Bảo đảm quyền của nạn nhân là trẻ em trong các vụ án mua bán người
BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NẠN NHÂN LÀ TRẺ EM...
TRONG CÁC VỤ ÁN MUA BÁN NGƯỜI
TRẦN HỮU TRÁNG*
Năm 2016, thống kê của Văn phòng Liên Hợp Quốc về Ma túy và Tội phạm (the United
Nations Office on Drugs and Crime) cho thấy có hơn 24.000 nạn nhân bị mua bán được phát
hiện, trong đó 30% là trẻ em (23% là trẻ em gái, 7% là trẻ em trai). Trong khi phần lớn trẻ
em trai bị cưỡng bức lao động (50%), thì phần lớn trẻ em gái bị buôn bán để bóc lột tình dục
(72%). Tại Việt Nam, giai đoạn 2012-2018 đã có 6.808 nạn nhân của các vụ mua bán người,
trong đó chỉ riêng Bộ Lao động - Thương Binh và Xã hội đã tiếp nhận, hỗ trợ hơn 3.500 nạn
nhân, trong đó có gần 3.400 nữ, hơn 600 người dưới 18 tuổi. Thực trạng này cho thấy việc
bảo đảm quyền của nạn nhân nói chung, nạn nhân là trẻ em trong các vụ mua bán người nói
riêng đang đặt ra rất cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Bài viết này phân tích về các quyền
và bảo đảm quyền của nạn nhân là trẻ em trong các vụ mua bán người.
Từ khóa: Quyền, bảo đảm quyền, nạn nhân, trẻ em, mua bán người.
Ngày nhận bài: 08/6/2021; Biên tập xong: 15/6/2021; Duyệt đăng: 30/6/2021
In2016, statisticscollectedbytheUnitedNationsOfficeonDrugsandCrimerevealedmore
than 24,000 victims of human trafficking were detected, of which 30% were children (23%
girls, 7% boys). While the majority of boys were subjected to forced labor (50%), the majority
of girls were trafficked for sexual exploitation (72%). In Viet Nam, between 2012-2018, of the
6,808 victims of human trafficking, the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs
received and supported more than 3,500 victims, including nearly 3,400 female, and more
than 600 people under 18 years old. This situation highlights the rights of trafficked victims
and child victims in particular as an urgent maꢀer to be addressed. This article analyzes the
rights of child victims and how to guarantee their rights in human trafficking cases.
Keywords: Rights, ensuring the rights, victims, children, human trafficking.
1. Quyền của nạn nhân là trẻ em trong người mà chỉ xác định nạn nhân là phụ
nữ, trẻ em là những đối tượng được bảo
vệ đặc biệt. Nghị định thư về ngăn ngừa,
phòng chống và trừng trị buôn bán người,
đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung Công
ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên
quốc gia của Liên Hợp Quốc (được thông
qua và mở cho các quốc gia ký, phê chuẩn
và gia nhập theo Nghị quyết số 55/25 ngày
15/11/2000 của Đại hội đồng Liên Hợp
Quốc)2 (sau đây gọi tắt là Nghị định thư)
các vụ mua bán người
1.1. Quyền của nạn nhân là trẻ em
trong các vụ mua bán người theo pháp
luật quốc tế
Điều 1 Công ước về quyền trẻ em của
Liên Hợp Quốc năm 1989 (Convention
on the Rights of the Child - CRC) quy
định: “… trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ
khi luật áp dụng cho trẻ em quy định độ tuổi
sớm hơn”1. Các văn bản pháp luật quốc
tế hiện hành không có quy định riêng về
nạn nhân là trẻ em trong các vụ mua bán
* Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Trưởng khoa Luật, Trường Đại
học Mở Hà Nội
2ꢀ United Nations Protocol to Prevent, Suppress and Punish
1ꢀ Convention on the Rights of the Child. Nguồn: Trafficking in Persons, especially Women and Children.
pages/crc.aspx
pages/protocoltraffickinginpersons.aspx.
Số chuyên đề 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 27
BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NẠN NHÂN LÀ TRẺ EM...
đã quy định bốn nhóm quyền cơ bản của người. Theo đó, Công ước cũng quy định
nạn nhân, gồm:
bốn nhóm quyền của nạn nhân, gồm:
- Quyền được bảo vệ, bao gồm quyền
được bảo vệ sự riêng tư và nhân thân, kể
cả việc tiến hành tố tụng đối với hành vi
buôn bán người một cách bí mật3; được
bảo đảm an toàn về thân thể khi nạn nhân
đang ở trong lãnh thổ của quốc gia đó4;
- Quyền được ở lại lãnh thổ của quốc gia
thành viên11; được hồi hương trở về quốc
gia mà nạn nhân là công dân hoặc nạn
nhân có quyền cư trú vĩnh viễn tại thời
điểm nạn nhân bị mua bán12;
- Quyền được bảo vệ, bao gồm được bảo
đảm an toàn về thân thể13; được bảo vệ
sự riêng tư và nhận dạng14; quyền được
miễn trừ15;
- Quyền được hỗ trợ, bao gồm hỗ trợ
về thủ tục hành chính và tố tụng, kể cả
quyền được trình bày các quan điểm và
mối quan ngại của họ5; hỗ trợ tái hòa nhập
nhằm giúp các nạn nhân buôn bán người
có thể phục hồi về thể chất, tinh thần và xã
hội, đặc biệt là cung cấp nơi ở thích hợp;
hỗ trợ những hướng dẫn và thông tin cần
thiết; hỗ trợ y tế, tinh thần, vật chất; các cơ
hội việc làm, giáo dục và đào tạo6;
- Quyền được hỗ trợ, gồm được thông tin
về bản chất của sự bảo vệ, hỗ trợ và giúp đỡ
mà nạn nhân được hưởng16; được chăm sóc,
hỗ trợ17, kể cả hỗ trợ tái hòa nhập xã hội18;
- Quyền được bồi thường19.
Như vậy, so với Nghị định thư của
Liên Hợp Quốc thì Công ước ASEAN quy
định thêm 01 quyền trong nhóm quyền
được bảo vệ là quyền được miễn trừ, không
áp dụng hình phạt hoặc trách nhiệm hành
chính đối với nạn nhân bị buôn bán vì
hành vi trái pháp luật của người này nếu
những hành vi trái pháp luật đó là hệ quả
trực tiếp của hành vi buôn bán người20 và
- Quyền được ở lại lãnh thổ của quốc gia
thành viên, tạm thời hay vĩnh viễn7; quyền
hồi hương trở về lãnh thổ nước mình8;
- Quyền được đền bù thiệt hại mà các nạn
nhân phải chịu9.
Công ước ASEAN về phòng, chống
buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ,
trẻ em (ASEAN Convention Against
Trafficking in Persons, Especially Women
and Children)10 tại Điều 14 quy định về
bảo vệ nạn nhân trong các vụ mua bán
11ꢀ Khoản 4 Điều 14 ASEAN Convention Against
Trafficking in Persons, Tlđd.
12ꢀ Khoản 1, 2, 3 Điều 15 ASEAN Convention Against
Trafficking in Persons, Tlđd.
3ꢀ Khoản 1 Điều 6 Nghị định thư về ngăn ngừa, phòng 13ꢀ Khoản 5 Điều 14 ASEAN Convention Against
chống và trừng trị buôn bán người, đặc biệt là phụ Trafficking in Persons, Tlđd.
nữ và trẻ em, bổ sung Công ước về chống tội phạm có 14ꢀ Khoản 6 Điều 14 ASEAN Convention Against
tổ chức xuyên quốc gia của Liên Hợp Quốc. Nguồn: Trafficking in Persons, Tlđd.
pages/protocoltraffickinginpersons.aspx.
4ꢀ Khoản 5 Điều 6 Nghị định thư. Tlđd.
5ꢀ Khoản 2 Điều 6 Nghị định thư. Tlđd.
6ꢀ Khoản 3 Điều 6 Nghị định thư. Tlđd.
7ꢀ Khoản 7 Điều 6 Nghị định thư. Tlđd.
8ꢀ Điều 8 Nghị định thư. Tlđd.
Trafficking in Persons, Tlđd.
16ꢀ Khoản 9 Điều 14 ASEAN Convention Against
Trafficking in Persons, Tlđd.
17ꢀ Khoản 10 Điều 14 ASEAN Convention Against
Trafficking in Persons, Tlđd.
18ꢀ Khoản 11 Điều 14 ASEAN Convention Against
Trafficking in Persons, Tlđd.
9ꢀ Khoản 6 Điều 6 Nghị định thư. Tlđd.
10ꢀ ASEAN Convention Against Trafficking in 19ꢀ Khoản 13 Điều 14 ASEAN Convention Against
Persons, Especially Women and Children. Nguồn: Trafficking in Persons, Tlđd.
hꢁps://www.asean.org/wp-content/uploads/2015/12/
ACTIP.pdf.
20ꢀ
Khoản 7 Điều 14 ASEAN Convention Against
Trafficking in Persons, Tlđd.
28 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 02 - 2021
TRẦN HỮU TRÁNG
“không giam giữ những người được cơ quan trợ y tế, hỗ trợ tâm lý, trợ giúp pháp lý,
hỗ trợ học văn hóa, học nghề, trợ cấp khó
có thẩm quyền trong nước mình xác định là
khăn ban đầu, hỗ trợ vay vốn27;
nạn nhân bị buôn bán…”21
- Quyền được tiếp nhận, xác minh, giải
cứu nạn nhân28; được hồi hương29;
1.2. Quyền của nạn nhân là trẻ em
trong các vụ mua bán người theo pháp
luật Việt Nam
- Quyền được bồi thường thiệt hại theo
quy định của pháp luật30.
Cũng như pháp luật quốc tế, pháp luật
Việt Nam hiện hành chưa có quy định riêng
về quyền của nạn nhân là trẻ em trong các
vụ mua bán người mà chỉ quy định quyền
của nạn nhân nói chung trong các vụ án
này. Nghiên cứu Luật Phòng, chống mua
bán người (Luật số 66/2011/QH12) và các
văn bản hướng dẫn thi hành cho thấy
bốn nhóm quyền của nạn nhân trong các
vụ mua bán người gồm:
1.3. Những hạn chế trong các quy định
của pháp luật Việt Nam về quyền của nạn
nhân trong các vụ mua bán người
- Thứ nhất, mặc dù có sự tương đồng về
các nhóm quyền với pháp luật quốc tế, tuy
nhiên, các quyền cụ thể trong mỗi nhóm
quyền vẫn chưa thật sự tương thích. Các
quyền được ở lại và quyền miễn trừ chưa
được ghi nhận trong Luật Phòng, chống
mua bán người của Việt Nam.
- Quyền được bảo vệ, bao gồm được bảo
vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm và tài sản của nạn nhân và người thân
thích của họ22; được đảm bảo bí mật về nơi
cư trú, nơi làm việc, học tập; bảo vệ bí mật
thông tin cá nhân23; được xét xử kín; được
bố trí nơi ở, nơi làm việc, học tập mới24.
- Thứ hai, quy định về quyền của nạn
nhân còn rải rác ở nhiều điều trong Luật
Phòng, chống mua bán người. Điều 6 có tên
là “quyền và nghĩa vụ của nạn nhân” nhưng
không nêu rõ đâu là quyền, đâu là nghĩa
vụ. Kỹ thuật lập pháp của Điều 6 bắt buộc
phải dẫn chiếu đến nhiều điều luật khác (từ
Điều 24 đến Điều 28, từ Điều 32 đến Điều
39 và Điều 55 Luật Phòng, chống mua bán
người) mới làm rõ được các quyền của nạn
nhân và người thân thích của nạn nhân.
Điều này gây khó khăn cho việc nhận thức
cũng như thực tiễn áp dụng.
- Quyền được hưởng các chế độ hỗ trợ25,
gồm: Được bố trí nơi tạm lánh26; được hỗ
trợ về nhu cầu thiết yếu, chi phí đi lại, hỗ
21ꢀ Khoản 8 Điều 14 ASEAN Convention Against
Trafficking in Persons, Tlđd.
22ꢀ Khoản 1, 2 Điều 6 Luật Phòng, chống mua bán
người năm 2011; Nghị định số 62/2012/NĐ-CP ngày
13/8/2012 của Chính phủ đã quy định căn cứ xác định
nạn nhân bị mua bán và bảo vệ an toàn cho nạn nhân
và người thân thích của họ.
- Thứ ba, cách diễn đạt các quyền của
nạn nhân trong khoản 1 không thống
nhất và thiếu logic với khoản 2 và 3
23ꢀ Điều 30, 31 Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011.
24ꢀ Khoản 6, 8 Điều 7 Nghị định số 62/2012/NĐ-CP
25ꢀ
Khoản 2 Điều 6 Luật Phòng, chống mua bán người
năm2011;Nghịđịnhsố09/2013/NĐ-CPngày11/01/2013 27ꢀ Điều 6, 32-38 Luật Phòng, chống mua bán người
của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều năm 2011.
của Luật Phòng, chống mua bán người; Thông tư số 28ꢀ Điều 24-28, Điều 29 Luật Phòng, chống mua bán
84/2019/TT-BTC ngày 27/11/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài người năm 2011.
chính quy định nội dung, mức chi cho công tác hỗ trợ 29ꢀ Điều 24-28, 55 Luật Phòng, chống mua bán người
nạn nhân và nội dung, mức chi chế độ hỗ trợ nạn nhân. năm 2011.
30ꢀ
26ꢀ Điểm a khoản 1 Điều 30 Luật Phòng, chống mua
bán người năm 2011.
Khoản 1, 2, 3 Điều 6 Luật Phòng, chống mua bán
người năm 2011.
Số chuyên đề 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 29
BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NẠN NHÂN LÀ TRẺ EM...
của Điều 6 Luật Phòng, chống mua bán trú…”. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nạn
người. Khoản 2, 3 Điều 6 diễn đạt dưới
góc độ quyền còn khoản 1 đang diễn đạt
dưới góc độ bảo đảm thực hiện quyền.
nhân là trẻ em phải chịu những điều kiện
vô nhân đạo và bạo lực rất nghiêm trọng,
có thể ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển
bình thường của trẻ, gây ra những thiệt
hại nghiêm trọng cho sức khỏe thể chất và
tinh thần cho nạn nhân. Một nghiên cứu
của Oꢁisova và cộng sự năm 2018 đối với
51 trẻ em là nạn nhân trong các vụ mua
bán người cho thấy, có đến 53% bị bạo lực
thân thể và 49% bị bạo lực tình dục; có đến
33% nạn nhân có các hành vi cố ý tự làm
hại cho bản thân, và 27% cố gắng tự tử32.
Điều này cho thấy cần phải có những quy
định đặc thù trong bảo vệ, hỗ trợ và bồi
thường thiệt hại cho trẻ em là nạn nhân
của các vụ mua bán người.
- Thứ tư, Luật Phòng, chống mua bán
người chưa có định nghĩa về “người thân
thích của nạn nhân”. Khái niệm “người
thân thích” của nạn nhân chỉ được đề cập
trong Nghị định số 62/2012/NĐ-CP ngày
13/8/2012 của Chính phủ quy định căn cứ
xác định nạn nhân bị mua bán và bảo vệ
an toàn cho nạn nhân, người thân thích
của họ (gọi tắt là Nghị định số 62/2012/
NĐ-CP). Theo đó, Nghị định cũng không
định nghĩa “người thân thích” mà chỉ liệt
kê những người được coi là “Người thân
thích của nạn nhân”, “bao gồm: Vợ, chồng,
cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, cha kế, mẹ
kế, con đẻ, con nuôi, cha mẹ bên vợ hoặc bên
chồng, anh ruột, chị ruột, em ruột, ông nội,
bà nội, ông ngoại, bà ngoại, cháu nội, cháu
ngoại của nạn nhân”.31
2. Bảo đảm quyền của nạn nhân là trẻ
em trong các vụ mua bán người
2.1. Khái niệm bảo đảm quyền của
nạn nhân là trẻ em trong các vụ mua
bán người
- Thứ năm, pháp luật chưa có quy
định riêng về quyền của nạn nhân là trẻ
em trong các vụ mua bán người. Quyền
của nạn nhân là trẻ em chỉ được đề cập
rất hạn chế trong các văn bản luật. Ví dụ,
khoản 3 Điều 24 Luật Phòng, chống mua
bán người quy định: “Sau khi tiếp nhận, …
đối với nạn nhân là trẻ em thì thông báo cho
người thân thích đến nhận hoặc bố trí người
đưa về ...”. Điểm b khoản 1 Điều 26 về tiếp
nhận, xác minh nạn nhân từ nước ngoài
trở về quy định: “Nạn nhân là trẻ em thì
thông báo cho người thân thích đến nhận hoặc
bố trí người đưa về nơi người thân thích cư
Hiện nay, các từ điển pháp lý chưa
giải thích thuật ngữ “bảo đảm quyền”. Từ
điển Tiếng Việt định nghĩa: Bảo đảm là
“Cam đoan chịu trách nhiệm về việc gì đó; Có
đủ, trọn vẹn các điều quy định. Chắc chắn,
đạt tiêu chuẩn cần thiết”33. Theo nghĩa này
và từ thực tiễn bảo đảm quyền, có thể
hiểu bảo đảm quyền chính là quá trình
làm cho các quyền được thực hiện trên
thực tế. Các quyền được quy định trong
văn bản pháp luật, nếu không có quy
định về cách thức tổ chức thực hiện thì
32ꢀ
Gabriela Martinho, Mariana Gonçalves, Marlene
Matos, Child trafficking, comprehensive needs and
31ꢀ Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 62/2012/NĐ-CP ngày professional practices: A systematic review, Children and
13/8/2012 của Chính phủ quy định căn cứ để xác định Youth Services Review 119 (2020) 105674, tr.2.
nạn nhân bị mua bán và bảo vệ an toàn cho nạn nhân, 33ꢀ Nguyễn Như Ý, Từ điển Tiếng Việt thông dụng (tái
người thân thích của họ.
bản lần thứ sáu), Nxb. Giáo dục Việt Nam tr.41, 41.
30 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 02 - 2021
TRẦN HỮU TRÁNG
sẽ không thể được thực hiện trên thực tế. ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu
Bảo đảm quyền của nạn nhân là trẻ em trong toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã thể
các vụ mua bán người chính là quá trình làm
cho các quyền của trẻ em trong các vụ mua
bán người được thực hiện trên thực tế. Các
yếu tố bảo đảm quyền của nạn nhân là
trẻ em trong các vụ mua bán người bao
gồm chính sách, pháp luật và tổ chức
thực hiện chính sách, pháp luật bảo đảm
các quyền của nạn nhân là trẻ em trong
các vụ mua bán người.
hiện rõ quan điểm luôn “Quan tâm chăm
lo công tác giáo dục, bồi dưỡng và bảo vệ trẻ
em, thiếu niên, nhi đồng”35. Quan điểm này
được cụ thể hóa trong các chính sách đối
với trẻ em, đặc biệt là trẻ em là nạn nhân
của các vụ mua bán người.
Chính sách đối với nạn nhân trong
các vụ mua bán người thể hiện trước hết
trong Luật Phòng, chống mua bán người,
trong đó quy định rõ việc “Giải cứu, bảo
vệ, tiếp nhận, xác minh, hỗ trợ nạn nhân kịp
thời, chính xác. Tôn trọng quyền, lợi ích hợp
pháp và không kỳ thị, phân biệt đối xử đối
với nạn nhân”. Đây là chính sách xuyên
suốt của Nhà nước trong bảo vệ và hỗ trợ
nạn nhân trong các vụ mua bán người.
Chương trình phòng, chống mua bán
người giai đoạn 2016-2020 cũng nêu rõ
mục tiêu “thực hiện hiệu quả công tác tiếp
nhận, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bị mua bán
trở về”36. Chương trình phòng, chống mua
bán người giai đoạn 2021-2025 và định
hướng đến năm 2030 nhấn mạnh mục
tiêu “Bảo đảm nạn nhân được tiếp nhận,
xác minh, xác định, giải cứu, bảo vệ và hỗ
trợ kịp thời, hiệu quả theo quy định của pháp
luật và đảm bảo nguyên tắc lấy nạn nhân
làm trung tâm”. Chương trình cũng quy
định rõ “Chính sách, pháp luật liên quan
đến công tác phòng, chống mua bán người,
xác minh, xác định, giải cứu, bảo vệ và hỗ trợ
nạn nhân thường xuyên được rà soát, sửa
đổi, bổ sung, bảo đảm tính đồng bộ, thống
Nghị định thư không bắt buộc bổ
sung Công ước về quyền trẻ em về việc
buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn
hóa phẩm khiêu dâm trẻ em34 được Đại
hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua và
mở cho các nước ký, phê chuẩn, gia nhập
theo Nghị quyết A/RES/54/263, ngày
25/5/2000 (Việt Nam phê chuẩn ngày
20/12/2001) đã khuyến nghị các quốc gia
thành viên phải tiến hành những biện
pháp thích hợp để bảo vệ quyền và lợi ích
của những trẻ em là nạn nhân của các vụ
mua bán người. Đây chính là một trong
các cơ sở để các quốc gia nội luật hóa các
biện pháp bảo đảm quyền của nạn nhân
là trẻ em trong các vụ mua bán người.
2.2. Chính sách, pháp luật bảo đảm
quyền của nạn nhân là trẻ em trong các
vụ mua bán người
2.2.1. Chính sách bảo đảm quyền của nạn
nhân là trẻ em trong các vụ mua bán người
Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn
quan tâm chăm sóc và bảo vệ trẻ em. Báo
cáo chính trị của Ban chấp hành Trung nhất phù hợp với pháp luật khu vực, quốc tế
34ꢀ GeneralAssembly, OptionalProtocoltotheConvention 35ꢀ Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb
on the Rights of the Child on the sale of children, child Chính trị Quốc gia Sự thật, Tập I, Hà Nội 2021, tr.143.
prostitution and child pornography. Nguồn: hꢁps:// 36ꢀ Khoản 1 Điều 1 Quyết định số 2546/QĐ-TTg ngày
opsccrc.aspx.
mua bán người giai đoạn 2016-2020.
Số chuyên đề 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 31
BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NẠN NHÂN LÀ TRẺ EM...
và thực tiễn công tác phòng, chống mua bán nhân; thời hạn thực hiện việc tiếp nhận,
người”37. Nghị định số 09/2013/NĐ-CP xác minh; chủ thể có thẩm quyền giải cứu
nạn nhân. Điều 5 Nghị định số 62/2012/
NĐ-CP đã quy định rất cụ thể các căn
cứ để xác định nạn nhân của các vụ mua
bán người. Thông tư liên tịch số 01/2014/
TTLT-BCA-BQP-BLĐTBXH-BNG ngày
10/02/2014 đã hướng dẫn trình tự, thủ
tục và quan hệ phối hợp trong việc xác
minh, xác định, tiếp nhận và trao trả nạn
nhân bị mua bán, trong đó quy định rất
cụ thể việc xác minh, xác định, tiếp nhận
nạn nhân đang ở nước ngoài (Điều 4),
nạn nhân từ nước ngoài trở về (Điều 5),
nạn nhân là công dân Việt Nam bị mua
bán trong nước tự đến trình báo (Điều 6),
nạn nhân được giải cứu trong nước (Điều
7), nạn nhân là người nước ngoài bị mua
bán tại Việt Nam (Điều 8, 9).
ngày 11/01/2013 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật
Phòng, chống mua bán người (gọi tắt là
Nghị định số 09/2013/NĐ-CP), trong đó
đã quy định rõ chính sách khuyến khích
đối với tổ chức, cá nhân tham gia công
tác hỗ trợ nạn nhân38.
Như vậy, có thể thấy các văn bản của
Nhà nước đã thể hiện rõ ba chính sách
lớn bảo đảm quyền của nạn nhân nói
chung và nạn nhân là trẻ em trong các
vụ mua bán người nói riêng: Một là chính
sách bảo đảm quyền của nạn nhân được
tiếp nhận, xác minh, xác định và giải cứu.
Hai là chính sách bảo đảm quyền được
bảo vệ của nạn nhân. Ba là chính sách bảo
đảm quyền được hỗ trợ của nạn nhân.
- Đối với chính sách bảo đảm quyền
được bảo vệ của nạn nhân, Luật Phòng,
chống mua bán người cho phép áp dụng
ngay các biện pháp cần thiết để bảo vệ
nạn nhân ngay khi người đó bị xâm hại
hoặc có nguy cơ bị xâm hại đến tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm
và tài sản (Điều 29). Để tạo sự chủ động,
Luật quy định nạn nhân có quyền đề
nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm
quyền áp dụng các biện pháp để bảo vệ
mình và người thân thích (khoản 1 Điều
6). Luật cũng quy định rất cụ thể các biện
pháp bảo vệ nạn nhân và người thân
thích của nạn nhân như bố trí nơi tạm
lánh; giữ bí mật nơi cư trú, nơi làm việc,
học tập và biện pháp khác39. Luật cũng
quy định rõ các cơ quan có thẩm quyền
áp dụng các biện pháp này cũng như cơ
2.2.2. Pháp luật bảo đảm quyền của nạn
nhân là trẻ em trong các vụ mua bán người
Trên cơ sở các chính sách nêu trên,
một hành lang pháp lý được xây dựng
khá đầy đủ, trong đó Luật Phòng, chống
mua bán người đóng vai trò nòng cốt đã
cụ thể hóa cả ba chính sách này.
- Đối với chính sách bảo đảm quyền
của nạn nhân được tiếp nhận, xác minh,
xác định và giải cứu, Luật Phòng, chống
mua bán người đã dành hẳn Chương 4
từ Điều 24 đến Điều 29 để quy định về
căn cứ để xác định nạn nhân; chủ thể
có thẩm quyền tiếp nhận, xác minh nạn
37ꢀ Quyết định số 193/QĐ-TTg ngày 09/02/2021 của
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình
phòng, chống mua bán người giai đoạn 2021-2025 và
định hướng đến năm 2030.
38ꢀ Điều 2 Nghị định 09/2013/NĐ-CP ngày 11/01/2013
của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều 39ꢀ Điều 30, 31 Luật Phòng, chống mua bán người
của Luật Phòng, chống mua bán người.
năm 2011.
32 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 02 - 2021
TRẦN HỮU TRÁNG
chế phối hợp của các cơ quan này trong
bảo vệ nạn nhân40. Nghị định số 62/2012/
NĐ-CP quy định cụ thể các căn cứ để xác
định nạn nhân, các biện pháp bảo vệ an
toàn cho nạn nhân và người thân thích
của họ, thẩm quyền áp dụng các biện
pháp bảo vệ, trách nhiệm tổ chức thực
hiện các biện pháp bảo vệ; trình tự, thủ
tục áp dụng các biện pháp bảo vệ. Đặc
biệt, Nghị định cũng quy định rõ nguồn
kinh phí thực hiện việc bảo vệ an toàn
cho nạn nhân và người thân thích của
nạn nhân (Điều 4).
Tất cả các quy định này đã tạo ra hành
lang pháp lý quan trọng giúp cho việc vận
hành cơ chế bảo đảm các quyền của nạn
nhân và người thân thích của nạn nhân
nói chung cũng như nạn nhân là trẻ em
trong các vụ mua bán người nói riêng.
2.3. Những hạn chế trong các quy định
về chính sách, pháp luật về bảo đảm
quyền của nạn nhân trong các vụ mua
bán người
- Thứ nhất, mặc dù các chính sách về
bảo đảm quyền của nạn nhân trong các
vụ mua bán người đã được thể hiện trong
các văn bản luật nhưng chưa có văn bản
nào có tên điều luật là chính sách bảo đảm
quyền của nạn nhân trong các vụ mua bán
người nói riêng. Để thấy được các chính
sách này, phải phân tích nội dung của các
quy định, nhất là các quy định về mục
đích, nguyên tắc trong các văn bản pháp
luật. Điều này ảnh hưởng đến việc nhận
thức và thực hiện chính sách.
- Đối với chính sách bảo đảm quyền
được hỗ trợ của nạn nhân, Luật Phòng,
chống mua bán người đã quy định các
biện pháp hỗ trợ nạn nhân từ Điều 32
đến Điều 40, trong đó quy định rõ các cơ
quan, tổ chức có trách nhiệm thực hiện
việc hỗ trợ nạn nhân tại Điều 39, 40. Nghị
định số 09/2013/NĐ-CP đã quy định cụ
thể về nguồn kinh phí hỗ trợ nạn nhân;
trình tự thành lập, tổ chức hoạt động
của cơ sở hỗ trợ nạn nhân; chế độ, trình
tự, thủ tục thực hiện chế độ hỗ trợ nạn
nhân. Thông tư số 84/2019/TT-BTC ngày
27/11/2019 của Bộ Tài chính đã cụ thể hóa
nội dung, mức chi cho công tác hỗ trợ
nạn nhân và nội dung, mức chi chế độ hỗ
trợ nạn nhân.
- Thứ hai, pháp luật về bảo đảm quyền
của nạn nhân trong các vụ mua bán người
được quy định rải rác ở nhiều điều luật
trong một văn bản luật cũng như được
quy định ở nhiều văn bản luật gây khó
khăn cho việc nhận thức và thực hiện.
- Thứ ba, một số quy định trong pháp
luật bảo đảm quyền của nạn nhân trong
các vụ mua bán người còn chưa phù hợp,
ví dụ:
Chương trình phòng, chống mua
bán người giai đoạn 2021 - 2025 và định
hướng đến năm 2030, trong chín nhiệm
vụ, giải pháp thì có một nhiệm vụ, giải
pháp là tiếp nhận, xác minh, xác định, giải
cứu và bảo vệ nạn nhân và một nhiệm vụ
+ Điều 21 Nghị định số 09/2013/NĐ-CP
quy định nạn nhân được hỗ trợ về tâm lý
và y tế trong thời gian cư trú tại cơ sở bảo
trợ xã hội và cơ sở hỗ trợ nạn nhân. Tuy
hỗ trợ nạn nhân bị mua bán41
.
40ꢀ Điều 21, 29-31 Luật Phòng, chống mua bán người mua bán người giai đoạn 2021-2025 và định hướng
năm 2011.
đến năm 2030 (Kèm theo Quyết định số 193/QĐ-TTg
41ꢀ
Khoản 4, 5 Phân II Chương trình phòng, chống ngày 09/02/2021 của Thủ tướng Chính phủ).
Số chuyên đề 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 33
BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NẠN NHÂN LÀ TRẺ EM...
nhiên, ngay trong thời gian khai báo, nạn ở nước ngoài42. Nghị định cũng quy định
cụ thể các chủ thể có trách nhiệm tổ chức
thực hiện biện pháp bảo vệ (Điều 9), trình
tự thủ tục áp dụng các biện pháp bảo vệ
(Điều 10). Đây là những bảo đảm cho các
biện pháp được thực thi trong thực tiễn.
nhân của các vụ mua bán người đã chịu
những tổn thương tâm lý, hoảng loạn, lo
sợ… rất cần được tư vấn để ổn định về
tâm lý, bảo đảm sức khỏe cũng như thực
hiện tốt việc khai báo.
- Đối với việc tổ chức thực hiện các
quyền hỗ trợ cho nạn nhân, Luật Phòng,
chống mua bán người quy định cụ thể
các chủ thể thực hiện việc hỗ trợ nạn
nhân gồm:
+ Các trợ cấp khó khăn ban đầu cho
nạn nhân đòi hỏi nạn nhân phải là hộ
nghèo. Tuy nhiên, việc xin xác định hộ
nghèo đối với nạn nhân là khá phức tạp,
nhất là nạn nhân đã bị mua bán vắng mặt
lâu ngày tại địa phương. Mặt khác, mức
trợ cấp 1.000.000 đồng/người theo Thông
tư số 84/2019/TT-BTC là tương đối thấp.
+ Ủy ban nhân dân cấp xã đã tiếp
nhận nạn nhân, cơ quan Công an, Bộ đội
biên phòng, Cảnh sát biển đã giải cứu
nạn nhân thực hiện hỗ trợ nhu cầu thiết
yếu cho nạn nhân.
- Thứ tư, hiện chỉ có một vài điều
khoản có quy định riêng cho nạn nhân là
trẻ em của các vụ mua bán người. Đa số
các văn bản đều không có các quy định
riêng cho trẻ em là nạn nhân của các vụ
mua bán người.
+ Phòng Lao động – Thương binh và
Xã hội thực hiện hỗ trợ chi phí đi lại cho
nạn nhân trong trường hợp họ tự trở về
nơi cư trú.
+ Cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn
nhân thực hiện hỗ trợ nhu cầu thiết yếu,
hỗ trợ tâm lý, hỗ trợ y tế cho nạn nhân.
2.4. Tổ chức thực hiện chính sách,
pháp luật bảo đảm quyền của nạn nhân
là trẻ em trong các vụ mua bán người
+ Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước
và các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý
thực hiện trợ giúp pháp lý cho nạn nhân.
- Đốivớiviệctổchứcthựcthicácquyền
được bảo vệ của nạn nhân và người thân
thích của họ, Luật Phòng, chống mua bán
người và Nghị định số 62/2012/NĐ-CP
quy định khá chi tiết về các chủ thể có
thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo
vệ như: Cơ quan Cảnh sát điều tra trong
Công an nhân dân, Cơ quan điều tra hình
+ Sở Lao động – Thương binh và Xã
hội thực hiện trợ cấp khó khăn ban đầu
cho nạn nhân; phối hợp với Sở Y tế, Sở
Giáo dục và Đào tạo thực hiện hỗ trợ
y tế, hỗ trợ học văn hóa, học nghề cho
sự trong Quân đội nhân dân, Bộ đội biên nạn nhân43.
phòng, Lực lượng Cảnh sát biển, Viện
- Đối với việc tổ chức thực hiện các
kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát quân
sự các cấp, Tòa án nhân dân, Tòa án quân
sự các cấp, Ủy ban nhân dân xã, phường,
thị trấn, Phòng Lao động - Thương binh
và Xã hội, Cơ sở bảo trợ xã hội, Cơ sở hỗ
quyền được tiếp nhận, xác minh, giải cứu
nạn nhân, quyền được hồi hương, Luật
Phòng, chống mua bán người giao cho
42ꢀ Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 62/2012/NĐ-CP của
Chính phủ.
trợ nạn nhân; Cơ quan đại diện Việt Nam 43ꢀ Điều 39 Luật Phòng, chống mua bán người.
34 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 02 - 2021
TRẦN HỮU TRÁNG
Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội động – Thương binh và Xã hội, nhưng
tiếp nhận các khai báo về việc bị mua bán điểm b khoản 3 Điều 23 Nghị định số
thông qua Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ
quan, tổ chức nơi gần nhất. Cơ quan Công
an cùng cấp có trách nhiệm xác minh và
trả lời bằng văn bản cho Phòng Lao động –
Thương binh và Xã hội44. Cơ quan có trách
nhiệm giải cứu nạn nhân là Cơ quan Công
an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển.
09/2013/NĐ-CP lại quy định thẩm quyền
này thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Vấn đề bồi thường cho nạn nhân trong các
vụ mua bán người chưa có các quy định
đặc thù mà vẫn theo các thủ tục của pháp
luật dân sự và tố tụng dân sự. Đây là một
trở ngại lớn cho các nạn nhân trong việc
chứng minh thiệt hại cũng như trong các
trường hợp không xác định được người
phạm tội hoặc người phạm tội đã chết…
Đối với nạn nhân ở nước ngoài, Cơ
quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tiếp
nhận và xử lý thông tin, tài liệu về nạn
nhân và phối hợp với Bộ Công an để xác
minh nhân thân của nạn nhân, cấp giấy
tờ cần thiết, làm thủ tục đưa họ về nước.
Cơ quan có thẩm quyền của Bộ Công an,
Bộ Quốc phòng thực hiện việc tiếp nhận
nạn nhân45. Trường hợp có thông tin cho
biết nạn nhân chưa được giải cứu thì Cơ
quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài
thông báo ngay cho cơ quan có thẩm
quyền của nước sở tại để phối hợp kiểm
tra, xác minh và tổ chức giải cứu nếu xác
định nguồn thông tin có căn cứ46.
3. Các giải pháp hoàn thiện chính
sách, pháp luật nhằm tăng cường bảo
đảm các quyền của nạn nhân, nhất là nạn
nhân trẻ em trong các vụ mua bán người
Từ những phân tích trên và những
hạn chế trong pháp luật quy định về
quyền và bảo đảm quyền của nạn nhân
nói chung, nạn nhân là trẻ em trong các
vụ mua bán người nói riêng, đặt ra nhu
cầu cần tiếp tục sửa đổi và hoàn thiện
pháp luật về quyền và bảo đảm quyền
của nạn nhân, nhất là nạn nhân là trẻ em
trong các vụ mua bán người:
Tuy nhiên, vẫn tồn tại những hạn chế
trong các quy định về tổ chức thực hiện
chính sách, pháp luật bảo đảm quyền của
nạn nhân là trẻ em trong các vụ mua bán
người: Nghiên cứu các quy định về tổ
chức thực hiện chính sách, pháp luật bảo
đảm quyền của nạn nhân là trẻ em trong
các vụ mua bán người cho thấy vẫn có
những hạn chế. Ví dụ, khoản 5 Điều 39
Luật Phòng, chống mua bán người quy
định thẩm quyền thực hiện trợ cấp khó
khăn ban đầu cho nạn nhân là Sở Lao
- Thứ nhất, cần sửa đổi Điều 6 Luật
Phòng, chống mua bán người theo hướng:
Quy định đầy đủ bốn nhóm quyền của
nạn nhân trong các vụ mua bán người
làm căn cứ để xác định chính sách và
pháp luật bảo đảm các quyền này, trong
đó cần đặc biệt lưu ý đến nạn nhân là
phụ nữ và trẻ em theo tinh thần của Nghị
định thư về ngăn ngừa, phòng chống và
trừng trị buôn bán người, đặc biệt là phụ
nữ và trẻ em, bổ sung Công ước về chống
tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia của
Liên Hợp Quốc và Công ước ASEAN về
phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là
44ꢀ Điều 24 Luật Phòng, chống mua bán người.
45ꢀ Điều 26 Luật Phòng, chống mua bán người.
46ꢀ Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2014/TTLT-BCA-
BQP-BLĐTBXH-BNG ngày 10/2/2014 về hướng dẫn
trình tự, thủ tục và quan hệ phối hợp trong xác minh,
xác định, tiếp nhận và trao trả nạn nhân bị mua bán. phụ nữ, trẻ em.
Số chuyên đề 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 35
BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NẠN NHÂN LÀ TRẺ EM...
Luật Phòng, chống mua bán người hiện có của nạn nhân hoặc những tiêu
chí khác có thể tạo thuận lợi cho nạn
nhân của các vụ mua bán người dễ dàng
tiếp cận, đồng thời quy định thống nhất
về chủ thể có thẩm quyền hỗ trợ để tạo
thuận lợi cho việc thực hiện.
cũng cần bổ sung định nghĩa về “người
thân thích của nạn nhân” tại Điều 2 để bảo
đảm tính pháp lý và tính tương thích với
các văn bản pháp luật khác, nhất là Luật
Hôn nhân và Gia đình.
+ Hiện nay, nhiều quốc gia đã thành
lập các quỹ nạn nhân của tội phạm (Crime
Victims Fund) như Hoa Kỳ, Vương quốc
Anh, Cộng hòa Liên bang Đức, Cộng hòa
Pháp47. Quỹ nạn nhân của tội phạm là một
nguồn quan trọng được sử dụng để bồi
thường cho các nạn nhân của tội phạm,
nhất là các nạn nhân của các vụ mua bán
người. Việc thiết lập và bồi thường thiệt
hại dựa trên quỹ nạn nhân của tội phạm
là một kinh nghiệm rất đáng được Việt
Nam nghiên cứu để áp dụng nhằm tăng
cường bảo đảm các quyền của nạn nhân
nói chung, quyền của nạn nhân trong
các vụ mua bán người nói riêng, nhất là
quyền của nạn nhân là trẻ em trong các
vụ mua bán người.
- Thứ hai, Luật Phòng, chống mua bán
người cần bổ sung điều luật xác định rõ các
chính sách bảo đảm quyền của nạn nhân,
nhất là nạn nhân là trẻ em trong các vụ
mua bán người làm căn cứ để cụ thể hóa
các chính sách này thành các quy định bảo
đảm quyền của nạn nhân, nhất là nạn nhân
là trẻ em trong các vụ mua bán người.
- Thứ ba, Luật Phòng, chống mua bán
người cần tập hợp các quy định về bảo
đảm quyền của nạn nhân, đặc biệt là nạn
nhân là trẻ em thành một chế định về bảo
đảm quyền của nạn nhân trong các vụ
mua bán người, trong đó cần có một số
quy định đặc thù để bảo đảm tốt hơn các
quyền của nạn nhân là trẻ em trong các vụ
mua bán người. Điều này sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho việc nhận thức và bảo đảm
thực hiện các quyền này trong thực tiễn.
Chiến lược của châu Âu hướng tới
xóa bỏ buôn bán người đã đặt ra năm nội
dung ưu tiên, trong đó nội dung ưu tiên
thứ hai được xác định là bảo vệ và hỗ trợ
nạn nhân của các hành vi mua bán người,
đặc biệt chú trọng bảo vệ trẻ em là đối
tượng rất dễ bị tổn thương, dễ trở thành
nạn nhân của tội phạm mua bán hoặc tái
trở thành nạn nhân48. Điều này cho thấy
vấn đề bảo đảm quyền của nạn nhân là
trẻ em trong các vụ mua bán người đang
- Thứ tư, cần rà soát để sửa đổi và
hoàn thiện pháp luật phòng, chống mua
bán người nói chung, cũng như pháp
luật bảo đảm quyền của nạn nhân trong
các vụ mua bán người nói riêng nhằm
nâng cao hiệu quả điều chỉnh của các quy
phạm này. Trước mắt cần nghiên cứu sửa
đổi, bổ sung ngay một số quy định:
+ Bổ sung quy định về hỗ trợ tâm lý
cho nạn nhân ngay trong thời gian nạn
nhân của các vụ mua bán người thực
hiện khai báo nhằm bảo đảm tốt nhất
quyền của nạn nhân.
47ꢀ Nguyễn Tất Thành, Nhà nước bồi thường thiệt hại do
tội phạm gây ra: Quy định của pháp luật một số nước và
gợi mở cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số
03+04 (427+428), tháng 2/2021. Nguồn:hꢁp://lapphap.
vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=210770.
48ꢀ Zuzana Obertová, Cristina Caꢁaneo, Child trafficking
and the European migration crisis: The role of forensic
practitioners, Forensic, Science International Volume
+ Sửa đổi điều kiện trợ cấp khó khăn
ban đầu, như dựa trên tiêu chí tài sản 282, January 2018, Pages 46-59 (tr.49).
36 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 02 - 2021
TRẦN HỮU TRÁNG
Assembly, Optional
ngày càng trở thành mối quan tâm đặc
9. General
biệt của các quốc gia. Thực hiện tốt vấn Protocol to the Convention on the Rights of the
đề này sẽ góp phần quan trọng trong việc Child on the sale of children, child prostitu-
nâng cao hiệu quả của hoạt động phòng, tion and child pornography. Nguồn: hꢁps://
bán trẻ em nói riêng, góp phần bảo vệ trẻ pages/opsccrc.aspx
em, nguồn lực tương lai của đất nước./.
10. Đỗ Thị Lý Quỳnh (2020), Cơ chế pháp
lý phòng, chống mua bán người ở Việt Nam hiện
nay, Luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. ASEAN Convention Against
Trafficking in Persons, Especially Women
and Children. Nguồn: hꢁps://www.asean.
org/wp-content/uploads/2015/12/ACTIP.pdf.
11. Nguyễn Tất Thành, Nhà nước bồi
thường thiệt hại do tội phạm gây ra: quy định
của pháp luật một số nước và gợi mở cho Việt
Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số
03+04 (427+428), tháng 2/2021. Nguồn:
hꢁp://lapphap.vn/ Pages/tintuc/tinchitiet.
aspx?tintucid=210770.
2. Bộ Tài chính, Thông tư số 84/2019/
TT-BTC ngày 27/11/2019 quy định nội dung,
mức chi cho công tác hỗ trợ nạn nhân và nội
dung, mức chi chế độ hỗ trợ nạn nhân.
3. Chính phủ, Nghị định số 09/2013/
NĐ-CP ngày 11/01/2013 quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật Phòng,
chống mua bán người.
12. Thông tư liên tịch số 01/2014/TTLT-
BCA-BQP-BLĐTBXH-BNG ngày 10/2/2014
về hướng dẫn trình tự, thủ tục và quan hệ
phối hợp trong xác minh, xác định, tiếp nhận
và trao trả nạn nhân bị mua bán.
4. Chính phủ, Nghị định số 62/2012/NĐ-
CP ngày 13/8/2012 quy định căn cứ xác định
nạn nhân bị mua bán và bảo vệ an toàn cho
nạn nhân và người thân thích của họ.
13. United Nations Protocol to
Prevent, Suppress and Punish Trafficking
in Persons, especially Women and
5. Chính phủ, Quyết định số 193/QĐ-
TTg ngày 09/02/2021 ban hành Chương trình
phòng, chống mua bán người giai đoạn 2021- en/professionalinterest/pages/protocol-
2025 và định hướng đến năm 2030.
traffickinginpersons.aspx.
6. Chính phủ, Quyết định số 2546/QĐ-
TTg ngày 31/12/2015 phê duyệt Chương
trình phòng, chống mua bán người giai
đoạn 2016-2020.
14. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ XIII, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật,
Tập 1, Hà Nội, 2021.
15. Nguyễn Như Ý, Từ điển Tiếng Việt
thông dụng (tái bản lần thứ sáu), Nxb. Giáo dục
Việt Nam.
7. Convention on the Rights of the
Child . Nguồn: hꢁps://www.ohchr.org/en/
professionalinterest/pages/crc.aspx.
16. Zuzana Obertová, Cristina Caꢁaneo,
Child trafficking and the European migration
crisis: The role of forensic practitioners, Forensic,
Science International Volume 282, January
2018, Pages 46-59 (tr.49).
8. Gabriela
Martinho,
Mariana
Gonçalves, Marlene Matos, Child trafficking,
comprehensive needs and professional practices:
A systematic review, Children and Youth
Services Review 119 (2020) 105674.
Số chuyên đề 02 - 2021
Khoa học Kiểm sát 37
Bạn đang xem tài liệu "Bảo đảm quyền của nạn nhân là trẻ em trong các vụ án mua bán người", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bao_dam_quyen_cua_nan_nhan_la_tre_em_trong_cac_vu_an_mua_ban.pdf

