Quyền tự do cư trú của công dân tại Thành phố Hồ Chí Minh: Những bất cập và giải pháp hoàn thiện

CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
QUYỀN TỰ DO CƯ TRÚ CỦA CÔNG DÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH:  
NHỮNG BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN  
Trần Văn Điệp*  
ThS. GV. Trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn.  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Tự do cư trú cũng là một trong những quyền cơ bản của công dân được  
ghi nhận ngay từ Hiến pháp đầu tiên năm 1946, tiếp tục được khẳng  
định trong Hiến pháp năm 2013, được cụ thể hoá trong Luật Cư trú  
năm 2013 và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác ở nước ta. Trên  
cơ sở phân tích các quy định của pháp luật về tự do cư trú và việc thực  
hiện quyền này tại thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đề xuất một số giải  
pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân.  
Từ khóa: Tự do cư trú, quyền  
con người, bảo đảm quyền tự do  
cư trú của công dân.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 29/12/2020  
: 19/01/2021  
: 03/02/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Keywords: Freedomofresidence;  
human rights, ensuring freedom  
of residence; Ho Chi Minh City;  
citizen.  
Freedom of residence is also one of the basic rights of citizens recognized  
right from the first Constitution of 1946 and continues to be affirmed in  
the Constitution of 2013 and concretized in the Law on Residence of  
2013 and in several other legal documents. Upon the analyses of the  
provisions of the law on these rights, the author provides an attention to  
their enforcement to find a solution to improve the legal regulations on  
ensuring the freedom of residence of citizens in the largest residence in  
Vietnam - Ho Chi Minh City.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 29 Dec. 2020  
: 19 Jan. 2021  
: 03 Feb. 2021  
Approved  
1. Việc thực hiện quyền tự do cư trú tại  
thành phố Hồ Chí Minh  
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn  
thứ 2 Việt Nam về diện tích (sau Hà Nội)  
và lớn nhất về dân số1. Theo thống kê  
của Tổng cục Thống kê Việt Nam, tính đến  
ngày 1/4/2019, toàn thành phố có đủ 54  
thành phần dân tộc cùng người nước ngoài  
sinh sống. Nơi đây có dân số đông, nhiều  
người nước ngoài sinh sống; học sinh, sinh  
viên và người lao động tỉnh khác đến sinh  
sống, học tập và cư trú. Vấn đề đang đặt ra  
đối với Thành phố Hồ Chí Minh là làm sao  
để bảo đảm quyền tự do cư trú của công  
dân mà vẫn đảm bảo được trật tự xã hội, trị  
an trên địa bàn thành phố.  
Là một trung tâm kinh tế, văn hóa, xã  
hội phát triển bậc nhất cả nước, thu hút sự  
đầu tư trong và ngoài nước cũng như thu  
hút người dân và người lao động từ các tỉnh  
thành khác sang sinh sống, học tập cũng như  
lao động. Lượng người nhập cư đông sẽ gây  
áp lực lớn cho hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ  
thuật và xã hội, như ùn tắc giao thông, thiếu  
trường học, thiếu bệnh viện, thiếu các công  
trình công cộng, ô nhiễm môi trường, tăng  
giá bất động sản,… Từ đây đặt ra vấn đề về  
quản lý dân cư.  
1 Tổng diện tích 2.096 km² và 8.993.082 người, trong đó: thành thị 7.127.364 người (chiếm 79,25%), nông  
thôn: 1.865.718 người (chiếm 20,75%).  
58  
Số 06(430) - T3/2021  
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
Những năm qua, Thành phố Hồ Chí Minh  
cùng cả nước thực hiện chủ trương quản lý  
dân cư thông qua số định danh cá nhân cập  
nhật từ cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia về  
dân cư để thay thế hình thức quản lý bằng  
sổ hộ khẩu và sổ tạm trú theo hướng quản  
lý nhà nước bằng ứng dụng công nghệ, công  
khai, minh bạch thông tin, giảm phiền hà,  
tiết kiệm chi phí, đơn giản hóa thủ tục hành  
chính (TTHC), giấy tờ…  
định của pháp luật. Các thủ tục, giấy tờ cần  
có trong hồ sơ được quy định tại Luật Cư  
trú năm 2013, Nghị định số 31/2014/NĐ-CP,  
Thông tư số 250/2016/TT-BTC, Thông tư số  
35/2014/TT-BCA; Nghị quyết số 07/2017/  
NQ-HĐND ban hành mức thu lệ phí đăng ký  
cư trú trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh,  
Thông tư số 36/2014/TT-BCA quy định cụ  
thể về biểu mẫu, quy cách, cách ghi và quản  
lý biểu mẫu sử dụng trong đăng ký, quản lý  
cư trú.  
Căn cứ đặc điểm tình hình và công tác thực  
tế về đăng ký, quản lý cư trú của Thành phố  
và trên cơ sở những quy định của pháp luật,  
Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã  
ban hành những văn bản quy định riêng về  
quản lý cư trú trên địa bàn thành phố, gồm:  
- Chỉ thị số 21/2007/CT-UBND ngày  
27/7/2007 của Ủy ban nhân dân Thành phố  
Hồ Chí Minh “Về triển khai thực hiện luật cư  
trú và các quy định của pháp luật về đăng ký  
và quản lý cư trú trên địa bàn thành phố Hồ  
Chí Minh”.  
- Chỉ thị số 02/2009/CT-UBND ngày  
11/01/2009 của Ủy ban nhân dân Thành phố  
Hồ Chí Minh “Về tăng cường quản lý nhà  
nước đối với việc nhập cảnh, cư trú và lao  
động của người nước ngoài trên địa bàn  
Thành phố Hồ Chí Minh”.  
- Quyết định số 10/2013/QĐ-UBND,  
ngày 08/3/2013 của Ủy ban nhân dân Thành  
phố Hồ Chí Minh “Quy định quản lý người  
sau cai nghiện tại nơi cư trú trên địa bàn  
Thành phố Hồ Chí Minh”.  
Sử dụng mã số định danh cá nhân để quản  
lý dân cư thông qua việc cập nhật, kết nối từ  
CSDL quốc gia về dân cư sẽ mang lại những  
lợi ích thiết thực trong việc đơn giản hóa  
TTHC, giảm giấy tờ công dân, giảm những  
chi phí mà hiện nay người dân, doanh nghiệp  
đang phải chi trả; góp phần kết nối, chia sẻ  
thông tin về dân cư giữa các ngành, các lĩnh  
vực của đời sống xã hội, góp phần thúc đẩy  
phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Người  
dân không phải mất thời gian, công sức, chi  
phí liên quan tới sổ hộ khẩu, sổ tạm trú khi  
tham gia các giao dịch hoặc thực hiện các thủ  
tục hành chính có yêu cầu phải xuất trình gây  
tốn kém, lãng phí và Nhà nước không cần  
duy trì các bộ phận quản lý chuyên trách ở  
nhiều cấp để thực hiện các công đoạn quản lý  
liên quan cùng với bộ máy, hạ tầng, chi phí  
tốn kém…  
Tuy nhiên, để thực hiện quản lý dân cư  
thông qua số định danh cá nhân thì cần thiết  
phải hoàn thiện và đưa vào khai thác, sử  
dụng CSDL quốc gia về dân cư. Tuy nhiên,  
việc xây dựng CSDL quốc gia về dân cư hiện  
tiến độ còn hạn chế.  
- Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh  
thông báo quy định về diện tích nhà ở bình  
quân để đăng ký thường trú vào chỗ ở do  
ở nhờ, thuê, mượn của tổ chức, cá nhân tại  
thành phố: Khu vực 1 gồm địa bàn 5 huyện  
(Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh, Cần Giờ,  
Nhà Bè) có diện tích nhà ở bình quân là  
10m2/người. Khu vực 2 gồm 19 quận còn  
Nhằm quản lý và kiểm soát nhập cư ồ  
ạt của công dân, đảm bảo quỹ đất tại thành  
phố, thực hiện tốt công tác quản lý dân cư,  
pháp luật quy định những điều kiện nhất định  
để đăng ký hộ khẩu thường trú tại thành phố  
Hồ Chí Minh. Thành phố đã thực thi quyền  
đăng ký thường trú, tạm trú theo quy định  
của Luật Cư trú tương đối tốt, đúng theo quy  
Số 06(430) - T3/2021  
59  
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
lại có diện tích nhà ở bình quân là 19,8m2/  
không có hộ khẩu tại địa phương đó. Tác giả  
đồng tình với quan điểm, phải dùng hộ khẩu  
để quản lý nhân khẩu, nhưng cần xác định đây  
chỉ là nghiệp vụ của ngành công an. Nhiều  
ngành, nhiều nơi đang lợi dụng hộ khẩu như  
một điều kiện và đã đẩy hộ khẩu vượt ra mục  
đích quản lý con người mà ngành công an  
đặt ra “… Sổ hộ khẩu có giá trị xác định nơi  
thường trú của công dân”3.  
người2.  
Mặc dù Luật Cư trú đã được sửa đổi, bổ  
sung năm 2013 và những quy định mới của  
pháp luật về lĩnh vực cư trú đã góp phần giải  
quyết những vướng mắc phát sinh liên quan  
đến chỗ ở của công dân và việc quản lý nhân  
khẩu của cơ quan nhà nước, ngăn ngừa việc  
lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế  
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân... Tuy  
nhiên, thực tiễn thi hành cho thấy, một số nội  
dung cụ thể của pháp luật về cư trú vẫn còn  
vướng mắc, bất cập cả dưới góc độ lý luận  
và thực tiễn, dẫn đến việc tổ chức thực hiện  
chức năng quản lý nhà nước về cư trú thiếu  
thống nhất, hiệu quả đạt được chưa cao.  
Thứ hai, chưa rõ ràng trong sự phân biệt  
về điều kiện đối với công dân ngoại tỉnh với  
công dân ở ngoại thành.  
Khoản 1 Điều 20 Luật Cư trú quy định,  
nếu công dân: “Có chỗ ở hợp pháp và đã  
tạm trú liên tục tại thành phố đó từ một năm  
trở lên”. Điểm b khoản 1 và khoản 4 Điều  
8 Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định về  
thời gian tạm trú để được đăng ký thường  
trú trên địa bàn thành phố trực thuộc Trung  
ương, theo đó:  
Thứ nhất, chưa thống nhất trong cách hiểu  
về nội dung của công tác đăng ký, quản lý  
cư trú.  
Điều 1 Luật Cư trú quy định: “Cư trú là  
thường xuyên sinh sống tại một địa điểm”.  
Có thể thấy, đây thực chất là quy định về hộ  
khẩu. Hộ khẩu có liên quan đến các quyền  
lợi khác như: phân chia ruộng đất, nhà ở,  
lương thực, thực phẩm, việc làm, giấy tờ, tiêu  
chuẩn điện nước, trường học... Khi thay đổi  
chỗ ở, người dân phải thực hiện thủ tục thay  
đổi hộ khẩu.  
- Tạm trú liên tục từ 1 năm trở lên tại thành  
phố trực thuộc trung ương đối với trường hợp  
đăng ký thường trú vào huyện, thị xã thuộc  
thành phố trực thuộc trung ương đó.  
- Tạm trú liên tục 2 năm trở lên đối với  
trường hợp đăng ký thường trú vào quận  
thuộc thành phố trực thuộc trung ương.  
Với quy định về điều kiện thời gian công  
dân đăng ký tạm trú để được đăng ký thường  
trú tại các quận nội thành, việc công dân  
trước đó có hộ khẩu thường trú ở tỉnh ngoài  
hay hộ khẩu tại ngoại thành của thành phố  
trực thuộc trung ương đó đều là như nhau.  
Trong khi đó, công dân ở tỉnh ngoài muốn  
nhập hộ khẩu thường trú vào các địa bàn  
ngoại thành của thành phố trực thuộc trung  
ương phải tạm trú tại địa phương đó từ đủ 1  
năm trở lên. Từ thực tế đó, theo tác giả, cần  
thiết có sự phân biệt giữa hai trường hợp vừa  
nêu dưới góc độ điều kiện đăng ký thường  
trú để đánh giá đúng tính chất cư trú, cũng  
Trong thời gian qua, có nhiều trường hợp  
lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế  
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, như:  
cho người khác nhập hộ khẩu vào sổ hộ khẩu,  
chỗ ở của mình để trục lợi hoặc cho nhập hộ  
khẩu vào cùng một chỗ ở (trong đó có chỗ ở  
do thuê, mượn, ở nhờ của tổ chức, cá nhân),  
nhưng không đảm bảo diện tích sàn tối thiểu  
trên đầu người theo quy định. Điều mà người  
dân lo ngại nhất là sổ hộ khẩu trở thành thứ  
giấy phép cản trở nhiều quyền lợi hợp pháp  
của công dân, điển hình là trẻ em sẽ không  
được tiếp nhận vào trường công lập nếu  
2 Nguồn: Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP. HCM lần thứ X.  
3 Khoản 1 Điều 10 Thông tư số 35/2014/TT-BCA.  
60  
Số 06(430) - T3/2021  
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
như các tác động về sức ép dân số đối với các  
thành phố trực thuộc Trung ương nói chung.  
mà các cơ quan chức năng thành phố Hồ Chí  
Minh đang đề xuất vô tình đánh mất cơ hội  
cho nhiều đối tượng đang có nhu cầu đăng ký  
hộ khẩu. Theo tác giả, đề xuất tăng diện tích  
như thế là không hợp lý và cũng không thực  
tế, bởi người có nhu cầu nhập hộ khẩu ngày  
càng đông, nhưng diện tích nhà ở xây dựng  
mới không thể theo kịp.  
Liên quan đến vấn đề đăng ký nơi thường  
trú, hồ sơ đăng ký hộ khẩu thường trú gồm:  
Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; Bản  
khai nhân khẩu; Giấy chuyển hộ khẩu (đối  
với các trường hợp phải cấp giấy chuyển hộ  
khẩu quy định tại khoản 2 Điều 28 Luật Cư  
trú); Giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp  
pháp theo quy định tại Điều 6 Nghị định số  
31/2014/NĐ-CP. Nếu người cho thuê, cho  
mượn, cho ở nhờ đồng ý cho thường trú  
bằng văn bản vào chỗ ở của mình thì không  
phải ghi vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu,  
nhân khẩu. Chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn,  
ở nhờ tại thành phố trực thuộc Trung ương  
phải có xác nhận của UBND cấp xã về điều  
kiện diện tích bình quân bảo đảm theo quy  
định của Hội đồng nhân dân thành phố trực  
thuộc Trung ương. Theo quy định hiện hành,  
diện tích tối thiểu nhà ở để nhập hộ khẩu  
với người ở thuê, ở nhờ là 5m2/người. Tuy  
nhiên, mới đây thành phố Hồ Chí Minh đưa  
ra dự thảo và đang lấy ý kiến theo đề xuất của  
Sở Xây dựng và Công an TP. Hồ Chí Minh,  
quy định diện tích nhà ở bình quân/người  
để áp dụng khi người dân đăng ký thường  
trú vào chỗ ở do thuê, mượn, ở nhờ của tổ  
chức, cá nhân trên địa bàn tăng lên là 19,8m²/  
người đối với địa bàn 19 quận và 10m² sàn/  
người đối với 5 huyện. Việc tăng này nhằm  
mục đích giải quyết tình trạng thuê, mượn  
và nhập nhờ vào hộ khẩu, chỗ ở của mình  
để trục lợi hoặc cho nhập hộ khẩu vào cùng  
một chỗ ở nhưng không bảo đảm diện tích  
sàn tối thiểu trên đầu người theo quy định...  
tạo áp lực lên hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội.  
Tuy nhiên, theo phân tích của nhiều chuyên  
gia, phần lớn người nhập cư là lao động có  
thu nhập thấp đang thuê nhà tại các quận trên  
địa bàn thành phố với diện tích rất nhỏ (trung  
bình chỉ dưới 10m2/người); do đó, diện tích  
Về một bất cập khác, Luật Cư trú hạn chế  
nhập hộ khẩu bằng rào cản kéo dài thời hạn  
tạm trú, nhưng quy định này không hạn chế  
được người nhập cư. Theo thống kê, hằng  
năm, Thành phố Hồ Chí Minh phải “đón”  
hàng chục nghìn người nhập cư, trong đó  
phần lớn là lao động và sinh viên. Ban quản  
lý Khu chế xuất và Khu công nghiệp trên địa  
bàn thành phố cho biết, hiện có trên 268.800  
lao động trong các Khu chế xuất, Khu công  
nghiệp, trong đó có tới trên 180.600 lao động  
đến từ các tỉnh, thành phố khác (chiếm trên  
67,4%) mà phần lớn trong số này chưa có  
chỗ ở phù hợp nên rất khó “an cư”4. Số lượng  
người dân cư trú từ các tỉnh, thành phố khác  
đến làm ăn là xu hướng tất yếu; điều này cũng  
đồng nghĩa, nhu cầu nhập hộ khẩu vào thành  
phố hiện nay rất lớn. Tuy nhiên, các quy định  
hiện hành về nhập khẩu đã gây khó khăn cho  
người dân, dẫn tới có một tỷ lệ lớn người dân  
tạm trú không ổn định gây khó khăn trong  
quản lý cư trú.  
Ngoài ra, việc khó khăn trong nhập khẩu  
còn ảnh hưởng đến quyền lợi tối thiểu của  
người dân khi con cái của họ sẽ bị thiệt thòi  
về cơ hội học tập, chăm sóc y tế,... Việc quy  
định tăng thời hạn tạm trú chưa phải là giải  
pháp tối ưu giải quyết được vấn đề “hạ nhiệt”  
mật độ dân cư tăng rất nhanh theo từng năm  
tại các quận nội thành và cũng không đáp ứng  
hết được công tác quản lý nhà nước về dân  
cư, nhất là khu vực nội thành của các thành  
phố lớn mà ngược lại càng gây khó khăn cho  
công dân trong việc thực hiện quyền tự do cư  
Số 06(430) - T3/2021  
61  
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
trú của mình. Quy định phải tạm trú 01 năm  
hoặc 02 năm vừa làm khó người dân, vừa bất  
hợp lý, vì như thế họ phải tạm trú trên chính  
ngôi nhà của mình.  
thuộc thành phố trực thuộc trung ương. Hơn  
nữa, địa bàn trung tâm là những địa bàn đông  
dân cư, tính chất cư trú phức tạp, có địa bàn  
lên đến hàng vạn nhân khẩu, người đứng đầu  
Công an một quận với rất nhiều đầu việc cần  
giải quyết trong lĩnh vực an ninh, trật tự, nên  
việc giao cho Trưởng công an quận, huyện,  
thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương  
công tác quản lý thường trú của công dân trên  
địa bàn là chưa thật sự phù hợp với thực tiễn.  
Đây là một nghịch lý đang tồn tại phổ biến ở  
các thành phố trực thuộc trung ương, khi mà  
tốc độ đô thị hóa tăng nhanh như hiện nay.  
Thứ ba, bất cập trong phân cấp thẩm quyền  
đăng ký thường trú tại các địa bàn trung tâm.  
Theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều  
21 Luật Cư trú: “Người đăng ký thường trú  
nộp hồ sơ đăng ký thường trú tại cơ quan  
công an sau đây:  
a) Đối với thành phố trực thuộc trung  
ương thì nộp hồ sơ tại Công an huyện, quận,  
thị xã;  
Mặt khác, về nơi cư trú của công dân,  
khoản 2 Điều 5 Nghị định số 31/2014/NĐ-  
CP có quy định: “Trường hợp không xác  
định được nơi cư trú của công dân theo quy  
định tại khoản 1 Điều này, thì nơi cư trú của  
công dân là nơi người đó đang sinh sống và  
có xác nhận của Công an xã, phường, thị  
trấn”. Bởi lẽ, quy định này chỉ dừng lại như  
thế, nên trong thực tiễn áp dụng sẽ phát sinh  
vướng mắc, đó là: bất luận khi thuộc trường  
hợp quy định trên thì Công an xã, phường,  
thị trấn được quyền xác nhận. Tuy nhiên, có  
ý kiến cho rằng, do pháp luật quy định việc  
giải quyết đăng ký thường trú của công dân  
tại địa bàn quận, huyện, thị xã thuộc thành  
phố trực thuộc trung ương thuộc thẩm quyền  
của trưởng Công an quận, huyện, thị xã đó,  
nên đối với trường hợp xác nhận nơi cư trú  
theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định  
số 31/2014/NĐ-CP, phải thuộc thẩm quyền  
của Công an xã, phường, thị trấn thuộc thành  
phố trực thuộc trung ương. Đây cũng là bất  
cập cần được quy định theo hướng thống  
nhất chung, tạo điều kiện thuận lợi cho người  
dân và kể cả chủ thể có thẩm quyền thực thi  
công vụ.  
b) Đối với tỉnh thì nộp hồ sơ tại Công  
an xã, thị trấn thuộc huyện, Công an thị xã,  
thành phố thuộc tỉnh”.  
Thẩm quyền giải quyết việc đăng ký  
thường trú của công dân được quy định tại  
Điều 9 Thông tư số 35/2014/TT-BCA, cụ  
thể: Trường hợp công dân đăng ký thường  
trú tại xã, thị trấn của huyện thuộc tỉnh,  
thẩm quyền thuộc về trưởng Công an xã, thị  
trấn; trường hợp công dân đăng ký thường  
trú tại quận, huyện, thị xã thuộc thành phố  
trực thuộc trung ương, thẩm quyền đăng ký  
thuộc về trưởng Công an quận, huyện, thị xã  
đó. Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp  
lệnh Công an xã năm 2008, Công an xã là  
lực lượng bán chuyên trách, thuộc hệ thống  
tổ chức của Công an nhân dân và theo quy  
định tại khoản 5 Điều 9 của Pháp lệnh này,  
Trưởng công an xã có nhiệm vụ thực hiện  
các quy định của pháp luật về quản lý cư trú,  
chứng minh nhân dân và các giấy tờ đi lại  
khác… Trong khi đó, tại quận, huyện, thị  
xã, thuộc thành phố trực thuộc trung ương,  
đặc biệt tại các quận nội thành, Cảnh sát khu  
vực, Trưởng Công an phường, thậm chí là  
Đội trưởng đội Cảnh sát quản lý hành chính  
về trật tự xã hội, là lực lượng Công an chính  
quy, nhưng lại không được giao thẩm quyền  
đăng ký thường trú, mà thẩm quyền này  
thuộc về Trưởng Công an quận, huyện, thị xã  
Thứ tư, bất cập trong một số trường hợp  
xóa đăng ký thường trú.  
Về quy định về những trường hợp xóa  
đăng ký thường trú tại khoản 1 Điều 22 Luật  
62  
Số 06(430) - T3/2021  
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
Cư trú, tác giả nhận thấy, trường hợp công  
dân đã đăng ký thường trú mà ra nước ngoài  
định cư, Luật Cư trú hiện hành không quy  
định cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý  
xuất nhập cảnh với Cảnh sát quản lý hành  
chính về trật tự xã hội. Do đó, cơ quan quản  
lý thường trú công dân không có cơ sở để làm  
thủ tục xóa đăng ký thường trú, dẫn tới việc  
hồ sơ quản lý thường trú công dân vẫn có,  
song thực tế, công dân lại không sinh sống  
tại Việt Nam. Đây là một thực tế đang tồn  
tại ở nhiều địa phương trong cả nước. Cũng  
tương tự như vậy, đối với trường hợp công  
dân chuyển đi nơi khác nhưng không làm thủ  
tục chuyển hộ khẩu, điều này dẫn tới sự khác  
biệt giữa quản lý hồ sơ và quản lý thực tế  
việc công dân cư trú.  
dụng thông tin về nơi thường trú, tạm trú để  
hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công  
dân; đưa, nhận hối lộ, gây phiền hà trong việc  
đăng ký, quản lý cư trú; không tiếp nhận, trì  
hoãn việc tiếp nhận hồ sơ đăng ký thường trú,  
tạm trú; không thực hiện, thực hiện không  
đúng thời hạn đăng ký thường trú, đăng ký  
tạm trú cho công dân khi hồ sơ đủ điều kiện  
đăng ký thường trú, tạm trú. Tự đặt ra thời  
gian, thủ tục, giấy tờ, biểu mẫu trái với quy  
định của pháp luật hoặc làm sai lệch thông  
tin, sổ sách, hồ sơ về cư trú. Cố ý cấp hoặc  
từ chối cấp giấy tờ về cư trú trái với quy định  
của pháp luật.  
Thứ hai, cụ thể hóa các nghị quyết về đơn  
giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công  
dân liên quan đến quản lý cư trú.  
Thứ năm, Luật Cư trú cũng chưa quy định  
cụ thể về cách hiểu và áp dụng đối với cụm  
từ “thường xuyên sinh sống”. Khoản 1 Điều  
5 Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định:  
“Mỗi công dân chỉ được đăng ký thường trú  
tại một chỗ ở hợp pháp và là nơi thường  
xuyên sinh sống”, có thể thấy, công dân chỉ  
được đăng ký thường trú tại một nơi ở, mà  
nơi đó là chỗ ở hợp pháp và cũng là nơi công  
dân đó thường xuyên sinh sống. Rõ ràng các  
điều kiện mà nhà làm luật đưa ra trong quy  
định vừa nêu có mối quan hệ bắc cầu và bổ  
sung cho nhau, điều kiện này là tiền đề của  
điều kiện kia, nếu thiếu một trong hai điều  
kiện đã nêu thì không thể thỏa mãn quy định  
này. Trong khi đó, cụm từ “thường xuyên  
sinh sống” chưa được giải thích cụ thể và  
chỉ là yếu tố định tính, dẫn tới cách hiểu và  
cách áp dụng ở mỗi địa phương là không  
giống nhau.  
- Sửa đổi theo hướng thay thế phương  
thức quản lý cư trú từ thủ công là Sổ hộ khẩu,  
Sổ tạm trú giấy bằng việc quản lý thông qua  
dữ liệu điện tử, ứng dụng công nghệ thông tin  
(mã số định danh cá nhân);  
- Bãi bỏ các thủ tục về: Cấp đổi Sổ hộ  
khẩu; Cấp lại Sổ hộ khẩu; Cấp giấy chuyển  
hộ khẩu; Cấp đổi Sổ tạm trú; Cấp lại Sổ tạm  
trú; điều chỉnh những thay đổi trong Sổ tạm  
trú; gia hạn tạm trú.  
Thứ ba, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh ứng  
dụng khoa học kꢀ thuật, công nghệ trong công  
tác quản lý cư trú.  
Trong điều kiện đất nước ta đang đẩy  
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và  
chủ động hội nhập quốc tế, yêu cầu đặt ra  
là phải hiện đại hóa công tác quản lý cư trú  
theo hướng ứng dụng thành tựu khoa học, kỹ  
thuật, công nghệ tiên tiến, phù hợp với xu  
hướng của các nước trên thế giới. Trong khi  
đó, kỹ thuật, công nghệ trong đăng ký, quản  
lý cư trú ở nước ta còn lạc hậu, không đáp  
ứng được yêu cầu ngày càng tăng của công  
dân, chưa bảo đảm phục vụ tốt yêu cầu quản  
lý dân cư và hội nhập quốc tế. Mặt khác, dữ  
2. Đề xuất giải pháp hoàn thiện  
Thứ nhất, bảo đảm tốt hơn nữa quyền tự  
do cư trú của công dân.  
Nghiêm cấm các hành vi như: cản trở  
công dân thực hiện quyền tự do cư trú; lạm  
Số 06(430) - T3/2021  
63  
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
liệu đăng ký, quản lý cư trú hiện nay chủ yếu  
được lưu trữ thủ công; việc cấp, quản lý, sử  
dụng giấy tờ về đăng ký, quản lý cư trú tuy  
có nhiều cố gắng cải tiến, sắp xếp hợp lý hơn  
nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đơn  
giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công  
dân; do đó, cần quy định việc đăng ký, quản  
lý cư trú theo hướng tiếp cận công nghệ tiên  
tiến để vừa quản lý chặt chẽ dân cư, vừa góp  
phần đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ  
cho công dân và từng bước thực hiện Chính  
phủ điện tử, ứng dụng khoa học công nghệ  
trong quản lý cư trú.  
quyền đăng ký thường trú tại các thành phố  
trực thuộc trung ương còn có sự bất cập giữa  
Công an phường và Công an xã, thị trấn; về  
khái niệm “thường xuyên sinh sống” quy  
định trong Luật Cư trú còn chung chung, chỉ  
mang tính định tính nên dẫn đến cách hiểu và  
áp dụng không thống nhất; … cần được sửa  
đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu thực  
tiễn công tác quản lý nhà nước về cư trú.  
Thứ sáu, bỏ điều kiện đăng ký thường trú  
vào thành phố trực thuộc Trung ương.  
Luật Cư trú hiện hành quy định các điều  
kiện riêng đối với việc đăng ký thường trú  
vào thành phố trực thuộc Trung ương so với  
đăng ký thường trú vào tỉnh.  
Thứ tư, bảo đảm tiến độ hoàn thành việc  
xây dựng, vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia  
về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú.  
Việc quy định riêng này nhằm hạn chế  
tình trạng di dân từ nông thôn đến các thành  
phố lớn, giảm áp lực cho hệ thống cơ sở hạ  
tầng và chính sách an sinh xã hội của các đô  
thị này. Thực tế những năm qua cho thấy, quy  
định này không thực sự phát huy hiệu quả,  
tình trạng gia tăng dân số cơ học, di dân từ các  
tỉnh, nông thôn đến các thành phố lớn, trong  
đó có các thành phố trực thuộc Trung ương  
vẫn rất cao. Nhiều người dân mặc dù không  
có hộ khẩu tại đây nhưng vẫn sinh sống, làm  
việc, tuy nhiên họ và gia đình gặp nhiều khó  
khăn trong học tập, lao động, hưởng các dịch  
vụ xã hội. Bên cạnh đó, việc quy định riêng  
các điều kiện đăng ký thường trú ở các thành  
phố trực thuộc Trung ương đã ảnh hưởng đến  
quyền tự do cư trú của công dân theo quy  
định của Hiến pháp năm 2013. Vì vậy, cần  
thống nhất bỏ các quy định riêng về điều kiện  
đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc  
Trung ương, tức là không có quy định riêng  
về điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố  
trực thuộc Trung ương; việc đăng ký thường  
trú tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương  
là như nhau, không có sự phân biệt và được  
Nền tảng công nghệ để vận hành phương  
thức quản lý cư trú mới là Cơ sở dữ liệu quốc  
gia về dân cư và Cơ sở dữ liệu về cư trú. Để  
bảo đảm tính khả thi, các cơ sở dữ liệu này  
phải được xây dựng đồng bộ, đưa vào vận  
hành và bảo đảm kết nối, cập nhật, chia sẻ,  
khai thác thông tin thông suốt giữa các cơ  
quan đăng ký, quản lý cư trú từ Trung ương  
đến cơ sở. Đồng thời, kết nối và chia sẻ thông  
tin với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác  
có liên quan cũng như với các cơ quan, tổ  
chức đang được giao thực hiện nhiệm vụ  
cung cấp dịch vụ công, giải quyết thủ tục  
hành chính cho công dân.  
Thứ năm, khắc phục những hạn chế,  
vướng mắc, bất cập của pháp luật hiện hành.  
Qua tổng kết 10 năm thi hành Luật Cư  
trú (từ năm 2007 đến năm 2017) cho thấy, có  
một số khó khăn, vướng mắc, bất cập cơ bản  
phát sinh: Luật Cư trú chưa quy định thống  
nhất về nội dung công tác đăng ký, quản lý cư  
trú; chưa có sự phân biệt về điều kiện đăng ký  
thường trú áp dụng đối với công dân ngoại tỉnh  
và đối với công dân ở ngoại thành khi đăng ký  
thường trú vào các quận nội thành thuộc thành  
phố trực thuộc trung ương; về quy định thẩm  
áp dụng chung, thống nhất trên toàn quốc  
64  
Số 06(430) - T3/2021  
pdf 7 trang Thùy Anh 12100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quyền tự do cư trú của công dân tại Thành phố Hồ Chí Minh: Những bất cập và giải pháp hoàn thiện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquyen_tu_do_cu_tru_cua_cong_dan_tai_thanh_pho_ho_chi_minh_nh.pdf