Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong giải quyết tranh chấp thương mại tại tòa án - Thực tiễn và khuyến nghị

CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ TRONG GIẢI  
QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN- THỰC TIỄN VÀ  
KHUYẾN NGHỊ  
Lý Văn Toán, Lữ Cẩm Nhung1  
Tóm tắt, Bài viết này tác giả tập trung phân tích những quy định pháp luật về công  
nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án  
nêu lên những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật và đưa ra những  
giải pháp mang tính hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.  
Từ khóa:Tranh chấp thương mại, khó khăn, vướng mắc, hoàn thiện pháp luật…  
1. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC  
ĐƯƠNG SỰ TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TÒA  
ÁN  
Hiện nay, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sau đây gọi tắt là BLTTDS năm 2015) quy  
định về thủ tục công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong giai đoạn xét xử sơ  
thẩm khá chi tiết, trước tiên Tòa án sẽ phải tiến hành thủ tục hòa giải theo quy định của  
pháp luật. Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 205 (Nguyên tắc tiến hành hòa giải)  
BLTTDS năm 2015: “Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành  
hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án  
không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều  
207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn”. Theo đó, ở giai  
đoạn xét xử sơ thẩm sau khi có thông báo thụ lý vụ án thì Tòa án sẽ tiến hành các thủ  
tục liên quan đến việc hòa giải các tranh chấp kinh doanh thương mại rồi mới xem xét  
đến việc có quyết định đưa vụ án ra xét xử hay không. Cụ thể, sau khi thụ lý vụ án,  
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án dân sự sẽ thông báo cho các đương sự,  
người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của  
1
Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang  
425  
đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp cuối  
cùng của việc thỏa thuận giữa các đương sự cũng như công nhận sự thỏa thuận.  
Về trình tự thực hiện phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và  
hòa giải được quy định chi tiết tại Điều 210 BLTTDS năm 2015, các trình tự và thủ tục  
được thực hiện tương tự như một phiên tòa nhưng với thủ tục rút gọn hơn, vẫn đảm bảo  
được sự giám sát chặt chẽ, đầy đủ của các bên liên quan đồng thời có cơ sở chắc chắn  
cho việc đánh giá quá trình giải quyết để ra quyết định thỏa thuận (thành hay không  
thành) của các đương sự là có căn cứ và hợp pháp. Theo đó, quá trình tiến hành phiên  
họp phải được ghi nhận lại trong Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,  
công khai chứng cứ và hòa giải với nội dung chi tiết quy định tại Điều 211 BLTTDS  
năm 2015.  
Sau cùng, khi thực hiện tất cả những thủ tục nêu trên, kết quả công việc hòa giải sẽ được  
thể hiện bằng việc hòa giải thành hoặc không thành. Quá trình giải quyết này phải cân  
nhắc tới các yếu tố khác như không được hòa giải và không tiến hành hòa giải được.  
Nếu vụ án dân sự thuộc vào nhóm được tiến hành hòa giải và việc hòa giải thành thì  
Tòa án sẽ căn cứ Điều 212 BLTTDS 2015 để ra quyết định công nhận sự thỏa thuận  
của đương sự còn trong trường hợp việc hòa giải không thành, Thẩm phán sẽ tiếp tục  
tiến hành các thủ tục khác để đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.  
Về nguyên tắc Tòa án khi tiến hành hòa giải tranh chấp kinh doanh thương mại phải  
đảm bảo nguyên tắc thỏa thuận xuất phát từ ý chí tự nguyện của các đương sự, không  
vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.  
Bên cạnh đó, việc tiến hành thủ tục để công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong giải  
quyết tranh chấp thương mại không chỉ được Tòa án tiến hành đúng trình tự, thủ tục  
mà pháp luật quy định nội dung của thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật và  
không trái đạo đức xã hội. Hiểu một cách ngắn gọn, việc tuân thủ luật pháp là yêu cầu  
bắt buộc phải thực hiện bởi luật pháp là những quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban  
hành và bảo đảm thực hiện cùng với phạm trù đạo đức xã hội trong quy định này cũng  
có thể được hiểu là chuẩn mực ứng xử chung giữa các cá nhân trong xã hội với nhau,  
được công nhận và tôn trọng. Rất có thể, có những chuẩn mực đạo đức là những phạm  
trù nằm ngoài những gì pháp luật đang quy định nhưng có vai trò quan trọng trong việc  
bổ trợ cho vai trò quản lý và giám sát những quan hệ xã hội có liên quan nên việc phải  
tuân thủ luật pháp cũng như đạo đức xã hội là một quy định cần được thực hiện nghiêm  
ngặt.  
426  
Về hiệu lực của Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự: Khi các bên đương  
sự đã tìm được tiếng nói chung và thống nhất được phương pháp giải quyết vụ án dân  
sự trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, không vi phạm điều cấm của luật cũng như đạo đức  
xã hội thì khi đó, căn cứ Điều 213 (Hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận  
của các đương sự) BLTTDS năm 2015, quyết định này sẽ có hiệu lực pháp luật ngay  
sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Có  
thể lý giải việc quy định như này có cơ sở bởi lẽ trong suốt quá trình xem xét giải quyết,  
các bên liên quan đã trao đổi và hiểu được ý định, tâm tư nguyện vọng của nhau cũng  
như thiện chí giải quyết trên tinh thần tự nguyện. Hơn nữa, trước khi Tòa án ra quyết  
định công nhận, các bên đương sự cũng có quãng thời gian 07 ngày (khoản 1 Điều 212  
BLTTDS năm 2015) để suy nghĩ và cân nhắc lại những nội dung đã cam kết, thống nhất  
trước đó. Mặt khác, trong suốt quá trình giải quyết có thể nhận định rằng, cơ chế giám  
sát của đại diện các bên liên quan cũng được thực hiện, quy định khá tỉ mỉ. Vì thế, việc  
để quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự có hiệu lực ngay theo nhà làm luật  
là một quy định phù hợp. Tuy nhiên, điều ấy không có nghĩa là mọi quyết định công  
nhận đều được thực hiện đúng. Để phòng trường hợp có sai lầm hay vi phạm xảy ra  
trong quá trình xem xét thỏa thuận, khoản 2 Điều 213 BLTTDS năm 2015 quy định  
quyết định này chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho  
rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều  
cấm của luật, trái đạo đức xã hội.  
2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC  
ĐƯƠNG SỰ TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TÒA  
ÁN  
Những kết quả đạt được:Trong giai đoạn 2016 đến 2020 kết quả công nhận sự thỏa  
thuận của các đương sự trong giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án như sau:  
427  
Bảng số liệu công nhận sự thỏa thuận của các đương sự giai đoạn 2016-2020  
Tòa án nhân dân tỉnh  
Tòa án nhân dân cấp huyện  
Năm  
Thụ  
Giải  
Công nhận sự thỏa  
thuận  
Giải  
Công nhận sự thỏa  
Thụ lý  
lý  
quyết  
quyết  
thuận  
3524  
3210  
2420  
2707  
3216  
2016 1317 824  
2017 1265 492  
2018 1380 434  
2019 1169 1161  
2020 1618 1140  
45  
39  
41  
34  
39  
14705 12598  
14181 9572  
14128 7177  
16287 10108  
15894 12611  
Nhận xét: Qua bảng số liệu trên có thể thấy số vụ án kinh doanh thương mại hòa giải  
thành và ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự ở Tòa án nhân dân  
cấp tỉnh và cấp huyện tăng giảm không đồng đều giữa các năm, nhưng tỷ lệ công nhận  
hoà giải thành ở Toà án nhân dân cấp huyện luôn cao hơn Toà án nhân dân cấp tỉnh.  
428  
Kết quả này phần nào phản ánh hiệu quả của công tác hoà giải tại các Toà án cấp huyện  
và tỉnh, qua đây có thể thấy được những kết quả và những khó khăn trong quá trình  
công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong giải quyết tranh chấp thương mại tại  
Tòa án.  
Thứ nhất, theo quy định tại khoản 3 Điều 209 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy  
định:“3. Trong vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương  
sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh  
hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên họp  
giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất  
cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên họp. Thẩm phán phải thông  
báo việc hoãn phiên họp và việc mở lại phiên họp cho đương sự.”và tại khoản 3 Điều  
212 BLTTDS 2015 quy định:“3. Trong trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 210 của  
Bộ luật này mà các đương sự có mặt thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án  
thì thỏa thuận đó chỉ có giá trị đối với những người có mặt và được Thẩm phán ra quyết  
định công nhận nếu không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt.  
Trường hợp thỏa thuận của họ có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng  
mặt thì thỏa thuận này chỉ có giá trị và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu  
được đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải đồng ý bằng văn bản.”Như vậy, theo các  
quy định nêu trên thì trường hợp vụ án có nhiều đương sự mà tại phiên họp kiểm tra  
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mà có đương sự vắng mặt nhưng  
các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành hòa giải mà thỏa thuận của họ có ảnh hưởng  
đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì thỏa thuận này chỉ có giá trị và được  
Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu được đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải  
đồng ý bằng văn bản.Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong trường  
hợp có đương sự vắng mặt khi Tòa án tiến hành hòa giải đã được BLTTDS năm 2015  
quy định. Tuy nhiên, việc đương sự vắng mặt đồng ý bằng văn bản, thời hạn ra quyết  
định công nhận thỏa thuận của các đương sự trong trường hợp này như thế nào lại chưa  
được BLTTDS năm 2015 quy định, dẫn đến có các cách hiểu và áp dụng khác nhau. Do  
đó, rất cần có hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về cách  
thức lấy ý kiến của đương sự vắng mặt và thời hạn ra quyết định công nhận sự thỏa  
thuận của các đương sự trong trường hợp này. Theo quy định tại khoản 3 Điều 17 Nghị  
quyết số 05/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn:  
“… Nếu trong vụ án có nhiều quan hệ pháp luật mà quan hệ pháp luật này liên quan  
đến đương sự này, quan hệ pháp luật kia liên quan đến đương sự khác và việc giải quyết  
429  
quan hệ pháp luật đó chỉ liên quan đến các đương sự có mặt, không liên quan đến các  
đương sự vắng mặt, thì Thẩm phán tiến hành hòa giải những vấn đề có liên quan đến  
các đương sự có mặt.  
Trường hợp nêu trên mà các đương sự có mặt thỏa thuận được với nhau về việc giải  
quyết vụ án, thì thỏa thuận đó chỉ có giá trị đối với những người có mặt và được Thẩm  
phán ra quyết định công nhận nếu không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự  
vắng mặt. Trường hợp thỏa thuận của họ có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương  
sự vắng mặt, thì thỏa thuận này chỉ có giá trị nếu đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải  
đồng ý bằng văn bản.  
Trường hợp trước khi tiến hành hòa giải đương sự vắng mặt đã có ý kiến bằng văn bản  
nhưng sau khi kết thúc phiên hòa giải, nội dung hòa giải của các đương sự có mặt khác  
với nội dung văn bản thể hiện ý chí của đương sự vắng mặt, thì Tòa án phải lấy ý kiến  
bằng văn bản của đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải về thỏa thuận của các đương sự  
tại phiên hòa giải. Thủ tục và thời hạn lấy ý kiến bằng văn bản của đương sự được thực  
hiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Trường hợp đương sự đồng ý với kết  
quả hòa giải thì ngày nhận được ý kiến bằng văn bản của đương sự vắng mặt tại phiên  
hòa giải được xác định là ngày các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải  
giải quyết trong vụ án.”. Tuy nhiên, vấn đề lấy ý kiến của các đương sự ở nước ngoài  
vắng mặt thì hiện nay pháp luật tố tụng dân sự hiện hành không có hướng dẫn cụ thể  
dẫn đến gây khó khăn cho quá trình áp dụng pháp luật.  
Thứ hai, Về hiệu lực của Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự  
Theo quy định tại khoản 1 Điều 213 BLTTDS năm 2015thì quy định Quyết định công  
nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành  
và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm vấn đề đặt ra là hiện nay nên  
chăng quy định cho phép kháng cáo theo trình tự phúc thẩm đối với quyết định công  
nhận sự thỏa thuận của các đương sự.  
Hiện nay, vấn đề hòa giải và công nhận sự thỏa thuận cũng được nhiều quốc gia trên  
thế giới quan tâm, chẳng hạn như hệ thống pháp luật của Nga cụ thể là tại Bộ luật tố  
tụng dân sự của Liên bang Nga năm 2002 quy định về nguyên tắc bản án có hiệu lực  
pháp luật nếu không bị kháng cáo trong thời hạn kháng cáo theo thủ tục chống án hoặc  
phúc thẩm. Trong trường có kháng cáo theo thủ tục chống án, thì bản án của Thẩm phán  
hòa giải có hiệu lực pháp luật sau khi Tòa án quận giải quyết kháng cáo đó, nếu bản án  
430  
bị kháng cáo không bị hủy. Nếu Tòa án quận hủy bỏ hoặc thay đổi bản án của Thẩm  
phán hòa giải và ra bản án mới bản án này có hiệu lực tức thì.  
Có thể nói, thẩm quyền hoà giải trong vụ án kinh doanh thương mại đã được quy định  
cụ thể, phạm vi rộng, tạo điều kiện cho việc giải quyết nhanh chóng các tranh chấp  
thương mại trên cơ sở tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự. Tuy nhiên, theo Điều  
209 Bộ luật tố tụng dân sự của Liên bang Nga, các bản án của Thẩm phán hoà giải vẫn  
bị kháng cáo. Trong trường hợp có kháng cáo mà bản án của Thẩm phán hoà giải không  
bị Toà án quận hủy thì bản án của Thẩm phán hoà giải đó có hiệu lực ngay sau khi Toà  
án quận giải quyết kháng cáo. Như vậy, bản án của Thẩm phán hòa giải vẫn bị kháng  
cáo. Pháp luật Việt Nam nên chăng kế thừa những điểm hợp lý như để đảm bảo hai yếu  
tố cốt lõi là quyền bình đẳng giữa đương sự và tính tự quyết trong thỏa thuận, nên cho  
phép trong trường hợp các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án thì  
Thẩm phán lập biên bản hòa giải thành, biên bản ghi đầy đủ những thỏa thuận của các  
bên đương sự và đồng thời ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự. Xuất  
phát điểm từ yếu tố quyền bình đẳng tự nguyện tự thỏa thuận của các đương sự, mặt  
khác qua thực tiển xét xử, cũng cho thấy rằng rất ít trường hợp các bên thay đổi ý kiến  
khi đã thỏa thuận được với nhau, nên cần phải lập biên bản hòa giải thành và Quyết  
định công nhận sự thỏa thuận của đương sự là hoàn toàn hợp lý. Do đó, pháp luật Việt  
Nam nên chăng cũng tạo điều kiện cho phép kháng cáo, kháng nghị đối với Quyết định  
công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo thủ tục phúc thẩm, để các bên đương  
sự có quyền kháng cáo, đảm bảo chính xác nhất quyền, lợi ích hợp pháp của mình và  
bảo đảm nguyên tắc hai cấp xét xử.  
Thứ ba, Ngoài ra, BLTTDS năm 2015 chỉ cho phép kháng nghị theo thủ tục giám đốc  
thẩm Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu có căn cứ cho rằng sự  
thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của  
luật, trái đạo đức xã hội. Mà không hề quy định cho phép kháng nghị theo thủ tục tái  
thẩm do đó cần phải nghiên cứu bổ sung cho phù hợp.  
3. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT  
Từ những vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật tác giả kiến nghị TANDTC nên  
ban hành văn bản hướng dẫn như sau:  
Thứ nhất, Theo quy định hiện nay thì Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các  
đương sự không bị kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm mà chỉ bị kháng nghị theo thủ tục  
431  
giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó có sự cưỡng ép, đe dọa hoặc  
do nhầm lẫn. Do đó, tác giả kiến nghị trong trường hợp các đương sự thỏa thuận với  
nhau về việc giải quyết vụ án thì Thẩm phán lập biên bản hòa giải thành, biên bản ghi  
đầy đủ những thỏa thuận của các bên đương sự và đồng thời ra Quyết định công nhận  
sự thỏa thuận của đương sự ngay mà không cần thiết phải chờ 07 ngày và cần mở rộng  
ra thẩm quyền cho phép kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định công nhận sự thỏa  
thuận của các đương sự theo thủ tục phúc thẩm như vậy sẽ hợp lý hơn và nhằm bảo đảm  
hai cấp xét xử.  
Thứ hai, Bổ sung quy định cho phép kháng nghị theo thủ tục tái thẩm thẩm đối với  
Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cho phù hợp với các quy định  
liên quan về thủ tục tái thẩm và thực tế xét xử.  
Thứ ba, Tác giả kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao nên ban hành văn bản hướng dẫn  
khoản 3 Điều 212 BLTTDS năm 2015 theo hướng Tòa án ra quyết định công nhận sự  
thỏa thuận của các đương sự trong trường hợp này là ngày các đương sự thỏa thuận  
được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án mà không có đương sự nào thay  
đổi ý kiến về sự thỏa thuận.  
Đối với trường hợp đương sự vắng mặt ở nước ngoài thì thời hạn lấy ý kiến của đương  
sự vắng mặt được thực hiện theo thủ tục ủy thác tư pháp sẽ đảm bảo quyền và lợi ích  
hợp pháp của đương sự vắng mặt. Có thể áp dụng Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP  
ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần hướng dẫn  
khoản 3 Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 theo hướng, ngày Tòa án ra quyết  
định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong trường hợp là ngày nhận được ý  
kiến đồng ý bằng văn bản của đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải.  
432  
433  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
A. Văn bản pháp luật  
1. Bộ luật tố tụng dân sự (Luật số 24/2004/QH11) ngày 15/6/2004.  
2. Bộ luật Dân sự (Luật số 33/2005/QH11) ngày 14/6/2005.  
3. Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật tố tụng dân sự (Luật số 65/2011/QH12)  
ngày 29/3/2011.  
4. Bộ luật Dân sự (Luật số 91/2015/QH13) ngày 24/11/2015.  
5. Bộ luật tố tụng dân sự (Luật số 92/2015/QH13) ngày 25/11/2015.  
6. Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 hướng dẫn thi hành một số quy  
định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân  
sự đã được sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật tố tụng dân sự.  
B. Tài liệu tham khảo  
7. Bùi Thị Huyền (2007), “Về sự thỏa thuận của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm dân  
sự”, Tạp chí luật học,(08), tr.23-29  
8. Bùi Thị Huyền (2016), “Điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về hòa giải  
vụ án dân sự và những nội dung cần hướng dẫn”, Tạp chí Tòa án nhân dân,(08), tr.18-  
19.  
9. Nguyễn Thị Thùy Linh (2018), Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố  
tụng dân sự và thực tiễn tại các Tòa án nhân dân của tỉnh Lạng Sơn, Luận văn Thạc sĩ  
Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.  
10. Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình luật luật tố tụng dân sự Việt Nam,  
NXB. Công an nhân dân, Hà Nội.  
11. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật Tố tụng dân  
sự Việt Nam, NXB. Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội.  
434  
12. Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB. Từ điển Bách khoa, NXB.  
Tư pháp.  
435  
pdf 11 trang Thùy Anh 10660 Free
Bạn đang xem tài liệu "Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong giải quyết tranh chấp thương mại tại tòa án - Thực tiễn và khuyến nghị", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcong_nhan_su_thoa_thuan_cua_cac_duong_su_trong_giai_quyet_tr.pdf