Quyền tự do cư trú của công dân tại Thành phố Hồ Chí Minh: Những bất cập và giải pháp hoàn thiện
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
QUYỀN TỰ DO CƯ TRÚ CỦA CÔNG DÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH:
NHỮNG BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Trần Văn Điệp*
ThS. GV. Trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn.
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Tự do cư trú cũng là một trong những quyền cơ bản của công dân được
ghi nhận ngay từ Hiến pháp đầu tiên năm 1946, tiếp tục được khẳng
định trong Hiến pháp năm 2013, được cụ thể hoá trong Luật Cư trú
năm 2013 và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác ở nước ta. Trên
cơ sở phân tích các quy định của pháp luật về tự do cư trú và việc thực
hiện quyền này tại thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đề xuất một số giải
pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân.
Từ khóa: Tự do cư trú, quyền
con người, bảo đảm quyền tự do
cư trú của công dân.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 29/12/2020
: 19/01/2021
: 03/02/2021
Article Infomation:
Abstract:
Keywords: Freedomofresidence;
human rights, ensuring freedom
of residence; Ho Chi Minh City;
citizen.
Freedom of residence is also one of the basic rights of citizens recognized
right from the first Constitution of 1946 and continues to be affirmed in
the Constitution of 2013 and concretized in the Law on Residence of
2013 and in several other legal documents. Upon the analyses of the
provisions of the law on these rights, the author provides an attention to
their enforcement to find a solution to improve the legal regulations on
ensuring the freedom of residence of citizens in the largest residence in
Vietnam - Ho Chi Minh City.
Article History:
Received
Edited
: 29 Dec. 2020
: 19 Jan. 2021
: 03 Feb. 2021
Approved
1. Việc thực hiện quyền tự do cư trú tại
thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn
thứ 2 Việt Nam về diện tích (sau Hà Nội)
và lớn nhất về dân số1. Theo thống kê
của Tổng cục Thống kê Việt Nam, tính đến
ngày 1/4/2019, toàn thành phố có đủ 54
thành phần dân tộc cùng người nước ngoài
sinh sống. Nơi đây có dân số đông, nhiều
người nước ngoài sinh sống; học sinh, sinh
viên và người lao động tỉnh khác đến sinh
sống, học tập và cư trú. Vấn đề đang đặt ra
đối với Thành phố Hồ Chí Minh là làm sao
để bảo đảm quyền tự do cư trú của công
dân mà vẫn đảm bảo được trật tự xã hội, trị
an trên địa bàn thành phố.
Là một trung tâm kinh tế, văn hóa, xã
hội phát triển bậc nhất cả nước, thu hút sự
đầu tư trong và ngoài nước cũng như thu
hút người dân và người lao động từ các tỉnh
thành khác sang sinh sống, học tập cũng như
lao động. Lượng người nhập cư đông sẽ gây
áp lực lớn cho hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ
thuật và xã hội, như ùn tắc giao thông, thiếu
trường học, thiếu bệnh viện, thiếu các công
trình công cộng, ô nhiễm môi trường, tăng
giá bất động sản,… Từ đây đặt ra vấn đề về
quản lý dân cư.
1 Tổng diện tích 2.096 km² và 8.993.082 người, trong đó: thành thị 7.127.364 người (chiếm 79,25%), nông
thôn: 1.865.718 người (chiếm 20,75%).
58
Số 06(430) - T3/2021
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Những năm qua, Thành phố Hồ Chí Minh
cùng cả nước thực hiện chủ trương quản lý
dân cư thông qua số định danh cá nhân cập
nhật từ cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia về
dân cư để thay thế hình thức quản lý bằng
sổ hộ khẩu và sổ tạm trú theo hướng quản
lý nhà nước bằng ứng dụng công nghệ, công
khai, minh bạch thông tin, giảm phiền hà,
tiết kiệm chi phí, đơn giản hóa thủ tục hành
chính (TTHC), giấy tờ…
định của pháp luật. Các thủ tục, giấy tờ cần
có trong hồ sơ được quy định tại Luật Cư
trú năm 2013, Nghị định số 31/2014/NĐ-CP,
Thông tư số 250/2016/TT-BTC, Thông tư số
35/2014/TT-BCA; Nghị quyết số 07/2017/
NQ-HĐND ban hành mức thu lệ phí đăng ký
cư trú trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh,
Thông tư số 36/2014/TT-BCA quy định cụ
thể về biểu mẫu, quy cách, cách ghi và quản
lý biểu mẫu sử dụng trong đăng ký, quản lý
cư trú.
Căn cứ đặc điểm tình hình và công tác thực
tế về đăng ký, quản lý cư trú của Thành phố
và trên cơ sở những quy định của pháp luật,
Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã
ban hành những văn bản quy định riêng về
quản lý cư trú trên địa bàn thành phố, gồm:
- Chỉ thị số 21/2007/CT-UBND ngày
27/7/2007 của Ủy ban nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh “Về triển khai thực hiện luật cư
trú và các quy định của pháp luật về đăng ký
và quản lý cư trú trên địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh”.
- Chỉ thị số 02/2009/CT-UBND ngày
11/01/2009 của Ủy ban nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh “Về tăng cường quản lý nhà
nước đối với việc nhập cảnh, cư trú và lao
động của người nước ngoài trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh”.
- Quyết định số 10/2013/QĐ-UBND,
ngày 08/3/2013 của Ủy ban nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh “Quy định quản lý người
sau cai nghiện tại nơi cư trú trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh”.
Sử dụng mã số định danh cá nhân để quản
lý dân cư thông qua việc cập nhật, kết nối từ
CSDL quốc gia về dân cư sẽ mang lại những
lợi ích thiết thực trong việc đơn giản hóa
TTHC, giảm giấy tờ công dân, giảm những
chi phí mà hiện nay người dân, doanh nghiệp
đang phải chi trả; góp phần kết nối, chia sẻ
thông tin về dân cư giữa các ngành, các lĩnh
vực của đời sống xã hội, góp phần thúc đẩy
phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Người
dân không phải mất thời gian, công sức, chi
phí liên quan tới sổ hộ khẩu, sổ tạm trú khi
tham gia các giao dịch hoặc thực hiện các thủ
tục hành chính có yêu cầu phải xuất trình gây
tốn kém, lãng phí và Nhà nước không cần
duy trì các bộ phận quản lý chuyên trách ở
nhiều cấp để thực hiện các công đoạn quản lý
liên quan cùng với bộ máy, hạ tầng, chi phí
tốn kém…
Tuy nhiên, để thực hiện quản lý dân cư
thông qua số định danh cá nhân thì cần thiết
phải hoàn thiện và đưa vào khai thác, sử
dụng CSDL quốc gia về dân cư. Tuy nhiên,
việc xây dựng CSDL quốc gia về dân cư hiện
tiến độ còn hạn chế.
- Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh
thông báo quy định về diện tích nhà ở bình
quân để đăng ký thường trú vào chỗ ở do
ở nhờ, thuê, mượn của tổ chức, cá nhân tại
thành phố: Khu vực 1 gồm địa bàn 5 huyện
(Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh, Cần Giờ,
Nhà Bè) có diện tích nhà ở bình quân là
10m2/người. Khu vực 2 gồm 19 quận còn
Nhằm quản lý và kiểm soát nhập cư ồ
ạt của công dân, đảm bảo quỹ đất tại thành
phố, thực hiện tốt công tác quản lý dân cư,
pháp luật quy định những điều kiện nhất định
để đăng ký hộ khẩu thường trú tại thành phố
Hồ Chí Minh. Thành phố đã thực thi quyền
đăng ký thường trú, tạm trú theo quy định
của Luật Cư trú tương đối tốt, đúng theo quy
Số 06(430) - T3/2021
59
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
lại có diện tích nhà ở bình quân là 19,8m2/
không có hộ khẩu tại địa phương đó. Tác giả
đồng tình với quan điểm, phải dùng hộ khẩu
để quản lý nhân khẩu, nhưng cần xác định đây
chỉ là nghiệp vụ của ngành công an. Nhiều
ngành, nhiều nơi đang lợi dụng hộ khẩu như
một điều kiện và đã đẩy hộ khẩu vượt ra mục
đích quản lý con người mà ngành công an
đặt ra “… Sổ hộ khẩu có giá trị xác định nơi
thường trú của công dân”3.
người2.
Mặc dù Luật Cư trú đã được sửa đổi, bổ
sung năm 2013 và những quy định mới của
pháp luật về lĩnh vực cư trú đã góp phần giải
quyết những vướng mắc phát sinh liên quan
đến chỗ ở của công dân và việc quản lý nhân
khẩu của cơ quan nhà nước, ngăn ngừa việc
lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân... Tuy
nhiên, thực tiễn thi hành cho thấy, một số nội
dung cụ thể của pháp luật về cư trú vẫn còn
vướng mắc, bất cập cả dưới góc độ lý luận
và thực tiễn, dẫn đến việc tổ chức thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về cư trú thiếu
thống nhất, hiệu quả đạt được chưa cao.
Thứ hai, chưa rõ ràng trong sự phân biệt
về điều kiện đối với công dân ngoại tỉnh với
công dân ở ngoại thành.
Khoản 1 Điều 20 Luật Cư trú quy định,
nếu công dân: “Có chỗ ở hợp pháp và đã
tạm trú liên tục tại thành phố đó từ một năm
trở lên”. Điểm b khoản 1 và khoản 4 Điều
8 Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định về
thời gian tạm trú để được đăng ký thường
trú trên địa bàn thành phố trực thuộc Trung
ương, theo đó:
Thứ nhất, chưa thống nhất trong cách hiểu
về nội dung của công tác đăng ký, quản lý
cư trú.
Điều 1 Luật Cư trú quy định: “Cư trú là
thường xuyên sinh sống tại một địa điểm”.
Có thể thấy, đây thực chất là quy định về hộ
khẩu. Hộ khẩu có liên quan đến các quyền
lợi khác như: phân chia ruộng đất, nhà ở,
lương thực, thực phẩm, việc làm, giấy tờ, tiêu
chuẩn điện nước, trường học... Khi thay đổi
chỗ ở, người dân phải thực hiện thủ tục thay
đổi hộ khẩu.
- Tạm trú liên tục từ 1 năm trở lên tại thành
phố trực thuộc trung ương đối với trường hợp
đăng ký thường trú vào huyện, thị xã thuộc
thành phố trực thuộc trung ương đó.
- Tạm trú liên tục 2 năm trở lên đối với
trường hợp đăng ký thường trú vào quận
thuộc thành phố trực thuộc trung ương.
Với quy định về điều kiện thời gian công
dân đăng ký tạm trú để được đăng ký thường
trú tại các quận nội thành, việc công dân
trước đó có hộ khẩu thường trú ở tỉnh ngoài
hay hộ khẩu tại ngoại thành của thành phố
trực thuộc trung ương đó đều là như nhau.
Trong khi đó, công dân ở tỉnh ngoài muốn
nhập hộ khẩu thường trú vào các địa bàn
ngoại thành của thành phố trực thuộc trung
ương phải tạm trú tại địa phương đó từ đủ 1
năm trở lên. Từ thực tế đó, theo tác giả, cần
thiết có sự phân biệt giữa hai trường hợp vừa
nêu dưới góc độ điều kiện đăng ký thường
trú để đánh giá đúng tính chất cư trú, cũng
Trong thời gian qua, có nhiều trường hợp
lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, như:
cho người khác nhập hộ khẩu vào sổ hộ khẩu,
chỗ ở của mình để trục lợi hoặc cho nhập hộ
khẩu vào cùng một chỗ ở (trong đó có chỗ ở
do thuê, mượn, ở nhờ của tổ chức, cá nhân),
nhưng không đảm bảo diện tích sàn tối thiểu
trên đầu người theo quy định. Điều mà người
dân lo ngại nhất là sổ hộ khẩu trở thành thứ
giấy phép cản trở nhiều quyền lợi hợp pháp
của công dân, điển hình là trẻ em sẽ không
được tiếp nhận vào trường công lập nếu
2 Nguồn: Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP. HCM lần thứ X.
3 Khoản 1 Điều 10 Thông tư số 35/2014/TT-BCA.
60
Số 06(430) - T3/2021
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
như các tác động về sức ép dân số đối với các
thành phố trực thuộc Trung ương nói chung.
mà các cơ quan chức năng thành phố Hồ Chí
Minh đang đề xuất vô tình đánh mất cơ hội
cho nhiều đối tượng đang có nhu cầu đăng ký
hộ khẩu. Theo tác giả, đề xuất tăng diện tích
như thế là không hợp lý và cũng không thực
tế, bởi người có nhu cầu nhập hộ khẩu ngày
càng đông, nhưng diện tích nhà ở xây dựng
mới không thể theo kịp.
Liên quan đến vấn đề đăng ký nơi thường
trú, hồ sơ đăng ký hộ khẩu thường trú gồm:
Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; Bản
khai nhân khẩu; Giấy chuyển hộ khẩu (đối
với các trường hợp phải cấp giấy chuyển hộ
khẩu quy định tại khoản 2 Điều 28 Luật Cư
trú); Giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp
pháp theo quy định tại Điều 6 Nghị định số
31/2014/NĐ-CP. Nếu người cho thuê, cho
mượn, cho ở nhờ đồng ý cho thường trú
bằng văn bản vào chỗ ở của mình thì không
phải ghi vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu,
nhân khẩu. Chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn,
ở nhờ tại thành phố trực thuộc Trung ương
phải có xác nhận của UBND cấp xã về điều
kiện diện tích bình quân bảo đảm theo quy
định của Hội đồng nhân dân thành phố trực
thuộc Trung ương. Theo quy định hiện hành,
diện tích tối thiểu nhà ở để nhập hộ khẩu
với người ở thuê, ở nhờ là 5m2/người. Tuy
nhiên, mới đây thành phố Hồ Chí Minh đưa
ra dự thảo và đang lấy ý kiến theo đề xuất của
Sở Xây dựng và Công an TP. Hồ Chí Minh,
quy định diện tích nhà ở bình quân/người
để áp dụng khi người dân đăng ký thường
trú vào chỗ ở do thuê, mượn, ở nhờ của tổ
chức, cá nhân trên địa bàn tăng lên là 19,8m²/
người đối với địa bàn 19 quận và 10m² sàn/
người đối với 5 huyện. Việc tăng này nhằm
mục đích giải quyết tình trạng thuê, mượn
và nhập nhờ vào hộ khẩu, chỗ ở của mình
để trục lợi hoặc cho nhập hộ khẩu vào cùng
một chỗ ở nhưng không bảo đảm diện tích
sàn tối thiểu trên đầu người theo quy định...
tạo áp lực lên hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội.
Tuy nhiên, theo phân tích của nhiều chuyên
gia, phần lớn người nhập cư là lao động có
thu nhập thấp đang thuê nhà tại các quận trên
địa bàn thành phố với diện tích rất nhỏ (trung
bình chỉ dưới 10m2/người); do đó, diện tích
Về một bất cập khác, Luật Cư trú hạn chế
nhập hộ khẩu bằng rào cản kéo dài thời hạn
tạm trú, nhưng quy định này không hạn chế
được người nhập cư. Theo thống kê, hằng
năm, Thành phố Hồ Chí Minh phải “đón”
hàng chục nghìn người nhập cư, trong đó
phần lớn là lao động và sinh viên. Ban quản
lý Khu chế xuất và Khu công nghiệp trên địa
bàn thành phố cho biết, hiện có trên 268.800
lao động trong các Khu chế xuất, Khu công
nghiệp, trong đó có tới trên 180.600 lao động
đến từ các tỉnh, thành phố khác (chiếm trên
67,4%) mà phần lớn trong số này chưa có
chỗ ở phù hợp nên rất khó “an cư”4. Số lượng
người dân cư trú từ các tỉnh, thành phố khác
đến làm ăn là xu hướng tất yếu; điều này cũng
đồng nghĩa, nhu cầu nhập hộ khẩu vào thành
phố hiện nay rất lớn. Tuy nhiên, các quy định
hiện hành về nhập khẩu đã gây khó khăn cho
người dân, dẫn tới có một tỷ lệ lớn người dân
tạm trú không ổn định gây khó khăn trong
quản lý cư trú.
Ngoài ra, việc khó khăn trong nhập khẩu
còn ảnh hưởng đến quyền lợi tối thiểu của
người dân khi con cái của họ sẽ bị thiệt thòi
về cơ hội học tập, chăm sóc y tế,... Việc quy
định tăng thời hạn tạm trú chưa phải là giải
pháp tối ưu giải quyết được vấn đề “hạ nhiệt”
mật độ dân cư tăng rất nhanh theo từng năm
tại các quận nội thành và cũng không đáp ứng
hết được công tác quản lý nhà nước về dân
cư, nhất là khu vực nội thành của các thành
phố lớn mà ngược lại càng gây khó khăn cho
công dân trong việc thực hiện quyền tự do cư
Số 06(430) - T3/2021
61
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
trú của mình. Quy định phải tạm trú 01 năm
hoặc 02 năm vừa làm khó người dân, vừa bất
hợp lý, vì như thế họ phải tạm trú trên chính
ngôi nhà của mình.
thuộc thành phố trực thuộc trung ương. Hơn
nữa, địa bàn trung tâm là những địa bàn đông
dân cư, tính chất cư trú phức tạp, có địa bàn
lên đến hàng vạn nhân khẩu, người đứng đầu
Công an một quận với rất nhiều đầu việc cần
giải quyết trong lĩnh vực an ninh, trật tự, nên
việc giao cho Trưởng công an quận, huyện,
thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương
công tác quản lý thường trú của công dân trên
địa bàn là chưa thật sự phù hợp với thực tiễn.
Đây là một nghịch lý đang tồn tại phổ biến ở
các thành phố trực thuộc trung ương, khi mà
tốc độ đô thị hóa tăng nhanh như hiện nay.
Thứ ba, bất cập trong phân cấp thẩm quyền
đăng ký thường trú tại các địa bàn trung tâm.
Theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều
21 Luật Cư trú: “Người đăng ký thường trú
nộp hồ sơ đăng ký thường trú tại cơ quan
công an sau đây:
a) Đối với thành phố trực thuộc trung
ương thì nộp hồ sơ tại Công an huyện, quận,
thị xã;
Mặt khác, về nơi cư trú của công dân,
khoản 2 Điều 5 Nghị định số 31/2014/NĐ-
CP có quy định: “Trường hợp không xác
định được nơi cư trú của công dân theo quy
định tại khoản 1 Điều này, thì nơi cư trú của
công dân là nơi người đó đang sinh sống và
có xác nhận của Công an xã, phường, thị
trấn”. Bởi lẽ, quy định này chỉ dừng lại như
thế, nên trong thực tiễn áp dụng sẽ phát sinh
vướng mắc, đó là: bất luận khi thuộc trường
hợp quy định trên thì Công an xã, phường,
thị trấn được quyền xác nhận. Tuy nhiên, có
ý kiến cho rằng, do pháp luật quy định việc
giải quyết đăng ký thường trú của công dân
tại địa bàn quận, huyện, thị xã thuộc thành
phố trực thuộc trung ương thuộc thẩm quyền
của trưởng Công an quận, huyện, thị xã đó,
nên đối với trường hợp xác nhận nơi cư trú
theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định
số 31/2014/NĐ-CP, phải thuộc thẩm quyền
của Công an xã, phường, thị trấn thuộc thành
phố trực thuộc trung ương. Đây cũng là bất
cập cần được quy định theo hướng thống
nhất chung, tạo điều kiện thuận lợi cho người
dân và kể cả chủ thể có thẩm quyền thực thi
công vụ.
b) Đối với tỉnh thì nộp hồ sơ tại Công
an xã, thị trấn thuộc huyện, Công an thị xã,
thành phố thuộc tỉnh”.
Thẩm quyền giải quyết việc đăng ký
thường trú của công dân được quy định tại
Điều 9 Thông tư số 35/2014/TT-BCA, cụ
thể: Trường hợp công dân đăng ký thường
trú tại xã, thị trấn của huyện thuộc tỉnh,
thẩm quyền thuộc về trưởng Công an xã, thị
trấn; trường hợp công dân đăng ký thường
trú tại quận, huyện, thị xã thuộc thành phố
trực thuộc trung ương, thẩm quyền đăng ký
thuộc về trưởng Công an quận, huyện, thị xã
đó. Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp
lệnh Công an xã năm 2008, Công an xã là
lực lượng bán chuyên trách, thuộc hệ thống
tổ chức của Công an nhân dân và theo quy
định tại khoản 5 Điều 9 của Pháp lệnh này,
Trưởng công an xã có nhiệm vụ thực hiện
các quy định của pháp luật về quản lý cư trú,
chứng minh nhân dân và các giấy tờ đi lại
khác… Trong khi đó, tại quận, huyện, thị
xã, thuộc thành phố trực thuộc trung ương,
đặc biệt tại các quận nội thành, Cảnh sát khu
vực, Trưởng Công an phường, thậm chí là
Đội trưởng đội Cảnh sát quản lý hành chính
về trật tự xã hội, là lực lượng Công an chính
quy, nhưng lại không được giao thẩm quyền
đăng ký thường trú, mà thẩm quyền này
thuộc về Trưởng Công an quận, huyện, thị xã
Thứ tư, bất cập trong một số trường hợp
xóa đăng ký thường trú.
Về quy định về những trường hợp xóa
đăng ký thường trú tại khoản 1 Điều 22 Luật
62
Số 06(430) - T3/2021
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Cư trú, tác giả nhận thấy, trường hợp công
dân đã đăng ký thường trú mà ra nước ngoài
định cư, Luật Cư trú hiện hành không quy
định cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý
xuất nhập cảnh với Cảnh sát quản lý hành
chính về trật tự xã hội. Do đó, cơ quan quản
lý thường trú công dân không có cơ sở để làm
thủ tục xóa đăng ký thường trú, dẫn tới việc
hồ sơ quản lý thường trú công dân vẫn có,
song thực tế, công dân lại không sinh sống
tại Việt Nam. Đây là một thực tế đang tồn
tại ở nhiều địa phương trong cả nước. Cũng
tương tự như vậy, đối với trường hợp công
dân chuyển đi nơi khác nhưng không làm thủ
tục chuyển hộ khẩu, điều này dẫn tới sự khác
biệt giữa quản lý hồ sơ và quản lý thực tế
việc công dân cư trú.
dụng thông tin về nơi thường trú, tạm trú để
hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công
dân; đưa, nhận hối lộ, gây phiền hà trong việc
đăng ký, quản lý cư trú; không tiếp nhận, trì
hoãn việc tiếp nhận hồ sơ đăng ký thường trú,
tạm trú; không thực hiện, thực hiện không
đúng thời hạn đăng ký thường trú, đăng ký
tạm trú cho công dân khi hồ sơ đủ điều kiện
đăng ký thường trú, tạm trú. Tự đặt ra thời
gian, thủ tục, giấy tờ, biểu mẫu trái với quy
định của pháp luật hoặc làm sai lệch thông
tin, sổ sách, hồ sơ về cư trú. Cố ý cấp hoặc
từ chối cấp giấy tờ về cư trú trái với quy định
của pháp luật.
Thứ hai, cụ thể hóa các nghị quyết về đơn
giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công
dân liên quan đến quản lý cư trú.
Thứ năm, Luật Cư trú cũng chưa quy định
cụ thể về cách hiểu và áp dụng đối với cụm
từ “thường xuyên sinh sống”. Khoản 1 Điều
5 Nghị định số 31/2014/NĐ-CP quy định:
“Mỗi công dân chỉ được đăng ký thường trú
tại một chỗ ở hợp pháp và là nơi thường
xuyên sinh sống”, có thể thấy, công dân chỉ
được đăng ký thường trú tại một nơi ở, mà
nơi đó là chỗ ở hợp pháp và cũng là nơi công
dân đó thường xuyên sinh sống. Rõ ràng các
điều kiện mà nhà làm luật đưa ra trong quy
định vừa nêu có mối quan hệ bắc cầu và bổ
sung cho nhau, điều kiện này là tiền đề của
điều kiện kia, nếu thiếu một trong hai điều
kiện đã nêu thì không thể thỏa mãn quy định
này. Trong khi đó, cụm từ “thường xuyên
sinh sống” chưa được giải thích cụ thể và
chỉ là yếu tố định tính, dẫn tới cách hiểu và
cách áp dụng ở mỗi địa phương là không
giống nhau.
- Sửa đổi theo hướng thay thế phương
thức quản lý cư trú từ thủ công là Sổ hộ khẩu,
Sổ tạm trú giấy bằng việc quản lý thông qua
dữ liệu điện tử, ứng dụng công nghệ thông tin
(mã số định danh cá nhân);
- Bãi bỏ các thủ tục về: Cấp đổi Sổ hộ
khẩu; Cấp lại Sổ hộ khẩu; Cấp giấy chuyển
hộ khẩu; Cấp đổi Sổ tạm trú; Cấp lại Sổ tạm
trú; điều chỉnh những thay đổi trong Sổ tạm
trú; gia hạn tạm trú.
Thứ ba, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh ứng
dụng khoa học kꢀ thuật, công nghệ trong công
tác quản lý cư trú.
Trong điều kiện đất nước ta đang đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
chủ động hội nhập quốc tế, yêu cầu đặt ra
là phải hiện đại hóa công tác quản lý cư trú
theo hướng ứng dụng thành tựu khoa học, kỹ
thuật, công nghệ tiên tiến, phù hợp với xu
hướng của các nước trên thế giới. Trong khi
đó, kỹ thuật, công nghệ trong đăng ký, quản
lý cư trú ở nước ta còn lạc hậu, không đáp
ứng được yêu cầu ngày càng tăng của công
dân, chưa bảo đảm phục vụ tốt yêu cầu quản
lý dân cư và hội nhập quốc tế. Mặt khác, dữ
2. Đề xuất giải pháp hoàn thiện
Thứ nhất, bảo đảm tốt hơn nữa quyền tự
do cư trú của công dân.
Nghiêm cấm các hành vi như: cản trở
công dân thực hiện quyền tự do cư trú; lạm
Số 06(430) - T3/2021
63
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
liệu đăng ký, quản lý cư trú hiện nay chủ yếu
được lưu trữ thủ công; việc cấp, quản lý, sử
dụng giấy tờ về đăng ký, quản lý cư trú tuy
có nhiều cố gắng cải tiến, sắp xếp hợp lý hơn
nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đơn
giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công
dân; do đó, cần quy định việc đăng ký, quản
lý cư trú theo hướng tiếp cận công nghệ tiên
tiến để vừa quản lý chặt chẽ dân cư, vừa góp
phần đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ
cho công dân và từng bước thực hiện Chính
phủ điện tử, ứng dụng khoa học công nghệ
trong quản lý cư trú.
quyền đăng ký thường trú tại các thành phố
trực thuộc trung ương còn có sự bất cập giữa
Công an phường và Công an xã, thị trấn; về
khái niệm “thường xuyên sinh sống” quy
định trong Luật Cư trú còn chung chung, chỉ
mang tính định tính nên dẫn đến cách hiểu và
áp dụng không thống nhất; … cần được sửa
đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu thực
tiễn công tác quản lý nhà nước về cư trú.
Thứ sáu, bỏ điều kiện đăng ký thường trú
vào thành phố trực thuộc Trung ương.
Luật Cư trú hiện hành quy định các điều
kiện riêng đối với việc đăng ký thường trú
vào thành phố trực thuộc Trung ương so với
đăng ký thường trú vào tỉnh.
Thứ tư, bảo đảm tiến độ hoàn thành việc
xây dựng, vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia
về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú.
Việc quy định riêng này nhằm hạn chế
tình trạng di dân từ nông thôn đến các thành
phố lớn, giảm áp lực cho hệ thống cơ sở hạ
tầng và chính sách an sinh xã hội của các đô
thị này. Thực tế những năm qua cho thấy, quy
định này không thực sự phát huy hiệu quả,
tình trạng gia tăng dân số cơ học, di dân từ các
tỉnh, nông thôn đến các thành phố lớn, trong
đó có các thành phố trực thuộc Trung ương
vẫn rất cao. Nhiều người dân mặc dù không
có hộ khẩu tại đây nhưng vẫn sinh sống, làm
việc, tuy nhiên họ và gia đình gặp nhiều khó
khăn trong học tập, lao động, hưởng các dịch
vụ xã hội. Bên cạnh đó, việc quy định riêng
các điều kiện đăng ký thường trú ở các thành
phố trực thuộc Trung ương đã ảnh hưởng đến
quyền tự do cư trú của công dân theo quy
định của Hiến pháp năm 2013. Vì vậy, cần
thống nhất bỏ các quy định riêng về điều kiện
đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc
Trung ương, tức là không có quy định riêng
về điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố
trực thuộc Trung ương; việc đăng ký thường
trú tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
là như nhau, không có sự phân biệt và được
Nền tảng công nghệ để vận hành phương
thức quản lý cư trú mới là Cơ sở dữ liệu quốc
gia về dân cư và Cơ sở dữ liệu về cư trú. Để
bảo đảm tính khả thi, các cơ sở dữ liệu này
phải được xây dựng đồng bộ, đưa vào vận
hành và bảo đảm kết nối, cập nhật, chia sẻ,
khai thác thông tin thông suốt giữa các cơ
quan đăng ký, quản lý cư trú từ Trung ương
đến cơ sở. Đồng thời, kết nối và chia sẻ thông
tin với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác
có liên quan cũng như với các cơ quan, tổ
chức đang được giao thực hiện nhiệm vụ
cung cấp dịch vụ công, giải quyết thủ tục
hành chính cho công dân.
Thứ năm, khắc phục những hạn chế,
vướng mắc, bất cập của pháp luật hiện hành.
Qua tổng kết 10 năm thi hành Luật Cư
trú (từ năm 2007 đến năm 2017) cho thấy, có
một số khó khăn, vướng mắc, bất cập cơ bản
phát sinh: Luật Cư trú chưa quy định thống
nhất về nội dung công tác đăng ký, quản lý cư
trú; chưa có sự phân biệt về điều kiện đăng ký
thường trú áp dụng đối với công dân ngoại tỉnh
và đối với công dân ở ngoại thành khi đăng ký
thường trú vào các quận nội thành thuộc thành
phố trực thuộc trung ương; về quy định thẩm
áp dụng chung, thống nhất trên toàn quốc
64
Số 06(430) - T3/2021
Bạn đang xem tài liệu "Quyền tự do cư trú của công dân tại Thành phố Hồ Chí Minh: Những bất cập và giải pháp hoàn thiện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
quyen_tu_do_cu_tru_cua_cong_dan_tai_thanh_pho_ho_chi_minh_nh.pdf

