Quy trình bầu ủy viên Ủy ban nhân dân
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
QUY TRÌNH BẦU ỦY VIÊN ỦY BAN NHÂN DÂN
Hoàng Thị Lan*
*ThS. Vụ Công tác đại biểu, Văn phòng Quốc hội
Tóm tắt:
Thông tin bài viết:
Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày, phân tích các quy định của pháp
luật về chức danh, quy trình bầu Ủy viên Ủy ban nhân dân và đưa ra các kiến
nghị hoàn thiện.
Từ khóa: Ủy viên Ủy ban nhân
dân, người đứng đầu cơ quan
chuyên môn, quy trình bầu chức
danh ủy viên Ủy ban nhân dân.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 08/02/2021
: 16/3/2021
: 18/3/2021
Abstract:
Article Infomation:
Within the scope of this article, the author provides discussions and analyses of
the legal provisions on titles, the process of election of members of the People's
Committee and makes recommendations for improvement.
Keywords:MembersofthePeople's
Committee; head of specialized
agencies; procedures for election
of the position of members of the
People's Committee.
Article History:
Received
Edited
: 08 Feb. 2021
: 16 Mar. 2021
: 18 Mar. 2021
Approved
1. Khái lược về chức danh Ủy viên Ủy
ban nhân dân
ủy viên UBND. Về địa vị pháp lý, đây là
chức danh do HĐND bầu, miễn nhiệm, bãi
nhiệm theo sự giới thiệu, đề nghị của Chủ
tịch UBND. Đồng thời, HĐND có quyền
lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm đối với ủy
viên UBND. Tùy thuộc vào cấp chính
quyền, quy mô dân số, diện tích tự nhiên
để quyết định khung tối thiểu, tối đa số
lượng ủy viên UBND. Bắt đầu từ nhiệm kỳ
hoạt động 1994 - 1999, cơ cấu thành viên
UBND được quy định tại các nghị định
của Chính phủ1. Theo đó, cơ cấu, số lượng
Ngay trong văn bản pháp luật đầu tiên
của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Sắc
lệnh số 63/SL ngày 22/11/1945 cho đến
Luật Tổ chức chính quyền địa phương
(CQĐP) năm 1958, Luật Tổ chức Hội
đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban hành
chính (UBHC) năm 1962, các Luật Tổ
chức HĐND và Ủy ban nhân dân (UBND)
các năm 1983, 1989, 1994, 2003 đều thống
nhất quy định về địa vị pháp lý và số lượng
1 Ví dụ như Nghị định số 107/2004/NĐ-CP ngày 01/4/2004 để thực hiện Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân năm 2003; Nghị định số 174-CP ngày 29/9/1997 để thực hiện Luật Tổ chức Hội đồng nhân
dân và Ủy ban nhân dân năm 1994.
58
Số 09(433) - T5/2021
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
2. Những vấn đề phát sinh
ủy viên UBND gắn với phạm vi công việc
của mỗi cấp chính quyền địa phương.
Mặc dù Luật Tổ chức CQĐP có nhiều
điểm “tích cực” góp phần nâng cao hiệu
quả hoạt động của cá nhân người giữ chức
danh Ủy viên UBND, người đứng đầu
cơ quan chuyên môn và tập thể HĐND,
UBND. Tuy nhiên, trong quá trình thực
hiện Luật Tổ chức CQĐP đã phát sinh một
số vướng mắc. Nguyên nhân xuất phát từ
việc Luật Tổ chức CQĐP gắn chức danh
bầu cử (thành viên UBND do HĐND bầu)
và chức danh hành chính (người đứng đầu
cơ quan chuyên môn do Chủ tịch UBND bổ
nhiệm) trong một chủ thể.
Như vậy, pháp luật chỉ quy định số
lượng ủy viên UBND mà không quy định
điều kiện chức vụ kèm theo. Trên thực tế,
xuất phát từ yêu cầu bảo đảm hiệu quả hoạt
động, người đứng đầu cơ quan chuyên môn
thường được Chủ tịch UBND giới thiệu để
HĐND bầu làm Ủy viên UBND phụ trách
lĩnh vực theo quy định của pháp luật (ví dụ
đối với cấp tỉnh giám đốc sở nội vụ sẽ là
ủy viên phụ trách nội vụ, giám đốc sở tài
chính là ủy viên phụ trách tài chính…). Sự
ổn định của quy định này trong lịch sử hoạt
động của chính quyền địa phương phần nào
phản ánh tính hợp lý, khả thi của quy phạm
về ủy viên UBND tại các văn bản trước kia.
Nghiên cứu cách thức hình thành các
chức danh trong hệ thống chính trị cho thấy,
quy định “Ủy viên UBND là người đứng
đầu cơ quan chuyên môn” tại Luật Tổ chức
CQĐP năm 2015 áp dụng theo mô hình của
Chính phủ. Khoản 1 Điều 99 Hiến pháp
năm 2013 quy định: Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang bộ là thành viên Chính phủ
và là người đứng đầu bộ, cơ quan ngang
bộ… Đối với chính quyền trung ương, quy
định trên phù hợp vì có sự đồng nhất về địa
vị pháp lý, chủ thể có thẩm quyền quyết
định, quy trình hình thành chức danh thành
viên Chính phủ và bộ trưởng, thủ trưởng cơ
quan ngang bộ.
Luật Tổ chức CQĐP năm 2015 đã thay
đổi quy định về Ủy viên UBND2. Theo đó,
Ủy viên UBND là người đứng đầu cơ quan
chuyên môn và ủy viên phụ trách quân sự,
ủy viên phụ trách công an. Quy định này
hướng tới mục đích tăng cường trách nhiệm
cá nhân người đừng đầu cơ quan chuyên
môn đối với hoạt động chung của UBND.
Hoạt động theo dõi, trao đổi của UBND
được kịp thời, thường xuyên, định kỳ hơn
khi tất cả người đứng đầu cơ quan chuyên
môn của UBND đều có quyền và trách
nhiệm tham gia phiên họp của UBND, có
quyền biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm
quyền của UBND cùng cấp. Đồng thời,
HĐND có cơ chế giám sát toàn diện hơn
đối với hoạt động của UBND thông qua
quyền lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm, miễn
nhiệm, bãi nhiệm các Ủy viên UBND. Điều
này tạo sự bình đẳng, công bằng trong gánh
chịu trách nhiệm cá nhân và là động lực để
tăng cường hiệu quả, chất lượng quản lý
điều hành của tập thể UBND và của cá nhân
người đứng đầu cơ quan chuyên môn.
Theo quy định của Luật Cán bộ, công
chức, người giữ chức danh bộ trưởng là
cán bộ. Nhiệm kỳ hoạt động của Chính
phủ theo nhiệm kỳ hoạt động của Quốc
hội. Tương ứng với đó, nhiệm kỳ hoạt
động của các thành viên Chính phủ đồng
nhất với thời gian giữ chức danh bộ
trưởng, người đứng đầu cơ quan ngang
bộ và theo nhiệm kỳ Quốc hội. Quốc hội
là chủ thể có quyền phê chuẩn đề nghị của
Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm
2 Khoản 1 của các Điều 20, 27, 41, 48 Luật Tổ chức CQĐP.
Số 09(433) - T5/2021
59
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
một cá nhân giữ chức danh bộ trưởng,
đồng thời là thành viên Chính phủ.
quyền của Chủ tịch UBND và theo trình tự
thủ tục về điều kiện bổ nhiệm được pháp
luật quy định7.
Tuy nhiên, khi quy định này được áp
dụng ở chính quyền địa phương sẽ không
hợp lý bởi các lý do sau:
Thứ ba, về thời điểm và thời gian thực
hiện nhiệm vụ: Ngay sau khi được HĐND
bầu, ủy viên UBND thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của mình8, thời gian giữ chức
danh Ủy viên UBND theo nhiệm kỳ của
HĐND hoặc đến khi HĐND bỏ phiếu
miễn nhiệm, bãi nhiệm chức danh ủy
viên UBND. Trong khi đó, quyết định bổ
nhiệm người đứng đầu cơ quan chuyên
môn là văn bản hành chính, thời điểm
thực hiện nhiệm vụ phụ thuộc vào hiệu
lực thi hành của văn bản đó. Thời gian
hoạt động của người đứng đầu cơ quan
chuyên môn tính theo tuổi công tác của
cá nhân người được bổ nhiệm. Hiện nay,
quy trình bổ nhiệm người đứng đầu cơ
quan chuyên môn được thực hiện theo
Quyết định số 27/2003/QĐ - TTg ngày
19/02/2003 của Thủ tướng Chỉnh phủ
về việc ban hành Quy chế bổ nhiệm, bổ
nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn
nhiệm cán bộ, công chức lãnh đạo.
Thứ nhất, về địa vị pháp lý: Theo
nguyên tắc, UBND là cơ quan chấp
hành của HĐND, nhiệm kỳ hoạt động
của UBND theo nhiệm kỳ hoạt động của
HĐND3. Do đó, nhiệm kỳ hoạt động của
ủy viên UBND gắn với nhiệm kỳ của
HĐND. Ủy viên UBND là chức danh kiêm
nhiệm, quy định trách nhiệm tham gia của
cá nhân đối với tập thể của UBND. Căn cứ
Luật Cán bộ, công chức, người giữ chức
danh ủy viên UBND được hiểu là cán bộ4.
Trong khi đó, người được bổ nhiệm chức
vụ đứng đầu cơ quan chuyên môn của
UBND là công chức5. Điều này một lần
nữa được khẳng định tại khoản 1, khoản
2 Điều 6 Nghị định số 06/2010/NĐ -
CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy
định những người là công chức.
Thứ hai, về quy trình hình thành chức
danh: Theo quy định hiện hành, Ủy viên
UBND là chức danh do HĐND bầu thực
hiện theo quy trình bầu cử trên cơ sở giới
thiệu của Chủ tịch UBND6. Đối với chức
danh người đứng đầu cơ quan chuyên môn
của UBND được thiết lập theo cơ chế bổ
nhiệm. Quyết định bổ nhiệm người đứng
đầu cơ quan chuyên môn thuộc thẩm
Xuất phát từ địa vị pháp lý khác nhau,
có hai cơ chế riêng biệt hình thành chức
danh bầu cử (ủy viên UBND) và chức
danh hành chính (người đứng đầu cơ
quan chuyên môn của UBND), thể hiện
thông qua sự độc lập, riêng biệt từ chủ thể
có quyền quyết định, trình tự thủ tục thực
3 Điều này đã được quy định tại các luật về tổ chức HĐND và UBND (Ví dụ khoản 3 Điều 10 Luật Tổ chức
CQĐP năm 2015, khoản 2 Điều 6 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003….),
4 Khoản 1 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức.
5 Khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức.
6 Khoản 4 Điều 83 Luật Tổ chức CQĐP.
7
Quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số 24/2014/NĐ - CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ
chức các cơ quan chuyên môn thuôc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; khoản 4 Điều 5 Nghị định
số 37/2014/NĐ – CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban
nhân dân huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh.
8 Khoản 4, khoản 9 Điều 83 Luật Tổ chức CQĐP.
60
Số 09(433) - T5/2021
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
hiện, hệ thống văn bản áp dụng, thời điểm
và thời gian thực hiện nhiệm vụ của ủy
viên UBND và người đứng đầu cơ quan
chuyên môn của UBND. Vì vậy, khi Luật
Tổ chức CQĐP năm 2015 đồng nhất hai
chức danh trong một chủ thể nhưng vẫn
giữ nguyên các quy định trong các văn
bản pháp luật khác có liên quan về trình
tự thủ tục thì tất yếu sẽ có những vướng
mắc, mâu thuẫn.
năm 2015 không thể áp dụng trong mọi
trường hợp, mọi thời điểm.
Ngoài ra, hai cơ chế chức danh khác
nhau nhưng được quy định chung cho một
chủ thể sẽ dẫn đến tình trạng hình thức ở
ít nhất một trong hai quy trình hoàn thiện
chức danh. Nếu việc bầu Ủy viên UBND có
trước thì quy trình bổ nhiệm của Chủ tịch
UBND sẽ hình thức; ngược lại, nếu việc
bổ nhiệm người đứng đầu cơ quan chuyên
môn có trước thì quy trình bầu của HĐND
sẽ hình thức.
Chức danh nào có trước, làm tiền đề, điều
kiện để xem xét, quyết định cho việc thực
hiện quy trình hoàn thiện chức danh còn lại?
Trong trường hợp người được HĐND bầu
làm Ủy viên UBND nhưng không đủ điều
kiện bổ nhiệm làm người đứng đầu cơ quan
chuyên môn của UBND hoặc khi được bổ
nhiệm làm người đứng đầu cơ quan chuyên
môn của UBND nhưng không được HĐND
tín nhiệm bầu làm Ủy viên UBND sẽ giải
quyết thế nào?
Nhiệm kỳ HĐND 2016 - 2021 là
nhiệm kỳ đầu tiên thực hiện Luật Tổ chức
CQĐP năm 2015. Hướng dẫn số 1138/
HD - UBTVHQ13 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội về một số nội dung tại kỳ họp
thứ nhất, nhiệm kỳ HĐND 2016 - 2021
(Hướng dẫn số 1138) quy định quy trình
bầu Ủy viên UBND9:
1. Chủ tịch UBND trình danh sách giới
thiệu các Ủy viên UBND. Tờ trình của Chủ
tịch UBND về việc giới thiệu người ứng
cử vào chức vụ Ủy viên UBND phải nêu
rꢀ chức vụ tại cơ quan chuyên môn của
UBND hoặc lĩnh vực công tác phụ trách
mà người đó dự kiến sẽ đảm nhiệm sau
khi được bầu làm Ủy viên UBND. Ủy viên
UBND khóa mới thực hiện nhiệm vụ ngay
sau khi được HĐND bầu.
Thời gian hoạt động chức danh của
Ủy viên UBND được tính từ khi HĐND
bầu đến hết nhiệm kỳ của HĐND hoặc
khi HĐND miễn nhiệm, bãi nhiệm, trong
khi đó thời gian thực hiện nhiệm vụ của
người đứng đầu cơ quan chuyên môn
phụ thuộc vào thời điểm công tác của cá
nhân. Với cơ chế hoạt động theo chế độ
hội nghị, quyết định theo đa số thì việc
HĐND miễn nhiệm, bãi nhiệm chức danh
Ủy viên UBND hiếm khi trùng hợp với
thời điểm kết thúc việc thực nhiệm vụ
được quy định tại quyết định của Chủ tịch
UBND bổ nhiệm người giữ chức vụ đứng
đầu cơ quan chuyên môn của UBND.
Như vậy, luôn có một khoảng thời gian
Ủy viên UBND không là người đứng đầu
cơ quan chuyên môn hoặc ngược lại. Điều
đó cho thấy, quy định tại khoản 1 của các
Điều 20, 27, 41, 48 Luật Tổ chức CQĐP
2. Căn cứ vào kết quả bầu của HĐND,
Chủ tịch UBND cấp tỉnh, cấp huyện ra
quyết định bổ nhiệm Ủy viên UBND vào
chức danh người đứng đầu cơ quan chuyên
môn tương ứng thuộc UBND cùng cấp (trừ
Ủy viên phụ trách công an và Ủy viên phụ
trách quân sự).
Theo quy định này, quy trình HĐND
bầu chức danh Ủy viên UBND được tiến
9 Ý 7 điểm a mục 5 Hướng dẫn 1138/HD - UBTVQH14.
Số 09(433) - T5/2021
61
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
hành trước, làm căn cứ để Chủ tịch UBND
bổ nhiệm người đứng đầu cơ quan chuyên
môn. Cách hiểu này phù hợp với lập luận:
UBND là cơ quan chấp hành của HĐND,
hoạt động theo nhiệm kỳ của HĐND. Do
vậy, cơ quan chuyên môn của UBND
cũng phải theo nhiệm kỳ của HĐND.
Bên cạnh đó, Hướng dẫn số 1138 chỉ
là văn bản thực hiện tại kỳ họp thứ nhất
HĐND nhiệm kỳ 2016 - 2021, không là
căn cứ để áp dụng thực hiện quy trình bầu
Ủy viên UBND tại các kỳ họp khác của
HĐND trong nhiệm kỳ 2016 - 2021 và của
các nhiệm kỳ tiếp theo. Cho đến nay, việc
bầu Ủy viên UBND và bổ nhiệm người
đứng đầu cơ quan chuyên môn chưa được
hướng dẫn, giải thích để tạo sự thống nhất
trong nhận thức và thực hiện. Trong khi
đó, việc thay đổi nhân sự trong nhiệm kỳ
hoạt động của HĐND, UBND luôn có khả
năng xảy ra vào bất kỳ thời điểm nào vì
các lý do cá nhân như luân chuyển công
tác, nghỉ chế độ hưu trí, sức khỏe hay do vi
phạm pháp luật.
Về mặt pháp lý, Hướng dẫn số 1138
đã xác định mối quan hệ trong trình tự
bầu Ủy viên UBND là người đứng đầu
cơ quan chuyên môn thuộc UBND. Tuy
nhiên, trên thực tế, đa số nhân sự khi được
Chủ tịch UBND giới thiệu để HĐND bầu
làm Ủy viên UBND đã được Chủ tịch
UBND bổ nhiệm giữ chức vụ người đứng
đầu cơ quan chuyên môn của UBND
theo Quyết định số 27/2003/QĐ - TTg.
Chính vì vậy, sau khi HĐND bầu Ủy
viên UBND, việc UBND bổ nhiệm người
đứng đầu cơ quan chuyên môn của UBND
không được thực hiện thống nhất. Theo
thống kê, đối với chính quyền cấp tỉnh
có 38 địa phương ban hành quyết định
bổ nhiệm chức danh Ủy viên UBND giữ
chức vụ người đứng đầu cơ quan chuyên
môn thuộc UBND, 25 địa phương không
ban hành quyết định bổ nhiệm Ủy viên
UBND giữ chức vụ người đứng đầu cơ
quan chuyên môn thuộc UBND; trong
số 38 địa phương thực hiện theo Hướng
dẫn số 1138 thì có nhiều quyết định hoặc
không đúng với quy định của Luật Tổ
chức CQĐP hoặc không đúng với Quyết
định số 27/2003/QĐ - TTg về thời hạn bổ
nhiệm, quy trình lấy ý kiến các cơ quan
đoàn thể10. Tuy nhiên, tình trạng này vẫn
chưa được cơ quan có thẩm quyền khắc
phục, và cũng chưa có hướng dẫn để áp
dụng cho các nhiệm kỳ tới.
3. Đề xuất hướng giải quyết
Yêu cầu về tính thống nhất giữa các quy
định của pháp luật và giảm thiểu tính hình
thức trong hoạt động của HĐND, UBND
đối với công tác nhân sự, không chỉ đơn
thuần là việc đưa ra trình tự chức danh nào
có trước, chức danh nào có sau như Hướng
dẫn số 1138 mà cần phải xuất phát từ bản
chất khác nhau của hai chức danh để giải
quyết vấn đề. Một quy định không phản
ánh đúng địa vị pháp lý của đối tượng sẽ
khó thống nhất, đồng bộ, thậm chí gây mâu
thuẫn, chồng chéo trong thực hiện. Điều đó
trước mắt ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động
của đối tượng thực thi pháp luật và lâu dài
sẽ tác động tiêu cực đến ý thức pháp luật
của xã hội.
Từ những bất cập trên, việc sửa đổi các
quy định có liên quan của Luật Tổ chức
CQĐP hoặc ban hành văn bản hướng dẫn
10 Báo cáo số 2654/BC - BNV ngày 11/6/2018 của Bộ Nội vụ về việc bổ nhiệm Ủy viên UBND cấp tỉnh, cấp
huyện giữ chức vụ người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp.
62
Số 09(433) - T5/2021
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
thực hiện là điều các cơ quan có thẩm
quyền cần xem xét, giải quyết. Giải pháp
đặt ra là sửa đổi các quy định của các khoản
1 của các Điều 20, 27, 41, 48 Luật Tổ chức
CQĐP năm 2015 hoặc các nội dung liên
quan trong các luật khác để bảo đảm thực
hiện các điều này hoặc ban hành một văn
bản hướng dẫn.
chuyên môn để nhận được sự tín nhiệm của
HĐND. Khi người đứng đầu cơ quan chuyên
môn không được HĐND tín nhiệm bầu làm
Ủy viên UBND thì Chủ tịch UBND sẽ có căn
cứ, cơ sở để xem xét lại quyết định bổ nhiệm
của mình nhằm lựa chọn nhân sự phù hợp hơn
(ví dụ như cấp phó của người đứng đầu cơ
quan chuyên môn cũng được giới thiệu làm
Ủy viên UBND).
Để khắc phục các bất cập nêu trên, tác
giả đề xuất một số phương án sau:
Đây là giải pháp tối ưu, vừa bảo đảm
tính ổn định với các văn bản pháp luật
hiện có về quy trình bổ nhiệm cán bộ,
công chức và các văn bản về hoạt động
giám sát của HĐND đối với UBND vừa
không tác động đến các chính sách khác
của hệ thống chính trị về công tác quản lý
cán bộ, công chức.
Phương án thứ nhất: Sửa đổi các quy
định của các khoản 1 của các Điều 20, 27,
41, 48 Luật Tổ chức CQĐP năm 2015.
Từ thực tế hoạt động bầu Ủy viên
UBND và bổ nhiệm người đứng đầu
cơ quan chuyên môn của các nhiệm kỳ
trước, trên cơ sở kế thừa các quy định
của các Luật Tổ chức HĐND và UBND
trước kia, Luật Tổ chức CQĐP năm 2015
cần được sửa đổi theo hướng quy định
thẩm quyền của HĐND trong việc bầu
Ủy viên UBND và quy định khung số
lượng tối thiểu, tối đa Ủy viên UBND để
đảm bảo hiệu quả hoạt động của UBND.
Trong đó, số lượng thành viên UBND
được mở rộng tương ứng với số cơ quan
chuyên môn của từng đơn vị hành chính
nhưng không gắn kết yếu tố điều kiện “là
người đứng đầu cơ quan chuyên môn” để
HĐND bầu Ủy viên UBND.
Phương án thứ hai: Sửa đổi các quy
định của Luật Tổ chức CQĐP năm 2015
về thẩm quyền của HĐND và một số quy
định của các văn bản pháp luật khác có
liên quan.
Trong trường hợp vẫn giữ các quy định
tại các khoản 1 của các Điều 20, 27, 41, 48
Luật Tổ chức CQĐP năm 2015 thì cần sửa
đổi các quy định của Luật Tổ chức CQĐP
năm 2015 về thẩm quyền của HĐND và
một số quy định của các văn bản pháp luật
khác nhằm bảo đảm sự thống nhất các yếu
tố: Chủ thể quyết định, trình tự thủ tục,
thời hạn thực hiện nhiệm vụ của hai chức
danh này. Theo phương án này, trước hết,
cần bổ sung thẩm quyền của HĐND trong
việc quyết định nhân sự người đứng đầu cơ
quan chuyên môn và được thực hiện trong
cùng một hệ thống văn bản của HĐND
với tinh thần HĐND bầu Ủy viên UBND
thì đồng thời là người đứng đầu cơ quan
chuyên môn. Mô hình này được áp dụng
Việc mở rộng thành viên UBND tương
ứng với số cơ quan chuyên môn của UBND
cũng đảm bảo mục đích nâng cao hiệu quả
hoạt động của chính quyền địa phương như
mong muốn của Luật Tổ chức CQĐP năm
2015. Ngoài ra, hướng sửa đổi này cũng là
biện pháp thúc đẩy sự cố gắng, cạnh tranh
giữa các cá nhân người đứng đầu cơ quan
Số 09(433) - T5/2021
63
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
theo cách mà chính quyền trung ương đang
thực hiện đối với quy trình phê chuẩn đề
nghị bổ nhiệm bộ trưởng, thủ trưởng cơ
quan ngang bộ của Chính phủ. Khi đó, Ủy
viên UBND và người đứng đầu cơ quan
chuyên môn được đồng nhất trong một quy
trình thực hiện, do một chủ thể quyết định.
Phương án thứ ba: Ban hành văn bản
hướng dẫn áp dụng cho đối tượng Ủy viên
UBND là người đứng đầu cơ quan chuyên
môn của UBND.
Đây là giải pháp được đưa ra bảo đảm
tính ổn định của Luật Tổ chức CQĐP năm
2015 và các văn bản pháp luật khác. Theo
đó, Chính phủ, căn cứ vào thẩm quyền quy
định tại khoản 3 Điều 25 Luật Tổ chức
Chính phủ năm 201511, khoản 1 Điều 19
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
năm 201512 để ban hành văn bản quy định
về quy chế bổ nhiệm đối với đối tượng ủy
viên UBND là người đứng đầu cơ quan
chuyên môn.
Tuy nhiên, đây không phải là giải pháp
hiệu quả và khả thi vì quy trình này sẽ tiếp
tục gặp phải những trở ngại xuất phát từ sự
khác biệt giữa chính quyền trung ương và
chính quyền địa phương. Bởi lẽ, khó bảo
đảm tính độc lập trong hoạt động điều hành
của UBND khi nhân sự người đứng đầu cơ
quan chuyên môn của UBND phụ thuộc
hoàn toàn vào quyết định của HĐND. Trong
trường hợp trao quyền cho HĐND, mọi sự
thay đổi nhân sự Ủy viên UBND đồng thời
là người đứng đầu cơ quan chuyên môn
phải được miễn nhiệm, bãi nhiễm tại kỳ họp
HĐND. Điều này không phù hợp với cơ chế
hoạt động của HĐND. Ngoài ra, việc xác
định độ tuổi công tác của người đứng đầu
cơ quan chuyên môn không thể áp dụng như
đối với bộ trưởng, thành viên Chính phủ vì
phải bảo đảm tính đồng bộ với các quy định
của pháp luật về cán bộ công chức, thời gian
công tác, những tác động tới chính sách tiền
lương, bảo hiểm đối với một lượng nhân sự
lớn giữ chức danh Ủy viên UBND, người
đứng đầu cơ quan chuyên môn ở cấp tỉnh,
cấp huyện như hiện nay. Do vậy, cần phải
cân nhắc nhiều yếu tố từ cơ chế thực hiện
đến các quy định hiện hành như Luật Bảo
hiểm, Luật Cán bộ, công chức… khi lựa
chọn giải pháp này.
4. Thay cho lời kết
Quy định Ủy viên UBND là người đứng
đầu cơ quan chuyên môn của UBND được
quy định tại Luật Tổ chức CQĐP năm
2015 có những ưu điểm và hạn chế như
đã phân tích trên đây. Vì vậy, khi không
giải quyết được gốc rễ của vấn đề xuất
phát từ sự khác nhau giữa địa vị pháp lý
của một chức danh bầu cử với chức danh
hành chính thì đương nhiên sẽ có những
khó khăn, vướng mắc, những mong muốn
về ưu điểm quy định đó mang lại không
được phát huy. Các vấn đề về xung đột
pháp luật, tình trạng quy phạm không được
triển khai là khó tránh khỏi. Do vậy, các
giải pháp nêu trên được đưa ra có thể là
gợi mở để các cơ quan có thẩm quyền xem
xét, lựa chọn nhằm giải quyết vấn đề, đặc
biệt trong bối cảnh kỳ họp thứ nhất HĐND
nhiệm kỳ 2021 - 2026 đang đến gần
11 Nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ đối với chính quyền địa phương: “3. Lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn,
thanh tra, kiểm tra hoạt động của UBND các cấp”.
12 Chính phủ ban hành nghị định để quy định: “1. Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong luật, nghị quyết
của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước”.
64
Số 09(433) - T5/2021
Bạn đang xem tài liệu "Quy trình bầu ủy viên Ủy ban nhân dân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
quy_trinh_bau_uy_vien_uy_ban_nhan_dan.pdf

