Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 11 - Năm 2021

VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI  
QUỐC HỘI LẬP PHÁP HAY LÀ HÃM LẬP PHÁP  
Số 11 (435)  
Tháng 6/2021  
NÂNG CAO NĂNG LỰC HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI  
TRONG HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP  
QUY ĐỊNH VỀ THANH TOÁN QUA VÍ ĐIỆN TỬ CỦA MỘT SỐ NƯỚC, NHỮNG GỢI MỞ CHO VIỆT NAM  
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI  
QUỐC HỘI LẬP PHÁP HAY LÀ HÃM LẬP PHÁP  
Số 11 (435)  
Tháng 6/2021  
Mục lục Số 11/2021  
NÂNG CAO NĂNG LỰC HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI  
TRONG HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP  
QUY ĐỊNH VỀ THANH TOÁN QUA VÍ ĐIỆN TỬ CỦA MỘT SỐ NƯỚC, NHỮNG GỢI MỞ CHO VIỆT NAM  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Quốc hội lập pháp hay là hãm lập pháp  
3
8
GS. TS. Nguyễn Đăng Dung  
Công ước La Hay năm 1996 - Sự cần thiết đối với việc nghiên cứu  
khả năng gia nhập của Việt Nam  
ThS. Lê Xuân Tùng  
Xu hướng xóa bỏ hình phạt tử hình trên thế giới và ở Việt Nam  
Vꢀ Đꢁnh Hoꢂng  
15  
24  
CHÍNH SÁCH  
Nâng cao năng lực hoạch định chính sách của đại biểu Quốc  
hội trong hoạt động lập pháp  
Nguyễn Anh Phương  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015  
về biện pháp khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật  
34  
TS. Lê Thái Sơn  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
Trách nhiệm pháp lý tiền hợp đồng ở một số nước trên  
thế giới  
39  
48  
TS. Nguyễn Văn Nghꢃa  
ThS. Phꢄm Thꢅ Nga  
Quy định về thanh toán qua ví điện tử của một số quốc gia,  
những gợi mở cho Việt Nam  
ThS. Nguyễn Thꢅ Anh Thơ - Nguyễn Thùy Anh,  
Phꢄm Thꢅ Bích Ngọc, Trꢅnh Kim Khánh  
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
Đổi mới tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân  
dân trong mô hình chính quyền thành phố Thủ Đức thuộc  
Thành phố Hồ Chí Minh  
57  
Ảnh bꢁa: Cánh đồng Tà Pạ, An Giang  
Ảnh: ST  
ThS. Phan Nguyễn Phương Thảo  
VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI  
QUỐC HỘI LẬP PHÁP HAY LÀ HÃM LẬP PHÁP  
Số 11 (435)  
Tháng 6/2021  
Legis No 11/2021  
NÂNG CAO NĂNG LỰC HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI  
TRONG HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP  
QUY ĐỊNH VỀ THANH TOÁN QUA VÍ ĐIỆN TỬ CỦA MỘT SỐ NƯỚC, NHỮNG GỢI MỞ CHO VIỆT NAM  
STATE AND LAW  
The National Assembly with Legislation Power or Delaying  
Legislation Process  
3
8
Prof. Dr. Nguyen Dang Dung  
The Hague Convention of 1996 - The Accession Possibility  
of Vietnam  
LLM. Le Xuan Tung  
The Abolition Trend of Death penalty in the World and  
Vietnam  
15  
Vu Dinh Hoang  
POLICY  
Enhancement of the Policy-making Competency of the National  
Assembly Deputies in Legislative Performance  
24  
34  
Nguyen Anh Phuong  
LEGAL PRACTICE  
Improvements of the Criminal Procedure Code of 2015 on  
Measures to Search, Seize, and Custody Documents and Objects  
Dr. Le Thai Son  
FOREIGN EXPERIENCE  
Pre-contractual Liability in Foreign Countries in the World  
39  
48  
Dr. Nguyen Van Nghia  
LLM. Pham Thi Nga  
Regulations on Payments via E-wallets of Foreign Countries  
and Recommendations for Vietnam  
LLM. Nguyen Thi Anh Tho, Nguyen Thuy Anh  
PhamThi Bich Ngoc, Trinh Kim Khanh  
LOCAL GOVERNMENT ADMINISTRATION  
Renovation the Organization of Specialized Agencies under  
the People's Committee in the model of government in Thu  
Duc city of Ho Chi Minh City  
57  
LLM. Phan Nguyen Phuong Thao  
PRICE: 25.000VND  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
QUỐC HỘI LẬP PHÁP HAY LÀ HÃM LẬP PHÁP1  
Nguyễn Đăng Dung  
GS. TS. Đại học Quốc gia Hà Nội  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Lập pháp là quyền làm luật của Quốc hội, nhưng quyền này không đơn giản chỉ  
là việc thông qua các dự án luật, mà còn bao hàm cả quyền hãm lập pháp. Trong  
nhiều trường hợp, quyền hãm làm luật còn quan trọng hơn cả quyền thông qua  
luật một khi dự án luật do Chính phủ hành pháp chuẩn bị, và một khi cần dự luật  
phản ánh đúng ý muốn của thực tế cuộc sống của người dân.  
Từ khóa: Quốc hội, lập pháp,  
hãm lập pháp.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 11/5/2021  
: 22/5/2021  
: 27/5/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Legislation is the law-making power of the National Assembly. This legislative  
power is not simple limited to the appraisal and approval of the bills, but also the  
power to delay the legislative process. In several cases, the legislative power to  
delay the law- makings is more important than the it is to approve the bill of law  
when a bill is prepared by the executive agency of the Government and when it is  
necessary to accurately reflect the realistic needs of the people.  
Keywords: National Assembly;  
legislation; legislation delay.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 11 May 2021  
: 22 May 2021  
: 27 May 2021  
Approved  
Những năm gần đây xảy ra tình trạng, nhiều  
dự luật đã được thông qua, chuẩn bị thi hành,  
nhưng do sự phản ứng của dư luận xã hội,  
Quốc hội đã phải xem xét lại. Bên cạnh Bộ luật  
Hình sự năm 2015 đã phải hoãn thi hành, còn  
có một số dự án luật khác liên tiếp không được  
trình ra Quốc hội. Nguyên nhân của tình trạng  
này nằm ở chất lượng làm luật. Việc tạm dừng  
các dự luật sửa đổi khi không đảm bảo chất  
lượng cũng là một việc cần thiết. Đứng trước  
thực trạng này đòi hỏi cần phải xem xét một  
cách thấu đáo quyền lập pháp từ khái niệm,  
phạm vi cho đến cách thức thực hiện. 1  
phải thuộc về nhân dân, không thể khác, rồi  
thứ mới đến là của đại diện cho người dân,  
người nhận được sự ủy thác của người dân.  
Cái thứ nhất thì quá tốt nhưng thực sự khó  
làm, với số lượng quá đông có quốc gia lên  
đến hơn tỷ người, và với lãnh thổ quá rộng  
so với nền dân chủ của các quốc gia cổ đại,  
nơi có nền dân chủ đầu tiên của nhân loại -  
nhà nước thành bang (Citystate). Vì vậy, về  
cơ bản mọi quốc gia hiện nay đều lựa chọn  
cách thứ hai, trừ một số trường hợp đặc biệt  
như thông qua Hiến pháp mới, hay tách nhập  
các phần lãnh thổ quốc gia, bằng biện pháp  
phúc quyết của người dân …  
Lập pháp là một trong ba nhánh quyền  
do các nhà tư tưởng - triết học thời kỳ Khai  
sáng J. Locke, S. Montesquieu tạo lập ra.  
Trong một nền dân chủ, quyền lực nhà nước  
Nhưng ngày nay, làm luật không phải là  
một công việc đơn giản, ngay cả cho những  
đại biểu/nghị sĩ lành nghề chuyên nghiệp.  
1 Bài viết có sử dụng kết quả nghiên cứu của Đề tài cấp Bộ (QG21.49 - Đại học Quốc gia Hà Nội) do GS, TS.  
Nguyễn Đăng Dung làm Chủ nhiệm.  
Số 11(435) - T6/2021  
3
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Bởi lẽ, phạm vi lập pháp của Nghị viện/  
Quốc hội là quá rộng. Do vậy, không phải  
bất cứ một đại biểu nào cũng có khả năng  
nắm vững được tất cả các dự thảo luật của  
Quốc hội cần phải thảo luận thông qua.  
Ngay từ năm 1861 khi viết chuyên khảo nổi  
tiếng Chính thể đại diện, nhà triết học người  
Anh J. S. Mill đã cảnh cáo sự khó khăn của  
vấn đề lập pháp của Nghị viện:  
nước tư bản phát triển. Lập pháp tức là việc  
Quốc hội bàn bạc biểu quyết thông qua luật.  
Việc thông qua dự luật hay không thông qua dự  
luật, là 2 mặt của một vấn đề - quyền lập pháp.  
Nhất là trong điều kiện dự luật lại là do Chính  
phủ - hành pháp soạn thảo, hay còn được gọi là  
sáng quyền lập pháp thuộc về Chính phủ. Điều  
này, về mặt hình thức, dường như mâu thuẫn  
với nguyên tắc của học thuyết phân quyền của  
nền dân chủ phương Tây.  
“Công việc làm luật cần thiết phải được  
thực hiện bởi các trí tuệ, không những phải  
được rèn luyện và kinh qua thử thách, mà còn  
phải được huấn luyện làm nhiệm vụ nghiên  
cứu lâu dài và cần cù; khó tìm thấy một loại  
công việc nào khác có sự đòi hỏi nhiều đến  
như vậy đối với người thực hiện. Giá như  
không có các lý do nào khác nữa, thì đây  
chính là lý do đó giải thích tại sao công việc  
ấy không bao giờ được thực hiện tốt được, trừ  
khi có một tiểu ban ít người đảm nhiệm nó.  
Một lý do nữa không kém phần quan trọng  
là mỗi điều khoản của bộ luật cần phải đặt  
trong khuôn khổ với một sự nhận thức chính  
xác, có tầm nhìn xa, thấy rõ được sự tác động  
của nó lên tất cả các điều khoản khác. Những  
điều kiện như thế không sao có thể đáp ứng ở  
bất cứ mức độ nào, khi mà người ta bỏ phiếu  
thông qua các bộ luật từng điều khoản tại một  
hội đồng hỗn tạp”2.  
Ở Việt Nam, cho dù Quốc hội, cũng như  
Nghị viện của các nước phương Tây, không  
hoàn toàn thực hiện các khâu từ dự thảo/soạn  
thảo, thảo luận, tranh luận đến thông qua dự  
luật, nhưng quyền thông qua luật của Quốc hội  
không thể chia sẻ với một chủ thể nào khác.  
Đây là một thành công của sự phát triển dân  
chủ của nhân loại, sau nhiều năm đấu tranh từ  
lý luận cho đến thực tiễn mới giành được.  
Với tinh thần của chủ nghĩa hợp hiến,  
một phần quan trọng của nhà nước pháp  
quyền, mọi quyền lực của nhà nước phải bị  
giới hạn, kể cả trong nhà nước dân chủ hiện  
nay. Bên cạnh quyền biểu quyết thông qua  
dự luật là quyền không biểu quyết dự luật  
thành luật. Trong trường hợp này, quyền lập  
pháp trở thành quyền hãm lập pháp. Quốc  
hội trở thành cơ quan hãm quyền lập pháp  
có cơ sở ở nó:  
Từ những phân tích xác đáng trên, Ông  
đề xuất, Quốc hội/ nghị viện tốt nhất là việc  
chỉ ra những người, một tập thể nào đáng  
được làm những việc khó khăn ấy và thay  
cho chức năng lập pháp không hoàn toàn  
thích hợp với mình, chức năng đích thực của  
Quốc hội đại diện là giám sát và kiểm soát  
Chính phủ, soi ánh sáng của tính công khai  
nên các hành vi cai trị buộc Chính phủ phải  
giải trình tất cả các hành vi ấy3.  
Chỉ làm luật một khi cuộc sống cần. Trước  
hết phải xuất phát từ nhận thức, chúng ta phải  
xoay lại cách làm luật hiện tại theo “kiểu vá  
xăm xe đạp”. Cái xăm còn nguyên đang đi  
được thì cứ để thế mà đi đừng chọc ra để  
vá. Cuộc sống đang bình yên thì hãy cứ để  
chúng bình yên, sự yên lành có giá trị của nó.  
Vì chúng được hình thành hàng nhiều năm,  
trải qua không biết bao nhiêu những quy luật  
khách quan đã được tích tụ lại, hình thành ra  
cuộc sống yên lành của người dân. Chỉ khi  
nào cuộc sống bình yên không được bảo đảm  
Những gì dự đoán của J.S. Mill đã diễn  
ra gần tương tự như hiện nay ở Quốc hội các  
2 J. S. Mill: Chính thể đại diện. Nxb. Tri thức, Hà Nội 2008, tr.163-164.  
3 J. S. Mill: Sđd.171- 172.  
4
Số 11(435) - T6/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
thì mới cần có tác động theo ý chí chủ quan  
của con người. Phải đưa cuộc sống vào pháp  
luật, mà không phải là ngược lại là đưa pháp  
luật vào cuộc sống.  
nhiều lần, rồi đánh giá tác động, nhưng luật  
vẫn không đi vào cuộc sống. Có rất nhiều lý  
do, nhưng lý do căn bản nằm ở chỗ: Luật chưa  
đáp ứng được nhu cầu của xã hội, chưa thể hiện  
được sự mong đợi của người dân. Hơn nữa,  
với hơn 80% các dự luật do Chính phủ trình,  
lẽ đương nhiên, dự thảo luật phải thể hiện nhu  
cầu của hành pháp. Vì vậy, khi bỏ phiếu thông  
qua, các đại biểu Quốc hội cần phải xem xét  
cẩn trọng nhu cầu của xã hội, mong muốn của  
cử tri bầu, tính hãm lập pháp cần phải được các  
đại biểu cân nhắc.  
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp  
luật năm 2015 phân tách giai đoạn xây dựng  
chính sách thành giai đoạn riêng - tách khỏi  
giai đoạn quy phạm hóa. Ở Quốc hội cũng  
có giai đoạn quyết định chính sách như ở  
Chính phủ, nhưng giữa chúng phải có sự  
khác nhau. Giai đoạn biểu quyết chính sách  
là giai đoạn các đại biểu Quốc hội cần có  
mục tiêu khác hơn với giai đoạn hoạch định  
chính sách của Chính phủ. Và giai đoạn được  
gọi là thẩm định chính sách của Quốc hội5 là  
giai đoạn quan trọng nhất để lấy ý kiến rộng  
rãi các bên có lợi ích liên quan bị tác động.  
Ở giai đoạn này, việc lấy ý kiến của các tổ  
chức xã hội, hội đoàn, tổ chức phi chính phủ  
cần được làm thực chất và nghiêm túc. Hội  
đoàn, tổ chức xã hội là những người gần  
nhất, hiểu nhất, có nguồn lực và năng lực  
đại diện tốt nhất cho tiếng nói và lợi ích của  
các nhóm người dân, đặc biệt là tiếng nói  
của các nhóm yếu thế.  
Vì vậy, việc làm luật phải bắt đầu các công  
việc nhận biết vấn đề của cuộc sống. Khi nhận  
biết được vấn đề, phải tìm ra nguyên nhân của  
vấn đề. Mỗi một nguyên nhân có nhiều biện  
pháp giải quyết. Luật pháp chỉ là biện pháp  
cuối cùng để giải quyết nguyên nhân của vấn  
đề - đó là (một giải pháp chính sách được lựa  
chọn để giải quyết vấn đề) giải quyết vấn đề.  
Đây là trách nhiệm cần có của cơ quan hành  
pháp, cơ bản là do các bộ, ngành thực hiện.  
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nhiều bộ, ngành  
chưa dành cho hoạt động xây dựng chính  
sách pháp luật sự quan tâm cần thiết. Đây là  
nguyên nhân chính của việc các bộ, ngành  
chậm trễ hướng dẫn thi hành luật. Không trăn  
trở với vấn đề, với chính sách để giải quyết  
vấn đề, thì không thể xây dựng dự thảo luật  
tốt và hướng dẫn luật thi hành tốt được.  
Làm luật phải đáp ứng được sự mong  
muốn của người dân. Làm luật như là bác sĩ  
chữa bệnh, trước khi kê đơn thuốc để chữa  
bệnh. thì phải khám theo phương pháp của  
Tây y và bắt mạch theo phương pháp của  
Đông y. Nếu không chữa đúng bệnh, bệnh  
tình không những không được chữa mà còn  
nặng thêm4. Khi cuộc sống có vấn đề thì phải  
có nhiều cách giải quyết, ví dụ, động viên,  
cung cấp tài chính, quy phạm đạo đức….  
Ban hành luật chỉ là biện pháp giải quyết khi  
mà những biện pháp trên không giải quyết  
được.  
Theo chuyên gia người Mỹ R. Seidman  
có tới 4 lý thuyết lập pháp: (i) Lý thuyết lớn;  
(ii) Lý thuyết mục tiêu - phương tiện; (iii) Lý  
thuyết gia tăng từ từ; (iv) Lý thuyết từ yêu cầu  
của cuộc sống6. Trong 4 lý thuyết này, ông cho  
rằng, lý thuyết thứ tư là quan trọng hơn cả.  
Mặc dù Luật ban hành văn bản quy phạm  
pháp luật đã có nhiều quy định, dự thảo luật  
phải có ý kiến của người dân. Trong quy trình  
xây dựng luật, dự thảo luật được sửa đi sửa lại  
4 Nguyễn Sĩ Dũng, Triết lý lập pháp, Tia sáng số 7 năm 2003.  
5 Xem, Nguyễn Sĩ Dũng, Tlđd.  
6
Assessing Legislation - A manual for legislators written by Ann Seidman, Robert Seidman, and Nalin  
Abeysekere February 2003 Boston, Masachsetts. Coopyright by the Authors p. 64- 70.  
Số 11(435) - T6/2021  
5
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Vấn đề đầu tiên của hoạt động lập pháp  
phải gắn liền với cuộc sống. Cuộc sống có thể  
đang đặt ra những vấn đề nóng bỏng, nhưng  
chúng ta không phản ứng được. Do đó, nhiều  
vấn đề mang tính thời sự nhưng chưa được  
đưa vào chương trình xây dựng pháp luật, mặc  
dù chương trình xây dựng pháp luật được xây  
dựng hằng năm. Bên cạnh đó, các cơ quan có  
liên quan lại phải tập trung mọi nỗ lực để hoàn  
thành chương trình xây dựng pháp luật theo kế  
hoạch đã được thông qua, nên sẽ không còn  
nguồn lực để xử lý những vấn đề nóng mới  
phát sinh. Sự chậm trễ và bất tương ứng như  
vậy có thể làm cho nền quản trị quốc gia của  
chúng ta trở nên kém hiệu năng.  
Nguồn động lực rất lớn để hình thành  
nên chương trình xây dựng pháp luật là  
mong muốn có thêm quyền năng của các  
bộ, ngành. Mà các bộ, ngành càng có thêm  
quyền năng, thì người dân càng ít tự do và  
càng phải xin phép nhiều hơn. Bên cạnh đó,  
vẫn còn tình trạng, sau khi đã đưa được tên  
dự luật vào chương trình, bộ, ngành mới tìm  
kiếm nội hàm chính sách cho chúng. Đây  
quả thực là cách làm ngược. Thẩm định về  
sự cần thiết của một lúc hàng chục dự luật là  
rất khó khăn. Trên thực tế, điều này là không  
thể làm được. Mà như vậy, thì rủi ro của việc  
hoạt động lập pháp bị tách khỏi cuộc sống  
thật lại càng lớn hơn7.  
cuộc sống của người dân, mà không phải là  
yêu cầu của chính bản thân Chính phủ.  
Sau khi chương trình xây dựng pháp luật  
được thông qua, các cơ quan hữu quan tiến  
hành soạn thảo các dự luật. Và các dự luật được  
soạn thảo xong trình ra các ủy ban tương ứng  
của Quốc hội để được thẩm tra. Sau khi các ủy  
ban thẩm tra xong thì trình ra Quốc hội. Theo  
quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm  
pháp luật hiện hành, các dự luật được thông qua  
ở hai lần đọc theo cách gọi của các nước có nền  
văn hóa nghị viện, tương ứng với hai lần trình ra  
phiên họp toàn thể của Quốc hội8. Ở lần đọc thứ  
nhất, Chính phủ trình dự luật ra trước Quốc hội,  
ủy ban Quốc hội trình ý kiến thẩm tra của mình  
đối với dự luật. Quốc hội thảo luận về những  
vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Ở lần đọc thứ  
hai, Ủy ban thường vụ Quốc hội trình dự luật ra  
trước Quốc hội, sau khi đã tiếp thu ý kiến của  
các vị đại biểu Quốc hội và hoàn thiện dự thảo  
văn bản. Nếu kể cả lần đầu tiên của việc thông  
qua chương trình làm luật hàng năm thì cũng có  
thể tính tới 3 lần đọc, gần như 3 lần đọc của các  
nước phương Tây.  
Triết lý của 3 lần đọc ở Việt Nam là rất  
khác với thế giới. Vì ở họ thường thông qua  
một dự luật qua ba lần đọc: Lần đọc thứ nhất  
để thẩm định sự cần thiết của dự luật (ở Việt  
Nam thông qua chương trình lập pháp hàng  
năm). Nếu đa số các vị đại biểu Quốc hội  
thấy dự luật là không cần thiết, thì dự luật sẽ  
chết yểu sau lần đọc thứ nhất; Lần đọc thứ  
hai - để thẩm định chính sách lập pháp được  
đề ra trong dự luật, nếu đa số các vị đại biểu  
Quốc hội không đồng ý với chính sách lập  
pháp được đề ra, thì dự luật sẽ chết yểu sau  
lần đọc thứ hai; Lần đọc thứ ba - để thông  
qua dự luật sau khi ủy ban có liên quan đã  
thẩm tra về mặt kỹ thuật và hoàn chỉnh văn  
bản. Nếu đa số đại biểu Quốc hội tán thành  
dự luật, thì dự luật mới được thông qua.  
Cách hợp lý nhất là nên dành cho Chính  
phủ có quyền chủ động nhiều hơn. Chính phủ  
sẽ lên kế hoạch thực hiện các nhiệm vụ và định  
hướng xây dựng pháp luật và trình ra Quốc  
hội theo tiến độ công việc của mình. Một khái  
niệm chúng ta cũng nên trang bị ở đây là: ưu  
tiên của hành pháp. Ưu tiên cho hành pháp là  
một trong những yêu cầu của cuộc sống. Chính  
phủ phải có quyền ưu tiên trong việc xác lập  
chương trình nghị sự của Quốc hội. Vấn đề là  
ở chỗ Chính phủ phải thấy được yêu cầu của  
7 Xem, Nguyễn Sĩ Dũng, Lập pháp - những vấn đề về quy trình, Tia sáng Số 15 - 2016.  
8 Nguyễn Sĩ Dũng, Sđd.  
6
Số 11(435) - T6/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
So với trước đây, việc thông qua dự luật  
theo hai lần đọc của chúng ta đã một tiến bộ  
và có ưu điểm so với phương Tây là rút ngắn  
thời gian. Tuy vậy, cách làm này không phải  
là không có vấn đề. Nếu như cách làm luật  
của họ phải trải qua nhiều cửa hãm lại, thì  
của Việt Nam lại quá đơn giản, thậm chí trong  
nhiều trường hợp không có một chốt hãm  
nào. Đây cũng là lý do tại sao chất lượng hệ  
thống pháp luật của chúng ta còn chưa đáp  
ứng được yêu cầu và cũng là nguyên nhân  
dẫn đến các trường hợp đã nêu ở trên.  
Điều rất dễ nhận thấy nhất là Chính phủ  
không được theo đuổi dự luật đến cùng. Vai  
trò của Chính phủ trong hoạt động lập pháp thì  
cũng giống như trong nhiều hoạt động mang  
tính chất quản trị quốc gia khác. Ở đó, Chính  
phủ đề xuất chính sách lập pháp, soạn thảo  
thành văn bản trình Quốc hội thẩm định và  
thông qua. Tuy nhiên, chúng ta hiện nay chưa  
thực sự minh định rõ giữa quy trình chính sách  
và quy trình soạn thảo, giữa chức năng trình  
chính sách của Chính phủ và thẩm định chính  
sách của Quốc hội. Cách làm này không tạo  
được cho Chính phủ cơ hội giải trình và bảo vệ  
chính sách lập pháp trước Quốc hội.  
Theo quy định hiện hành, Chính phủ chỉ  
được giải trình một lần duy nhất khi trình  
dự luật ra trước Quốc hội. Sau đó, việc hoàn  
thiện dự luật được giao lại cho Ủy ban thường  
vụ Quốc hội (UBTVQH). Sở dĩ như vậy là vì  
hiện nay, vẫn phổ biến quan điểm cho rằng,  
lập pháp là quyền của Quốc hội, nên việc sửa  
đổi, hoàn thiện văn bản, điều chỉnh chính sách  
như thế nào là quyền của Quốc hội. Thực ra  
quan niệm này chỉ phản ánh một thứ lôgíc  
hình thức về quyền lập pháp. Nó hoàn toàn  
không phản ánh đúng động lực thật của quy  
trình lập pháp9. Đây là một trong những biểu  
hiện sự không phân biệt rõ ràng giữa quyền  
hành pháp và quyền lập pháp theo cách hiểu  
của hiện đại. Ở đây cần phải nhận thấy, nếu  
như giao trách nhiệm hoàn thiện dự luật cho  
UBTVQH thì UBTVQH phải đứng ra giải  
trình với Quốc hội. Cơ quan trực thuộc lập  
pháp giải trình trước lập pháp. Các nước phát  
triển quan niệm rất khác, giải trình chính sách  
với lập pháp phải thuộc về hành pháp (Chính  
phủ), việc thẩm định chính sách mới thuộc  
về lập pháp. Sự đổi vai như vậy cũng không  
đáng quan ngại, nếu như các chính sách mới  
hoặc những sửa đổi, bổ sung không làm thay  
đổi bản chất chính sách của dự luật. Nếu điều  
ngược lại xảy ra, tức là UBTVQH, trong quá  
trình thảo luận lại sửa lại hoặc đưa ra các chính  
sách hoàn toàn khác với đề xuất của Chính  
phủ, thì việc triển khai thực hiện dự luật trong  
cuộc sống sẽ hết sức khó khăn. Một khi các  
chính sách mới chưa được nghiên cứu, chưa  
phân tích và chưa được đánh giá tác động, rất  
khó được thực thi. Trong khi đó, chính sách  
mà Chính phủ đề ra để xử lý vấn đề đặt ra thì  
lại bị bỏ ngỏ. Đây cũng là một trong những  
nguyên nhân sâu xa làm cho việc ban hành  
nghị định để triển khai thi hành luật, pháp  
lệnh bị chậm trễ, kéo dài10.  
Ngoài ra, một vấn đề nữa đặt ra trong hoạt  
động lập pháp của Quốc hội hiện nay đó là sự  
phân định không rõ ràng giữa vấn đề chính  
sách và vấn đề kỹ thuật. Ở nhiều nước trên thế  
giới, các đại biểu thường chỉ quan tâm thảo  
luận các vấn đề chính sách mà không đi sâu  
vào các vấn đề kỹ thuật. Các phiên họp toàn  
thể có mục tiêu tranh luận về chính sách, mà  
không phải về kỹ thuật, câu chữ, dấu chấm,  
dấu phẩy. Việc sử dụng phiên họp toàn thể để  
thảo luận và quyết định cả những vấn đề kỹ  
thuật như ở ta là rất rủi ro, và mất rất nhiều  
thời gian. Các vấn đề kỹ thuật là công việc  
của các chuyên gia, hơn là của các vị đại biểu.  
Lý do là vì không thể thảo luận và quyết định  
theo đa số các vấn đề kỹ thuật được  
9 Xem, Nguyễn Sĩ Dũng, Sđd.  
10 Xem, Nguyễn Sĩ Dũng, Sđd.  
Số 11(435) - T6/2021  
7
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
CÔNG ƯỚC LA HAY NĂM 1996 - SỰ CẦN THIẾT ĐỐI VỚI  
VIỆC NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG GIA NHẬP CỦA VIỆT NAM  
Lê Xuân Tùng*  
*ThS. Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Công ước La Hay năm  
1996, tư pháp quốc tế, trẻ em.  
Trong khuôn khổ Hội nghị La Hay, các vấn đề liên quan đến trẻ em có  
yếu tố nước ngoài đặc biệt được các quốc gia thành viên dành sự quan  
tâm rất lớn. Các khía cạnh về bảo vệ trẻ em được đề cập đến trong Hội  
nghị La Hay cho đến thời điểm hiện tại bao gồm: nghĩa vụ cấp dưỡng,  
nuôi con nuôi quốc tế, hành vi bắt cóc trẻ em và đặc biệt là bảo vệ trẻ em.  
Trong đó, Công ước La Hay năm 1996 về quyền tài phán, luật áp dụng,  
công nhận, thi hành và hợp tác liên quan đến trách nhiệm của cha mẹ và  
các biện pháp bảo vệ trẻ em (Công ước La Hay năm 1996) được đánh  
giá là Công ước tiên tiến khi mục tiêu của Công ước nhằm bảo vệ trẻ em  
trong các tình huống có tính chất quốc tế và tránh các xung đột pháp luật  
liên quan có thể xảy ra đối với các biện pháp bảo vệ trẻ em. Do đó, việc  
nghiên cứu Công ước La Hay năm 1996 để tiến đến khả năng gia nhập là  
cần thiết cho Việt Nam trong thời điểm hiện tại.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 30/3/2021  
: 18/4/2021  
: 21/4/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Keywords: Hague Conference of  
1996; private international law;  
children.  
Within the framework of Hague Conference, issues related to children  
with foreign elements are especially concerned by contracting members.  
Aspects of child protection covered in the Hague Conference up to present  
include: support obligations, international adoption, child abduction and  
especially children protection. Among them, the Hague Convention of  
1996 is considered as an advanced Convention when its aim is to protect  
children in international situations and avoid possible conflicts of law  
related to child protection measures. Therefore, it is extremely necessary  
to review the Convention towards the possibility of accession of Viet  
Nam at present.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 30 Mar. 2021  
: 18 Apr. 2021  
: 21 Apr. 2021  
Approved  
Việt Nam cũng như các quốc gia trên  
thế giới luôn coi nhiệm vụ bảo vệ, chăm  
sóc và giáo dục trẻ em là nội dung trọng  
yếu trong chiến lược phát triển đất nước1.  
Trẻ em là công dân đặc biệt được gia đình  
cũng như xã hội quan tâm, bảo vệ, chăm  
1
sóc. Trẻ em còn non nớt về thể chất và tinh  
thần nên các em không thể tự mình thực  
hiện đầy đủ các quyền mà hầu hết phải dựa  
vào người lớn là cha mẹ hoặc người giám  
hộ. Khi thực hiện pháp luật về bảo đảm  
các quyền trẻ em, các quốc gia luôn đặt lên  
phat-trien-dat-nuoc-623607.ldo, truy cập ngày 12/9/2020.  
8
Số 11(435) - T6/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
hàng đầu nguyên tắc bảo vệ những lợi ích  
tốt nhất dành cho trẻ em (ensure the best  
interests) tương ứng với từng độ tuổi phát  
triển về thể chất và tinh thần của trẻ. Trong  
bối cảnh hội nhập quốc tế gia tăng, các vấn  
đề về bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có  
yếu tố nước ngoài cần sự chung tay hợp tác  
của các quốc gia trên thế giới thông qua  
các điều ước song phương hay đa phương2.  
biệt là bảo vệ trẻ em. Trong đó, Công ước  
La Hay năm 1996 được đánh giá5 là công  
ước tiên tiến khi mục tiêu của Công ước  
nhằm bảo vệ trẻ em trong các tình huống có  
tính chất quốc tế và tránh các xung đột pháp  
luật liên quan có thể xảy ra đối với các biện  
pháp bảo vệ trẻ em.  
1. Công ước La Hay năm 1996  
1.1. Tổng quan về Công ước La Hay  
năm 1996  
Năm 1990, Việt Nam là quốc gia đầu tiên  
ở khu vực châu Á, là nước thứ hai trên thế  
giới đã phê chuẩn Công ước của Liên hợp  
quốc về quyền trẻ em năm 19893. Đặc biệt,  
kể từ ngày 10/4/2013, Việt Nam đã trở thành  
thành viên chính thức của Hội nghị La Hay  
về tư pháp quốc tế. Với tư cách thành viên,  
Việt Nam sẽ được tham gia quyết định chính  
sách, xây dựng các công ước hợp tác về các  
vấn đề tư pháp quốc tế và phương hướng  
tương lai của Hội nghị La Hay. Trong khuôn  
khổ Hội nghị La Hay, các vấn đề liên quan  
đến trẻ em có yếu tố nước ngoài đặc biệt  
được các quốc gia thành viên danh sự quan  
tâm rất lớn4. Các khía cạnh về bảo vệ trẻ  
em được đề cập đến trong Hội nghị La Hay  
bao gồm: Các nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi con  
nuôi quốc tế, hành vi bắt cóc trẻ em và đặc  
2
Vào thập niên 80 của thế kỷ 20, khi mà  
các vấn đề liên quan đến trẻ em có yếu tố  
nước ngoài đặc biệt bùng nổ, bộ ba Công  
ước về trẻ em của Hội nghị La Hay đã  
được phát triển trong khoảng thời gian  
16 năm, từ năm 1980 đến năm 1996 với  
một mục đích cơ bản là cung cấp một cơ  
chế thiết thực cho phép các quốc gia thành  
viên chung tay trong việc hợp tác bảo vệ  
trẻ em6. Đầu tiên là Công ước năm 1980  
về các khía cạnh dân sự của hành vi bắt  
cóc trẻ em với mong muốn bảo vệ trẻ em  
trên phạm vi quốc tế khỏi các ảnh hưởng  
xấu do bị mang đi hoặc bị giữ lại trái phép.  
Sau đó, vào năm 1993, Công ước về bảo vệ  
trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con  
nuôi có yếu tố nước ngoài được thiết lập  
truy cập ngày 15/10/2020.  
3 Unicef Việt Nam, Kỷ niệm 30 năm Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em, xem https://www.unicef.org/  
vietnam/vi/nh%E1%BB%AFng-c%C3%A2u-chuy%E1%BB%87n/k%E1%BB%B7-ni%E1%BB%87m-30-  
n%C4%83m-c%C3%B4ng-%C6%B0%E1%BB%9Bc-li%C3%AAn-h%E1%BB%A3p-qu%E1%BB%91c-  
v%E1%BB%81-quy%E1%BB%81n-tr%E1%BA%BB-em.  
4 Elisabeth J. Ryan, For the Best Interests of the Children: Why the Hague Convention of Intercountry Adoption  
Needs to Go Farther, as Evidenced by Implementation in Romania and the United States, Boston College  
International and Comparative Law Review.  
5
Henry Setright QC & Marcus Scott-Manderson QC, 4 PAPER BUILDINGS, 1996 Hague Convention  
31/10 /2020.  
6 Xem tại:https://www.familylawweek.co.uk/site.aspx?i=ed105739, truy cập ngày 12/8/2020.  
Số 11(435) - T6/2021  
9
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
để điều chỉnh việc nuôi con nuôi quốc tế  
trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của trẻ  
em ở cả nước nhận và nước gốc. Công ước  
năm 1996 về quyền tài phán, luật áp dụng,  
công nhận, thực thi và hợp tác liên quan  
đến trách nhiệm của cha mẹ và các biện  
pháp bảo vệ trẻ em có phạm vi rộng hơn  
so với hai công ước trước đó khi bao trùm  
được một lượng lớn các phương pháp dân  
sự trong công tác bảo vệ trẻ em.  
tránh khả năng xảy ra các quyết định gây  
nên xung đột. Công ước xác định trách  
nhiệm của cơ quan nơi trẻ em thường trú  
(habitual residence), trách nhiệm của quốc  
gia nơi trẻ em đang tạm trú phải có những  
biện pháp cần thiết bảo vệ trẻ em.  
Điều 3 Công ước La Hay năm 1996  
tuy không nêu rõ định nghĩa về các biện  
pháp bảo vệ nhưng quy định các vấn đề cụ  
thể mà biện pháp bảo vệ có thể được áp  
dụng nằm trong phạm vi Công ước. Quan  
trọng hơn, những điều khoản về hợp tác  
của Công ước tạo ra một khung pháp lý cơ  
bản cho việc trao đổi thông tin và phối hợp  
giữa các cơ quan hành chính nhà nước tại  
các quốc gia khác nhau.  
Tính đến tháng 9/2019, đã có tổng cộng  
123 quốc gia trở thành thành viên của  
Công ước La Hay năm 19937. Đáng chú  
ý, 52 quốc gia thành viên phần lớn đến  
từ các nước châu Âu và châu Mỹ; châu  
Phi có một quốc gia là Ma-rốc còn châu Á  
chưa có bất kỳ thành viên nào. Mỹ đã ký  
Công ước La Hay từ năm 2010 nhưng quá  
trình phê chuẩn Công ước vẫn còn đang  
bị bỏ ngỏ8. Đây cũng là một điểm đáng  
chú ý khi xem xét khả năng gia nhập của  
Việt Nam từ kinh nghiệm của các quốc gia  
trong và ngoài khu vực.  
Công ước La Hay năm 1996 không  
ràng buộc các quốc gia thành viên phải  
sửa đổi luật pháp quốc nội trong cho phù  
hợp với Công ước, nhưng trên thực tế,  
các quốc gia thành viên đều có những bổ  
sung, hoàn thiện pháp luật trong nước để  
tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện  
Công ước.  
Công ước La Hay năm 1996 gồm 63  
điều, được chia làm 7 chương9 bao gồm: (i)  
Phạm vi công ước, (ii) Quyền tài phán, (iii)  
Luật áp dụng, (iv) Công nhận và thi hành,  
(v) Hợp tác, (vi) Những quy định chung,  
(vii) Điều khoản cuối cùng.  
Công ước La Hay năm 1996 đã xây  
dựng một thiết chế để giải quyết các vấn  
đề về quyền nuôi dưỡng có thể phát sinh  
khi cha mẹ ly thân và sống ở các quốc gia  
khác nhau, tránh việc cơ quan tài phán ở  
nhiều quốc gia có thẩm quyền để quyết  
định vụ việc.  
Các quy định được nêu trong Công ước  
La Hay năm 1996 có tính thống nhất cao,  
7
14/10/2020.  
8 Xem tại: Linda Silberman. “The 1996 Hague Convention on the Protection of Children: Should the United  
lần cuối ngày 24/5/2021.  
9 Xem https://www.hcch.net/en/instruments/conventions/full-text/?cid=70, truy cập lần cuối vào 15/9/2020.  
10  
Số 11(435) - T6/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Những điều khoản của Chương công  
nhận và thực thi của Công ước được thiết  
kế nhằm mục đích tránh việc tranh chấp  
hay khởi kiện lại việc cấp dưỡng và liên  
lạc, đồng thời đảm bảo rằng, các quyết  
định tại nơi trẻ có thường trú được hưởng  
ưu tiên.  
bổ sung, củng cố bằng cách nhấn mạnh  
và làm rõ vai trò của các cơ quan tại nơi  
mà trẻ thường trú với việc quyết định bất  
kỳ biện pháp nào cần thiết để bảo vệ trẻ  
em lâu dài11. Các thủ tục về hợp tác trong  
Công ước La Hay năm 1996 đóng vai trò  
quan trọng trong các trường hợp trẻ chưa  
thành niên không có người đi kèm đi qua  
biên giới của các quốc gia khác. Dù cho trẻ  
thành niên không có người đi kèm là người  
tị nạn, xin tị nạn hay người bỏ trốn ở tuổi  
thành niên, Công ước hỗ trợ bằng cách hợp  
tác trong việc xác định vị trí của đứa trẻ,  
bằng cách xác định quốc gia nào có thẩm  
quyền để thưc hiện bất kỳ biện pháp bảo vệ  
cần thiết. Công ước La Hay năm 1996 dựa  
trên quan điểm cho rằng các điều khoản về  
bảo về trẻ em nên tạo thành một thể thống  
nhất. Điều này cũng giải thích lý do phạm  
vi Công ước khá rộng khi Công ước khắc  
phục sự không chắc chắn (uncertainty)  
phát sinh nếu các quy tắc riêng áp dụng  
cho các loại biện pháp bảo vệ khác nhau.  
Đồng thời, Công ước La Hay năm 1996  
tính đến sự đa dạng của các thể chế pháp lý  
và hệ thống bảo vệ trẻ em tồn tại trên khắp  
thế giới.  
Những điều khoản của Chương hợp tác  
khuyến khích việc trao đổi thông tin một  
cách cần thiết và có thể trở thành một kênh  
hữu hiệu cho việc tìm kiếm các giải pháp,  
chẳng hạn như hòa giải…  
2. Mối quan hệ của Công ước La Hay năm  
1996 với các điều ước quốc tế liên quan  
Công ước La Hay năm 1996 được nhận  
xét là có nhiều điểm tương đồng với Quy  
chế Brussell II (Quy chế). Cả hai công cụ  
đều chứa các quy tắc về quyền tài phán,  
công nhận và thực thi các quyết định về  
trách nhiệm của cha mẹ. Nếu một vụ việc  
xảy ra thì Quy chế sẽ chiếm ưu thế hơn  
Công ước trong quan hệ giữa các quốc gia  
thành viên về các vấn đề thuộc phạm vi  
điều chỉnh của Quy chế. Do đó, Quy chế  
chiếm ưu thế trong các vấn đề về thẩm  
quyền, công nhận và thực thi. Mặt khác,  
Công ước La Hay năm 1996 được áp dụng  
trong quan hệ giữa các quốc gia thành viên  
về các vấn đề luật áp dụng, vì vấn đề này  
không được quy định trong Quy chế10.  
3. Một số thuật ngữ đáng chú ý trong  
Công ước La Hay năm 1996  
- Habitual Residence (Nơi thường trú)  
Công ước La Hay năm 1996 không đưa  
ra định nghĩa cụ thể về nơi thường trú.  
Bản chất của các quy định và sự sắp xếp  
So với Công ước La Hay năm 1980  
về các khía cạnh dân sự của hành vi bắt  
cóc trẻ em, Công ước La Hay năm 1996  
10 Practice Guide for the application of the new Brussels II Regulation, xem file:///C:/Users/MyPC/Downloads/  
guide_new_brussels_ii_EU_en.pdf, truy cập ngày 15/9/2020.  
11  
Seventh Meeting of the Special Commission on the Practical Operation of the 1980 Child Abduction  
details4/?pid=6545&dtid=57, truy cập ngày 10/11/2020.  
Số 11(435) - T6/2021  
11  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
được mô tả trong Công ước phụ thuộc vào  
nơi một đứa trẻ “thường trú”. Nguyên tắc  
chung là quốc gia mà đứa trẻ thường trú  
là quốc gia có quyền tài phán đối với đứa  
trẻ và có quyền thực hiện và quyết định  
các thủ tục tố tụng để bảo vệ quyền lợi của  
đứa trẻ đó. Thiết lập nơi ở theo thói quen  
của trẻ thường là một giai đoạn quan trọng  
trong việc đánh giá tình hình của trẻ.  
hoặc bất kỳ mối quan hệ tương tự nào về  
thẩm quyền xác định quyền; quyền hạn và  
trách nhiệm của cha mẹ, người giám hộ  
hoặc người đại diện hợp pháp khác liên  
quan đến đứa trẻ. Khi trách nhiệm của cha  
mẹ đã được thiết lập ở một quốc gia, người  
nắm giữ nó sẽ tiếp tục giữ trách nhiệm của  
cha mẹ sau khi chuyển sang một quốc gia  
khác. Bất kỳ sự bổ sung trách nhiệm của  
cha mẹ chỉ có thể được thực hiện theo luật  
của quốc gia mà đứa trẻ thường trú tại thời  
điểm đó. Quyền giám hộ là một dạng trách  
nhiệm đặc biệt của cha mẹ, thay thế trách  
nhiệm của cha mẹ hoặc những người khác  
có trách nhiệm.  
Nơi thường trú của một đứa trẻ không  
đương nhiên là của người chăm sóc chính  
của chúng, cũng không liên quan đến quốc  
tịch của đứa trẻ. Nếu một đứa trẻ bị chuyển  
từ quốc gia này sang quốc gia khác mà  
không có sự đồng ý của người hoặc cơ  
quan có quyền nuôi dưỡng, thì nơi thường  
trú của trẻ sẽ không thay đổi. Tuy nhiên,  
nếu một đứa trẻ đã sống ở một quốc gia  
trong một năm và định cư ở đó, nơi thường  
trú của trẻ sẽ là quốc gia đó với điều kiện  
không có cá nhân hoặc cơ quan nào đưa  
ra yêu cầu hợp lệ để trả lại đứa trẻ. Nếu  
một đứa trẻ bị chuyển từ quốc gia này sang  
quốc gia khác mà không có sự đồng ý của  
người hoặc cơ quan có quyền nuôi dưỡng,  
thì nơi thường trú của trẻ sẽ không thay đổi.  
Sổ tay của Hội nghị La Hay về Hướng  
dẫn thực thi Công ước xác định khái niệm  
“trách nhiệm của cha mẹ” có thể được hiểu  
tùy theo pháp luật của mỗi quốc gia thành  
viên. Pháp luật Việt Nam quy định khá đầy  
đủ về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và  
người giám hộ, người đại diện theo pháp  
luật đối với nhân thân cũng như tài sản của  
trẻ em.  
- Urgent cases (Trường hợp khẩn cấp)  
Công ước La Hay năm 1996 không đưa  
ra định nghĩa thế nào là “trường hợp khẩn  
cấp”. Do đó, vấn đề được đặt ra đối với các  
cơ quan tư pháp/hành chính tại nước ký kết  
chính là việc xác định xem một tình huống  
cụ thể có phải là “khẩn cấp” hay không.  
Trong trường hợp một đứa trẻ là người  
tị nạn hoặc rời khỏi đất nước của mình, thì  
quốc gia mà đứa trẻ đó hiện diện thực tế sẽ  
có quyền tài phán. Nếu không rõ trẻ thường  
trú ở đâu, thì cần tư vấn pháp lý.  
- Parental Responsibility (Trách nhiệm  
của cha mẹ)  
Căn cứ vào Báo cáo Giải thích Công  
ước La Hay năm 1996, tình huống khẩn  
cấp có thể được xác định trong trường  
hợp biện pháp bảo vệ được áp dụng theo  
quy định từ Điều 5 đến Điều 1012 khi trẻ  
Trách nhiệm của cha mẹ được quy định  
tại khoản 2 Điều 1 Công ước La Hay năm  
1996, bao gồm: Thẩm quyền của cha mẹ  
12 Quy định về những cơ sở chung  
12  
Số 11(435) - T6/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
có thể phải chịu những tổn hại không  
thể khắc phục được hoặc trong trường  
hợp lợi ích của trẻ có thể bị xâm phạm13.  
Chính vì vậy, cơ quan có thẩm quyền tại  
các quốc gia thành viên cần tiến hành  
xem xét liệu đứa trẻ có khả năng phải  
chịu những tổn hại không thể khắc phục  
được hay không hoặc các lợi ích của  
chúng bị tổn hại nếu một biện pháp bảo  
vệ không được thực hiện14.  
mẹ (Điều 96), khai sinh cho trẻ em (Điều  
97), bảo đảm chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ  
em (Điều 98), giáo dục trẻ em, bảo đảm  
quyền học tập, phát triển năng khiếu, vui  
chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, thể thao,  
du lịch của trẻ em (Điều 99); bảo vệ tính  
mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của  
trẻ em (Điều 100); bảo đảm quyền dân sự  
(Điều 101).  
Tuy nhiên, các biện pháp bảo vệ được  
đề cập trong pháp luật hiện hành mới chỉ  
giới hạn phạm vi trong nước mà chưa tính  
đến các vụ việc có yếu tố nước ngoài với  
tính chất phức tạp. Có thể kể đến những vụ  
ly hôn có yếu tố nước ngoài, việc cha/mẹ  
đưa con đến một quốc gia khác mà không  
có sự xin phép của người còn lại hay trẻ  
em là đối tượng của những vụ buôn bán  
người qua biên giới... Việc xác định nơi  
thường trú của trẻ em trong nhiều trường  
hợp cũng gặp nhiều khó khăn khi có những  
mâu thuẫn, xung đột trong pháp luật quốc  
gia. Chính vì vậy, khi tính đến khả năng gia  
nhập Công ước La Hay năm 1996, các luật  
liên quan đến việc bảo vệ lợi ích tốt nhất  
cho trẻ cũng như trách nhiệm của cha mẹ  
bao gồm: Luật Tương trợ tư pháp, Luật Trợ  
giúp pháp lý, Luật Cư trú… cũng cần được  
xem xét sửa đổi, bổ sung…  
4. Sự cần thiết Việt Nam gia nhập Công  
ước La Hay năm 1996  
Trong suốt 30 năm kể từ khi gia nhập  
Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ  
em, Việt Nam đã nỗ lực trong công tác  
xây dựng pháp luật hài hòa với các quy  
định của Công ước. Luật Trẻ em năm 2016  
(Luật Trẻ em), về cơ bản phù hợp với mục  
tiêu của Công ước cũng như các Điều ước  
quốc tế liên quan mà Việt Nam là thành  
viên. Luật Trẻ em dành một chương riêng  
(chương VI từ Điều 79 đến Điều 102) xác  
định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan  
nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ  
chức kinh tế, cơ sở giáo dục và trên hết là  
trách nhiệm của gia đình, mà đặc biệt là  
cha mẹ. Gia đình có vai trò, trách nhiệm  
quan trọng trong việc thực hiện quyền trẻ  
em (nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, phát  
triển, hình thành nhân cách của trẻ em).  
Vì vậy, Luật Trẻ em quy định cụ thể trách  
nhiệm bảo đảm cho trẻ em sống với cha,  
Việt Nam đã là thành viên của Công ước  
năm 1993 và trong thời gian sắp tới sẽ hoàn  
tất thủ tục gia nhập Công ước năm 1980.  
13 Báo cáo giải thích Công ước, tr.68.  
14 Giai đoạn này diễn ra trước khi các cơ quan có thẩm quyền theo Điều 5 đến Điều 10 Công ước La Hay năm  
1996 có thể thực hiện các biện pháp bảo vệ cần thiết. Sổ tay Công ước đưa ra các ví dụ sau: i) Trẻ đang ở bên  
ngoài quốc gia nơi thường trú của mình và cần phải điều trị y tế khẩn cấp; (ii) Tài sản thuộc về trẻ em cần được  
bán; hoặc (iii) Đã xảy ra việc đưa đi hoặc giữ trẻ một cách bất hợp pháp và, trong bối cảnh tố tụng được tiến  
hành theo Công ước La Hay năm 1980 về bắt cóc trẻ em, các biện pháp cần được thực hiện khẩn cấp để đảm  
bảo đưa trẻ trở lại quốc gia thành viên một cách an toàn.  
Số 11(435) - T6/2021  
13  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Nhìn một cách tổng quan, việc gia nhập  
Công ước La Hay sẽ đem lại nhiều lợi ích  
cho Việt Nam, không chỉ tăng cường hợp  
tác quốc tế trong việc bảo vệ trẻ em mà còn  
có khả năng giải được bài toán lớn trong tư  
pháp quốc tế, đó là xác định được những  
xung đột của pháp luật bao gồm: quyền tài  
phán, luật áp dụng, công nhận và thực thi.  
Việc tiếp cận những vấn đề này từ góc độ  
dân sự cũng còn khá mới mẻ tại Việt Nam  
đồng nghĩa với việc sẽ có những khác biệt  
hay khoảng trống so với các quy định của  
Công ước.  
nghị La Hay về tư pháp quốc tế của Việt  
Nam15. Mục 4 của phần nhiệm vụ và giải  
pháp của bản Kế hoạch với tên gọi là  
“Đẩy mạnh nghiên cứu, từng bước tham  
gia các Công ước của Hội nghị La Hay”  
đã ghi rõ:  
“Nhiệm vụ này nhằm xây dựng một lộ  
trình nghiên cứu gia nhập các Công ước  
quan trọng của Hội nghị cần thiết đối với  
Việt Nam theo thứ tự ưu tiên phù hợp nhất  
với nhu cầu, điều kiện của Việt Nam.  
Để thực hiện nhiệm vụ này cần tiến hành  
rà soát và nghiên cứu sơ bộ toàn bộ các  
Công ước của Hội nghị La Hay để xác định  
những Công ước mà Việt Nam cần ưu tiên  
nghiên cứu gia nhập, lộ trình và cơ quan  
chủ trì việc nghiên cứu, gia nhập cũng như  
thực thi sau này.”  
Một vấn đề khác được đặt ra liên quan  
đến bảo vệ trẻ em và trách nhiệm của cha  
mẹ, đó là khi tính đến khả năng gia nhập  
sẽ có những xung đột trong pháp luật nội  
dung và pháp luật hình thức của Việt Nam  
và một số quốc gia thành viên Công ước  
La Hay năm 1996. Bởi lẽ, khi một thuật  
ngữ được dùng ở hai hệ thống pháp luật  
khác nhau thì cũng có thể được hiểu theo  
hai nghĩa khác nhau. Ví dụ, Công ước  
La Hay năm 1996 không định nghĩa về  
habitual residence (nơi thường trú) mà  
việc quy định này sẽ được dành cho các  
quốc gia thành viên. Điều này có thể dẫn  
tới những cách hiểu không thống nhất giữa  
các quốc gia áp dụng luật quốc tịch (lex  
nationalis) và quốc gia áp dụng luật cư trú  
(lex domicili).  
Trong bối cảnh Việt Nam càng tích cực  
trong công cuộc hội nhập quốc tế, các mối  
quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài càng  
phát triển với tần suất ngày càng gia tăng  
về số lượng cũng như sự phức tạp thì việc  
bảo vệ trẻ em cũng như đảm bảo lợi ích  
tốt nhất cho trẻ em cần sự phối hợp chặt  
chẽ, tăng cường hợp tác trong lĩnh vực tư  
pháp quốc tế. Nhiều vấn đề quốc tế cần giải  
quyết ở vấn đề đa phương với nỗ lực cao từ  
các quốc gia và Công ước chính là văn bản  
pháp lý quốc tế quan trọng cụ thể hóa mối  
quan tâm này. Việc tham gia thiết chế đa  
phương trong tư pháp quốc tế là một biện  
pháp có tính chất lâu dài, bền vững, hữu  
hiệu trong việc xử lý các vấn đề pháp lý có  
Sau khi Việt Nam trở thành thành viên  
của Hội nghị La Hay, ngày 16/8/2013,  
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết  
định số 1440/QĐ-TTg về Kế hoạch thực  
hiện quyền và nghĩa vụ thành viên Hội  
15  
thể phát sinh  
id=2&mode=detail&document_id=169326.  
14  
Số 11(435) - T6/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
XU HƯỚNG XÓA BỎ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH  
TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM  
Vũ Đình Hoàng*  
*Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị khu vực I, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Do tính chất hà khắc của hình phạt tử hình mà từ đầu thế kỷ XVIII, nhiều  
quốc gia trên thế giới đã bắt đầu quá trình xóa bỏ hình phạt này. Việc  
loại bỏ hình phạt tử hình ra khỏi đạo luật hình sự của quốc gia được cho  
là cần thiết. Trong 30 năm qua, Việt Nam đã tích cực, kiên trì thực hiện  
chính sách nhân đạo trong pháp luật hình sự. Theo đó, từ năm 1985 đến  
nay, tỷ lệ hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự giảm tới 59%. Đến năm  
2015, số tội phạm phải chịu hình phạt tử hình chỉ còn 18 tội danh chiếm  
5,7% số điều luật trong Bộ luật Hình sự. Điều này thể hiện Việt Nam tích  
cực tiếp thu các tư tưởng tiến bộ, nhân văn của nhân loại một cách có  
chọn lọc và có lộ trình trong việc xóa bỏ hình phạt tử hình.  
Từ khóa: Phi tội phạm hóa, phi  
hình sự hóa, xóa bỏ hình phạt tử  
hình, quyền con người, nhân đạo.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 08/3/2021  
: 28/3/2021  
: 04/4/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Due tothe harshnature ofthe deathpenalty, from the beginningofthe 18th  
century, several countries in the world have applied the abolition of the  
death penalty. The removal of the death penalty from the country's penal  
code was deemed crucially necessary. Over the past 30 years, Vietnam  
has actively and consistently implemented a humanitarian policy in  
criminal law. Accordingly, since1985 the death penalty rate in the Penal  
Code of Vietnam has decreased by 59%. By 2015, the criminals subject  
to the death penalty were recognized in 18 articles, accounting for 5.7%  
of the Penal Code articles. This shows that Vietnam is actively absorbing  
the progressive and humanistic ideas of humanity selectively and has a  
roadmap in the abolition of the death penalty.  
Keywords: Decriminalization;  
depenalization; abolition of the  
death penalty; human rights;  
clemency.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 08 Mar. 2021  
: 28 Mar. 2021  
: 04 Apr. 2021  
Approved  
1. Một số vấn đề lý luận về hình phạt  
tử hình  
loại bỏ hoàn toàn người này khỏi xã hội.  
Hình phạt tử hình là sự phản kháng mang  
tính khách quan của xã hội đối với những  
hành vi xâm phạm đến những quan hệ xã  
hội quan trọng nhất.  
Tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất  
trong hệ thống hình phạt chính của Việt  
Nam, tước bỏ quyền sống của người phạm  
tội. Vì tính chất nghiêm khắc của hình phạt  
này nên tử hình chỉ áp dụng thông qua quyết  
định của Tòa án với các tội phạm đặc biệt  
nghiêm trọng, người phạm tội không còn  
khả năng được giáo dục, cải tạo nữa, phải  
Lịch sử phát triển pháp luật hình sự  
trên thế giới cho thấy, tử hình là một trong  
những hình phạt xuất hiện từ rất sớm. Sự  
ra đời của hình phạt tử hình là quy luật tất  
yếu phản ánh quy luật đấu tranh sinh tồn1  
1 Mayr, Ernst, The Growth of Biological Thought: Diversity, Evolution, and Inheritance, Harvard University  
Press, 1982, p.485.  
Số 11(435) - T6/2021  
15  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
sơ khai, khắc nghiệt của tự nhiên. Bộ luật  
Hamurabi ra đời từ thế kỷ XVIII trước công  
nguyên (TCN) là văn kiện pháp lý đầu tiên  
chính thức ghi nhận về hình phạt này với  
25 tội phạm cụ thể. Sau Bộ luật này, các  
luật thành văn khác cũng sớm ghi nhận tử  
hình là một hình phạt được áp dụng với mọi  
loại phạm tội như luật của người Hittite vào  
thế kỷ XIV TCN, Bộ luật Draconian của  
Athens vào thế kỷ XVII TCN2.  
để từ phía người bị kết án. Hình phạt này  
không có mục đích cải tạo, giáo dục người  
bị kết án, như vậy nó tước bỏ cơ hội tái hòa  
nhập và phục thiện của họ.  
Thứ ba, hình phạt tử hình đồng thời có  
khả năng đạt được nhiều hiệu quả cao trong  
phòng ngừa chung.  
Thứ tư, hình phạt tử hình có tính chất  
không thay đổi, nó tước đi khả năng khắc  
phục sai lầm trong hoạt động tư pháp.  
Hình phạt tử hình mang đầy đủ những  
đặc điểm hình phạt của luật hình sự. Trước  
hết, nó là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc  
nhất của Nhà nước áp dụng đối với người  
phạm tội; do tòa án quyết định thông qua  
một bản án có hiệu lực pháp luật; mục đích  
của hình phạt nhằm trừng trị vào giáo dục  
người phạm tội, giáo dục người khác tôn  
trọng pháp luật, đấu tranh phòng, chống tội  
phạm. Tuy nhiên, với tư cách là một hình  
phạt đặc biệt, hình phạt tử hình có những  
đặc điểm riêng sau đây3:  
2. Xu hướng loại bỏ hình phạt tử hình  
trên thế giới  
Do tính chất hà khắc của tử hình mà từ  
đầu thế kỷ XVIII, các quốc gia trên thế giới  
đã bắt đầu quá trình xóa bỏ hình phạt này.  
Việc loại bỏ hình phạt tử hình ra khỏi đạo  
luật hình sự của quốc gia được cho là cần  
thiết dựa trên những luận điểm chính sau4:  
(1) Hình phạt tử hình không hẳn là một biện  
pháp răn đe hiệu quả5; (2) Hình phạt tử hình  
đã thi hành sẽ không thể khắc phục được  
hậu quả trong trường hợp oan sai6; (3) Việc  
áp dụng hình phạt tù chung thân đối với  
những người phạm tội mà bị coi là mối đe  
dọa cho xã hội sẽ có tác dụng ngăn ngừa  
những người này tái phạm giống như hình  
phạt tử hình7; (4) Thực tế việc áp dụng hình  
phạt tử hình để trừng trị kẻ phạm tội nhằm  
bù đắp cho những mất mát đối với nạn nhân  
Thứ nhất, tử hình là một loại hình phạt  
nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt,  
nó tước đi quyền sống của người bị kết án,  
vì thế nó chỉ được quy định áp dụng đối với  
người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.  
Thứ hai, hình phạt tử hình có mục đích  
phòng ngừa tái phạm tội mới một cách triệt  
2
Death Penalty Information Center, History of the death penalty, early history of the death penalty, https://  
deathpenaltyinfo.org/facts-and-research/history-of-the-death-penalty/early-history-of-the-death-penalty, truy  
cập ngày 21/12/2020.  
3 Trung tâm nghiên cứu quyền con người - quyền công dân, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Những điều  
cần biết về hình phạt tử hình (Sách tham khảo), Nxb. Lao động - Xã hội, 2010, tr.26-28.  
4 MOJ, UNDP và EU, Báo cáo nghiên cứu khả năng của Việt Nam gia nhập nghị định thư tùy chọn thứ hai về  
bãi bỏ hình phạt tử hình theo Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), EUJULE, 2019, tr.1.  
5 Jeffrey Fagan, Deterence and the death penalty in the International perspective, in UNHRC, Moving away  
from the death penalty: Argument, trend and perspectives, United Nation, 2015, p.98.  
6 ThomasSobirkPetersen(Ed),WhyCriminalize?NewPerspectivesonNormativePrinciplesofCriminalization,  
Springer, 2020, p.17-110.  
7AmnestyInternational,https://www.amnesty.org/en/what-we-do/death-penalty/death-penalty-your-questions-  
answered/, truy cập ngày 21/12/2020.  
16  
Số 11(435) - T6/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
và gia đình của họ là điều không cần thiết8;  
(5) Quan điểm cho rằng, hình phạt tử hình  
“đỡ tốn kém” hơn so với hình phạt tù chung  
thân là không hoàn toàn chính xác9.  
sống đối với mỗi con người. Ở những  
nước mà hình phạt tử hình chưa được xóa  
bỏ thì chỉ được phép áp dụng án tử hình  
đối với những tội ác nghiêm trọng nhất,  
căn cứ vào luật pháp hiện hành tại thời  
điểm tội phạm được thực hiện và không  
được trái với những quy định của Nghị  
định thư năm 1989 và Công ước về ngăn  
ngừa và trừng trị tội diệt chủng. Hình phạt  
tử hình chỉ được thi hành trên cơ sở bản  
án đã có hiệu lực pháp luật, do một toà  
án có thẩm quyền phán quyết. Dù không  
buộc các quốc gia phải xóa bỏ ngay hình  
phạt tử hình song LHQ nhấn mạnh, không  
một quy định nào của Điều 6 Công ước  
quốc tế về các quyền dân sự và chính  
trị năm 1966 có thể được viện dẫn để trì  
hoãn hoặc ngăn cản việc xóa bỏ hình phạt  
tử hình tại bất kỳ quốc gia thành viên nào  
của Công ước. Điều 1 Nghị định thư năm  
1989 quy định trách nhiệm của các quốc  
gia trong việc bãi bỏ hình phạt tử hình.  
Theo đó, mỗi quốc gia thành viên Nghị  
định thư sẽ tiến hành tất cả những biện  
pháp cần thiết để bãi bỏ hình phạt tử hình  
trong phạm vi quyền tài phán của mình.  
Với những nỗ lực không ngừng nghỉ của  
LHQ, theo thống kê của Tổ chức Ân xá  
quốc tế, tính đến năm 2019, trên thế giới  
đã có 106 quốc gia xóa bỏ hình phạt tử  
hình với mọi loại tội phạm13.  
Cho tới nay, các tranh luận về sự cần  
thiết của hình phạt tử hình vẫn chưa ngã  
ngũ10. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, cùng  
với sự phát triển của nhà nước pháp quyền  
và sự tiến bộ của xã hội, xu hướng nhân  
đạo hóa pháp luật hình sự trên thế giới  
đã khuyến khích các quốc gia hạn chế  
việc sử dụng hình phạt tử hình, tiến tới  
loại bỏ hoàn toàn hình phạt này ra khỏi  
luật hình sự11. Qua các năm 2007, 2008,  
2010, 2012 và năm 2014, Đại hội đồng  
Liên hợp quốc (LHQ) đã tiến hành kêu  
gọi các quốc gia trên thế giới đình chỉ tử  
hình toàn cầu, hướng đến việc bãi bỏ hoàn  
toàn hình phạt này. Tuy nhiên, LHQ cũng  
không ràng buộc các quốc gia phải loại bỏ  
hoàn toàn hình phạt này12 . Nhằm thúc đẩy  
việc loại bỏ hình phạt tử hình ở các quốc  
gia, Liên hợp quốc đã ban hành nhiều văn  
kiện quan trọng. Trong đó, có thể kể đến  
như: Công ước quốc tế về các quyền dân  
sự và chính trị năm 1966 và Nghị định thư  
tùy chọn thứ hai về bãi bỏ hình phạt tử  
hình theo Công ước quốc tế về các quyền  
dân sự và chính trị năm 1989 (Nghị định  
thư năm 1989). Theo đó, các văn kiện  
này khẳng định tầm quan trọng của quyền  
8 Corey Daniel, Burton, “Families of murder victims’perceptions of capital punishment: a content analysis of  
what family members say following executions”, Electronic Theses and Dissertations, paper 184, 2012, p.31  
9
Matthew Rousu, “The Death Penalty vs. Life Incarceration: A Financial Analysis” 7(4) Susquehanna  
University Political Review, 2016, p.25.  
10 Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, Những điều cần biết về hình phạt  
tử hình, Nxb. Lao động, 2010, tr. 40.  
11 MOJ, UNDP và EU, Báo cáo nghiên cứu khả năng của Việt Nam gia nhập Nghị định thư tùy chọn thứ hai về  
bãi bỏ hình phạt tử hình theo Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), EUJULE, 2019, tr.1.  
12  
Maria Donatelli, 117 countries vote for a global moratorium on executions, http://www.worldcoalition.  
org/united-nations-resolution-moratorium-death-penalty-xecutions-general-assembly.html, truy cập ngày  
21/12/2020.  
13  
questions-answered/, truy cập ngày 21/12/2020.  
Số 11(435) - T6/2021  
17  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
3. Mối quan hệ giữa loại bỏ hình phạt tử  
hình với quá trình phi tội phạm hóa và  
phi hình sự hóa  
Hai là, việc xóa bỏ hình phạt tử hình  
có thể tiến hành thông qua hoạt động phi  
tội phạm hóa. Phi tội phạm hóa là một  
khái niệm chưa được chú ý nghiên cứu  
trong giới khoa học pháp lý. Nhiều công  
trình cho rằng, phi tội phạm hóa là một  
bộ phận nằm trong nội hàm của khái niệm  
tội phạm hóa14. Hơn nữa, đối với các quốc  
gia có theo truyền thống Civil law, việc  
nghiên cứu về tội phạm hóa và phi tội  
phạm hóa không phải là một chủ đề dành  
được sự quan tâm nghiên cứu15. Điều  
này có ảnh hưởng đến việc nghiên cứu  
hạn chế hình phạt tử hình thông qua hoạt  
động lập pháp. Ở Việt Nam, các nhà khoa  
học tiếp cận khái niệm này dưới góc độ  
là một hoạt động lập pháp thu hẹp phạm  
vi trấn áp của pháp luật hình sự thông  
qua việc loại trừ ra khỏi đạo luật hình sự  
hiện hành một hành vi nào đó (mà trước  
đây đã bị coi là tội phạm) và hủy bỏ trách  
nhiệm hình sự đối với cá nhân hoặc pháp  
nhân thương mại thực hiện hành vi đó16.  
Dựa trên các cơ sở khoa học, nhà lập pháp  
sẽ xem xét một hành vi có còn đầy đủ các  
dấu hiệu của tội phạm không, nếu nhận  
thấy hành vi đó không cần thiết phải coi  
là tội phạm nữa thì xóa bỏ trách nhiệm  
hình sự với hành vi đó. Điều này đồng  
nghĩa với việc các hình phạt được quy  
định trước đây áp dụng với loại tội phạm  
này bị bãi bỏ. Thông qua đó, hình phạt  
tử hình được xóa bỏ với người thực hiện  
hành vi được phi tội phạm hóa.  
Do việc bãi bỏ hình phạt tử hình không  
mang tính chất bắt buộc, chỉ mang tính  
khuyến nghị, nên để tiến hành bãi bỏ hình  
phạt tử hình, các quốc gia sẽ tiến hành các  
hoạt động lập pháp trên cơ sở xem xét các  
điều kiện phù hợp với thực tiễn yêu cầu  
phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm ở  
quốc gia của mình. Trong hoạt động lập  
pháp ấy, việc loại bỏ hình phạt tử hình có  
mối quan hệ chặt chẽ với quá phi phạm hóa  
và phi hóa. Mối quan hệ ấy được thể hiện  
qua một số điểm sau.  
Một là, việc xóa bỏ hình phạt tử hình  
với một tội phạm chỉ có thể được thực hiện  
thông qua phi tội phạm hóa và phi hình sự  
hóa. Trong pháp luật hình sự Việt Nam,  
nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ  
nghĩa (XHCN) là một trong hai nguyên tắc  
quan trọng nhất, là kim chỉ nam cho mọi  
hoạt động từ xây dựng, giải thích đến áp  
dụng các quy định của Bộ luật Hình sự  
(BLHS) trong thực tiễn. Theo nguyên tắc  
này, BLHS là văn bản duy nhất được quy  
định tội phạm và trách nhiệm hình sự với  
người hoặc pháp nhân thương mại thực hiện  
tội phạm đó. Không một văn bản nào khác  
ngoài BLHS được phép bãi bỏ hình phạt tử  
hình. Hay nói cách khác, xóa bỏ hình phạt  
tử hình thông qua việc tuyên bố một hành vi  
không còn là tội phạm nữa hoặc bằng việc  
thay thế tử hình bằng một hình phạt khác ít  
nghiêm khắc hơn chỉ có thể được thực hiện  
trong khuôn khổ của hoạt động lập pháp  
hình sự.  
Ba là, hình phạt tử hình có thể được  
xóa bỏ thông qua quá trình phi hình phạt  
hóa hay phi hình sự hóa. Giống như phi  
14 Luke Namara (Ed), Theorising Criminalisation: The Value of Modalities approach, Crime Justice Journal,  
7(3), 2018, p.92-96.  
15 Nina Peršak, Criminalising Harmful Conduct, Springer, 2020, p.23.  
16 Lê Văn Cảm, Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự - Phần chung (Giáo trình Sau đại học), Nxb.  
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2019, tr.41.  
18  
Số 11(435) - T6/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
tội phạm hóa, phi hình sự hóa là khái niệm  
không phổ biến trong các nghiên cứu  
quốc tế về luật hình sự. Phi hình sự hóa  
được nhìn nhận như một dạng hình thức  
thực hiện chính sách17; qua đó, giảm nhẹ  
tính chất, mức độ trấn áp của luật hình sự  
thông qua việc làm nhẹ hơn trách nhiệm  
hình sự với tội phạm. Việc thu hẹp này  
có thể được diễn ra ở mức tuyệt đối, loại  
bỏ hoàn toàn trách nhiệm hình sự với một  
hành vi; do vậy hành vi đó không còn là  
tội phạm nữa18 (tức phi tội phạm hóa). Việc  
thu hẹp mức độ trấn áp còn được hiểu là sự  
thay thế một hình phạt đang được áp dụng  
với tội phạm này bằng một hình phạt khác  
có tính chất nhẹ hơn19 hoặc bổ sung các  
quy phạm mang tính chất miễn, giảm trách  
nhiệm hình sự.  
(2) Căn cứ về tính phổ biến tương đối  
của hành vi: Một tội phạm được phi tội  
phạm hóa khi nó không còn tồn tại trên thực  
tế nữa. Ngoài ra, việc phi tội phạm hóa và  
phi tội phạm hóa một tội phạm có thể xem  
xét khi hành vi đó trở nên không phổ biến  
trong xã hội nữa.  
(3) Căn cứ về khả năng phòng, chống,  
ngăn chặn hiệu quả của các biện pháp pháp  
lý hành chính, dân sự lên hành vi nguy hiểm  
cho xã hội được phi tội phạm hóa: Các tội  
phạm được phi tội phạm hóa có thể vẫn là  
các hành vi trái pháp luật được quy định  
trong các văn bản pháp luật khác. Chính vì  
vậy, khi xem xét phi tội phạm hóa của một  
hành vi, nhà làm luật cần tính toán đến mức  
độ hiệu quả của pháp luật trong việc phòng  
ngừa, ngăn chặn hành vi trái pháp luật đó.  
Nếu có thể ngăn chặn hiệu quả, nhà làm luật  
có thể tiến hành phi tội phạm hóa với tội  
phạm đó.  
Bốn là, khi xóa bỏ hình phạt tử hình  
phải xem xét dựa trên căn cứ khoa học chặt  
chẽ áp dụng khi cân nhắc phi tội phạm hóa  
hoặc phi hình sự hóa một hành vi. Việc  
xem xét bãi bỏ hình phạt này dựa trên các  
căn cứ sau:  
(4) Khả năng tác động tích cực của các  
biện pháp pháp lý hình sự ít nghiêm khắc  
hơn hình phạt tử hình lên hành vi nguy hiểm  
cho xã hội được phi hình sự hóa: Trong  
trường hợp phi hình sự hóa, hình phạt tử  
hình được thay thế bằng một hình phạt ít  
nghiêm khắc hơn. Điều này làm tính răn đe  
của hình phạt cũng giảm xuống tác động  
đến mức độ hiệu quả của việc áp dụng hình  
phạt. Vì vậy, cần phải xem xét tính hiệu quả  
của các hình phạt thay thế hình phạt tử hình  
để bảo đảm tội phạm đó phải được kiểm  
soát hiệu quả.  
(1) Căn cứ về tính nguy hiểm cho xã hội  
của hành vi: Tội phạm được phi tội phạm  
hóa phải là những hành vi không còn nguy  
hiểm cho xã hội nữa; hoặc tính nguy hiểm  
cho xã hội của hành vi đó đã giảm đáng kể  
khiến việc sử dụng pháp luật hình sự để  
xử lý các hành vi này là không cần thiết  
nữa. Để được xem xét phi hình sự hóa, tính  
nguy hiểm cho xã hội của một tội phạm đã  
giảm khiến việc áp dụng một hình phạt ít  
nghiêm khắc hơn hình phạt tử hình đã đủ  
sức răn đe.  
(5) Căn cứ kinh tế - chính trị - văn hóa -  
xã hội: Tội phạm là một khái niệm có tính  
17 Adda, J., McConnell, B., & Rasul, I. “Crime and the Depenalization of Cannabis Possession: Evidence from  
a Policing Experiment”, Journal of Political Economy, 122(5), 2014, Soviet, p.1131.  
18 Hồ Trọng Ngũ, Một số vấn đề về hình sự hóa, phi hình sự hóa các hành vi phạm pháp trên lĩnh vực kinh tế  
19 Donohue, Ewing, and Peloquin, Rethinking America’s Illegal Drug Policy. In Controlling Crime: Strategies  
and Tradeoffs, edited Chicago: Univ. Chicago Press, 2012, p.216.  
Số 11(435) - T6/2021  
19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 66 trang Thùy Anh 16240 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Số 11 - Năm 2021", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftap_chi_nghien_cuu_lap_phap_so_11_nam_2021.pdf