Quy trình bầu ủy viên Ủy ban nhân dân

CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
QUY TRÌNH BẦU ỦY VIÊN ỦY BAN NHÂN DÂN  
Hoàng Thị Lan*  
*ThS. Vụ Công tác đại biểu, Văn phòng Quốc hội  
Tóm tắt:  
Thông tin bài viết:  
Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày, phân tích các quy định của pháp  
luật về chức danh, quy trình bầu Ủy viên Ủy ban nhân dân và đưa ra các kiến  
nghị hoàn thiện.  
Từ khóa: Ủy viên Ủy ban nhân  
dân, người đứng đầu cơ quan  
chuyên môn, quy trình bầu chức  
danh ủy viên Ủy ban nhân dân.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 08/02/2021  
: 16/3/2021  
: 18/3/2021  
Abstract:  
Article Infomation:  
Within the scope of this article, the author provides discussions and analyses of  
the legal provisions on titles, the process of election of members of the People's  
Committee and makes recommendations for improvement.  
Keywords:MembersofthePeople's  
Committee; head of specialized  
agencies; procedures for election  
of the position of members of the  
People's Committee.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 08 Feb. 2021  
: 16 Mar. 2021  
: 18 Mar. 2021  
Approved  
1. Khái lược về chức danh Ủy viên Ủy  
ban nhân dân  
ủy viên UBND. Về địa vị pháp lý, đây là  
chức danh do HĐND bầu, miễn nhiệm, bãi  
nhiệm theo sự giới thiệu, đề nghị của Chủ  
tịch UBND. Đồng thời, HĐND có quyền  
lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm đối với ủy  
viên UBND. Tùy thuộc vào cấp chính  
quyền, quy mô dân số, diện tích tự nhiên  
để quyết định khung tối thiểu, tối đa số  
lượng ủy viên UBND. Bắt đầu từ nhiệm kỳ  
hoạt động 1994 - 1999, cơ cấu thành viên  
UBND được quy định tại các nghị định  
của Chính phủ1. Theo đó, cơ cấu, số lượng  
Ngay trong văn bản pháp luật đầu tiên  
của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Sắc  
lệnh số 63/SL ngày 22/11/1945 cho đến  
Luật Tổ chức chính quyền địa phương  
(CQĐP) năm 1958, Luật Tổ chức Hội  
đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban hành  
chính (UBHC) năm 1962, các Luật Tổ  
chức HĐND và Ủy ban nhân dân (UBND)  
các năm 1983, 1989, 1994, 2003 đều thống  
nhất quy định về địa vị pháp lý và số lượng  
1 Ví dụ như Nghị định số 107/2004/NĐ-CP ngày 01/4/2004 để thực hiện Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và  
Ủy ban nhân dân năm 2003; Nghị định số 174-CP ngày 29/9/1997 để thực hiện Luật Tổ chức Hội đồng nhân  
dân và Ủy ban nhân dân năm 1994.  
58  
Số 09(433) - T5/2021  
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
2. Những vấn đề phát sinh  
ủy viên UBND gắn với phạm vi công việc  
của mỗi cấp chính quyền địa phương.  
Mặc dù Luật Tổ chức CQĐP có nhiều  
điểm “tích cực” góp phần nâng cao hiệu  
quả hoạt động của cá nhân người giữ chức  
danh Ủy viên UBND, người đứng đầu  
cơ quan chuyên môn và tập thể HĐND,  
UBND. Tuy nhiên, trong quá trình thực  
hiện Luật Tổ chức CQĐP đã phát sinh một  
số vướng mắc. Nguyên nhân xuất phát từ  
việc Luật Tổ chức CQĐP gắn chức danh  
bầu cử (thành viên UBND do HĐND bầu)  
và chức danh hành chính (người đứng đầu  
cơ quan chuyên môn do Chủ tịch UBND bổ  
nhiệm) trong một chủ thể.  
Như vậy, pháp luật chỉ quy định số  
lượng ủy viên UBND mà không quy định  
điều kiện chức vụ kèm theo. Trên thực tế,  
xuất phát từ yêu cầu bảo đảm hiệu quả hoạt  
động, người đứng đầu cơ quan chuyên môn  
thường được Chủ tịch UBND giới thiệu để  
HĐND bầu làm Ủy viên UBND phụ trách  
lĩnh vực theo quy định của pháp luật (ví dụ  
đối với cấp tỉnh giám đốc sở nội vụ sẽ là  
ủy viên phụ trách nội vụ, giám đốc sở tài  
chính là ủy viên phụ trách tài chính…). Sự  
ổn định của quy định này trong lịch sử hoạt  
động của chính quyền địa phương phần nào  
phản ánh tính hợp lý, khả thi của quy phạm  
về ủy viên UBND tại các văn bản trước kia.  
Nghiên cứu cách thức hình thành các  
chức danh trong hệ thống chính trị cho thấy,  
quy định “Ủy viên UBND là người đứng  
đầu cơ quan chuyên môn” tại Luật Tổ chức  
CQĐP năm 2015 áp dụng theo mô hình của  
Chính phủ. Khoản 1 Điều 99 Hiến pháp  
năm 2013 quy định: Bộ trưởng, Thủ trưởng  
cơ quan ngang bộ là thành viên Chính phủ  
và là người đứng đầu bộ, cơ quan ngang  
bộ… Đối với chính quyền trung ương, quy  
định trên phù hợp vì có sự đồng nhất về địa  
vị pháp lý, chủ thể có thẩm quyền quyết  
định, quy trình hình thành chức danh thành  
viên Chính phủ và bộ trưởng, thủ trưởng cơ  
quan ngang bộ.  
Luật Tổ chức CQĐP năm 2015 đã thay  
đổi quy định về Ủy viên UBND2. Theo đó,  
Ủy viên UBND là người đứng đầu cơ quan  
chuyên môn và ủy viên phụ trách quân sự,  
ủy viên phụ trách công an. Quy định này  
hướng tới mục đích tăng cường trách nhiệm  
cá nhân người đừng đầu cơ quan chuyên  
môn đối với hoạt động chung của UBND.  
Hoạt động theo dõi, trao đổi của UBND  
được kịp thời, thường xuyên, định kỳ hơn  
khi tất cả người đứng đầu cơ quan chuyên  
môn của UBND đều có quyền và trách  
nhiệm tham gia phiên họp của UBND, có  
quyền biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm  
quyền của UBND cùng cấp. Đồng thời,  
HĐND có cơ chế giám sát toàn diện hơn  
đối với hoạt động của UBND thông qua  
quyền lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm, miễn  
nhiệm, bãi nhiệm các Ủy viên UBND. Điều  
này tạo sự bình đẳng, công bằng trong gánh  
chịu trách nhiệm cá nhân và là động lực để  
tăng cường hiệu quả, chất lượng quản lý  
điều hành của tập thể UBND và của cá nhân  
người đứng đầu cơ quan chuyên môn.  
Theo quy định của Luật Cán bộ, công  
chức, người giữ chức danh bộ trưởng là  
cán bộ. Nhiệm kỳ hoạt động của Chính  
phủ theo nhiệm kỳ hoạt động của Quốc  
hội. Tương ứng với đó, nhiệm kỳ hoạt  
động của các thành viên Chính phủ đồng  
nhất với thời gian giữ chức danh bộ  
trưởng, người đứng đầu cơ quan ngang  
bộ và theo nhiệm kỳ Quốc hội. Quốc hội  
là chủ thể có quyền phê chuẩn đề nghị của  
Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm  
2 Khoản 1 của các Điều 20, 27, 41, 48 Luật Tổ chức CQĐP.  
Số 09(433) - T5/2021  
59  
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
một cá nhân giữ chức danh bộ trưởng,  
đồng thời là thành viên Chính phủ.  
quyền của Chủ tịch UBND và theo trình tự  
thủ tục về điều kiện bổ nhiệm được pháp  
luật quy định7.  
Tuy nhiên, khi quy định này được áp  
dụng ở chính quyền địa phương sẽ không  
hợp lý bởi các lý do sau:  
Thứ ba, về thời điểm và thời gian thực  
hiện nhiệm vụ: Ngay sau khi được HĐND  
bầu, ủy viên UBND thực hiện nhiệm vụ,  
quyền hạn của mình8, thời gian giữ chức  
danh Ủy viên UBND theo nhiệm kỳ của  
HĐND hoặc đến khi HĐND bỏ phiếu  
miễn nhiệm, bãi nhiệm chức danh ủy  
viên UBND. Trong khi đó, quyết định bổ  
nhiệm người đứng đầu cơ quan chuyên  
môn là văn bản hành chính, thời điểm  
thực hiện nhiệm vụ phụ thuộc vào hiệu  
lực thi hành của văn bản đó. Thời gian  
hoạt động của người đứng đầu cơ quan  
chuyên môn tính theo tuổi công tác của  
cá nhân người được bổ nhiệm. Hiện nay,  
quy trình bổ nhiệm người đứng đầu cơ  
quan chuyên môn được thực hiện theo  
Quyết định số 27/2003/QĐ - TTg ngày  
19/02/2003 của Thủ tướng Chỉnh phủ  
về việc ban hành Quy chế bổ nhiệm, bổ  
nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn  
nhiệm cán bộ, công chức lãnh đạo.  
Thứ nhất, về địa vị pháp lý: Theo  
nguyên tắc, UBND là cơ quan chấp  
hành của HĐND, nhiệm kỳ hoạt động  
của UBND theo nhiệm kỳ hoạt động của  
HĐND3. Do đó, nhiệm kỳ hoạt động của  
ủy viên UBND gắn với nhiệm kỳ của  
HĐND. Ủy viên UBND là chức danh kiêm  
nhiệm, quy định trách nhiệm tham gia của  
cá nhân đối với tập thể của UBND. Căn cứ  
Luật Cán bộ, công chức, người giữ chức  
danh ủy viên UBND được hiểu là cán bộ4.  
Trong khi đó, người được bổ nhiệm chức  
vụ đứng đầu cơ quan chuyên môn của  
UBND là công chức5. Điều này một lần  
nữa được khẳng định tại khoản 1, khoản  
2 Điều 6 Nghị định số 06/2010/NĐ -  
CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy  
định những người là công chức.  
Thứ hai, về quy trình hình thành chức  
danh: Theo quy định hiện hành, Ủy viên  
UBND là chức danh do HĐND bầu thực  
hiện theo quy trình bầu cử trên cơ sở giới  
thiệu của Chủ tịch UBND6. Đối với chức  
danh người đứng đầu cơ quan chuyên môn  
của UBND được thiết lập theo cơ chế bổ  
nhiệm. Quyết định bổ nhiệm người đứng  
đầu cơ quan chuyên môn thuộc thẩm  
Xuất phát từ địa vị pháp lý khác nhau,  
có hai cơ chế riêng biệt hình thành chức  
danh bầu cử (ủy viên UBND) và chức  
danh hành chính (người đứng đầu cơ  
quan chuyên môn của UBND), thể hiện  
thông qua sự độc lập, riêng biệt từ chủ thể  
có quyền quyết định, trình tự thủ tục thực  
3 Điều này đã được quy định tại các luật về tổ chức HĐND và UBND (Ví dụ khoản 3 Điều 10 Luật Tổ chức  
CQĐP năm 2015, khoản 2 Điều 6 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003….),  
4 Khoản 1 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức.  
5 Khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức.  
6 Khoản 4 Điều 83 Luật Tổ chức CQĐP.  
7
Quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số 24/2014/NĐ - CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ  
chức các cơ quan chuyên môn thuôc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; khoản 4 Điều 5 Nghị định  
số 37/2014/NĐ – CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban  
nhân dân huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh.  
8 Khoản 4, khoản 9 Điều 83 Luật Tổ chức CQĐP.  
60  
Số 09(433) - T5/2021  
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
hiện, hệ thống văn bản áp dụng, thời điểm  
và thời gian thực hiện nhiệm vụ của ủy  
viên UBND và người đứng đầu cơ quan  
chuyên môn của UBND. Vì vậy, khi Luật  
Tổ chức CQĐP năm 2015 đồng nhất hai  
chức danh trong một chủ thể nhưng vẫn  
giữ nguyên các quy định trong các văn  
bản pháp luật khác có liên quan về trình  
tự thủ tục thì tất yếu sẽ có những vướng  
mắc, mâu thuẫn.  
năm 2015 không thể áp dụng trong mọi  
trường hợp, mọi thời điểm.  
Ngoài ra, hai cơ chế chức danh khác  
nhau nhưng được quy định chung cho một  
chủ thể sẽ dẫn đến tình trạng hình thức ở  
ít nhất một trong hai quy trình hoàn thiện  
chức danh. Nếu việc bầu Ủy viên UBND có  
trước thì quy trình bổ nhiệm của Chủ tịch  
UBND sẽ hình thức; ngược lại, nếu việc  
bổ nhiệm người đứng đầu cơ quan chuyên  
môn có trước thì quy trình bầu của HĐND  
sẽ hình thức.  
Chức danh nào có trước, làm tiền đề, điều  
kiện để xem xét, quyết định cho việc thực  
hiện quy trình hoàn thiện chức danh còn lại?  
Trong trường hợp người được HĐND bầu  
làm Ủy viên UBND nhưng không đủ điều  
kiện bổ nhiệm làm người đứng đầu cơ quan  
chuyên môn của UBND hoặc khi được bổ  
nhiệm làm người đứng đầu cơ quan chuyên  
môn của UBND nhưng không được HĐND  
tín nhiệm bầu làm Ủy viên UBND sẽ giải  
quyết thế nào?  
Nhiệm kỳ HĐND 2016 - 2021 là  
nhiệm kỳ đầu tiên thực hiện Luật Tổ chức  
CQĐP năm 2015. Hướng dẫn số 1138/  
HD - UBTVHQ13 của Ủy ban thường vụ  
Quốc hội về một số nội dung tại kỳ họp  
thứ nhất, nhiệm kỳ HĐND 2016 - 2021  
(Hướng dẫn số 1138) quy định quy trình  
bầu Ủy viên UBND9:  
1. Chủ tịch UBND trình danh sách giới  
thiệu các Ủy viên UBND. Tờ trình của Chủ  
tịch UBND về việc giới thiệu người ứng  
cử vào chức vụ Ủy viên UBND phải nêu  
rꢀ chức vụ tại cơ quan chuyên môn của  
UBND hoặc lĩnh vực công tác phụ trách  
mà người đó dự kiến sẽ đảm nhiệm sau  
khi được bầu làm Ủy viên UBND. Ủy viên  
UBND khóa mới thực hiện nhiệm vụ ngay  
sau khi được HĐND bầu.  
Thời gian hoạt động chức danh của  
Ủy viên UBND được tính từ khi HĐND  
bầu đến hết nhiệm kỳ của HĐND hoặc  
khi HĐND miễn nhiệm, bãi nhiệm, trong  
khi đó thời gian thực hiện nhiệm vụ của  
người đứng đầu cơ quan chuyên môn  
phụ thuộc vào thời điểm công tác của cá  
nhân. Với cơ chế hoạt động theo chế độ  
hội nghị, quyết định theo đa số thì việc  
HĐND miễn nhiệm, bãi nhiệm chức danh  
Ủy viên UBND hiếm khi trùng hợp với  
thời điểm kết thúc việc thực nhiệm vụ  
được quy định tại quyết định của Chủ tịch  
UBND bổ nhiệm người giữ chức vụ đứng  
đầu cơ quan chuyên môn của UBND.  
Như vậy, luôn có một khoảng thời gian  
Ủy viên UBND không là người đứng đầu  
cơ quan chuyên môn hoặc ngược lại. Điều  
đó cho thấy, quy định tại khoản 1 của các  
Điều 20, 27, 41, 48 Luật Tổ chức CQĐP  
2. Căn cứ vào kết quả bầu của HĐND,  
Chủ tịch UBND cấp tỉnh, cấp huyện ra  
quyết định bổ nhiệm Ủy viên UBND vào  
chức danh người đứng đầu cơ quan chuyên  
môn tương ứng thuộc UBND cùng cấp (trừ  
Ủy viên phụ trách công an và Ủy viên phụ  
trách quân sự).  
Theo quy định này, quy trình HĐND  
bầu chức danh Ủy viên UBND được tiến  
9 Ý 7 điểm a mục 5 Hướng dẫn 1138/HD - UBTVQH14.  
Số 09(433) - T5/2021  
61  
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
hành trước, làm căn cứ để Chủ tịch UBND  
bổ nhiệm người đứng đầu cơ quan chuyên  
môn. Cách hiểu này phù hợp với lập luận:  
UBND là cơ quan chấp hành của HĐND,  
hoạt động theo nhiệm kỳ của HĐND. Do  
vậy, cơ quan chuyên môn của UBND  
cũng phải theo nhiệm kỳ của HĐND.  
Bên cạnh đó, Hướng dẫn số 1138 chỉ  
là văn bản thực hiện tại kỳ họp thứ nhất  
HĐND nhiệm kỳ 2016 - 2021, không là  
căn cứ để áp dụng thực hiện quy trình bầu  
Ủy viên UBND tại các kỳ họp khác của  
HĐND trong nhiệm kỳ 2016 - 2021 và của  
các nhiệm kỳ tiếp theo. Cho đến nay, việc  
bầu Ủy viên UBND và bổ nhiệm người  
đứng đầu cơ quan chuyên môn chưa được  
hướng dẫn, giải thích để tạo sự thống nhất  
trong nhận thức và thực hiện. Trong khi  
đó, việc thay đổi nhân sự trong nhiệm kỳ  
hoạt động của HĐND, UBND luôn có khả  
năng xảy ra vào bất kỳ thời điểm nào vì  
các lý do cá nhân như luân chuyển công  
tác, nghỉ chế độ hưu trí, sức khỏe hay do vi  
phạm pháp luật.  
Về mặt pháp lý, Hướng dẫn số 1138  
đã xác định mối quan hệ trong trình tự  
bầu Ủy viên UBND là người đứng đầu  
cơ quan chuyên môn thuộc UBND. Tuy  
nhiên, trên thực tế, đa số nhân sự khi được  
Chủ tịch UBND giới thiệu để HĐND bầu  
làm Ủy viên UBND đã được Chủ tịch  
UBND bổ nhiệm giữ chức vụ người đứng  
đầu cơ quan chuyên môn của UBND  
theo Quyết định số 27/2003/QĐ - TTg.  
Chính vì vậy, sau khi HĐND bầu Ủy  
viên UBND, việc UBND bổ nhiệm người  
đứng đầu cơ quan chuyên môn của UBND  
không được thực hiện thống nhất. Theo  
thống kê, đối với chính quyền cấp tỉnh  
có 38 địa phương ban hành quyết định  
bổ nhiệm chức danh Ủy viên UBND giữ  
chức vụ người đứng đầu cơ quan chuyên  
môn thuộc UBND, 25 địa phương không  
ban hành quyết định bổ nhiệm Ủy viên  
UBND giữ chức vụ người đứng đầu cơ  
quan chuyên môn thuộc UBND; trong  
số 38 địa phương thực hiện theo Hướng  
dẫn số 1138 thì có nhiều quyết định hoặc  
không đúng với quy định của Luật Tổ  
chức CQĐP hoặc không đúng với Quyết  
định số 27/2003/QĐ - TTg về thời hạn bổ  
nhiệm, quy trình lấy ý kiến các cơ quan  
đoàn thể10. Tuy nhiên, tình trạng này vẫn  
chưa được cơ quan có thẩm quyền khắc  
phục, và cũng chưa có hướng dẫn để áp  
dụng cho các nhiệm kỳ tới.  
3. Đề xuất hướng giải quyết  
Yêu cầu về tính thống nhất giữa các quy  
định của pháp luật và giảm thiểu tính hình  
thức trong hoạt động của HĐND, UBND  
đối với công tác nhân sự, không chỉ đơn  
thuần là việc đưa ra trình tự chức danh nào  
có trước, chức danh nào có sau như Hướng  
dẫn số 1138 mà cần phải xuất phát từ bản  
chất khác nhau của hai chức danh để giải  
quyết vấn đề. Một quy định không phản  
ánh đúng địa vị pháp lý của đối tượng sẽ  
khó thống nhất, đồng bộ, thậm chí gây mâu  
thuẫn, chồng chéo trong thực hiện. Điều đó  
trước mắt ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động  
của đối tượng thực thi pháp luật và lâu dài  
sẽ tác động tiêu cực đến ý thức pháp luật  
của xã hội.  
Từ những bất cập trên, việc sửa đổi các  
quy định có liên quan của Luật Tổ chức  
CQĐP hoặc ban hành văn bản hướng dẫn  
10 Báo cáo số 2654/BC - BNV ngày 11/6/2018 của Bộ Nội vụ về việc bổ nhiệm Ủy viên UBND cấp tỉnh, cấp  
huyện giữ chức vụ người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp.  
62  
Số 09(433) - T5/2021  
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
thực hiện là điều các cơ quan có thẩm  
quyền cần xem xét, giải quyết. Giải pháp  
đặt ra là sửa đổi các quy định của các khoản  
1 của các Điều 20, 27, 41, 48 Luật Tổ chức  
CQĐP năm 2015 hoặc các nội dung liên  
quan trong các luật khác để bảo đảm thực  
hiện các điều này hoặc ban hành một văn  
bản hướng dẫn.  
chuyên môn để nhận được sự tín nhiệm của  
HĐND. Khi người đứng đầu cơ quan chuyên  
môn không được HĐND tín nhiệm bầu làm  
Ủy viên UBND thì Chủ tịch UBND sẽ có căn  
cứ, cơ sở để xem xét lại quyết định bổ nhiệm  
của mình nhằm lựa chọn nhân sự phù hợp hơn  
(ví dụ như cấp phó của người đứng đầu cơ  
quan chuyên môn cũng được giới thiệu làm  
Ủy viên UBND).  
Để khắc phục các bất cập nêu trên, tác  
giả đề xuất một số phương án sau:  
Đây là giải pháp tối ưu, vừa bảo đảm  
tính ổn định với các văn bản pháp luật  
hiện có về quy trình bổ nhiệm cán bộ,  
công chức và các văn bản về hoạt động  
giám sát của HĐND đối với UBND vừa  
không tác động đến các chính sách khác  
của hệ thống chính trị về công tác quản lý  
cán bộ, công chức.  
Phương án thứ nhất: Sửa đổi các quy  
định của các khoản 1 của các Điều 20, 27,  
41, 48 Luật Tổ chức CQĐP năm 2015.  
Từ thực tế hoạt động bầu Ủy viên  
UBND và bổ nhiệm người đứng đầu  
cơ quan chuyên môn của các nhiệm kỳ  
trước, trên cơ sở kế thừa các quy định  
của các Luật Tổ chức HĐND và UBND  
trước kia, Luật Tổ chức CQĐP năm 2015  
cần được sửa đổi theo hướng quy định  
thẩm quyền của HĐND trong việc bầu  
Ủy viên UBND và quy định khung số  
lượng tối thiểu, tối đa Ủy viên UBND để  
đảm bảo hiệu quả hoạt động của UBND.  
Trong đó, số lượng thành viên UBND  
được mở rộng tương ứng với số cơ quan  
chuyên môn của từng đơn vị hành chính  
nhưng không gắn kết yếu tố điều kiện “là  
người đứng đầu cơ quan chuyên môn” để  
HĐND bầu Ủy viên UBND.  
Phương án thứ hai: Sửa đổi các quy  
định của Luật Tổ chức CQĐP năm 2015  
về thẩm quyền của HĐND và một số quy  
định của các văn bản pháp luật khác có  
liên quan.  
Trong trường hợp vẫn giữ các quy định  
tại các khoản 1 của các Điều 20, 27, 41, 48  
Luật Tổ chức CQĐP năm 2015 thì cần sửa  
đổi các quy định của Luật Tổ chức CQĐP  
năm 2015 về thẩm quyền của HĐND và  
một số quy định của các văn bản pháp luật  
khác nhằm bảo đảm sự thống nhất các yếu  
tố: Chủ thể quyết định, trình tự thủ tục,  
thời hạn thực hiện nhiệm vụ của hai chức  
danh này. Theo phương án này, trước hết,  
cần bổ sung thẩm quyền của HĐND trong  
việc quyết định nhân sự người đứng đầu cơ  
quan chuyên môn và được thực hiện trong  
cùng một hệ thống văn bản của HĐND  
với tinh thần HĐND bầu Ủy viên UBND  
thì đồng thời là người đứng đầu cơ quan  
chuyên môn. Mô hình này được áp dụng  
Việc mở rộng thành viên UBND tương  
ứng với số cơ quan chuyên môn của UBND  
cũng đảm bảo mục đích nâng cao hiệu quả  
hoạt động của chính quyền địa phương như  
mong muốn của Luật Tổ chức CQĐP năm  
2015. Ngoài ra, hướng sửa đổi này cũng là  
biện pháp thúc đẩy sự cố gắng, cạnh tranh  
giữa các cá nhân người đứng đầu cơ quan  
Số 09(433) - T5/2021  
63  
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG  
theo cách mà chính quyền trung ương đang  
thực hiện đối với quy trình phê chuẩn đề  
nghị bổ nhiệm bộ trưởng, thủ trưởng cơ  
quan ngang bộ của Chính phủ. Khi đó, Ủy  
viên UBND và người đứng đầu cơ quan  
chuyên môn được đồng nhất trong một quy  
trình thực hiện, do một chủ thể quyết định.  
Phương án thứ ba: Ban hành văn bản  
hướng dẫn áp dụng cho đối tượng Ủy viên  
UBND là người đứng đầu cơ quan chuyên  
môn của UBND.  
Đây là giải pháp được đưa ra bảo đảm  
tính ổn định của Luật Tổ chức CQĐP năm  
2015 và các văn bản pháp luật khác. Theo  
đó, Chính phủ, căn cứ vào thẩm quyền quy  
định tại khoản 3 Điều 25 Luật Tổ chức  
Chính phủ năm 201511, khoản 1 Điều 19  
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật  
năm 201512 để ban hành văn bản quy định  
về quy chế bổ nhiệm đối với đối tượng ủy  
viên UBND là người đứng đầu cơ quan  
chuyên môn.  
Tuy nhiên, đây không phải là giải pháp  
hiệu quả và khả thi vì quy trình này sẽ tiếp  
tục gặp phải những trở ngại xuất phát từ sự  
khác biệt giữa chính quyền trung ương và  
chính quyền địa phương. Bởi lẽ, khó bảo  
đảm tính độc lập trong hoạt động điều hành  
của UBND khi nhân sự người đứng đầu cơ  
quan chuyên môn của UBND phụ thuộc  
hoàn toàn vào quyết định của HĐND. Trong  
trường hợp trao quyền cho HĐND, mọi sự  
thay đổi nhân sự Ủy viên UBND đồng thời  
là người đứng đầu cơ quan chuyên môn  
phải được miễn nhiệm, bãi nhiễm tại kỳ họp  
HĐND. Điều này không phù hợp với cơ chế  
hoạt động của HĐND. Ngoài ra, việc xác  
định độ tuổi công tác của người đứng đầu  
cơ quan chuyên môn không thể áp dụng như  
đối với bộ trưởng, thành viên Chính phủ vì  
phải bảo đảm tính đồng bộ với các quy định  
của pháp luật về cán bộ công chức, thời gian  
công tác, những tác động tới chính sách tiền  
lương, bảo hiểm đối với một lượng nhân sự  
lớn giữ chức danh Ủy viên UBND, người  
đứng đầu cơ quan chuyên môn ở cấp tỉnh,  
cấp huyện như hiện nay. Do vậy, cần phải  
cân nhắc nhiều yếu tố từ cơ chế thực hiện  
đến các quy định hiện hành như Luật Bảo  
hiểm, Luật Cán bộ, công chức… khi lựa  
chọn giải pháp này.  
4. Thay cho lời kết  
Quy định Ủy viên UBND là người đứng  
đầu cơ quan chuyên môn của UBND được  
quy định tại Luật Tổ chức CQĐP năm  
2015 có những ưu điểm và hạn chế như  
đã phân tích trên đây. Vì vậy, khi không  
giải quyết được gốc rễ của vấn đề xuất  
phát từ sự khác nhau giữa địa vị pháp lý  
của một chức danh bầu cử với chức danh  
hành chính thì đương nhiên sẽ có những  
khó khăn, vướng mắc, những mong muốn  
về ưu điểm quy định đó mang lại không  
được phát huy. Các vấn đề về xung đột  
pháp luật, tình trạng quy phạm không được  
triển khai là khó tránh khỏi. Do vậy, các  
giải pháp nêu trên được đưa ra có thể là  
gợi mở để các cơ quan có thẩm quyền xem  
xét, lựa chọn nhằm giải quyết vấn đề, đặc  
biệt trong bối cảnh kỳ họp thứ nhất HĐND  
nhiệm kỳ 2021 - 2026 đang đến gần  
11 Nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ đối với chính quyền địa phương: “3. Lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn,  
thanh tra, kiểm tra hoạt động của UBND các cấp”.  
12 Chính phủ ban hành nghị định để quy định: “1. Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong luật, nghị quyết  
của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước”.  
64  
Số 09(433) - T5/2021  
pdf 7 trang Thùy Anh 9680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quy trình bầu ủy viên Ủy ban nhân dân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquy_trinh_bau_uy_vien_uy_ban_nhan_dan.pdf