Quyền sao chép và trích dẫn tác phẩm trong môi trường giáo dục
TẠP CHÍ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN - SỐ 46/2021
QUYỀN SAO CHÉP VÀ TRÍCH DẪN TÁC PHẨM
TRONG MÔI TRƢỜNG GIÁO DỤC
NGUYỄN TRỌNG LUẬN
Ngày nhận bài: 13/01/2021
Ngày phản biện: 21/01/2021
Ngày đăng bài: 30/3/2021
Tóm tắt:
Abstract:
According to IP Law, the copyright
Theo quy định của pháp luật sở hữu trí
tuệ, chủ sở hữu quyền tác giả có độc quyền owner has the exclusive rights to reproduce
trong việc sao chép tác phẩm và có quyền the copyrighted work and has the right to
cho phép hoặc ngăn cấm người khác thực authorize or prevent others from making
hiện sao chép tác phẩm của mình. Tuy nhiên, copies. However, in certain cases the
trong một số trường hợp nhất định, chủ sở copyright holders are not entitled to prevent
hữu quyền không có quyền ngăn cấm người others from copying. Besides, reasonable
khác sao chép tác phẩm. Bên cạnh đó, trích quoting from other authors‟ works to
dẫn hợp lý tác phẩm của người khác để bình comment on or illustrate one's works is
luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình authorized by law. The recognition of these
cũng là hành vi hợp pháp. Việc ghi nhận exceptions of copyright is the progressive
những ngoại lệ quyền tác giả này là một điểm development of the Vietnam Intellectual
rất tiến bộ của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Property Law. Even so, there are many issues
Nam. Mặc dù vậy, vẫn còn tồn tại nhiều vấn to discuss on this topic. In this article, the
đề cần phải bàn luận xoay quanh vấn đề này. author analyzes the provisions of the
Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích Vietnamese Intellectual Property Law relating
những quy định của Luật Sở hữu trí tuệ Việt to the right to make a copy and to quote a
Nam hiện hành liên quan đến quyền sao chép work in the educational field and proposes the
và trích dẫn tác phẩm trong môi trường giáo direction of improvement based on the
dục, đồng thời chỉ ra một số bất cập và đề experience from France, the United States,
xuất hướng hoàn thiện trên cơ sở tham khảo and some other countries.
kinh nghiệm từ Pháp, Hoa Kỳ và một số quốc
gia khác.
Từ khóa:
Keywords:
Quyền sao chép, trích dẫn, tác phẩm,
quyền tác giả, sở hữu trí tuệ.
Right of reproduction, citation, works,
copyright, intellectual property.
ThS., Luật học, GV Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh; Email: [email protected]n
14
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ
1. Đặt vấn đề
Thực trạng hiện nay cho thấy rất nhiều sinh viên sử dụng các tài liệu, giáo trình được
sao chép trái phép để phục vụ cho việc học tập mà không nhận thức được rằng đó là hành vi
xâm phạm quyền tác giả. Tình trạng nhiều cơ sở in ấn, photocopy sẵn sàng nhận sao chép
giáo trình, tập bài giảng, sách chuyên khảo hay bất cứ tài liệu nào theo yêu cầu đang diễn ra
tràn lan cho thấy ý thức về việc tôn trọng quyền tác giả của nhiều người còn rất kém. Điều
này ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích của tác giả và chủ sở hữu quyền đối với tác phẩm. Việc
sao chép trái phép tác phẩm diễn ra phổ biến, mất kiểm soát ngoài việc gây thiệt hại về vật
chất cho tác giả, chủ sở hữu quyền còn khiến các tác giả không còn động lực để tiếp tục sáng
tạo và công bố các công trình khoa học của mình. Bên cạnh đó, quyền trích dẫn tác phẩm
cũng chưa được hiểu đúng đắn hoặc bị lạm dụng dẫn đến những vi phạm quyền tác giả. Vậy
theo quy định của pháp luật hiện hành, việc sao chép, trích dẫn tác phẩm của người khác trong
những trường hợp, chừng mực nào thì được coi là hợp pháp và liệu rằng những quy định này
đã hợp l chưa.
2. Quy định pháp luật Việt Nam về quyền sao chép và trích dẫn tác phẩm
2.1. Quyền sao chép tác phẩm trong môi trƣờng giáo dục
Sao chép tác phẩm là một trong các quyền tài sản quan trọng của chủ sở hữu quyền tác
giả và được ghi nhận tại điểm c khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi,
bổ sung năm 2009 và năm 2019)1, sau đây gọi tắt là Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Theo
khoản 2 Điều 21 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP2 thì “Quyền sao chép tác phẩm quy định tại
điểm c khoản 1 Điều 20 của Luật Sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc
quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra bản sao tác phẩm bằng bất kỳ
phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo ra bản sao dưới hình thức điện tử”. Như
vậy, việc sao chép có thể được thực hiện dưới nhiều phương thức khác nhau như photocopy
một cuốn sách, chụp từng trang bài viết tạp chí bằng điện thoại, sao chép một phần mềm trên
máy tính.
Về nguyên tắc, chủ sở hữu quyền có độc quyền thực hiện việc sao chép, cho phép và
ngăn cấm người khác sao chép tác phẩm. Tuy nhiên, đây không phải là một độc quyền mang
tính tuyệt đối bởi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 có quy định hai trường hợp mà người khác có
1 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc
hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ và Luật số 42/2019/QH14 ngày 14/6/2019 của
Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ.
2 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở
hữu trí tuệ năm 2005 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác
giả, quyền liên quan.
15
TẠP CHÍ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN - SỐ 46/2021
quyền sao chép tác phẩm nhưng chủ sở hữu quyền không được ngăn cấm. Các trường hợp này
được quy định tại điểm a và điểm đ khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.
Một là, tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân.
Điểm a khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 cho phép sao chép tác phẩm với
số lượng là một bản cho hai mục đích: Nghiên cứu khoa học3 và giảng dạy4. Như vậy, pháp
luật không cho phép photocopy tác phẩm nhằm mục đích học tập của sinh viên. Bởi lẽ, nếu
cho phép hành vi này thì một số lượng lớn học sinh, sinh viên sẽ lựa chọn việc photocopy tài
liệu để học tập thay vì mua sách có bản quyền vì giá thành photocopy rẻ hơn nhiều lần. Điều
này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc khai thác bình thường tác phẩm của chủ sở hữu
quyền tác giả và lợi ích chính đáng của họ sẽ bị xâm phạm. Tuy nhiên, nếu học sinh, sinh viên
photocopy tác phẩm nhằm mục đích thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học thì đây là hành
vi được phép.
Đối chiếu với quy định của Công ước Berne năm 18865 thì việc sao chép tác phẩm chỉ
được phép thực hiện khi thỏa mãn “phép thử 3 bước” (triple test) theo quy định tại khoản 2
Điều 96: (Bước 1) Việc sao chép chỉ được phép trong một số trường hợp đặc biệt; (Bước 2)
Sự sao chép không phương hại đến việc khai thác bình thường tác phẩm; (Bước 3) Sự sao
chép không gây thiệt thòi bất hợp l đến những quyền lợi hợp pháp của tác giả. Có thể thấy
Công ước Berne năm 1886 không quy định những trường hợp cụ thể nào được phép sao chép
tác phẩm mà để các quốc gia thành viên tự quy định cụ thể trên cơ sở phù hợp với nội dung
“phép thử 3 bước” mà Công ước đưa ra. Pháp luật Việt Nam đã nội luật hóa bằng quy định tại
khoản 1 và 2 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Chẳng hạn, giảng viên có thể photocopy
một cuốn sách với số lượng một bản nhằm phục vụ công việc giảng dạy hoặc nghiên cứu
khoa học của mình mà không bị coi là vi phạm quyền tác giả.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 thì việc sao chép cho
dù là toàn bộ hay một phần tác phẩm đều bị xem là xâm phạm quyền tác giả nếu như không
3
Theo quy định tại Điều 3 của Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 thì “Nghiên cứu khoa học là hoạt
động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy;
sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn”. Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản và
nghiên cứu ứng dụng. Như vậy, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 không
áp dụng cho học sinh, sinh viên trong trường hợp sao chép tác phẩm nhằm mục đích học tập.
4 Theo quy định này thì giáo viên được phép tự sao chép một bản tác phẩm để phục vụ mục đích giảng dạy
và không bao gồm việc sao chép nhiều bản để phát cho học sinh, sinh viên của mình.
5 Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật được ký tại Berne (Thụy Sĩ) năm 1886 và
đã được sửa đổi bổ sung vào các năm 1908 (Berlin), 1914 (Berne), 1928 (Roma), 1948 (Brussels), 1967
(Stockholm) và 1971 (Paris).
6
“Phép thử 3 bước” sau này cũng đã được ghi nhận lại trong nhiều điều ước quốc tế quan trọng như tại
Điều 10 của Hiệp ước WCT ngày 20/12/1996 về quyền tác giả, Điều 13 Hiệp định TRIPS ngày 15/04/1994
về các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại.
16
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ
thuộc những trường hợp ngoại lệ mà các điểm a và đ khoản 1 Điều này quy định. Trên thực tế
trong nhiều trường hợp, người học không cần toàn bộ tác phẩm mà chỉ mong muốn sao chép
một phần để phục vụ mục đích học tập cá nhân thì chúng ta cũng cần cân nhắc liệu có nên cho
phép không và nếu có thì được phép sao chép tối đa bao nhiêu phần trăm tác phẩm.
Ngoài ra, cần lưu rằng thư viện không có quyền cho phép người đọc sao lưu các tác
phẩm dưới dạng điện tử vào trong ổ cứng USB cho mục đích học tập. Bởi vì theo định nghĩa
về sao chép tại khoản 2 Điều 21 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP thì sao chép tác phẩm không
chỉ là việc photocopy tác phẩm dưới dạng bản giấy mà cần phải được hiểu theo nghĩa rộng, đó
là việc tạo ra bản sao tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc
tạo ra bản sao dưới hình thức điện tử. Do vậy, việc sao lưu bản điện tử của tác phẩm đang
được bảo hộ quyền tác giả vào ổ cứng USB cũng là hành vi xâm phạm quyền. Vào năm 2014,
tại Đức, Nhà xuất bản Eugen Ulmer KG đã khởi kiện Trường Đại học Kỹ thuật Darmstadt
(Technische Universität Darmstadt) vì cho rằng thư viện trường Đại học này đã xâm phạm
quyền tác giả đối với các cuốn sách của Nhà xuất bản. Cụ thể, thư viện Trường Đại học Kỹ
thuật Darmstadt đã cho phép người dùng ngoài việc tra cứu, tham khảo, in ấn còn cho phép họ
lưu các tài liệu dưới dạng điện tử vào ổ cứng USB. Tòa án Công lý Liên minh châu Âu (Court
of Justice of the European Union) trong bản án ngày 11/9/2014 đã nhận định rằng việc tra cứu
và tham khảo các tác phẩm được bảo hộ tại thư viện cho mục đích học tập cá nhân là được
phép; tuy nhiên trong trường hợp này, việc thư viện Trường Đại học Darmstadt đã cho phép
người dùng tải các tác phẩm dưới dạng điện tử được bảo hộ vào ổ cứng USB của họ là hành
vi sao chép trái phép tác phẩm7.
Hai là, sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu.
Điểm đ khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định một trường hợp khác
được phép sao chép tác phẩm mà chủ sở hữu quyền không có quyền ngăn cấm. Đó là việc sao
chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên, số lượng bản
được phép sao chép đối với mỗi tác phẩm để lưu trữ trong thư viện là không quá một bản8.
Mục đích của quy định này nhằm đảm bảo lợi ích công cộng, cụ thể là quyền được tiếp cận tri
thức của mọi người cũng như để lưu giữ các tác phẩm tránh sự thất lạc hay hư hỏng. Việc lưu
trữ trong thư viện không chỉ dưới dạng tài liệu giấy mà còn có thể bao gồm tài liệu được lưu
dưới dạng điện tử nhờ vào các phương tiện kỹ thuật để mọi người có thể tra cứu, tích lũy kiến
thức nhằm mục đích cá nhân, phi thương mại. Tuy nhiên, bất cập của quy định này là việc
giới hạn không gian lưu trữ chỉ là thư viện. Theo tác giả thì điều này chưa thật sự hợp lý. Bởi
7
ngày 31/12/2020.
8 Khoản 2 Điều 22 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp
thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ
năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan.
17
TẠP CHÍ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN - SỐ 46/2021
vì ngoài thư viện (library) còn có những nơi lưu trữ khác cũng nhằm mục đích tương tự như
bảo tàng (museum), các trung tâm lưu trữ (archives) hay các không gian văn hóa đa phương
tiện (multicultural media space).
Nói tóm lại, có hai trường hợp mà Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành quy định là ngoại lệ
của quyền tác giả liên quan đến sao chép tác phẩm: (i) Tự sao chép một bản nhằm mục đích
nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân; (ii) Sao chép một bản để lưu trữ trong thư viện
với mục đích nghiên cứu. Việc sao chép này không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác
bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác
giả9. Trong những trường hợp còn lại, việc sao chép cần có sự đồng ý của chủ sở hữu quyền,
nếu không sẽ là hành vi vi phạm. Khoản 6 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định là
hành vi vi phạm quyền tác giả đối với việc “Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác
giả, chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm đ khoản 1 Điều 25
của luật này”. Như đã phân tích, những quy định liên quan đến quyền sao chép tác phẩm trong
Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành vẫn còn tồn tại một số bất cập cần phải được tiếp tục hoàn thiện.
2.2. Trích dẫn tác phẩm trong môi trƣờng giáo dục
Trích dẫn là việc sử dụng có chủ ý một phần tác phẩm không đáng kể của người khác để
làm sáng tỏ, chứng minh, minh họa cho một vấn đề nào đó hay nhằm mục đích đưa ra để bàn
bạc, tranh luận, đối chiếu, so sánh trong tác phẩm của mình. Việc trích dẫn cho thấy người
viết đã bỏ nhiều công sức, thời gian để nghiên cứu, đào sâu vấn đề và nhờ vậy sẽ nâng cao giá
trị công trình nghiên cứu của mình. Chẳng hạn, trong khóa luận tốt nghiệp, luận văn, luận án
hay trong các đề tài nghiên cứu khoa học, tác giả của công trình thường trích dẫn một phần
không đáng kể tác phẩm của người khác nhằm bình luận, chứng minh hay minh họa cho một
vấn đề nào đó mà không phải xin phép tác giả.
Về ngoại lệ này, điểm b khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định “trích
dẫn hợp l tác phẩm mà không làm sai tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm
của mình” thì không phải xin phép, không phải trả tiền cho tác giả, chủ sở hữu quyền. Công
ước Berne đưa ra điều kiện để một trích dẫn được công nhận hợp pháp, đó là trích dẫn phải
được rút ra từ những tác phẩm đã được phổ cập đến công chúng một cách hợp pháp và sự
trích dẫn phù hợp với các thông lệ đúng đắn, không vượt quá mục đích trích dẫn10. Luật Sở
hữu trí tuệ năm 2005 không giải thích trích dẫn bao nhiêu thì được coi là hợp l nhưng Nghị
định số 22/2018/NĐ-CP11 hướng dẫn một trích dẫn được coi là hợp l khi nó đáp ứng hai điều
9 Khoản 2 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.
10 Khoản 1 Điều 10 Công ước Berne.
11 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở
hữu trí tuệ năm 2005 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác
giả, quyền liên quan.
18
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ
kiện: (i) Phần trích dẫn chỉ nhằm mục đích giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng tỏ vấn đề được
đề cập trong tác phẩm của mình; (ii) Phần trích dẫn từ tác phẩm được sử dụng để trích dẫn
không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được sử dụng để trích dẫn; phù hợp
với tính chất, đặc điểm của loại hình tác phẩm được sử dụng để trích dẫn. Chẳng hạn, khi viết
khóa luận tốt nghiệp, sinh viên có thể trích dẫn một phần không đáng kể tác phẩm của người
khác nhằm bình luận, chứng minh hay minh họa cho một vấn đề nào đó. Việc trích dẫn này
không phải xin phép tác giả nhưng phải dẫn nguồn rõ ràng. Sẽ là hành vi vi phạm nếu sinh
viên sử dụng một phần đáng kể hoặc toàn bộ bài viết của người khác vào khóa luận, đề tài
nghiên cứu khoa học của mình cho dù có dẫn nguồn đầy đủ.
Tuy nhiên, quy định của pháp luật Việt Nam về trích dẫn hợp lý còn khá trừu tượng và
do vậy việc áp dụng trên thực tế có thể sẽ gặp nhiều khó khăn12. Việc làm rõ nội hàm khái
niệm “trích dẫn hợp l ” sẽ là ranh giới để phân định giữa trích dẫn hợp lý (hợp pháp) và hành
vi bị coi vượt quá trích dẫn hợp lý (bất hợp pháp), tránh tình trạng lạm dụng quy định về trích
dẫn tác phẩm để xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm được sử dụng.
3. Kinh nghiệm nƣớc ngoài
3.1. Kinh nghiệm về quyền sao chép tác phẩm trong môi trƣờng giáo dục
Thứ nhất, tương tự như pháp luật Việt Nam, pháp luật của rất nhiều quốc gia cũng
không xem việc sao chép tác phẩm cho mục đích học tập là một ngoại lệ của quyền tác giả.
Việc sao chép một bản đối với tác phẩm chỉ nên cho phép trong trường hợp phục vụ cho mục
đích giảng dạy, nghiên cứu khoa học và để lưu trữ trong thư viện (cũng như những nơi có
mục đích tương tự) nhằm phục vụ công tác nghiên cứu, văn hóa và giáo dục. Tuy nhiên, chúng
ta nên xem xét và ghi nhận việc cho phép sao chép một phần tác phẩm cho mục đích học tập
của cá nhân. Thiết nghĩ, đây là hành vi chính đáng cần xem xét để khuyến khích người học
tìm tòi tri thức nhưng vẫn tôn trọng quyền tác giả đối với tác phẩm được bảo hộ. Pháp luật
của nhiều nước cho phép photocopy một phần của tác phẩm, phần đó là bao nhiêu thì tùy
thuộc vào quy định mỗi nước, ví dụ tại Singapore, Úc là không quá 10% tác phẩm, tại Anh là
không quá 20% tác phẩm13, tại Pháp là tối đa 10% đối với sách và 30% đối với tạp chí14.
Thứ hai, để nâng cao nhận thức của sinh viên về quyền sao chép tác phẩm thì những
quy định pháp luật sở hữu trí tuệ liên quan đến vấn đề này cần phải được phổ biến đến tất cả
sinh viên để sinh viên nắm được những trường hợp nào được phép sao chép tác phẩm, những
12
Xem thêm: Nguyễn Trọng Luận, Vũ Việt Tường (2018), Ngoại lệ của quyền tác giả theo quy định của
pháp luật Pháp, Hoa Kỳ và kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 16.
13
Nguyễn Ngọc Lâm, Lê Thị Nam Giang, Nguyễn Thị Bích Ngọc (2007), Về quyền photocopy tác phẩm
trong môi trường giáo dục, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2, tr.21-24.
14
ngày 03/01/2021.
19
TẠP CHÍ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN - SỐ 46/2021
trường hợp nào thì không được phép cũng như hiểu được tại sao pháp luật quốc tế (Công ước
Berne) và pháp luật Việt Nam lại quy định như vậy. Ở Pháp, tại nhiều nơi, người ta còn trích
các điều luật liên quan đến quyền sao chép tác phẩm cũng như mức phạt vi phạm rồi dán tại
các cửa hàng photocopy, các máy photocopy và ở cả các thư viện để thông tin và nhắc nhở
mọi người tôn trọng quyền tác giả.
Thứ ba, Điều L.122-5 Luật Sở hữu trí tuệ Pháp quy định “Việc sao chép một tác phẩm
để lưu trữ trong thư viện, bảo tàng, cơ quan lưu trữ, trung tâm tư liệu và các không gian văn
hóa đa phương tiện không nhằm mục đích thương mại” là một ngoại lệ của quyền tác giả. Đối
chiếu với điểm đ khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 thì quy định của pháp luật
Việt Nam lại chỉ giới hạn không gian lưu trữ tác phẩm là thư viện. Điều này không thật sự
hợp l vì ngoài thư viện, tác phẩm còn có thể được lưu trữ trong các không gian khác có mục
đích tương tự với nhiều tên gọi như trung tâm tư liệu, trung tâm lưu trữ, trung tâm văn hóa đa
phương tiện.
3.2. Kinh nghiệm về trích dẫn tác phẩm trong môi trƣờng giáo dục
Thứ nhất, pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành cần làm rõ hơn nội hàm khái niệm “trích
dẫn hợp l ” để làm căn cứ áp dụng trên thực tế. Những quy định của pháp luật Hoa Kỳ và
Pháp sẽ là những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam để hoàn thiện vấn đề này.
Theo quy định của Điều 107 của Đạo luật Bản quyền Hoa Kỳ năm 197615, để đánh giá
một hành vi có được xem là “sử dụng hợp l ” (fair use) đối với tác phẩm của người khác thì
cần phải căn cứ vào bốn yếu tố sau: (i) Mục đích và đặc điểm của việc sử dụng, bao gồm việc
sử dụng đó có tính chất thương mại không hay là chỉ nhằm mục đích giáo dục phi lợi nhuận;
(ii) Bản chất của tác phẩm được bảo hộ; (iii) Số lượng và thực chất của phần được sử dụng
trong tác phẩm được bảo hộ như là một tổng thể; (iv) Vấn đề ảnh hưởng của việc sử dụng đó
đối với tiềm năng thị trường hoặc đối với giá trị của tác phẩm được bảo hộ. Như vậy, nếu sử
dụng một phần nhỏ, không đáng kể từ tác phẩm của người khác để nhằm bình luận, đánh giá,
dẫn chứng hay làm sáng tỏ vấn đề mà mình đang phân tích sẽ có khả năng “fair use” cao hơn
việc sử dụng một phần lớn, đáng kể tác phẩm của họ. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào
sử dụng một phần nhỏ tác phẩm của người khác đều sẽ được coi là “fair use” bởi nếu chính
phần nhỏ đó lại làm nên “linh hồn” của tác phẩm được sử dụng thì khả năng cao sẽ không
được Tòa án coi là “sử dụng hợp l ”. Việc xác định sẽ căn cứ vào từng hoàn cảnh thực tế.
Điều L.122-5 Luật Sở hữu trí tuệ Pháp không sử dụng thuật ngữ “trích dẫn hợp l ” mà
sử dụng thuật ngữ “trích dẫn ngắn” (courte citation) để đề cập đến một trong các ngoại lệ
quyền tác giả. Theo đó, việc trích dẫn ngắn nhằm mục đích phê bình, bình luận, bút chiến,
giáo dục, khoa học hay thông tin về tác phẩm được sử dụng là hành vi hợp pháp và chủ sở
15 Copyright Act Law of 1976.
20
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT, ĐẠI HỌC HUẾ
hữu quyền không thể ngăn cấm với điều kiện phải nêu rõ tên tác giả và nguồn trích dẫn. Án lệ
Pháp theo hướng căn cứ vào mức độ quan trọng của phần trích dẫn trong mối quan hệ với
toàn bộ tác phẩm để đánh giá xem một trích dẫn có được xem là trích dẫn ngắn hay không.
Điều này được đánh giá tùy vào từng trường hợp cụ thể. Chẳng hạn, việc sử dụng một trích
đoạn dài 17 phút của một bộ phim trong chương trình truyền hình dài 58 phút không thể được
coi là trích dẫn ngắn16. Theo Tòa án tối cao Pháp, “việc sao lại toàn bộ tác phẩm dưới bất kỳ
hình thức nào không được coi là trích dẫn ngắn. Nếu phần trích dẫn trở thành phần quan
trọng của tác phẩm mới thì đó là hành vi xâm phạm quyền tác giả cho dù có thêm phần bình
luận, nhận xét của người trích dẫn vào trong phần trích dẫn”17. Ngoài ra, ngoại lệ về trích
dẫn ngắn cũng không thể được vận dụng nếu nguồn trích dẫn là bất hợp pháp18.
Trên cơ sở kinh nghiệm của Hoa Kỳ và Pháp, tác giả đề xuất một “trích dẫn” được coi
là “trích dẫn hợp l ” khi nó thỏa mãn các căn cứ sau: (i) Mục đích của việc trích dẫn: nhằm
giới thiệu, bình luận, làm sáng tỏ vấn đề hoặc nhằm mục đích thông tin về tác phẩm; (ii) Khối
lượng phần trích dẫn: khối lượng phần trích dẫn là không đáng kể trong tổng thể tác phẩm
gốc; (iii) Yêu cầu của việc trích dẫn: Phần trích dẫn từ tác phẩm được sử dụng để trích dẫn
không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được sử dụng để trích dẫn và
không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm của tác giả, chủ sở hữu quyền
tác giả; (iv) Việc trích dẫn tác phẩm của người khác phải kèm theo việc chú thích rõ ràng
nguồn trích dẫn; (v) Nguồn trích dẫn phải là hợp pháp (tức tác phẩm được sử dụng để trích
dẫn phải được công bố một cách hợp pháp và không vi phạm quyền tác giả).
Thứ hai, các cơ sở giáo dục nên xây dựng quy định cụ thể và chi tiết về trích dẫn tác
phẩm để hướng dẫn vấn đề này nhằm giúp học sinh, sinh viên nhận thức đúng đắn về trích
dẫn tác phẩm cũng như góp phần tăng cường bảo vệ quyền tác giả trong hoạt động học tập,
đào tạo và nghiên cứu khoa học trong phạm vi đơn vị mình.
4. Kết luận
Hiện nay, tình trạng xâm phạm quyền tác giả trong môi trường đại học đang diễn ra tràn
lan, phổ biến. Một trong số các hành vi đó là việc sao chép tác phẩm mà không có sự cho
phép từ chủ sở hữu quyền tác giả, hay hành vi sử dụng tác phẩm của người khác trong tác
phẩm của mình vượt quá phạm vi “trích dẫn hợp l ”. Bên cạnh rất nhiều nguyên nhân xuất
phát từ khía cạnh xã hội như thức của những người hành nghề dịch vụ photocopy, thức
của sinh viên, sự thiếu hiểu biết về quyền tác giả, sự quản l của các cơ quan có thẩm quyền
còn phải kể đến quy định pháp luật về vấn đề còn chưa thật sự hoàn thiện. Đối với tình trạng
sử dụng tác phẩm của người khác trong tác phẩm của mình (khóa luận, luận văn, đồ án tốt
16 TGI Paris, 14 septembre 1994: RIDA 1995, no 164, p. 407.
17 Đỗ Văn Đại, Lê Thị Nam Giang (2009), Về vấn đề trích dẫn tác phẩm của người khác, Tạp chí Khoa học
pháp lý, số 02, tr.52-60.
18 TGI Paris, 13 janvier 2010, SPEDIDAM c/ Karl More Productions France & a.: Comm. com. électr. 2011.
21
TẠP CHÍ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN - SỐ 46/2021
nghiệp…), bên cạnh thức, đạo đức của người vi phạm còn do chúng ta chưa quy định rõ
ràng để xác định ranh giới giữa việc trích dẫn hợp l và trường hợp bị coi là vi phạm. Về mặt
giải pháp, ngoài việc tăng cường công tác quản l , xử l nghiêm các vi phạm thì cũng cần
phải hoàn thiện pháp luật về vấn đề này. Thứ nhất, về vấn đề sao chép tác phẩm, pháp luật sở
hữu trí tuệ đã quy định rất rõ ràng tại Điều 25 rằng chỉ xem việc sao chép tác phẩm cho mục
đích giảng dạy, nghiên cứu khoa học và sao chép để lưu trữ trong thư viện với mục đích
nghiên cứu mới là ngoại lệ của quyền tác giả. Việc sao chép tác phẩm cho các mục đích khác
(bao gồm mục đích học tập) mà không được phép của chủ sở hữu quyền là vi phạm. Tuy
nhiên, cũng nên xem xét đến việc mở rộng đến việc cho phép sao chép một phần nhỏ tác
phẩm, trong đó nêu rõ không được vượt quá bao nhiều phần trăm của tác phẩm để khuyến
khích sinh viên, học viên dễ dàng hơn trong việc tiếp cận kiến thức. Bên cạnh đó, để nâng cao
nhận thức của sinh viên về quyền sao chép tác phẩm thì những quy định pháp luật liên quan
đến vấn đề này cần phải được phổ biến đến tất cả sinh viên để sinh viên nắm được những
trường hợp nào được phép sao chép tác phẩm, những trường hợp nào thì không được phép.
Thứ hai, về vấn đề trích dẫn tác phẩm, hiện nay cần phải cụ thể hơn nữa những tiêu chí để xác
định như thế nào là trích dẫn hợp l để áp dụng thống nhất pháp luật. Ngoài ra, các trường đại
học cũng cần phải ban hành những quy định về trích dẫn và chống đạo văn để góp phần bảo
vệ quyền tác giả trong chính đơn vị mình.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Công ước Berne năm 1886 về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật.
2. Lê Thị Nam Giang, Đỗ Văn Đại (2009), Về vấn đề trích dẫn tác phẩm của người
khác, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 02.
3. Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019).
4. Luật Sở hữu trí tuệ Cộng hòa Pháp (Code de la propriété intellectuelle).
5. Nghị định số 22/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện
pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở
hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan.
6. Nguyễn Trọng Luận, Vũ Việt Tường (2018), Ngoại lệ của quyền tác giả theo quy
định của pháp luật Pháp, Hoa Kỳ và kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Tòa án nhân dân,
số 16.
7. Nguyễn Ngọc Lâm, Lê Thị Nam Giang, Nguyễn Thị Bích Ngọc (2007), Về quyền
photocopy tác phẩm trong môi trường giáo dục, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2.
8. TGI Paris, 14 septembre 1994: RIDA 1995, no 164.
9. TGI Paris, 13 janvier 2010, SPEDIDAM c/ Karl More Productions France & a.:
Comm. com. électr. 2011.
10. U.S. Copyright Act Law of 1976.
22
Bạn đang xem tài liệu "Quyền sao chép và trích dẫn tác phẩm trong môi trường giáo dục", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
quyen_sao_chep_va_trich_dan_tac_pham_trong_moi_truong_giao_d.pdf

