Bảo đảm quyền của nạn nhân là trẻ em trong các vụ án mua bán người

BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NẠN NHÂN LÀ TRẺ EM...  
TRONG CÁC VỤ ÁN MUA BÁN NGƯỜI  
TRẦN HỮU TRÁNG*  
Năm 2016, thống kê của Văn phòng Liên Hợp Quốc về Ma túy và Tội phạm (the United  
Nations Office on Drugs and Crime) cho thấy có hơn 24.000 nạn nhân bị mua bán được phát  
hiện, trong đó 30% là trẻ em (23% là trẻ em gái, 7% là trẻ em trai). Trong khi phần lớn trẻ  
em trai bị cưỡng bức lao động (50%), thì phần lớn trẻ em gái bị buôn bán để bóc lột tình dục  
(72%). Tại Việt Nam, giai đoạn 2012-2018 đã có 6.808 nạn nhân của các vụ mua bán người,  
trong đó chỉ riêng Bộ Lao động - Thương Binh và Xã hội đã tiếp nhận, hỗ trợ hơn 3.500 nạn  
nhân, trong đó có gần 3.400 nữ, hơn 600 người dưới 18 tuổi. Thực trạng này cho thấy việc  
bảo đảm quyền của nạn nhân nói chung, nạn nhân là trẻ em trong các vụ mua bán người nói  
riêng đang đặt ra rất cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Bài viết này phân tích về các quyền  
và bảo đảm quyền của nạn nhân là trẻ em trong các vụ mua bán người.  
Từ khóa: Quyền, bảo đảm quyền, nạn nhân, trẻ em, mua bán người.  
Ngày nhận bài: 08/6/2021; Biên tập xong: 15/6/2021; Duyệt đăng: 30/6/2021  
In2016, statisticscollectedbytheUnitedNationsOfficeonDrugsandCrimerevealedmore  
than 24,000 victims of human trafficking were detected, of which 30% were children (23%  
girls, 7% boys). While the majority of boys were subjected to forced labor (50%), the majority  
of girls were trafficked for sexual exploitation (72%). In Viet Nam, between 2012-2018, of the  
6,808 victims of human trafficking, the Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs  
received and supported more than 3,500 victims, including nearly 3,400 female, and more  
than 600 people under 18 years old. This situation highlights the rights of trafficked victims  
and child victims in particular as an urgent maꢀer to be addressed. This article analyzes the  
rights of child victims and how to guarantee their rights in human trafficking cases.  
Keywords: Rights, ensuring the rights, victims, children, human trafficking.  
1. Quyền của nạn nhân là trẻ em trong người mà chỉ xác định nạn nhân là phụ  
nữ, trẻ em là những đối tượng được bảo  
vệ đặc biệt. Nghị định thư về ngăn ngừa,  
phòng chống và trừng trị buôn bán người,  
đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung Công  
ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên  
quốc gia của Liên Hợp Quốc (được thông  
qua và mở cho các quốc gia ký, phê chuẩn  
và gia nhập theo Nghị quyết số 55/25 ngày  
15/11/2000 của Đại hội đồng Liên Hợp  
Quốc)2 (sau đây gọi tắt là Nghị định thư)  
các vụ mua bán người  
1.1. Quyền của nạn nhân là trẻ em  
trong các vụ mua bán người theo pháp  
luật quốc tế  
Điều 1 Công ước về quyền trẻ em của  
Liên Hợp Quốc năm 1989 (Convention  
on the Rights of the Child - CRC) quy  
định: “… trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ  
khi luật áp dụng cho trẻ em quy định độ tuổi  
sớm hơn”1. Các văn bản pháp luật quốc  
tế hiện hành không có quy định riêng về  
nạn nhân là trẻ em trong các vụ mua bán  
* Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Trưởng khoa Luật, Trường Đại  
học Mở Hà Nội  
2ꢀ United Nations Protocol to Prevent, Suppress and Punish  
1ꢀ Convention on the Rights of the Child. Nguồn: Trafficking in Persons, especially Women and Children.  
pages/crc.aspx  
pages/protocoltraffickinginpersons.aspx.  
Số chuyên đề 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 27  
BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NẠN NHÂN LÀ TRẺ EM...  
đã quy định bốn nhóm quyền cơ bản của người. Theo đó, Công ước cũng quy định  
nạn nhân, gồm:  
bốn nhóm quyền của nạn nhân, gồm:  
- Quyền được bảo vệ, bao gồm quyền  
được bảo vệ sự riêng tư và nhân thân, kể  
cả việc tiến hành tố tụng đối với hành vi  
buôn bán người một cách bí mật3; được  
bảo đảm an toàn về thân thể khi nạn nhân  
đang ở trong lãnh thổ của quốc gia đó4;  
- Quyền được ở lại lãnh thổ của quốc gia  
thành viên11; được hồi hương trở về quốc  
gia mà nạn nhân là công dân hoặc nạn  
nhân có quyền cư trú vĩnh viễn tại thời  
điểm nạn nhân bị mua bán12;  
- Quyền được bảo vệ, bao gồm được bảo  
đảm an toàn về thân thể13; được bảo vệ  
sự riêng tư và nhận dạng14; quyền được  
miễn trừ15;  
- Quyền được hỗ trợ, bao gồm hỗ trợ  
về thủ tục hành chính và tố tụng, kể cả  
quyền được trình bày các quan điểm và  
mối quan ngại của họ5; hỗ trợ tái hòa nhập  
nhằm giúp các nạn nhân buôn bán người  
có thể phục hồi về thể chất, tinh thần và xã  
hội, đặc biệt là cung cấp nơi ở thích hợp;  
hỗ trợ những hướng dẫn và thông tin cần  
thiết; hỗ trợ y tế, tinh thần, vật chất; các cơ  
hội việc làm, giáo dục và đào tạo6;  
- Quyền được hỗ trợ, gồm được thông tin  
về bản chất của sự bảo vệ, hỗ trợ và giúp đỡ  
mà nạn nhân được hưởng16; được chăm sóc,  
hỗ trợ17, kể cả hỗ trợ tái hòa nhập xã hội18;  
- Quyền được bồi thường19.  
Như vậy, so với Nghị định thư của  
Liên Hợp Quốc thì Công ước ASEAN quy  
định thêm 01 quyền trong nhóm quyền  
được bảo vệ là quyền được miễn trừ, không  
áp dụng hình phạt hoặc trách nhiệm hành  
chính đối với nạn nhân bị buôn bán vì  
hành vi trái pháp luật của người này nếu  
những hành vi trái pháp luật đó là hệ quả  
trực tiếp của hành vi buôn bán người20 và  
- Quyền được ở lại lãnh thổ của quốc gia  
thành viên, tạm thời hay vĩnh viễn7; quyền  
hồi hương trở về lãnh thổ nước mình8;  
- Quyền được đền bù thiệt hại mà các nạn  
nhân phải chịu9.  
Công ước ASEAN về phòng, chống  
buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ,  
trẻ em (ASEAN Convention Against  
Trafficking in Persons, Especially Women  
and Children)10 tại Điều 14 quy định về  
bảo vệ nạn nhân trong các vụ mua bán  
11ꢀ Khoản 4 Điều 14 ASEAN Convention Against  
Trafficking in Persons, Tlđd.  
12ꢀ Khoản 1, 2, 3 Điều 15 ASEAN Convention Against  
Trafficking in Persons, Tlđd.  
3ꢀ Khoản 1 Điều 6 Nghị định thư về ngăn ngừa, phòng 13ꢀ Khoản 5 Điều 14 ASEAN Convention Against  
chống và trừng trị buôn bán người, đặc biệt là phụ Trafficking in Persons, Tlđd.  
nữ và trẻ em, bổ sung Công ước về chống tội phạm có 14ꢀ Khoản 6 Điều 14 ASEAN Convention Against  
tổ chức xuyên quốc gia của Liên Hợp Quốc. Nguồn: Trafficking in Persons, Tlđd.  
https://www.ohchr.org/en/professionalinterest/ 15ꢀ Khoản 7, 8 Điều 14 ASEAN Convention Against  
pages/protocoltraffickinginpersons.aspx.  
4ꢀ Khoản 5 Điều 6 Nghị định thư. Tlđd.  
5ꢀ Khoản 2 Điều 6 Nghị định thư. Tlđd.  
6ꢀ Khoản 3 Điều 6 Nghị định thư. Tlđd.  
7ꢀ Khoản 7 Điều 6 Nghị định thư. Tlđd.  
8ꢀ Điều 8 Nghị định thư. Tlđd.  
Trafficking in Persons, Tlđd.  
16ꢀ Khoản 9 Điều 14 ASEAN Convention Against  
Trafficking in Persons, Tlđd.  
17ꢀ Khoản 10 Điều 14 ASEAN Convention Against  
Trafficking in Persons, Tlđd.  
18ꢀ Khoản 11 Điều 14 ASEAN Convention Against  
Trafficking in Persons, Tlđd.  
9ꢀ Khoản 6 Điều 6 Nghị định thư. Tlđd.  
10ꢀ ASEAN Convention Against Trafficking in 19ꢀ Khoản 13 Điều 14 ASEAN Convention Against  
Persons, Especially Women and Children. Nguồn: Trafficking in Persons, Tlđd.  
hꢁps://www.asean.org/wp-content/uploads/2015/12/  
ACTIP.pdf.  
20ꢀ  
Khoản 7 Điều 14 ASEAN Convention Against  
Trafficking in Persons, Tlđd.  
28 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 02 - 2021  
TRẦN HỮU TRÁNG  
“không giam giữ những người được cơ quan trợ y tế, hỗ trợ tâm lý, trợ giúp pháp lý,  
hỗ trợ học văn hóa, học nghề, trợ cấp khó  
có thẩm quyền trong nước mình xác định là  
khăn ban đầu, hỗ trợ vay vốn27;  
nạn nhân bị buôn bán…”21  
- Quyền được tiếp nhận, xác minh, giải  
cứu nạn nhân28; được hồi hương29;  
1.2. Quyền của nạn nhân là trẻ em  
trong các vụ mua bán người theo pháp  
luật Việt Nam  
- Quyền được bồi thường thiệt hại theo  
quy định của pháp luật30.  
Cũng như pháp luật quốc tế, pháp luật  
Việt Nam hiện hành chưa có quy định riêng  
về quyền của nạn nhân là trẻ em trong các  
vụ mua bán người mà chỉ quy định quyền  
của nạn nhân nói chung trong các vụ án  
này. Nghiên cứu Luật Phòng, chống mua  
bán người (Luật số 66/2011/QH12) và các  
văn bản hướng dẫn thi hành cho thấy  
bốn nhóm quyền của nạn nhân trong các  
vụ mua bán người gồm:  
1.3. Những hạn chế trong các quy định  
của pháp luật Việt Nam về quyền của nạn  
nhân trong các vụ mua bán người  
- Thứ nhất, mặc dù có sự tương đồng về  
các nhóm quyền với pháp luật quốc tế, tuy  
nhiên, các quyền cụ thể trong mỗi nhóm  
quyền vẫn chưa thật sự tương thích. Các  
quyền được ở lại và quyền miễn trừ chưa  
được ghi nhận trong Luật Phòng, chống  
mua bán người của Việt Nam.  
- Quyền được bảo vệ, bao gồm được bảo  
vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân  
phẩm và tài sản của nạn nhân và người thân  
thích của họ22; được đảm bảo bí mật về nơi  
cư trú, nơi làm việc, học tập; bảo vệ bí mật  
thông tin cá nhân23; được xét xử kín; được  
bố trí nơi ở, nơi làm việc, học tập mới24.  
- Thứ hai, quy định về quyền của nạn  
nhân còn rải rác ở nhiều điều trong Luật  
Phòng, chống mua bán người. Điều 6 có tên  
là “quyền và nghĩa vụ của nạn nhân” nhưng  
không nêu rõ đâu là quyền, đâu là nghĩa  
vụ. Kỹ thuật lập pháp của Điều 6 bắt buộc  
phải dẫn chiếu đến nhiều điều luật khác (từ  
Điều 24 đến Điều 28, từ Điều 32 đến Điều  
39 và Điều 55 Luật Phòng, chống mua bán  
người) mới làm rõ được các quyền của nạn  
nhân và người thân thích của nạn nhân.  
Điều này gây khó khăn cho việc nhận thức  
cũng như thực tiễn áp dụng.  
- Quyền được hưởng các chế độ hỗ trợ25,  
gồm: Được bố trí nơi tạm lánh26; được hỗ  
trợ về nhu cầu thiết yếu, chi phí đi lại, hỗ  
21ꢀ Khoản 8 Điều 14 ASEAN Convention Against  
Trafficking in Persons, Tlđd.  
22ꢀ Khoản 1, 2 Điều 6 Luật Phòng, chống mua bán  
người năm 2011; Nghị định số 62/2012/NĐ-CP ngày  
13/8/2012 của Chính phủ đã quy định căn cứ xác định  
nạn nhân bị mua bán và bảo vệ an toàn cho nạn nhân  
và người thân thích của họ.  
- Thứ ba, cách diễn đạt các quyền của  
nạn nhân trong khoản 1 không thống  
nhất và thiếu logic với khoản 2 và 3  
23ꢀ Điều 30, 31 Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011.  
24ꢀ Khoản 6, 8 Điều 7 Nghị định số 62/2012/NĐ-CP  
25ꢀ  
Khoản 2 Điều 6 Luật Phòng, chống mua bán người  
năm2011;Nghịđịnhsố09/2013/NĐ-CPngày11/01/2013 27ꢀ Điều 6, 32-38 Luật Phòng, chống mua bán người  
của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều năm 2011.  
của Luật Phòng, chống mua bán người; Thông tư số 28ꢀ Điều 24-28, Điều 29 Luật Phòng, chống mua bán  
84/2019/TT-BTC ngày 27/11/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài người năm 2011.  
chính quy định nội dung, mức chi cho công tác hỗ trợ 29ꢀ Điều 24-28, 55 Luật Phòng, chống mua bán người  
nạn nhân và nội dung, mức chi chế độ hỗ trợ nạn nhân. năm 2011.  
30ꢀ  
26ꢀ Điểm a khoản 1 Điều 30 Luật Phòng, chống mua  
bán người năm 2011.  
Khoản 1, 2, 3 Điều 6 Luật Phòng, chống mua bán  
người năm 2011.  
Số chuyên đề 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 29  
BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NẠN NHÂN LÀ TRẺ EM...  
của Điều 6 Luật Phòng, chống mua bán trú…”. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nạn  
người. Khoản 2, 3 Điều 6 diễn đạt dưới  
góc độ quyền còn khoản 1 đang diễn đạt  
dưới góc độ bảo đảm thực hiện quyền.  
nhân là trẻ em phải chịu những điều kiện  
vô nhân đạo và bạo lực rất nghiêm trọng,  
có thể ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển  
bình thường của trẻ, gây ra những thiệt  
hại nghiêm trọng cho sức khỏe thể chất và  
tinh thần cho nạn nhân. Một nghiên cứu  
của Oꢁisova và cộng sự năm 2018 đối với  
51 trẻ em là nạn nhân trong các vụ mua  
bán người cho thấy, có đến 53% bị bạo lực  
thân thể và 49% bị bạo lực tình dục; có đến  
33% nạn nhân có các hành vi cố ý tự làm  
hại cho bản thân, và 27% cố gắng tự tử32.  
Điều này cho thấy cần phải có những quy  
định đặc thù trong bảo vệ, hỗ trợ và bồi  
thường thiệt hại cho trẻ em là nạn nhân  
của các vụ mua bán người.  
- Thứ tư, Luật Phòng, chống mua bán  
người chưa có định nghĩa về “người thân  
thích của nạn nhân”. Khái niệm “người  
thân thích” của nạn nhân chỉ được đề cập  
trong Nghị định số 62/2012/NĐ-CP ngày  
13/8/2012 của Chính phủ quy định căn cứ  
xác định nạn nhân bị mua bán và bảo vệ  
an toàn cho nạn nhân, người thân thích  
của họ (gọi tắt là Nghị định số 62/2012/  
NĐ-CP). Theo đó, Nghị định cũng không  
định nghĩa “người thân thích” mà chỉ liệt  
kê những người được coi là “Người thân  
thích của nạn nhân”, “bao gồm: Vợ, chồng,  
cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, cha kế, mẹ  
kế, con đẻ, con nuôi, cha mẹ bên vợ hoặc bên  
chồng, anh ruột, chị ruột, em ruột, ông nội,  
bà nội, ông ngoại, bà ngoại, cháu nội, cháu  
ngoại của nạn nhân”.31  
2. Bảo đảm quyền của nạn nhân là trẻ  
em trong các vụ mua bán người  
2.1. Khái niệm bảo đảm quyền của  
nạn nhân là trẻ em trong các vụ mua  
bán người  
- Thứ năm, pháp luật chưa có quy  
định riêng về quyền của nạn nhân là trẻ  
em trong các vụ mua bán người. Quyền  
của nạn nhân là trẻ em chỉ được đề cập  
rất hạn chế trong các văn bản luật. Ví dụ,  
khoản 3 Điều 24 Luật Phòng, chống mua  
bán người quy định: “Sau khi tiếp nhận, …  
đối với nạn nhân là trẻ em thì thông báo cho  
người thân thích đến nhận hoặc bố trí người  
đưa về ...”. Điểm b khoản 1 Điều 26 về tiếp  
nhận, xác minh nạn nhân từ nước ngoài  
trở về quy định: “Nạn nhân là trẻ em thì  
thông báo cho người thân thích đến nhận hoặc  
bố trí người đưa về nơi người thân thích cư  
Hiện nay, các từ điển pháp lý chưa  
giải thích thuật ngữ “bảo đảm quyền”. Từ  
điển Tiếng Việt định nghĩa: Bảo đảm là  
“Cam đoan chịu trách nhiệm về việc gì đó; Có  
đủ, trọn vẹn các điều quy định. Chắc chắn,  
đạt tiêu chuẩn cần thiết”33. Theo nghĩa này  
và từ thực tiễn bảo đảm quyền, có thể  
hiểu bảo đảm quyền chính là quá trình  
làm cho các quyền được thực hiện trên  
thực tế. Các quyền được quy định trong  
văn bản pháp luật, nếu không có quy  
định về cách thức tổ chức thực hiện thì  
32ꢀ  
Gabriela Martinho, Mariana Gonçalves, Marlene  
Matos, Child trafficking, comprehensive needs and  
31ꢀ Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 62/2012/NĐ-CP ngày professional practices: A systematic review, Children and  
13/8/2012 của Chính phủ quy định căn cứ để xác định Youth Services Review 119 (2020) 105674, tr.2.  
nạn nhân bị mua bán và bảo vệ an toàn cho nạn nhân, 33ꢀ Nguyễn Như Ý, Từ điển Tiếng Việt thông dụng (tái  
người thân thích của họ.  
bản lần thứ sáu), Nxb. Giáo dục Việt Nam tr.41, 41.  
30 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 02 - 2021  
TRẦN HỮU TRÁNG  
sẽ không thể được thực hiện trên thực tế. ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu  
Bảo đảm quyền của nạn nhân là trẻ em trong toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã thể  
các vụ mua bán người chính là quá trình làm  
cho các quyền của trẻ em trong các vụ mua  
bán người được thực hiện trên thực tế. Các  
yếu tố bảo đảm quyền của nạn nhân là  
trẻ em trong các vụ mua bán người bao  
gồm chính sách, pháp luật và tổ chức  
thực hiện chính sách, pháp luật bảo đảm  
các quyền của nạn nhân là trẻ em trong  
các vụ mua bán người.  
hiện rõ quan điểm luôn “Quan tâm chăm  
lo công tác giáo dục, bồi dưỡng và bảo vệ trẻ  
em, thiếu niên, nhi đồng”35. Quan điểm này  
được cụ thể hóa trong các chính sách đối  
với trẻ em, đặc biệt là trẻ em là nạn nhân  
của các vụ mua bán người.  
Chính sách đối với nạn nhân trong  
các vụ mua bán người thể hiện trước hết  
trong Luật Phòng, chống mua bán người,  
trong đó quy định rõ việc “Giải cứu, bảo  
vệ, tiếp nhận, xác minh, hỗ trợ nạn nhân kịp  
thời, chính xác. Tôn trọng quyền, lợi ích hợp  
pháp và không kỳ thị, phân biệt đối xử đối  
với nạn nhân”. Đây là chính sách xuyên  
suốt của Nhà nước trong bảo vệ và hỗ trợ  
nạn nhân trong các vụ mua bán người.  
Chương trình phòng, chống mua bán  
người giai đoạn 2016-2020 cũng nêu rõ  
mục tiêu “thực hiện hiệu quả công tác tiếp  
nhận, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bị mua bán  
trở về”36. Chương trình phòng, chống mua  
bán người giai đoạn 2021-2025 và định  
hướng đến năm 2030 nhấn mạnh mục  
tiêu “Bảo đảm nạn nhân được tiếp nhận,  
xác minh, xác định, giải cứu, bảo vệ và hỗ  
trợ kịp thời, hiệu quả theo quy định của pháp  
luật và đảm bảo nguyên tắc lấy nạn nhân  
làm trung tâm”. Chương trình cũng quy  
định rõ “Chính sách, pháp luật liên quan  
đến công tác phòng, chống mua bán người,  
xác minh, xác định, giải cứu, bảo vệ và hỗ trợ  
nạn nhân thường xuyên được rà soát, sửa  
đổi, bổ sung, bảo đảm tính đồng bộ, thống  
Nghị định thư không bắt buộc bổ  
sung Công ước về quyền trẻ em về việc  
buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn  
hóa phẩm khiêu dâm trẻ em34 được Đại  
hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua và  
mở cho các nước ký, phê chuẩn, gia nhập  
theo Nghị quyết A/RES/54/263, ngày  
25/5/2000 (Việt Nam phê chuẩn ngày  
20/12/2001) đã khuyến nghị các quốc gia  
thành viên phải tiến hành những biện  
pháp thích hợp để bảo vệ quyền và lợi ích  
của những trẻ em là nạn nhân của các vụ  
mua bán người. Đây chính là một trong  
các cơ sở để các quốc gia nội luật hóa các  
biện pháp bảo đảm quyền của nạn nhân  
là trẻ em trong các vụ mua bán người.  
2.2. Chính sách, pháp luật bảo đảm  
quyền của nạn nhân là trẻ em trong các  
vụ mua bán người  
2.2.1. Chính sách bảo đảm quyền của nạn  
nhân là trẻ em trong các vụ mua bán người  
Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn  
quan tâm chăm sóc và bảo vệ trẻ em. Báo  
cáo chính trị của Ban chấp hành Trung nhất phù hợp với pháp luật khu vực, quốc tế  
34ꢀ GeneralAssembly, OptionalProtocoltotheConvention 35ꢀ Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb  
on the Rights of the Child on the sale of children, child Chính trị Quốc gia Sự thật, Tập I, Hà Nội 2021, tr.143.  
prostitution and child pornography. Nguồn: hꢁps:// 36ꢀ Khoản 1 Điều 1 Quyết định số 2546/QĐ-TTg ngày  
opsccrc.aspx.  
mua bán người giai đoạn 2016-2020.  
Số chuyên đề 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 31  
BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NẠN NHÂN LÀ TRẺ EM...  
và thực tiễn công tác phòng, chống mua bán nhân; thời hạn thực hiện việc tiếp nhận,  
người”37. Nghị định số 09/2013/NĐ-CP xác minh; chủ thể có thẩm quyền giải cứu  
nạn nhân. Điều 5 Nghị định số 62/2012/  
NĐ-CP đã quy định rất cụ thể các căn  
cứ để xác định nạn nhân của các vụ mua  
bán người. Thông tư liên tịch số 01/2014/  
TTLT-BCA-BQP-BLĐTBXH-BNG ngày  
10/02/2014 đã hướng dẫn trình tự, thủ  
tục và quan hệ phối hợp trong việc xác  
minh, xác định, tiếp nhận và trao trả nạn  
nhân bị mua bán, trong đó quy định rất  
cụ thể việc xác minh, xác định, tiếp nhận  
nạn nhân đang ở nước ngoài (Điều 4),  
nạn nhân từ nước ngoài trở về (Điều 5),  
nạn nhân là công dân Việt Nam bị mua  
bán trong nước tự đến trình báo (Điều 6),  
nạn nhân được giải cứu trong nước (Điều  
7), nạn nhân là người nước ngoài bị mua  
bán tại Việt Nam (Điều 8, 9).  
ngày 11/01/2013 của Chính phủ quy định  
chi tiết thi hành một số điều của Luật  
Phòng, chống mua bán người (gọi tắt là  
Nghị định số 09/2013/NĐ-CP), trong đó  
đã quy định rõ chính sách khuyến khích  
đối với tổ chức, cá nhân tham gia công  
tác hỗ trợ nạn nhân38.  
Như vậy, có thể thấy các văn bản của  
Nhà nước đã thể hiện rõ ba chính sách  
lớn bảo đảm quyền của nạn nhân nói  
chung và nạn nhân là trẻ em trong các  
vụ mua bán người nói riêng: Một là chính  
sách bảo đảm quyền của nạn nhân được  
tiếp nhận, xác minh, xác định và giải cứu.  
Hai là chính sách bảo đảm quyền được  
bảo vệ của nạn nhân. Ba là chính sách bảo  
đảm quyền được hỗ trợ của nạn nhân.  
- Đối với chính sách bảo đảm quyền  
được bảo vệ của nạn nhân, Luật Phòng,  
chống mua bán người cho phép áp dụng  
ngay các biện pháp cần thiết để bảo vệ  
nạn nhân ngay khi người đó bị xâm hại  
hoặc có nguy cơ bị xâm hại đến tính  
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm  
và tài sản (Điều 29). Để tạo sự chủ động,  
Luật quy định nạn nhân có quyền đề  
nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm  
quyền áp dụng các biện pháp để bảo vệ  
mình và người thân thích (khoản 1 Điều  
6). Luật cũng quy định rất cụ thể các biện  
pháp bảo vệ nạn nhân và người thân  
thích của nạn nhân như bố trí nơi tạm  
lánh; giữ bí mật nơi cư trú, nơi làm việc,  
học tập và biện pháp khác39. Luật cũng  
quy định rõ các cơ quan có thẩm quyền  
áp dụng các biện pháp này cũng như cơ  
2.2.2. Pháp luật bảo đảm quyền của nạn  
nhân là trẻ em trong các vụ mua bán người  
Trên cơ sở các chính sách nêu trên,  
một hành lang pháp lý được xây dựng  
khá đầy đủ, trong đó Luật Phòng, chống  
mua bán người đóng vai trò nòng cốt đã  
cụ thể hóa cả ba chính sách này.  
- Đối với chính sách bảo đảm quyền  
của nạn nhân được tiếp nhận, xác minh,  
xác định và giải cứu, Luật Phòng, chống  
mua bán người đã dành hẳn Chương 4  
từ Điều 24 đến Điều 29 để quy định về  
căn cứ để xác định nạn nhân; chủ thể  
có thẩm quyền tiếp nhận, xác minh nạn  
37ꢀ Quyết định số 193/QĐ-TTg ngày 09/02/2021 của  
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình  
phòng, chống mua bán người giai đoạn 2021-2025 và  
định hướng đến năm 2030.  
38ꢀ Điều 2 Nghị định 09/2013/NĐ-CP ngày 11/01/2013  
của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều 39ꢀ Điều 30, 31 Luật Phòng, chống mua bán người  
của Luật Phòng, chống mua bán người.  
năm 2011.  
32 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 02 - 2021  
TRẦN HỮU TRÁNG  
chế phối hợp của các cơ quan này trong  
bảo vệ nạn nhân40. Nghị định số 62/2012/  
NĐ-CP quy định cụ thể các căn cứ để xác  
định nạn nhân, các biện pháp bảo vệ an  
toàn cho nạn nhân và người thân thích  
của họ, thẩm quyền áp dụng các biện  
pháp bảo vệ, trách nhiệm tổ chức thực  
hiện các biện pháp bảo vệ; trình tự, thủ  
tục áp dụng các biện pháp bảo vệ. Đặc  
biệt, Nghị định cũng quy định rõ nguồn  
kinh phí thực hiện việc bảo vệ an toàn  
cho nạn nhân và người thân thích của  
nạn nhân (Điều 4).  
Tất cả các quy định này đã tạo ra hành  
lang pháp lý quan trọng giúp cho việc vận  
hành cơ chế bảo đảm các quyền của nạn  
nhân và người thân thích của nạn nhân  
nói chung cũng như nạn nhân là trẻ em  
trong các vụ mua bán người nói riêng.  
2.3. Những hạn chế trong các quy định  
về chính sách, pháp luật về bảo đảm  
quyền của nạn nhân trong các vụ mua  
bán người  
- Thứ nhất, mặc dù các chính sách về  
bảo đảm quyền của nạn nhân trong các  
vụ mua bán người đã được thể hiện trong  
các văn bản luật nhưng chưa có văn bản  
nào có tên điều luật là chính sách bảo đảm  
quyền của nạn nhân trong các vụ mua bán  
người nói riêng. Để thấy được các chính  
sách này, phải phân tích nội dung của các  
quy định, nhất là các quy định về mục  
đích, nguyên tắc trong các văn bản pháp  
luật. Điều này ảnh hưởng đến việc nhận  
thức và thực hiện chính sách.  
- Đối với chính sách bảo đảm quyền  
được hỗ trợ của nạn nhân, Luật Phòng,  
chống mua bán người đã quy định các  
biện pháp hỗ trợ nạn nhân từ Điều 32  
đến Điều 40, trong đó quy định rõ các cơ  
quan, tổ chức có trách nhiệm thực hiện  
việc hỗ trợ nạn nhân tại Điều 39, 40. Nghị  
định số 09/2013/NĐ-CP đã quy định cụ  
thể về nguồn kinh phí hỗ trợ nạn nhân;  
trình tự thành lập, tổ chức hoạt động  
của cơ sở hỗ trợ nạn nhân; chế độ, trình  
tự, thủ tục thực hiện chế độ hỗ trợ nạn  
nhân. Thông tư số 84/2019/TT-BTC ngày  
27/11/2019 của Bộ Tài chính đã cụ thể hóa  
nội dung, mức chi cho công tác hỗ trợ  
nạn nhân và nội dung, mức chi chế độ hỗ  
trợ nạn nhân.  
- Thứ hai, pháp luật về bảo đảm quyền  
của nạn nhân trong các vụ mua bán người  
được quy định rải rác ở nhiều điều luật  
trong một văn bản luật cũng như được  
quy định ở nhiều văn bản luật gây khó  
khăn cho việc nhận thức và thực hiện.  
- Thứ ba, một số quy định trong pháp  
luật bảo đảm quyền của nạn nhân trong  
các vụ mua bán người còn chưa phù hợp,  
ví dụ:  
Chương trình phòng, chống mua  
bán người giai đoạn 2021 - 2025 và định  
hướng đến năm 2030, trong chín nhiệm  
vụ, giải pháp thì có một nhiệm vụ, giải  
pháp là tiếp nhận, xác minh, xác định, giải  
cứu và bảo vệ nạn nhân và một nhiệm vụ  
+ Điều 21 Nghị định số 09/2013/NĐ-CP  
quy định nạn nhân được hỗ trợ về tâm lý  
và y tế trong thời gian cư trú tại cơ sở bảo  
trợ xã hội và cơ sở hỗ trợ nạn nhân. Tuy  
hỗ trợ nạn nhân bị mua bán41  
.
40ꢀ Điều 21, 29-31 Luật Phòng, chống mua bán người mua bán người giai đoạn 2021-2025 và định hướng  
năm 2011.  
đến năm 2030 (Kèm theo Quyết định số 193/QĐ-TTg  
41ꢀ  
Khoản 4, 5 Phân II Chương trình phòng, chống ngày 09/02/2021 của Thủ tướng Chính phủ).  
Số chuyên đề 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 33  
BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NẠN NHÂN LÀ TRẺ EM...  
nhiên, ngay trong thời gian khai báo, nạn ở nước ngoài42. Nghị định cũng quy định  
cụ thể các chủ thể có trách nhiệm tổ chức  
thực hiện biện pháp bảo vệ (Điều 9), trình  
tự thủ tục áp dụng các biện pháp bảo vệ  
(Điều 10). Đây là những bảo đảm cho các  
biện pháp được thực thi trong thực tiễn.  
nhân của các vụ mua bán người đã chịu  
những tổn thương tâm lý, hoảng loạn, lo  
sợ… rất cần được tư vấn để ổn định về  
tâm lý, bảo đảm sức khỏe cũng như thực  
hiện tốt việc khai báo.  
- Đối với việc tổ chức thực hiện các  
quyền hỗ trợ cho nạn nhân, Luật Phòng,  
chống mua bán người quy định cụ thể  
các chủ thể thực hiện việc hỗ trợ nạn  
nhân gồm:  
+ Các trợ cấp khó khăn ban đầu cho  
nạn nhân đòi hỏi nạn nhân phải là hộ  
nghèo. Tuy nhiên, việc xin xác định hộ  
nghèo đối với nạn nhân là khá phức tạp,  
nhất là nạn nhân đã bị mua bán vắng mặt  
lâu ngày tại địa phương. Mặt khác, mức  
trợ cấp 1.000.000 đồng/người theo Thông  
tư số 84/2019/TT-BTC là tương đối thấp.  
+ Ủy ban nhân dân cấp xã đã tiếp  
nhận nạn nhân, cơ quan Công an, Bộ đội  
biên phòng, Cảnh sát biển đã giải cứu  
nạn nhân thực hiện hỗ trợ nhu cầu thiết  
yếu cho nạn nhân.  
- Thứ tư, hiện chỉ có một vài điều  
khoản có quy định riêng cho nạn nhân là  
trẻ em của các vụ mua bán người. Đa số  
các văn bản đều không có các quy định  
riêng cho trẻ em là nạn nhân của các vụ  
mua bán người.  
+ Phòng Lao động – Thương binh và  
Xã hội thực hiện hỗ trợ chi phí đi lại cho  
nạn nhân trong trường hợp họ tự trở về  
nơi cư trú.  
+ Cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn  
nhân thực hiện hỗ trợ nhu cầu thiết yếu,  
hỗ trợ tâm lý, hỗ trợ y tế cho nạn nhân.  
2.4. Tổ chức thực hiện chính sách,  
pháp luật bảo đảm quyền của nạn nhân  
là trẻ em trong các vụ mua bán người  
+ Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước  
và các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý  
thực hiện trợ giúp pháp lý cho nạn nhân.  
- Đốivớiviệctổchứcthựcthicácquyền  
được bảo vệ của nạn nhân và người thân  
thích của họ, Luật Phòng, chống mua bán  
người và Nghị định số 62/2012/NĐ-CP  
quy định khá chi tiết về các chủ thể có  
thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo  
vệ như: Cơ quan Cảnh sát điều tra trong  
Công an nhân dân, Cơ quan điều tra hình  
+ Sở Lao động – Thương binh và Xã  
hội thực hiện trợ cấp khó khăn ban đầu  
cho nạn nhân; phối hợp với Sở Y tế, Sở  
Giáo dục và Đào tạo thực hiện hỗ trợ  
y tế, hỗ trợ học văn hóa, học nghề cho  
sự trong Quân đội nhân dân, Bộ đội biên nạn nhân43.  
phòng, Lực lượng Cảnh sát biển, Viện  
- Đối với việc tổ chức thực hiện các  
kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát quân  
sự các cấp, Tòa án nhân dân, Tòa án quân  
sự các cấp, Ủy ban nhân dân xã, phường,  
thị trấn, Phòng Lao động - Thương binh  
và Xã hội, Cơ sở bảo trợ xã hội, Cơ sở hỗ  
quyền được tiếp nhận, xác minh, giải cứu  
nạn nhân, quyền được hồi hương, Luật  
Phòng, chống mua bán người giao cho  
42ꢀ Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 62/2012/NĐ-CP của  
Chính phủ.  
trợ nạn nhân; Cơ quan đại diện Việt Nam 43ꢀ Điều 39 Luật Phòng, chống mua bán người.  
34 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 02 - 2021  
TRẦN HỮU TRÁNG  
Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội động – Thương binh và Xã hội, nhưng  
tiếp nhận các khai báo về việc bị mua bán điểm b khoản 3 Điều 23 Nghị định số  
thông qua Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ  
quan, tổ chức nơi gần nhất. Cơ quan Công  
an cùng cấp có trách nhiệm xác minh và  
trả lời bằng văn bản cho Phòng Lao động –  
Thương binh và Xã hội44. Cơ quan có trách  
nhiệm giải cứu nạn nhân là Cơ quan Công  
an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển.  
09/2013/NĐ-CP lại quy định thẩm quyền  
này thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện.  
Vấn đề bồi thường cho nạn nhân trong các  
vụ mua bán người chưa có các quy định  
đặc thù mà vẫn theo các thủ tục của pháp  
luật dân sự và tố tụng dân sự. Đây là một  
trở ngại lớn cho các nạn nhân trong việc  
chứng minh thiệt hại cũng như trong các  
trường hợp không xác định được người  
phạm tội hoặc người phạm tội đã chết…  
Đối với nạn nhân ở nước ngoài, Cơ  
quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tiếp  
nhận và xử lý thông tin, tài liệu về nạn  
nhân và phối hợp với Bộ Công an để xác  
minh nhân thân của nạn nhân, cấp giấy  
tờ cần thiết, làm thủ tục đưa họ về nước.  
Cơ quan có thẩm quyền của Bộ Công an,  
Bộ Quốc phòng thực hiện việc tiếp nhận  
nạn nhân45. Trường hợp có thông tin cho  
biết nạn nhân chưa được giải cứu thì Cơ  
quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài  
thông báo ngay cho cơ quan có thẩm  
quyền của nước sở tại để phối hợp kiểm  
tra, xác minh và tổ chức giải cứu nếu xác  
định nguồn thông tin có căn cứ46.  
3. Các giải pháp hoàn thiện chính  
sách, pháp luật nhằm tăng cường bảo  
đảm các quyền của nạn nhân, nhất là nạn  
nhân trẻ em trong các vụ mua bán người  
Từ những phân tích trên và những  
hạn chế trong pháp luật quy định về  
quyền và bảo đảm quyền của nạn nhân  
nói chung, nạn nhân là trẻ em trong các  
vụ mua bán người nói riêng, đặt ra nhu  
cầu cần tiếp tục sửa đổi và hoàn thiện  
pháp luật về quyền và bảo đảm quyền  
của nạn nhân, nhất là nạn nhân là trẻ em  
trong các vụ mua bán người:  
Tuy nhiên, vẫn tồn tại những hạn chế  
trong các quy định về tổ chức thực hiện  
chính sách, pháp luật bảo đảm quyền của  
nạn nhân là trẻ em trong các vụ mua bán  
người: Nghiên cứu các quy định về tổ  
chức thực hiện chính sách, pháp luật bảo  
đảm quyền của nạn nhân là trẻ em trong  
các vụ mua bán người cho thấy vẫn có  
những hạn chế. Ví dụ, khoản 5 Điều 39  
Luật Phòng, chống mua bán người quy  
định thẩm quyền thực hiện trợ cấp khó  
khăn ban đầu cho nạn nhân là Sở Lao  
- Thứ nhất, cần sửa đổi Điều 6 Luật  
Phòng, chống mua bán người theo hướng:  
Quy định đầy đủ bốn nhóm quyền của  
nạn nhân trong các vụ mua bán người  
làm căn cứ để xác định chính sách và  
pháp luật bảo đảm các quyền này, trong  
đó cần đặc biệt lưu ý đến nạn nhân là  
phụ nữ và trẻ em theo tinh thần của Nghị  
định thư về ngăn ngừa, phòng chống và  
trừng trị buôn bán người, đặc biệt là phụ  
nữ và trẻ em, bổ sung Công ước về chống  
tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia của  
Liên Hợp Quốc và Công ước ASEAN về  
phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là  
44ꢀ Điều 24 Luật Phòng, chống mua bán người.  
45ꢀ Điều 26 Luật Phòng, chống mua bán người.  
46ꢀ Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2014/TTLT-BCA-  
BQP-BLĐTBXH-BNG ngày 10/2/2014 về hướng dẫn  
trình tự, thủ tục và quan hệ phối hợp trong xác minh,  
xác định, tiếp nhận và trao trả nạn nhân bị mua bán. phụ nữ, trẻ em.  
Số chuyên đề 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 35  
BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NẠN NHÂN LÀ TRẺ EM...  
Luật Phòng, chống mua bán người hiện có của nạn nhân hoặc những tiêu  
chí khác có thể tạo thuận lợi cho nạn  
nhân của các vụ mua bán người dễ dàng  
tiếp cận, đồng thời quy định thống nhất  
về chủ thể có thẩm quyền hỗ trợ để tạo  
thuận lợi cho việc thực hiện.  
cũng cần bổ sung định nghĩa về “người  
thân thích của nạn nhân” tại Điều 2 để bảo  
đảm tính pháp lý và tính tương thích với  
các văn bản pháp luật khác, nhất là Luật  
Hôn nhân và Gia đình.  
+ Hiện nay, nhiều quốc gia đã thành  
lập các quỹ nạn nhân của tội phạm (Crime  
Victims Fund) như Hoa Kỳ, Vương quốc  
Anh, Cộng hòa Liên bang Đức, Cộng hòa  
Pháp47. Quỹ nạn nhân của tội phạm là một  
nguồn quan trọng được sử dụng để bồi  
thường cho các nạn nhân của tội phạm,  
nhất là các nạn nhân của các vụ mua bán  
người. Việc thiết lập và bồi thường thiệt  
hại dựa trên quỹ nạn nhân của tội phạm  
là một kinh nghiệm rất đáng được Việt  
Nam nghiên cứu để áp dụng nhằm tăng  
cường bảo đảm các quyền của nạn nhân  
nói chung, quyền của nạn nhân trong  
các vụ mua bán người nói riêng, nhất là  
quyền của nạn nhân là trẻ em trong các  
vụ mua bán người.  
- Thứ hai, Luật Phòng, chống mua bán  
người cần bổ sung điều luật xác định rõ các  
chính sách bảo đảm quyền của nạn nhân,  
nhất là nạn nhân là trẻ em trong các vụ  
mua bán người làm căn cứ để cụ thể hóa  
các chính sách này thành các quy định bảo  
đảm quyền của nạn nhân, nhất là nạn nhân  
là trẻ em trong các vụ mua bán người.  
- Thứ ba, Luật Phòng, chống mua bán  
người cần tập hợp các quy định về bảo  
đảm quyền của nạn nhân, đặc biệt là nạn  
nhân là trẻ em thành một chế định về bảo  
đảm quyền của nạn nhân trong các vụ  
mua bán người, trong đó cần có một số  
quy định đặc thù để bảo đảm tốt hơn các  
quyền của nạn nhân là trẻ em trong các vụ  
mua bán người. Điều này sẽ tạo điều kiện  
thuận lợi cho việc nhận thức và bảo đảm  
thực hiện các quyền này trong thực tiễn.  
Chiến lược của châu Âu hướng tới  
xóa bỏ buôn bán người đã đặt ra năm nội  
dung ưu tiên, trong đó nội dung ưu tiên  
thứ hai được xác định là bảo vệ và hỗ trợ  
nạn nhân của các hành vi mua bán người,  
đặc biệt chú trọng bảo vệ trẻ em là đối  
tượng rất dễ bị tổn thương, dễ trở thành  
nạn nhân của tội phạm mua bán hoặc tái  
trở thành nạn nhân48. Điều này cho thấy  
vấn đề bảo đảm quyền của nạn nhân là  
trẻ em trong các vụ mua bán người đang  
- Thứ tư, cần rà soát để sửa đổi và  
hoàn thiện pháp luật phòng, chống mua  
bán người nói chung, cũng như pháp  
luật bảo đảm quyền của nạn nhân trong  
các vụ mua bán người nói riêng nhằm  
nâng cao hiệu quả điều chỉnh của các quy  
phạm này. Trước mắt cần nghiên cứu sửa  
đổi, bổ sung ngay một số quy định:  
+ Bổ sung quy định về hỗ trợ tâm lý  
cho nạn nhân ngay trong thời gian nạn  
nhân của các vụ mua bán người thực  
hiện khai báo nhằm bảo đảm tốt nhất  
quyền của nạn nhân.  
47ꢀ Nguyễn Tất Thành, Nhà nước bồi thường thiệt hại do  
tội phạm gây ra: Quy định của pháp luật một số nước và  
gợi mở cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số  
03+04 (427+428), tháng 2/2021. Nguồn:hꢁp://lapphap.  
vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=210770.  
48ꢀ Zuzana Obertová, Cristina Caꢁaneo, Child trafficking  
and the European migration crisis: The role of forensic  
practitioners, Forensic, Science International Volume  
+ Sửa đổi điều kiện trợ cấp khó khăn  
ban đầu, như dựa trên tiêu chí tài sản 282, January 2018, Pages 46-59 (tr.49).  
36 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 02 - 2021  
TRẦN HỮU TRÁNG  
Assembly, Optional  
ngày càng trở thành mối quan tâm đặc  
9. General  
biệt của các quốc gia. Thực hiện tốt vấn Protocol to the Convention on the Rights of the  
đề này sẽ góp phần quan trọng trong việc Child on the sale of children, child prostitu-  
nâng cao hiệu quả của hoạt động phòng, tion and child pornography. Nguồn: hꢁps://  
chống mua bán người nói chung và mua www.ohchr.org/en/professionalinterest/  
bán trẻ em nói riêng, góp phần bảo vệ trẻ pages/opsccrc.aspx  
em, nguồn lực tương lai của đất nước./.  
10. Đỗ Thị Lý Quỳnh (2020), Cơ chế pháp  
lý phòng, chống mua bán người ở Việt Nam hiện  
nay, Luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị Quốc  
gia Hồ Chí Minh.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. ASEAN Convention Against  
Trafficking in Persons, Especially Women  
and Children. Nguồn: hꢁps://www.asean.  
org/wp-content/uploads/2015/12/ACTIP.pdf.  
11. Nguyễn Tất Thành, Nhà nước bồi  
thường thiệt hại do tội phạm gây ra: quy định  
của pháp luật một số nước và gợi mở cho Việt  
Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số  
03+04 (427+428), tháng 2/2021. Nguồn:  
hꢁp://lapphap.vn/ Pages/tintuc/tinchitiet.  
aspx?tintucid=210770.  
2. Bộ Tài chính, Thông tư số 84/2019/  
TT-BTC ngày 27/11/2019 quy định nội dung,  
mức chi cho công tác hỗ trợ nạn nhân và nội  
dung, mức chi chế độ hỗ trợ nạn nhân.  
3. Chính phủ, Nghị định số 09/2013/  
NĐ-CP ngày 11/01/2013 quy định chi tiết  
thi hành một số điều của Luật Phòng,  
chống mua bán người.  
12. Thông tư liên tịch số 01/2014/TTLT-  
BCA-BQP-BLĐTBXH-BNG ngày 10/2/2014  
về hướng dẫn trình tự, thủ tục và quan hệ  
phối hợp trong xác minh, xác định, tiếp nhận  
và trao trả nạn nhân bị mua bán.  
4. Chính phủ, Nghị định số 62/2012/NĐ-  
CP ngày 13/8/2012 quy định căn cứ xác định  
nạn nhân bị mua bán và bảo vệ an toàn cho  
nạn nhân và người thân thích của họ.  
13. United Nations Protocol to  
Prevent, Suppress and Punish Trafficking  
in Persons, especially Women and  
5. Chính phủ, Quyết định số 193/QĐ-  
TTg ngày 09/02/2021 ban hành Chương trình  
phòng, chống mua bán người giai đoạn 2021- en/professionalinterest/pages/protocol-  
2025 và định hướng đến năm 2030.  
traffickinginpersons.aspx.  
6. Chính phủ, Quyết định số 2546/QĐ-  
TTg ngày 31/12/2015 phê duyệt Chương  
trình phòng, chống mua bán người giai  
đoạn 2016-2020.  
14. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc  
lần thứ XIII, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật,  
Tập 1, Hà Nội, 2021.  
15. Nguyễn Như Ý, Từ điển Tiếng Việt  
thông dụng (tái bản lần thứ sáu), Nxb. Giáo dục  
Việt Nam.  
7. Convention on the Rights of the  
Child . Nguồn: hꢁps://www.ohchr.org/en/  
professionalinterest/pages/crc.aspx.  
16. Zuzana Obertová, Cristina Caꢁaneo,  
Child trafficking and the European migration  
crisis: The role of forensic practitioners, Forensic,  
Science International Volume 282, January  
2018, Pages 46-59 (tr.49).  
8. Gabriela  
Martinho,  
Mariana  
Gonçalves, Marlene Matos, Child trafficking,  
comprehensive needs and professional practices:  
A systematic review, Children and Youth  
Services Review 119 (2020) 105674.  
Số chuyên đề 02 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 37  
pdf 11 trang Thùy Anh 13980 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bảo đảm quyền của nạn nhân là trẻ em trong các vụ án mua bán người", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_dam_quyen_cua_nan_nhan_la_tre_em_trong_cac_vu_an_mua_ban.pdf