53,7  
100,0  
14,9  
23,6  
26,2  
30,7  
100,0  
0,3  
Giới tính  
Độ tuổi  
Tổng  
18 - 24 tuổi  
25 - 34 tuổi  
35 - 45 tuổi  
Trên 45 tuổi  
Tổng  
Dưới THPT  
THPT  
3
1,0  
Trung cấp, Cao đẳng  
Đại học  
Sau đại học  
20  
123  
62  
309  
70  
99  
85  
55  
309  
6,5  
Trình độ học  
vấn  
39,8  
52,4  
100,0  
22,7  
32,0  
27,5  
17,8  
100,0  
Tổng  
Dưới 10 triệu đồng  
Từ 10 – dưới 15 triệu đồng  
Từ 15 – 20 triệu đồng  
Trên 20 triệu đồng  
Tổng  
Thu nhập  
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát 309 khách hàng Agribank, 2020.  
5.2 Kết quả kiểm định thang đo  
5.2.1 Kiểm định độ tin cậy thang đo với hệ số Cronbach’s Alpha  
Kiểm định Cronbach’s Alpha được sử dụng với 2 điều kiện gồm hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0,6 [44-  
46], và hệ số tương quan biến tổng không nhỏ hơn 0,3 biến nào có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0,3  
sẽ bị loại khỏi mô hình [47].  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
130  
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG  
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Kết quả kiểm định độ tin cậy với hệ số Cronbach’s Alpha lần một cho thấy hệ số Cronbach’s Alpha là  
0,843> 0,6 tuy nhiên hệ số tương quan biến tổng của một số biến không thoả điều kiện không nhỏ hơn 0,3  
nên các biến đó bị loại bỏ, bao gồm: CQ4, CP5, TN1, TN2, TN3, DD1, DD2, DD3. Có nghĩa là đã loại hết  
8 biến trong 29 biến quan sát, trong đó có 2 thang đo không thể hiện đủ độ tin cậy nên bị loại đó là thang  
đo ‘Nhận thức về tín nhiệm’ và ‘Sự đa dạng dịch vụ’. Tiếp tục kiểm định Cronbach’s Alpha lần hai có kết  
quả: hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0,6 và hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 nên 21 biến còn  
lại trong các thang đo (Bảng 3) được sử dụng tiếp tục cho bước phân tích nhân tố khám phá EFA.  
Bảng 3: Kiểm định độ tin cậy của thang đo Cronbach's Alpha  
STT  
Thang đo  
Nhận thức sự hữu ích (HI)  
Nhận thức tính dễ sử dụng (SD)  
Chuẩn chủ quan (CQ)  
Chi phí (CP)  
Biến thành phần  
HI1, HI2, HI3, HI4  
SD1, SD2, SD3  
CQ1, CQ2, CQ3  
CP1, CP2, CP3, CP4  
LH1, LH2, LH3  
Hệ số Cronbach's Alpha  
1
2
3
4
5
6
0,958  
0,911  
0,799  
0,961  
0,895  
0,854  
Tính linh hoạt (LH)  
Ý định sử dụng (YD)  
YD1, YD2, YD3, YD4  
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát 309 khách hàng Agribank, 2020)  
5.2.2 Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA)  
Tất cả 17 biến độc lập quan sát đưa vào phân tích nhân tố khám phá, dùng phương pháp rút trích Principal  
Components và phép quay Varimax. Hệ số KMO = 0,780 >0,5 nên thỏa mãn yêu cầu phân tích nhân tố (0,5≤  
KMO≤1) [47], mức ý nghĩa Sig. = 0,000 <0,05 của kiểm định Bartlett cho biết có các biến quan sát tương  
quan với nhau trong tổng thể có ý nghĩa thống kê, do đó các quan sát phù hợp cho việc phân tích nhân tố.  
Giá trị Eigenvalues là 1,131 > 1, phân tích nhân tố đã rút trích thành 5 nhóm nhân tố với tổng phương sai  
trích là 84,864% > 50% (đạt yêu cầu) [48]. Điều này chứng tỏ 84,86% biến thiên của dữ liệu được giải thích  
bởi 5 nhân tố này.  
Bảng 4: Kết quả phân tích nhân tố (EFA) cho biến độc lập  
Hệ số tải nhân tố  
Biến quan sát  
HI1  
1
2
3
4
5
0,923  
0,895  
0,898  
0,891  
HI2  
HI3  
HI4  
SD1  
0,933  
0,874  
0,887  
SD2  
SD3  
CQ1  
CQ2  
CQ3  
CP1  
0,889  
0,839  
0,644  
0,943  
0,925  
0,944  
0,940  
CP2  
CP3  
CP4  
LH1  
LH2  
LH3  
0,803  
0,906  
0,871  
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát 309 khách hàng Agribank, 2020)  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG  
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
131  
Theo bảng 4, sau khi thực hiện xoay, các nhân tố có sự thay đổi nhân tố và thành phần của nhân tố, đồng  
thời kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha của của các nhân tố đã hiệu chỉnh được thể hiện như  
sau:  
Bảng 5: Kiểm định độ tin cậy của thang đo mới Cronbach's Alpha  
STT Thang đo  
Biến thành phần  
HI1, HI2, HI3, HI4  
SD1, SD2, SD3  
CQ1, CQ2, CQ3  
CP1, CP2, CP3, CP4  
LH1, LH2, LH3  
Hệ số Cronbach’s Alpha  
1
2
3
4
5
6
Nhận thức sự hữu ích (HI)  
0,635  
0,688  
0,640  
0,747  
0,627  
0,642  
Nhận thức tính dễ sử dụng (SD)  
Chuẩn chủ quan (CQ)  
Chi phí (CP)  
Tính linh hoạt (LH)  
Ý định sử dụng (YD)  
YD1, YD2, YD3, YD4  
5.3 Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh  
Sau khi hân tích nhân tố EFA, thang đo được hiệu chỉnh từ thang đo của 7 nhân tố ban đầu đã loại 2 nhân tố  
còn lại 5 nhân tố của các biến độc lập và 1 nhân tố của biến phụ thuộc vẫn giữ nguyên. Như vậy mô hình  
nghiên cứu được hiệu chỉnh như hình sau:  
H1(+)  
Nhận thức hữu ích  
Chi phí  
H2(+)  
Nhận thức dễ sử dụng  
H3(+)  
H4(-)  
Ý định sử dụng  
Agribank e-  
mobile banking  
H5(+)  
Tính linh hoạt  
Chuẩn chủ quan  
Hình 2: Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh  
Bảng 6: Các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh  
Ký hiệu  
Giả thuyết  
Tương quan  
Nhận thức sự hữu ích (HI) càng cao sẽ càng tăng ý định sử dụng  
dịch vụ Agribank e-mobile banking của khách hàng.  
Nhận thức tính dễ sử dụng (SD) càng cao sẽ càng tăng ý định sử  
dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking của khách hàng  
Chuẩn chủ quan (CQ) càng cao sẽ càng gia tăng ý định sử dụng  
dịch vụ Agribank e-mobile banking của khách hàng  
Chi phí (CP) càng cao sẽ càng làm giảm ý định sử dụng dịch vụ  
Agribank e-mobile banking của khách hàng  
H1  
(+)  
H2  
H3  
H4  
H5  
(+)  
(+)  
(–)  
(+)  
Tính linh hoạt (LH) càng cao sẽ càng gia tăng ý định sử dụng dịch  
vụ Agribank e-mobile banking của khách hàng  
5.4 Phân tích kết quả hồi quy  
Bảng 7: Kết quả kiểm định mức độ phù hợp của mô hình  
Model Summaryb  
Mô hình  
1
R
R2  
R2 hiệu chỉnh  
Sai số chuẩn  
0,55284  
Durbin-Watson  
1,835  
0,665a  
0,442  
0,432  
a. Predictors: (Constant), LH, CP, SD, HI, CQ  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
132  
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG  
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
b. Dependent Variable: YD  
Hệ số R2 hiệu chỉnh cho biết 43,2% biến thiên của ý định sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking của  
khách hàng được giải thích bởi các biến độc lập được đưa vào mô hình.  
ANOVAa  
Tổng độ  
lệch bình  
phương  
73,225  
Độ lệch bình  
phương bình  
quân  
Mô hình  
Hồi quy  
Bậc tự do  
F
Sig.  
5
14,645  
47,918  
0,000b  
1
Phần dư  
Tổng  
92,605  
165,830  
303  
308  
0,306  
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát 309 khách hàng Agribank, 2020.  
a. Dependent Variable: YD  
b. Predictors: (Constant), LH, CP, SD, HI, CQ  
Bảng 7 cho thấy giá trị kiểm định độ phù hợp của mô hình F = 47,918 với mức ý nghĩa rất nhỏ là 0,000  
<0,05 nghĩa là các biến độc lập có tương quan tuyến tính với biến phụ thuộc nên mô hình đưa ra phù hợp  
với tổng thể và các biến độc lập trong mô hình có thể giải thích được sự thay đổi của biến phụ thuộc. Mặt  
khác, Bảng 8 cho thấy nhân tố phóng đại phương sai VIF chỉ dao động từ 1,144 đến 1,430 (nhỏ hơn 2), hệ  
số Tolerance thấp, do đó không có dấu hiệu của hiện tượng đa công tuyến và không có mối tương quan chặt  
chẽ giữa các biến độc lập.  
Bảng 8: Hệ số hồi quy của mô hình Coefficientsa  
Hệ số  
Beta đã  
chuẩn hóa  
Hệ số Beta chưa  
chuẩn hóa  
Collinearity  
Statistics  
Biến độc lập  
Gía trị t  
Sig.  
Std.  
Error  
B
Beta  
Tolerance  
VIF  
(Constant)  
1,437  
0,238  
0,046  
0,053  
0,037  
0,041  
0,043  
6,039  
3,378  
2,128  
3,541  
-3,409  
8,299  
0,000  
0,001  
0,034  
0,000  
0,001  
0,000  
HI  
0,157  
0,112  
0,132  
-0,141  
0,357  
0,172  
0,100  
0,180  
-0,157  
0,426  
0,710  
0,842  
0,710  
0,874  
0,699  
1,408  
1,187  
1,409  
1,144  
1,430  
SD  
CQ  
CP  
LH  
1
a. Dependent Variable: YD  
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát 309 khách hàng Agribank, 2020.  
Phương trình hồi quy với hệ số β chưa chuẩn hóa  
YD = 1,437 +0,157*HI + 0,112*SD + 0,132*CQ -0,141*CP + 0,357*LH  
Phương trình hồi quy với hệ số β đã chuẩn hóa  
YD = 0,172*HI+0,1*SD + 0,18*CQ - 0,157*CP +0,426*LH  
hay:  
Ý định sử dụng Agribank e-mobile banking = 0,172 * Nhận thức hữu ích + 0,1 * Nhận thức tính dễ  
sử dụng + 0,18 * Chuẩn chủ quan – 0,157* Chi phí +  
0,426 * Tính linh hoạt.  
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy 5 nhân tố có tác động đến ý định sử dụng dịch vụ e-banking của Agribank.  
Trong đó 4 nhân tố tác động tính cực, thuận chiều và theo thứ tự là tính linh hoạt (LH), chuẩn chủ quan  
(CQ), nhận thức hữu ích (HI), nhận thức tính dễ sử dụng (SD) và 1 nhân tố chi phí (CP) tác động ngược  
chiều. Cụ thể:  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG  
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
133  
Hệ số BHI = 0,172: Mối quan hệ giữa nhận thức hữu ích (HI) và ý định sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile  
banking của khách hàng (YD) là mối quan hệ cùng chiều, nghĩa là khi nhận thức hữu ích (HI) tăng thêm 1  
điểm thì ý định sử dụng dịch vụ (YD) sẽ tăng thêm 0,172 điểm.  
Hệ số BSD = 0,1: Mối quan hệ giữa nhận thức tính dễ sử dụng (SD) và ý định sử dụng dịch vụ Agribank e-  
mobile banking của khách hàng (YD) là mối quan hệ cùng chiều, nghĩa là khi nhận thức tính dễ sử dụng  
(SD) tăng thêm 1 điểm thì ý định sử dụng dịch vụ (YD) sẽ tăng thêm 0,1 điểm.  
Hệ số BCQ = 0,18: Mối quan hệ giữa chuẩn chủ quan (CQ) và ý định sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile  
banking của khách hàng (YD) là mối quan hệ cùng chiều, nghĩa là khi chuẩn chủ quan (CQ) tăng thêm 1  
điểm thì ý định sử dụng dịch vụ (YD) sẽ tăng thêm 0,18 điểm.  
Hệ số BCP = - 0,157: Mối quan hệ giữa nhận tố chi phí (CP) và ý định sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile  
banking của khách hàng (YD) là mối quan hệ ngược chiều, nghĩa là khi chi phí (CP) tăng thêm 1 điểm thì ý  
định sử dụng dịch vụ (YD) sẽ giảm đi 0,157 điểm.  
Hệ số BLH = 0,426: Mối quan hệ giữa tính linh hoạt (LH) và ý định sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile  
banking của khách hàng (YD) là mối quan hệ cùng chiều, nghĩa là khi tính linh hoạt (LH) tăng thêm 1 điểm  
thì ý định sử dụng dịch vụ (YD) sẽ tăng thêm 0,426 điểm.  
5.5 Kết quả kiểm định các giả thuyết của mô hình nghiên cứu  
Qua những kết quả phân tích hồi quy và giá trị Sig. của 5 nhân tố cho các giả thuyết từ H1 đến H5 đều nhỏ  
hơn 0,05 nên các giả thuyết đều được chấp nhận.  
Bảng 9: Kết quả kiểm định giả thuyết trong mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh  
Ký hiệu  
H1  
Giả thuyết  
Kết quả kiểm định  
Chấp nhận  
Nhận thức sự hữu ích (HI) càng cao sẽ càng tăng ý định sử  
dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking của khách hàng.  
Nhận thức tính dễ sử dụng (SD) càng cao sẽ càng tăng ý định  
sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking của khách hàng  
Chuẩn chủ quan (CQ) càng cao sẽ càng gia tăng ý định sử  
dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking của khách hàng  
Chi phí (CP) càng cao sẽ càng làm giảm ý định sử dụng dịch  
vụ Agribank e-mobile banking của khách hàng  
H2  
Chấp nhận  
H3  
Chấp nhận  
H4  
Chấp nhận  
Tính linh hoạt (LH) càng cao sẽ càng gia tăng ý định sử dụng  
dịch vụ Agribank e-mobile banking của khách hàng  
H5  
Chấp nhận  
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát 309 khách hàng Agribank, 2020.  
Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết đã hiệu chỉnh được minh họa qua hình như sau:  
Nhận thức hữu ích  
Chi phí  
H1(+), Beta: 0,172  
H4(-), Beta: -0,157  
H2(+), Beta: 0,1  
Nhận thức dễ sử dụng  
Ý định sử dụng  
Agribank e-  
mobile banking  
H5(+), Beta: 0,426  
Tính linh hoạt  
H3(+), Beta: 0,18  
Chuẩn chủ quan  
Hình 3: Kết quả mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
134  
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG  
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
6. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ  
6.1 Kết luận  
Kết quả nghiên cứu cho thấy đối với khách hàng cá nhân của Agribank tại thành phố Hồ Chí Minh thì ý  
định sử dụng dịch vụ e-mobile banking ảnh hưởng bởi 5 nhân tố chủ yếu, bao gồm (1) tính linh hoạt (LH),  
(2) chuẩn chủ quan (CQ), (3) nhận thức hữu ích (HI), (4) nhận thức tính dễ sử dụng (SD) và (5) nhân tố chi  
phí (CP).  
Với mô hình và kết quả của nghiên cứu này, tác giả cũng như các nhà nghiên cứu có thể sử dụng như một  
nguồn tài liệu tham khảo để nghiên cứu ý định sử dụng dịch vụ e-mobile banking của các ngân hàng khác  
trong tương lai. Đồng thời đây cũng là tài liệu tham khảo cho Agribank tại thành phố Hồ Chí Minh sử dụng  
cho việc hoàn thiện dịch vụ nhằm thu hút khách hàng sử dụng e-mobile banking của Agribank nhiều hơn.  
6.2 Hàm ý quản trị  
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, một số hàm ý quản trị được đề xuất cho ngân hàng Agribank tại thành phố  
Hồ Chí Minh liên quan đến từng nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng e-mobile banking của khách hàng  
Agribank như sau:  
Thứ nhất, tính linh hoạt (LH) là một nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng dịch  
vụ e-mobile banking của khác hàng cá nhân Agribank tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngày nay khách hàng  
phổ biến sử dụng thiết bị di động, tính linh hoạt trong sử dụng dịch vụ e-mobile banking tập trung vào việc  
giúp khách hàng có thể giao dịch bất cứ ở đâu và bất kỳ khi nào. Cho nên Agribank tại thành phố Hồ Chí  
Minh cần có những chính sách thúc đẩy khách hàng sử dụng thiết bị di động để tải về phần mềm ứng dụng  
của Agribank cho việc sử dụng e-mobile banking nhiều hơn.  
Thứ hai, về chuẩn chủ quan (CQ) thì người thân, bạn bè, đồng nghiệp và truyền thông đều có ảnh hưởng  
đến ý định sử dụng e-mobile banking của khách hàng cho nên việc quảng bá sử dụng e-mobile banking đến  
những người liên quan cũng rất quan trọng. Agribank tại thành phố Hồ Chí Minh nên lưu ý thu hút khách  
hàng mới thông qua những khách hàng hiện có và những phương tiện truyền thông thích hợp, tập trung nêu  
bật khách hàng thoả mãn với dịch vụ, cảm nhận về tính linh hoạt, sự hữu ích, việc dễ sử dụng cũng như chi  
phí hiệu quả trong việc sử dụng e-mobile banking của Agribank.  
Thứ ba, về nhận thức hữu ích (HI), hiện tại Agribank cũng như nhiều ngân hàng khác ở Việt Nam đã phát  
triển hệ thống e-moblie banking, có sự gia tăng số lượng số người sử dụng dịch vụ này. Tuy nhiên, theo dữ  
liệu thứ cấp và thông tin phản hồi của người trả lời trong quá trình khảo sát cho nghiên cứu này thì thực tế  
nhận thức của khách hàng về hữu ích của e-mobile banking vẫn còn hạn chế. Cho nên, Agribank tại thành  
phố Hồ Chí Minh nên tăng cường thực hiện những chương trình quảng bá, hướng dẫn khách hàng của  
Agribank về hữu ích khi sử dụng e-mobile banking nhằm tăng nhận thức về hữu ích và thu hút thêm khách  
hàng mới sử dụng e-mobile banking của Agribank tại thành phố Hồ Chí Minh.  
Thứ tư, nhận thức tính dễ sử dụng (SD) là nhân tố có mức độ ảnh hưởng thứ tư và tác động tích cực đối với  
ý định sử dụng dịch vụ e-mobile banking của Agribank. Cho nên Agribank tại thành phố Hồ Chí Minh cần  
có những những thay đổi nhằm cải thiện, nâng cao tính dễ sử dụng như: giao diện ứng dụng cần thiết kế  
thân thiện, dễ hiểu và dễ sử dụng đối với người dùng, kể cả người dùng không thành thạo về công nghệ cho  
tất cả các loại điện thoại thông minh. Mặt khác, cần có các video, các file hướng dẫn sử dụng được đăng tải  
trên website của ngân hàng hay hướng dẫn trực tiếp tại quầy giao dịch khi khách hàng đăng ký sử dụng dịch  
vụ e-mobile banking để khách hàng có thể trực tiếp tìm hiểu về dịch vụ một cách nhanh chóng và thuận tiện  
nhất. Đồng thời ngân hàng bố trí bộ phận hỗ trợ trực tuyến 24/7 có thể hướng dẫn khách hàng sử dụng e-  
mobile banking khi khách hàng gặp vấn đề thao tác thực hiện giao dịch.  
Thứ năm, về chi phí (CP), nhân tố này tác động trái chiều với ý định sử dụng e-mobile banking. Vấn đề này  
cũng phù hợp với qui luật kinh tế về cung cầu và giá cả thị trường, nếu chi phí càng cao thì càng hạn chế  
việc thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ. Tuy nhiên, theo xu hướng phát triển sử dụng thiết bị di động ở  
Việt Nam thì việc sử dụng điện thoại thông minh, thiết bị di động ngày càng phổ biến đã đang trở thành yếu  
tố thuận lợi cho việc thu hút khách hàng mới dùng e-mobile banking mà không phải tốn kém thêm nhiều chi  
phí cho việc trang bị thiết bị mới. Đồng thời, việc phổ biến dùng internet hay kết nối Wifi, mạng 4G, 5G sẽ  
là điều kiện thuận tiện cho khách hàng không cảm thấy tốn kém thêm tiền để thực hiện dịch vụ e-mobile  
banking. Chỉ còn vấn đề về chi phí dịch vụ khi đăng ký sử dụng và duy trì sử dụng e-mobile banking của  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG  
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
135  
ngân hàng và phí phải trả cho mỗi lần giao dịch trở thành yếu tố cần lưu ý. Agribank tại thành phố Hồ Chí  
Minh nên có chính sách thu phí phù hợp, cạnh tranh hơn trên thị trường để thu hút ngày càng nhiều khách  
hàng dùng e-mobile banking của Agribank.  
Trên đây là hàm ý quản trị dựa trên những những nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng e-mobile banking  
của Agribank tại thành phố Hồ Chí Minh đã được kiểm định dựa trên nghiên cứu khảo sát với 309 khách  
hàng của Agribank tại thành phố Hồ Chí Minh.  
6.3 Các đóng góp của nghiên cứu  
Kết quả nghiên cứu giúp ngân hàng Agribank tại thành phồ Hồ Chí Minh nhận diện được các nhân tố tác  
động nhiều hoặc ít đến ý định sử dụng dịch vụ e-mobile banking của khách hàng Agribank tại thành phố Hồ  
Chí Minh. Đây là căn cứ giúp ngân hàng xây dựng các chính sách, chiến lược marketing để thu hút khách  
hàng tiềm năng. Mặt khác, kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung tài liệu phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và  
học tập cho giảng viên, sinh viên thuộc các chuyên ngành liên quan như ngân hàng, marketing, quản trị kinh  
doanh.  
6.4 Hạn chế và định hướng nghiên cứu tiếp theo  
6.4.1 Hạn chế  
Nghiên cứu này vẫn còn một số hạn chế như: phạm vi nghiên cứu chỉ thực hiện lấy mẫu nghiên cứu tại thành  
phố Hồ Chí Minh nên kết quả nghiên cứu chưa thể khái quát cho Agribank trên toàn nước Việt Nam. Đồng  
thời, mô hình nghiên cứu chỉ mới tập trung xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ e-  
mobile banking của khách hàng cá nhân nhưng chưa đề cập đến hành vi quyết định sử dụng Agribank e-  
mobile banking của khách hàng cá nhân.  
6.4.2 Định hướng nghiên cứu tiếp theo  
Từ những hạn chế trên, tác giả đề xuất một số hướng nghiên cứu cho những nghiên cứu tiếp theo như: mở  
rộng phạm vi thu thập số liệu ở tỉnh, thành phố khác của Việt Nam, đồng thời bổ sung nghiên cứu mối quan  
hệ giữa ý định và hành vi sử dụng thật sự của khách hàng cá nhân đối với e-mobile banking của Agribank.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]  
L. Anh, "Người Việt vẫn ngại thanh toán qua mạng." [Online]. Available: https://nld.com.vn/kinh-te/nguoi-  
[2]  
P. V. Lưu, "Phát triển hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam hiện nay." [Online]. Available:  
[3]  
X. P. Nguyễn. "Quyết định 241/QĐ-TTg Phê duyệt đề án đẩy mạnh thanh toán qua ngân hàng đối với các  
dịch vụ công: thuế, điện ,nước, học phí, viện phí và chi trả các chương trình an sinh xã hội."  
T. K. N. Nguyễn. "Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt các dịch vụ công qua ngân hàng thương mại."  
thuong-mai.htm (accessed 07/04/2020).  
[4]  
[5]  
Agribank. "Agribank E-Mobile Banking thay “áo mới”: Giao diện đẹp tinh tế và tập trung trải nghiệm người  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
         
136  
[6]  
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG  
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
K. Nguyễn. "Agribank - Top 10 Doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2019." http://congly.vn/kinh-  
23/01/2020, 2020).  
[7]  
T. Phong. "Agribank ra mắt ứng dụng Agribank E-Mobile Banking." https://www.tienphong.vn/kinh-te-  
2020).  
[8]  
Agribank. "Agribank e-mobile banking." http://www.agribankemobilebanking.vn/ (accessed 23/01/2020,  
2020).  
[9]  
T. Đ. Bảo, "Ngân hàng điện tử và các phương tiện giao dịch điện tử," Tạp chí tin học ngân hàng, p. Số  
4(58), 2003.  
[10]  
T. H. Ngân and N. M. Hải, "E-BANKING SERVICES IN VIETNAM," Journal of Economic Development,  
pp. 06-07, 2019.  
[11]  
[12]  
J. Patrick, "The Internet: redefining banking," The Australian banker, pp. Số 3, 110-111, 1998.  
T. T. T. Phương, "Vài nét về ứng dụng Mobile Banking tại các ngân hàng Việt Nam," in Ngân hàng nhà  
nước Việt Nam, ed, 2012.  
[13]  
Vietcombank, "Quy định sử dụng dịch vụ Mobile banking," in Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam,  
ed, 2014.  
[14]  
[15]  
Eximbank, "Dịch vụ Mobile Banking," in Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam, ed, 2015.  
I. Ajzen, "The theory of planned behavior," Organizational Behavior and Human Decision Processes, vol.  
50, pp. 179-211, 1991.  
[16]  
[17]  
[18]  
[19]  
[20]  
[21]  
[22]  
M. Fishbein and I. Ajzen, "Belief, attitude, intention, and behavior: An introduction to theory and research,"  
1977.  
L. Zhang, J. Zhu, and Q. Liu, "A meta-analysis of mobile commerce adoption and the moderating effect of  
culture," Computers in Human Behavior, vol. 28, no. 5, pp. 1902-1911, 2012.  
C. Kim, M. Mirusmonov, and I. Lee, "An empirical examination of factors influencing the intention to use  
mobile payment," Computers in Human Behavior, vol. 26, no. 3, pp. 310-322, 2010.  
N. Đ. Y. Oanh and P. T. B. Uyên, "Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ thương mại di động  
của người tiêu dùng tỉnh An Giang," 2016.  
F. D. Davis, R. P. Bagozzi, and P. R. Warshaw, "User acceptance of computer technology: a comparison of  
two theoretical models," Management science, vol. 35, no. 8, pp. 982-1003, 1989.  
T. Faziharudean and T. Li-Ly, "Consumers' behavioral intentions to use mobile data services in Malaysia,"  
African journal of business management, vol. 5, no. 5, p. 1811, 2011.  
A. Y.-L. Chong, F. T. Chan, and K.-B. Ooi, "Predicting consumer decisions to adopt mobile commerce:  
Cross country empirical examination between China and Malaysia," Decision support systems, vol. 53, no.  
1, pp. 34-43, 2012.  
[23]  
[24]  
F. D. Davis, "Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of information technology,"  
MIS quarterly, pp. 319-340, 1989.  
C. M. Jackson, S. Chow, and R. A. Leitch, "Toward an understanding of the behavioral intention to use an  
information system," Decision sciences, vol. 28, no. 2, pp. 357-389, 1997.  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
                                 
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG  
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
137  
[25]  
[26]  
[27]  
[28]  
[29]  
[30]  
V. Venkatesh and F. D. Davis, "A theoretical extension of the technology acceptance model: Four  
longitudinal field studies," Management science, vol. 46, no. 2, pp. 186-204, 2000.  
Y. S. Wang, Y. M. Wang, H. H. Lin, and T. I. Tang, "Determinants of user acceptance of Internet banking:  
an empirical study," International journal of service industry management, 2003.  
S. K. Chitungo and S. Munongo, "Extending the technology acceptance model to mobile banking adoption  
in rural Zimbabwe," Journal of Business Administration and Education, vol. 3, no. 1, 2013.  
G. Mortimer, L. Neale, S. F. E. Hasan, and B. Dunphy, "Investigating the factors influencing the adoption of  
m-banking: a cross cultural study," International Journal of Bank Marketing, 2015.  
M. H. Koksal, "The intentions of Lebanese consumers to adopt mobile banking," International Journal of  
Bank Marketing, 2016.  
H. Dai and P. C. Palvi, "Mobile commerce adoption in China and the United States: a cross-cultural study,"  
ACM SIGMIS Database: the DATABASE for Advances in Information Systems, vol. 40, no. 4, pp. 43-61,  
2009.  
[31]  
[32]  
[33]  
[34]  
[35]  
[36]  
J. Sripalawat, M. Thongmak, and A. Ngramyarn, "M-banking in metropolitan Bangkok and a comparison  
with other countries," Journal of computer information systems, vol. 51, no. 3, pp. 67-76, 2011.  
W. C. Poon, "Users' adoption of e‐ banking services: the Malaysian perspective," Journal of Business &  
Industrial Marketing, 2008.  
S. Dasgupta, R. Paul, and S. Fuloria, "Factors affecting behavioral intentions towards mobile banking usage:  
Empirical evidence from India," Romanian journal of marketing, no. 1, p. 6, 2011.  
Y. S. Wang, H. H. Lin, and P. Luarn, "Predicting consumer intention to use mobile service," Information  
systems journal, vol. 16, no. 2, pp. 157-179, 2006.  
N. K. Agarwal, Z. Wang, Y. Xu, and D. C. Poo, "Factors affecting 3G adoption: An empirical study,"  
PACIS 2007 Proceedings, p. 3, 2007.  
A. Y.-L. Chong, N. Darmawan, K.-B. Ooi, and B. Lin, "Adoption of 3G services among Malaysian  
consumers: an empirical analysis," International Journal of Mobile Communications, vol. 8, no. 2, pp. 129-  
149, 2010.  
[37]  
[38]  
Z. Kalinic and V. Marinkovic, "Determinants of users’ intention to adopt m-commerce: an empirical  
analysis," Information Systems and e-Business Management, vol. 14, no. 2, pp. 367-387, 2016.  
N. Mallat, M. Rossi, V. K. Tuunainen, and A. Öörni, "The impact of use context on mobile services  
acceptance: The case of mobile ticketing," Information & management, vol. 46, no. 3, pp. 190-195, 2009.  
E. Park and K. J. Kim, "User acceptance of long‐ term evolution (LTE) services," Program, 2013.  
P. Luarn and H.-H. Lin, "Toward an understanding of the behavioral intention to use mobile banking,"  
Computers in Human Behavior, vol. 21, no. 6, pp. 873-891, 2005.  
[39]  
[40]  
[41]  
[42]  
[43]  
[44]  
B.-K. Jeong and T. E. Yoon, "An empirical investigation on consumer acceptance of mobile banking  
services," Business and Management Research, vol. 2, no. 1, pp. 31-40, 2013.  
H. Q. Cường, "Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ mua hàng điện tử qua mạng,"  
Luận văn Thạc sĩ-Quản trị kinh doanh-Trường Đại học Bách Khoa TP. HCM, 2010.  
J. F. Hair, W. C. Black, B. J. Babin, and R. E. Anderson, Multivariate data analysis: Pearson new  
international edition. Pearson Higher Ed, 2013.  
J. C. Nunnally, Psychometric Theory: 2d Ed. McGraw-Hill, 1978.  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
                                 
138  
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG SỬ DỤNG  
DỊCH VỤ AGRIBANK E-MOBILE BANKING TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
[45]  
[46]  
[47]  
[48]  
R. A. Peterson, "A meta-analysis of Cronbach's coefficient alpha," Journal of consumer research, vol. 21,  
no. 2, pp. 381-391, 1994.  
S. F. Slater, "Issues in conducting marketing strategy research," Journal of strategic Marketing, vol. 3, no.  
4, pp. 257-270, 1995.  
J. Hair, B. Black, B. Babin, and R. Anderson, "Multivariate Data Analysis 7th Pearson Prentice Hall,"  
Upper Saddle River, NJ, 2010.  
J. C. Anderson and D. W. Gerbing, "Structural equation modeling in practice: A review and recommended  
two-step approach," Psychological bulletin, vol. 103, no. 3, p. 411, 1988.  
Ngày nhận bài: 24/01/2020  
Ngày chấp nhận đăng: 17/06/2020  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
   
pdf 16 trang Thùy Anh 13480 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định của khách hàng sử dụng dịch vụ Agribank e-mobile banking tại thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_nhan_to_anh_huong_den_y_dinh_cua_khach_hang_su_dung_dich.pdf