Quy định pháp luật về quản trị ngân hàng thương mại Cổ phần (Phần 1)

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG  
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN  
Để đáp ứng nhu cầu về vốn, bên cạnh việc huy động vốn trực tiếp thông qua  
phát hành chứng khoán, các chủ thể có nhu cầu về vốn có thể vay vốn từ các tổ  
chức tín dụng (TCTD)[1]. Do vậy, hoạt động của TCTD ảnh hưởng không nhỏ đến  
sự phát triển của nền kinh tế với tư cách là chủ thể trung gian tài chính[2]. Trong  
các loại hình TCTD thì ngân hàng thương mạicổ phần (NHTMCP) vẫn đóng vai  
trò là chủ thể lớn, quan trọng, cung cấp nguồn vốn dồi dào cho nền kinh tế. Tuy  
nhiên, để các NHTMCP có thể tiếp tục tồn tại, phát triển và cung ứng nguồn vốn  
cho sự phát triển của nền kinh tế trong quá trình hội nhập thì một trong các vấn đề  
cần được quan tâm đó là hoạt động quản trị. Bởi lẽ nếu hoạt động quản trị của  
NHTMCP được quan tâm và thực hiện một cách có hiệu quả sẽ góp phần giúp cho  
NHTMCP có thể tránh được những rủi ro tiềm ẩn trong quá trình hoạt động, giảm  
thiểu tình trạng có nguy cơ hoặc mất khả năng thanh toán, làm ảnh hưởng bất lợi  
cho thị trường tài chính nói riêng và sự phát triển của nền kinh tế[3] Việt Nam nói  
chung.  
1. Nhận diện quản trị ngân hàng thương mại cổ phần  
NHTMCP là ngân hàng thương mại(NHTM) được tổ chức dưới hình thức  
công ty cổ phần[4]. Cho nên, quản trị NHTMCP về cơ bản cũng xuất phát từ hoạt  
động quản trị công ty, nhưng có thêm một vài điểm khác biệt nhất định xuất phát  
từ sự đặc thù của NHTMCP với tư cách là một chủ thể hoạt động trong lĩnh vực tài  
chính.  
Thuật ngữ quản trị công ty xuất phát từ thuật ngữ “corporate governance”.  
Tuy nhiên, thuật ngữ “corporate governance” vẫn còn có nhiều cách hiểu và định  
nghĩa khác nhau[5]. Tại khoản 1 Điều 2 Nghị định 71/2017/NĐ-CP ngày  
06/06/2017 của Chính phủ Hướng dẫn về quản trị công ty áp dụng với công ty đại  
chúng (Nghị định 71/2017/NĐ-CP) xác định: “Quản trị công ty là hệ thống các  
nguyên tắc, bao gồm: a) Đảm bảo cơ cấu quản trị hợp lý; b) Đảm bảo hiệu quả hoạt  
động của Hội đồng quản trị (HĐQT), Ban kiểm soát; c) Đảm bảo quyền lợi của cổ  
đông và những người có liên quan; d) Đảm bảo đối xử công bằng giữa các cổ  
đông; đ) Công khai minh bạch mọi hoạt động của công ty”.  
Do vậy, chúng tôi cho rằng, quản trị NHTMCP là toàn bộ các nguyên tắc  
điều chỉnh mối quan hệ giữa các bộ phận trong cơ cấu tổ chức của NHTMCP, mối  
quan hệ giữa các cổ đông với những người có liên quan đến NHTMCP nhằm thực  
hiện một cách có hiệu quả hoạt động quản lý, điều hành ngân hàng, bảo vệ công  
bằng và hợp lý quyền lợi của các chủ thể liên quan và đảm bảo tính công khai,  
minh bạch trong mọi hoạt động của NHTMCP.  
Với cách hiểu như trên, quản trị NHTMCP sẽ có những đặc điểm sau:  
i) Quản trị NHTMCP phải điều chỉnh cụ thể về cơ cấu tổ chức, quản lý, điều  
hành của NHTMCP nhằm đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả trong hoạt động của  
ngân hàng, đảm bảo quyền quản lý và quyền điều hành có sự tác động, hỗ trợ nhau.  
ii) Quản trị NHTMCP phải đảm bảo cho việc định hướng hoạt động và kiểm  
soát hoạt động ngân hàng của cổ đông.  
iii) Quản trị NHTMCP phải giải quyết hài hòa những xung đột lợi ích trong  
hoạt động của ngân hàng.  
iv) Quản trị NHTMCP phải góp phần đảm bảo sự công khai, minh bạch của  
ngân hàng và nâng cao mức tín nhiệm của người dân, xã hội đối với ngân hàng.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Trường Cao đẳng Ngoại thương, Giáo trình Thị trường Tài chính, Nxb.  
Đà Nẵng, tr. 60.  
[2] “Cuối năm 2017, cung ứng vốn cho nền kinh tế từ hệ thống tài chính ước  
khoảng 198% GDP, tăng 28,6% so với cuối năm 2016. Trong đó, vốn từ hệ thống  
TCTD tăng 18,1%, vốn từ thị trường vốn tăng 66,4% so với cuối năm 2016”; Báo  
cáo Tổng quan thị trường tài chính năm 2017 của Ủy ban Giám sát tài chính quốc  
chinh-2017-2/ truy cập ngày 20/12/2018.  
[3] Lê Thị Thu Thủy, Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quản trị  
NHTMCP;  
thuc-thi-phap-luat-ve-quan-tri-ngan-hang-thuong-mai-co-phan-28169.html,  
cập ngày 26/12/2018.  
truy  
[4] Theo khoản 3, Điều 5 Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16/07/2009 của  
Chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại.  
[5] Andrei Shleifer và Robert W. Vishny cho rằng: “quản trị công ty là mối  
liên hệ giữa rất nhiều chủ thể tham gia vào quá trình định hướng về hoạt động của  
công ty. Trong đó, các cổ đông, ban điều hành và HĐQT là những chủ thể trước  
tiên” [theo Andrei Shleifer and Robert W. Vishny (1997), “A Survey of Corporate  
Governance”, Journal of Finance, Vol 52, No.2, 737-735].  
OECD không đưa ra một định nghĩa rõ ràng, súc tích mà đã mô tả rằng:  
“Quản trị công ty là một yếu tố then chốt để đẩy mạnh hiệu quả thị trường, phát  
triển kinh tế cũng như tăng cường lòng tin của nhà đầu tư. Quản trị công ty liên  
quan tới một tập hợp các mối quan hệ giữa Ban Giám đốc, HĐQT, cổ đông và các  
bên có quyền lợi liên quan khác. Quản trị công ty cũng thiết lập cơ cấu qua đó giúp  
xây dựng mục tiêu của công ty, xác định phương tiện để đạt được các mục tiêu đó,  
và giám sát hiệu quả thực hiện mục tiêu. Quản trị công ty tốt cần tạo được sự  
khuyến khích đối với HĐQT và Ban Giám đốc để thực hiện các mục tiêu vì lợi ích  
công ty và cổ đông, và phải tạo điều kiện giám sát hiệu quả”; xem OECD  
(2004), Các nguyên tắc quản trị công ty của OECD, trang 11 đăng tải  
y cập ngày 21/12/2018.  
[6] Văn bản này đã hết hiệu lực theo quy định của Nghị định số 42 /2018/NĐ-  
CP ngày 12/03/2018 của Chính Phủ về bãi bỏ nghị định trong lĩnh vực ngân hàng.  
[7] Khoản 1 Điều 32 Luật các TCTD năm 2010.  
[8] Trường Đại học Kinh tế Luật (2017), Pháp luật về quản trị công ty niêm  
yết trên TTCK Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh, trang 80.  
[9] Nguyễn Hữu Long, Để hiểu thêm về thành viên độc lập, bài đăng  
lap.html truy cập ngày 22/12/2018.  
[10] Những vụ việc xảy ra gần đây ở rất nhiều NHTMCP có liên quan xuất  
phát từ tính kém hiệu quả của hoạt động kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ như  
vụ việc lên quan đến sai phạm tại Ngân hàng Đông Á của ông Trần Phương Bình,  
các vụ việc liên quan đến Huỳnh Thị Huyền Như của Ngân hàng TMCP Công  
thương Việt Nam…  
[11] Điểm b khoản 1 điều 50 Luật các TCTD năm 2010.  
[12] Kim Yến, Đạo đức nghề nghiệp và những cú “trượt chân” của chủ ngân  
truot-chan-cua-chu-ngan-hang-20150909174103729.chn truy  
23/12/2018.  
cập  
ngày  
[13] Khoản 6 Điều 43 Luật các TCTD năm 2010 và khoản 1 Điều 8 Thông tư  
06/2010/TT-NHNN.  
pdf 4 trang Thùy Anh 7180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quy định pháp luật về quản trị ngân hàng thương mại Cổ phần (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquy_dinh_phap_luat_ve_quan_tri_ngan_hang_thuong_mai_co_phan.pdf