Quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp và kết cấu thị trường cạnh tranh

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
QUYỀN TỰ DO CẠNH TRANH  
CỦA DOANH NGHIỆP VÀ KẾT CẤU THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH  
Đào Ngọc Báu*  
*-TS.-Học-viện-Chính-trị-khu-vực-IV;-Học-viện-Chính-trị-quốc-gia-Hồ-Chí-Minh  
Tóm tắt:  
Thông tin bài viết:  
Kinh tế học đã chứng minh, cạnh tranh và độc quyền đều có ưu và  
nhược điểm. Nếu đề cao quá mức cạnh tranh sẽ dẫn đến loại bỏ doanh  
nghiệp lớn, từ đó không thể tận dụng được lợi thế của kinh tế quy mô,  
đồng thời làm suy giảm sức cạnh tranh của một quốc gia do không thể  
hình thành được doanh nghiệp lớn, đủ sức cạnh tranh trên thị trường  
quốc tế. Độc quyền có thể khắc phục được hạn chế của cạnh tranh  
nhưng nếu không được kiểm soát sẽ dẫn đến hiện tượng tăng giá bán,  
giảm sản lượng, chậm đổi mới kỹ thuật…, từ đó gây thiệt hại cho người  
tiêu dùng và toàn bộ nền kinh tế. Kết hợp ưu điểm của cạnh tranh và  
độc quyền để tạo ra kết cấu thị trường cạnh tranh hữu hiệu là trào lưu  
phổ biến hiện nay, được đa số các nước trên thế giới ủng hộ. Trong  
phạm vi bài viết này, tác giả phân tích và đi đến kết luận rằng, việc  
thừa nhận doanh nghiệp có quyền tự do cạnh tranh là để hình thành  
kết cấu thị trường cạnh tranh hữu hiệu, không phải để hình thành kết  
cấu thị trường cạnh tranh tự do. Nói cách khác, quyền tự do cạnh tranh  
không nên được hiểu đồng nhất với kết cấu thị trường cạnh tranh tự  
do, có như vậy mới đảm bảo thực thi hiệu quả chính sách cạnh tranh  
quốc gia.  
Từ khóa: Cạnh tranh, độc quyền,  
quyền tự do cạnh tranh, thị trường  
cạnh tranh tự do, thị trường cạnh  
tranh hữu hiệu.  
Lịch sử bài viết:  
Ngày nhận bài : 28/8/2020  
Biên tập  
: 07/9/2020  
: 12/9/2020  
Duyệt bài  
Article Infomation:  
Keywords:  
Competition,  
monopoly, freedom of competition,  
free competitive market, effective  
competitive market.  
Article History:  
Received  
Edited  
Abstract:  
: 28 Aug. 2020  
: 07 Sep. 2020  
: 12 Sep. 2020  
It is proven by economics that both competition and monopoly have  
advantages and disadvantages. Excessive emphasis on competition will  
lead to the elimination of large enterprises that are thereby not being  
able to take advantage of the economies of scale, and at the same time,  
it may reduce the competitiveness of a country due to the inability to  
form the large enterprises with enough strengths of competition in the  
international market. Monopoly can overcome the disadvantages of  
the competition, but if not being controlled, it will lead to an increase  
in selling prices, decrease in outputs, delay in technology innovation  
..., thereby causing damages to the consumers and the whole economy.  
Taking the advantages of competition and monopoly to establish an  
effectively competitive market structure is the current popular trend,  
supported by the majority of countries in the world. Under the scope  
of this article, the author provides an analysis of and the conclusion  
that it is recognized the freedom of competition for enterprises shall  
lead to the formation of an effectively competitive market structure,  
not to the formation of a market structure of free competition. In other  
words, freedom of competition should not be understood as the market  
structure of free competition, thus ensuring effective implementation  
of a national competition policy.  
Approved  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
10  
Số 20 (420) - T10/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
1. Quyền tự do cạnh tranh của doanh  
nghiệp  
khác bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp cản  
trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh hợp  
pháp của doanh nghiệp đó; (v) Lôi kéo  
khách hàng bất chính dưới các hình thức như  
đưa thông tin gian dối đến khách hàng về  
hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp  
hoặc so sánh hàng hóa của doanh nghiệp  
mình với doanh nghiệp khác; (vi) Bán hàng  
hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn  
bộ dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến loại bỏ  
doanh nghiệp khác cùng kinh doanh loại  
hàng hóa, dịch vụ đó; (vii) Các hành vi cạnh  
tranh không lành mạnh khác bị cấm theo quy  
định của pháp luật.  
Ngoài bảy nhóm hành vi nêu trên, doanh  
nghiệp có quyền lựa chọn bất cứ hành vi  
cạnh tranh nào để thực hiện trong quá trình  
sản xuất, kinh doanh của mình. Nhà nước  
phải tôn trọng và bảo vệ các hành vi cạnh  
tranh hợp pháp của doanh nghiệp.  
Tương tự như vậy, pháp luật quy định  
các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị  
cấm như thỏa thuận phân chia khách hàng,  
phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung  
cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ, thỏa thuận  
thông đồng trong đấu thầu… Đối với doanh  
nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc  
quyền, pháp luật quy định cấm doanh nghiệp  
lạm dụng sức mạnh thị trường để thực hiện  
các hành vi gây tổn hại hoặc hạn chế cạnh  
tranh như phân biệt đối xử về giá, bán dưới  
giá, từ chối giao dịch, bán kèm... Nếu doanh  
nghiệp thực hiện các hành vi bị cấm nêu trên  
và đủ các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật  
thì sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý; mọi  
hành vi cạnh tranh khác của doanh nghiệp  
hoặc nhóm doanh nghiệp đều được coi là  
hợp pháp và được tự do thực hiện.  
Ở nước ta, quyền tự do cạnh tranh của  
doanh nghiệp được quy định ngay từ khi  
Luật Cạnh tranh đầu tiên được ban hành.  
Điều 4 Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định:  
“Doanh nghiệp được tự do cạnh tranh trong  
khuôn khổ pháp luật. Nhà nước bảo hộ  
quyền cạnh tranh hợp pháp trong kinh  
doanh”. Quyền này tiếp tục được quy định  
tại Điều 5 Luật Cạnh tranh năm 2018, theo  
đó “Doanh nghiệp có quyền tự do cạnh tranh  
theo quy định của pháp luật. Nhà nước bảo  
đảm quyền cạnh tranh hợp pháp trong kinh  
doanh”. Vấn đề đặt ra là cần hiểu quyền tự  
do cạnh tranh của doanh nghiệp là gì, quyền  
này bao gồm những nội dung nào?  
Khi khẳng định doanh nghiệp có quyền  
tự do cạnh tranh có nghĩa là doanh nghiệp  
được tự do lựa chọn hành vi và phương thức  
cạnh tranh, miễn là những hành vi và  
phương thức ấy phù hợp với quy định của  
pháp luật. Trên phương diện hành vi cạnh  
tranh, chính vì tự do cạnh tranh là một trong  
những nội dung cấu thành quyền tự do kinh  
doanh của doanh nghiệp, nên doanh nghiệp  
được thực hiện bất cứ hành vi nào không bị  
pháp luật cấm. Trên cơ sở quan điểm đó,  
Luật Cạnh tranh đã quy định bảy nhóm hành  
vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm, tạo  
cơ sở pháp lý để doanh nghiệp thực hiện  
quyền tự do cạnh tranh trong kinh doanh.  
Các hành vi bị cấm bao gồm: (i) Xâm phạm  
thông tin bí mật trong kinh doanh; (ii) Ép  
buộc khách hàng, đối tác kinh doanh của  
doanh nghiệp khác bằng hành vi đe dọa hoặc  
cưỡng ép để buộc họ không giao dịch hoặc  
ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó; (iii)  
Cung cấp thông tin không trung thực về  
doanh nghiệp khác bằng cách trực tiếp hoặc  
gián tiếp đưa thông tin không trung thực về  
doanh nghiệp gây ảnh hưởng xấu đến uy tín,  
tình trạng tài chính hoặc hoạt động kinh  
doanh của doanh nghiệp đó; (iv) Gây rối  
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp  
Trên phương diện phương thức cạnh  
tranh, doanh nghiệp có thể lựa chọn cạnh  
tranh trực tiếp hoặc gián tiếp. Theo đó, cạnh  
tranh trực tiếp được hiểu là cạnh tranh được  
thực hiện trên cơ sở so sánh tương quan giữa  
các đối thủ trên thị trường, thông qua các  
hình thức như giảm giá bán, nâng cao chất  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
11  
Số 20 (420) - T10/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
lượng dịch vụ, đổi mới quy cách, mẫu mã  
sản phẩm…; cạnh tranh gián tiếp là cạnh  
tranh thông qua các hình thức tác động vào  
người tiêu dùng, qua đó chiếm lĩnh thị phần  
trên thị trường liên quan như quảng cáo để  
lôi kéo khách hàng, khuyến mại, cung cấp  
cho người tiêu dùng các dịch vụ gia tăng…,  
làm cho đối thủ cạnh tranh bị mất thị phần  
hoặc gặp khó khăn trong việc mở rộng sản  
xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ. Các  
phương thức cạnh tranh được điều chỉnh bởi  
các luật chuyên ngành như Luật Quảng cáo,  
Luật Thương mại… Doanh nghiệp được sử  
dụng bất cứ phương thức cạnh tranh nào để  
có thể giành chiến thắng trên thị trường,  
miễn là phương thức ấy phù hợp với quy  
định của pháp luật và không vi phạm các  
chuẩn mực đạo đức kinh doanh.  
Quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp  
là một biểu hiện của quyền tự do kinh doanh  
- một nguyên tắc căn bản và cốt lõi nhất của  
kinh tế thị trường. Chính vì vậy, đối với bất  
cứ nền kinh tế thị trường nào, việc thừa nhận  
và bảo hộ quyền tự do cạnh tranh của doanh  
nghiệp luôn là một đòi hỏi tất yếu và được  
xem là nguyên tắc hiến định, đồng thời luôn  
được ghi nhận trong Luật Cạnh tranh.  
2. Kết cấu thị trường cạnh tranh tự do  
Thị trường cạnh tranh tự do là khái niệm  
được hiểu theo hai nghĩa sau:  
Thứ nhất, thị trường cạnh tranh tự do  
được hiểu là trạng thái thị trường không có  
sự can thiệp của Nhà nước và các yếu tố  
cung – cầu được tự do hoạt động.  
Thứ hai, thị trường cạnh tranh tự do  
được hiểu là trạng thái thị trường không có  
độc quyền, cũng không có doanh nghiệp có  
sức mạnh thị trường đủ lớn để có thể thực  
hiện được các hành vi lũng đoạn. Trong  
trường hợp này, nếu hình thành doanh  
nghiệp độc quyền hoặc doanh nghiệp có vị  
trí thống lĩnh thị trường thì Nhà nước cần  
can thiệp để phá vỡ trạng thái ấy, bảo đảm  
duy trì kết cấu thị trường chỉ có doanh  
nghiệp vừa và nhỏ để các hoạt động cạnh  
tranh được diễn ra dễ dàng.  
2.1. Kết cấu thị trường cạnh tranh tự do  
không có sự can thiệp của Nhà nước  
Kết cấu thị trường này hình thành trên cơ  
sở lý thuyết bàn tay vô hình củaAdam Smith,  
theo đó sự phát triển kinh tế phụ thuộc vào  
quy luật tự nhiên bởi vì các hiện tượng trong  
tự nhiên và đời sống xã hội luôn tồn tại một  
trật tự nhất định. Chính vì vậy, thị trường  
cạnh tranh tự do tự có thể điều chỉnh được  
mối quan hệ giữa người mua và người bán,  
giữa doanh nghiệp, thị trường và người tiêu  
dùng. Bởi vậy, Nhà nước không cần can thiệp  
vào thị trường mà để cho thị trường tự điều  
chỉnh. Nói cách khác, sự can thiệp của Nhà  
nước với tư cách là bàn tay hữu hình không  
đóng vai trò thiết yếu, thậm chí không cần  
thiết trong nền kinh tế thị trường.  
Về mặt lịch sử, không thể phủ nhận lý  
thuyết bàn tay vô hình đã có tác dụng thúc  
đẩy sáng tạo và phát triển sản xuất của các  
nền kinh tế phương Tây, qua đó đóng góp  
không nhỏ vào sự phát triển kinh tế - xã hội  
của nhân loại. Tuy nhiên, sự phát triển đa  
dạng và phức tạp của các quan hệ trên  
thương trường với sự đan xen ngày càng  
chặt chẽ của nhiều dạng lợi ích đã làm nổi  
bật sự bất lực của bàn tay vô hình trong việc  
điều tiết cạnh tranh trên thương trường. Mô  
hình cạnh tranh tự do đã không còn là hình  
thức cạnh tranh lý tưởng được xưng tụng và  
áp dụng trong thực tế. Mặc dù vậy, giá trị  
lịch sử của mô hình đó vẫn còn sống mãi  
trong quan niệm và trong ý thức của loài  
người khi thiết kế các mô hình thị trường  
hoặc mô hình cạnh tranh trong thực tế của  
đời sống kinh tế - xã hội hiện đại1.  
2.2. Kết cấu thị trường cạnh tranh tự do  
có sự can thiệp của Nhà nước  
Lý luận cạnh tranh có ảnh hưởng rất  
quan trọng đối với chính sách cạnh tranh của  
các nước trên thế giới. Từ những năm 30 đến  
những năm 70 của thế kỷ 20, trường phái  
1 Lê Danh Vĩnh (chủ biên), Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn, Giáo trình Luật Cạnh tranh, Đại học Kinh  
tế Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2010.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
12  
Số 20 (420) - T10/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Harvard, còn gọi là “chủ nghĩa kết cấu” đã  
cung cấp cơ sở lý luận cho chính sách chống  
lũng đoạn của Chính phủ Mỹ. Mô hình Cấu  
trúc - Hành vi - Kết quả (Structure –  
Conduct – Performance) của trường phái  
Harvard do Mason2 khởi xướng, sau đó được  
học trò của ông là Bain3 tiếp tục phát triển.  
Các học giả này thực hiện phân tích thông  
qua mối quan hệ nhân quả kết cấu thị trường,  
hành vi doanh nghiệp và kết quả thị trường,  
cho rằng kết cấu thị trường bao gồm bốn  
hình thức: cạnh tranh hoàn toàn4, cạnh tranh  
mang tính độc quyền, độc quyền đầu sỏ và  
độc quyền hoàn toàn. Cạnh tranh hoàn toàn  
là kết cấu thị trường có các đặc điểm như số  
lượng người mua và người bán rất lớn, sản  
phẩm của các nhà sản xuất có tính tương  
đồng, không tồn tại rào cản gia nhập, thông  
tin thị trường bảo đảm đầy đủ. Cạnh tranh  
mang tính độc quyền là kết cấu thị trường  
mà ở đó có nhiều doanh nghiệp cùng sản  
xuất hoặc bán các sản phẩm có sự khác biệt  
về chất lượng, mẫu mã và nhãn hiệu, mỗi  
nhà sản xuất trở thành chủ thể độc quyền đối  
với một hoặc một số đặc tính của sản phẩm.  
Độc quyền đầu sỏ5 là kết cấu thị trường ở đó  
một số doanh nghiệp lớn trong ngành chiếm  
thị phần đáng kể, giữa các doanh nghiệp vừa  
tồn tại cạnh tranh khốc liệt vừa phụ thuộc lẫn  
nhau, doanh nghiệp khi đưa ra quyết sách  
kinh doanh buộc phải xem xét tới phản ứng  
của các doanh nghiệp khác. Độc quyền hoàn  
toàn là kết cấu thị trường mà theo đó trên thị  
trường liên quan chỉ có một người mua hoặc  
một người bán, còn được gọi là kết cấu thị  
trường độc chiếm.  
Trường phái Harvard cho rằng, kết cấu  
thị trường quyết định hành vi của doanh  
nghiệp, đến lượt nó, hành vi của doanh  
nghiệp sẽ dẫn đến kết quả thị trường nhất  
định6. Như vậy, theo tính chất bắc cầu có thể  
thấy, kết cấu thị trường sẽ quyết định kết quả  
thị trường. Tiêu chí được dùng để đo kết cấu  
thị trường là mức độ tập trung thị trường,  
tiêu chí để đo kết quả thị trường là tỷ suất lợi  
nhuận, được gọi là giả định “tỷ suất lợi  
nhuận theo mức độ tập trung”. Nếu mức độ  
tập trung của một ngành quá cao hoặc rào  
cản gia nhập quá cao đều có khả năng dẫn  
đến kết quả thị trường xấu, tức là làm suy  
yếu cạnh tranh thị trường, tạo ra lợi nhuận  
siêu ngạch và méo mó sự phân phối tài  
nguyên. Vì vậy, Chính phủ cần phải can  
thiệp đối với mức độ tập trung thị trường và  
rào cản gia nhập; đối với doanh nghiệp có  
sức mạnh thị trường phải thực hiện chính  
sách phân tách doanh nghiệp, cấm sáp nhập.  
Có thể nói, quan điểm của trường phái  
Harvard chú trọng điều chỉnh trạng thái thị  
trường nhiều hơn là điều chỉnh hành vi cạnh  
tranh, hướng đến hình thành kết cấu thị  
trường cạnh tranh hoàn toàn hoặc ít nhất là  
2 Mason, Kaysen and Turner, Antitrust Policy, Harvard University Press, Cambridge, Massachusetts, 1965.  
3 Bain, Barriers to new competition, Harvard University Press, Cambridge, Massachusetts, 1956.  
4 Về khái niệm cạnh tranh hoàn toàn, có tài liệu gọi là cạnh tranh hoàn hảo. Tác giả cho rằng, đây là kết cấu  
thị trường mà ở đó có nhiều người mua và nhiều người bán, sản phẩm đồng nhất, doanh nghiệp tự do gia  
nhập và ra khỏi thị trường, sự hiểu biết và tính cơ động rất cao, từ đó dẫn đến kết quả là thị trường chỉ có  
cạnh tranh, không tồn tại độc quyền nên gọi là cạnh tranh hoàn toàn thì chính xác hơn. Nếu gọi là cạnh  
tranh hoàn hảo rất dễ dẫn đến hiểu lầm, cho rằng đây là kết cấu thị trường tốt nhất, vì nó hoàn hảo. Bởi vậy,  
chúng ta cần phải theo đuổi để đạt được kết cấu này. Trong khi lý thuyết và thực tế cho thấy, đây không phải  
là kết cấu thị trường tốt nhất vì trong kết cấu thị trường này doanh nghiệp và người mua nhỏ đến mức không  
tác động được tới giá cả thị trường của hàng hóa, dịch vụ, từ đó sẽ không thể có doanh nghiệp quy mô lớn,  
khi đó không thể phát huy được vai trò của kinh tế quy mô trong sản xuất và kinh doanh.  
5 Về khái niệm độc quyền đầu sỏ (Oligopoly), có tài liệu gọi là độc quyền nhóm, tác giả cho rằng, nếu gọi  
như vậy dễ gây hiểu lầm rằng một nhóm doanh nghiệp liên kết với nhau để hình thành độc quyền. Về bản  
chất, đây là kết cấu thị trường chỉ có vài doanh nghiệp lớn cùng kinh doanh. Ví dụ, thị trường viễn thông  
nước ta hiện nay có một số doanh nghiệp như Vinaphone, Viettel, Mobiphone, Vietnam Mobile. Giữa các  
doanh nghiệp này không hề tồn tại liên minh độc quyền, thay vào đó họ vẫn cạnh tranh với nhau và chịu  
ảnh hưởng lẫn nhau về việc kiểm soát giá và chất lượng dịch vụ. Nói cách khác, đây là kết cấu thị trường  
chỉ có vài doanh nghiệp đầu sỏ cùng kinh doanh, và họ trở thành những người dẫn dắt thị trường.  
6 Herbert Hovenkamp, The Antitrust Enterprise: Principle and Execution, Harvard University Press, 2005,  
pp. 35 - 38.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
13  
Số 20 (420) - T10/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
cạnh tranh mang tính độc quyền, không ủng  
hộ và khuyến khích kết cấu thị trường độc  
quyền đầu sỏ và độc quyền hoàn toàn.  
3. Kết cấu thị trường cạnh tranh hữu hiệu  
Cạnh tranh hữu hiệu là khái niệm để chỉ  
kết cấu thị trường cạnh tranh có thể mang lại  
kết quả tốt nhất và khả thi nhất cho cả doanh  
nghiệp và thị trường.  
nhất doanh nghiệp có lợi đối với việc phát  
huy lợi thế quy mô của doanh nghiệp và  
nâng cao hiệu suất kinh tế7. Vì vậy, trường  
phái Chicago phản đối sự can thiệp của  
chính phủ vào mức độ tập trung thị trường,  
cho rằng chính phủ chỉ cần can thiệp và kiểm  
soát hành vi của doanh nghiệp, trong đó chủ  
yếu là ngăn cấm hành vi thỏa thuận về giá  
giữa các doanh nghiệp và hành vi phân chia  
thị trường. Đối với tập trung kinh tế, ngoài  
trường hợp cá biệt liên quan đến tập trung  
quá mức, cơ quan quản lý cạnh tranh không  
cần thiết phải can thiệp vào kết cấu thị  
trường. Như vậy, trường phái Chicago chủ  
trương tiến hành can thiệp ở mức thấp nhất  
đối với kết cấu thị trường.  
Từ những năm 70 của thế kỷ 20, với sự  
gia tăng nhanh chóng của quá trình toàn cầu  
hóa kinh tế, lý luận của trường phái Harvard  
đã trở nên lạc hậu. Bởi vì, nếu quá chú trọng  
vào bảo vệ doanh nghiệp nhỏ và vừa, không  
thừa nhận sự tồn tại của các doanh nghiệp  
lớn thì các doanh nghiệp trong nước sẽ  
không thể có sức cạnh tranh quốc tế và sẽ  
không phát huy được tác dụng của kinh tế  
quy mô. Đại diện của trường phái Chicago  
là Bock và Posner cho rằng, không thể từ  
một kết cấu thị trường nhất định để suy đoán  
kết quả thị trường. Khác với trường phái  
Harvard xuất phát từ kết cấu thị trường để  
phân tích kết quả thị trường, trường phái  
Chicago tiến hành phân tích từ hành vi  
doanh nghiệp, vì vậy được gọi là “chủ nghĩa  
hành vi”. Trường phái Chicago cho rằng, lợi  
nhuận độc quyền là kết quả của cạnh tranh  
thị trường, doanh nghiệp có quy mô lớn là  
kết quả của sự tiến bộ kỹ thuật và sự tiến hóa  
tự nhiên của tổ chức. Kinh tế quy mô lớn  
mang lại hiệu suất sản xuất có thể bảo đảm  
tối đa hóa phúc lợi người tiêu dùng và hiệu  
quả phân bổ nguồn lực. Ngoài ra, tập trung  
quá mức cũng có thể tạo ra hiệu suất kinh tế  
nhất định. Chẳng hạn, bản thân hành vi định  
giá lũng đoạn của doanh nghiệp sẽ thúc đẩy  
việc gia nhập thị trường của các đối thủ cạnh  
tranh tiềm năng; hoặc việc ấn định giá bán  
lại sẽ có lợi đối với việc tăng cường sự cạnh  
tranh giữa các nhãn hiệu và ngăn ngừa hành  
vi “hưởng lợi miễn phí” (free-rider); hợp  
Lý luận của trường phái Chicago có  
những điểm hợp lý sau đây:  
Thứ nhất, thực tế cho thấy độc quyền và  
cạnh tranh đều có tính hai mặt. Trên phương  
diện độc quyền, ảnh hưởng tiêu cực của nó  
là dễ dẫn đến tình trạng giảm sản lượng, tăng  
giá bán, từ đó làm giảm hiệu suất phân phối  
tài nguyên. Tuy nhiên, độc quyền vẫn có  
những tác động tích cực như có thể hình  
thành nên kinh tế quy mô, doanh nghiệp  
kinh tế quy mô sẽ có khả năng thúc đẩy tiến  
bộ và sáng tạo kỹ thuật. Trong một số ngành  
đòi hỏi kỹ thuật cao như sản xuất máy bay,  
máy tính, viễn thông…, các doanh nghiệp  
cần phải có quy mô lớn mới có thể đầu tư  
cho nghiên cứu và khai phá, từ đó, mới có  
khả năng sản xuất ra những sản phẩm mới,  
số lượng nhiều, kết quả là sẽ nhanh chóng  
làm cho chi phí sản xuất được giảm thiểu.  
Như vậy, nếu Nhà nước can thiệp để loại bỏ  
các doanh nghiệp độc quyền thì cũng giống  
như “giết con ngỗng đẻ trứng vàng”, là cách  
suy nghĩ thiếu tầm nhìn xa trông rộng8.  
Trên phương diện cạnh tranh, không thể  
phủ nhận cạnh tranh có vai trò tối ưu hóa  
7 Tài Long, Nghiên cứu quy chế lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, Nhà xuất bản Đại học Nhân dân Trung  
Quốc, 2012, tr.5.  
8 Samuelson, William D.Nordhaus: Kinh tế học, Nxb. Phát triển, Trung Quốc, 1993, tái bản lần thứ 12, tr.913  
(bản tiếng Trung Quốc).  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
14  
Số 20 (420) - T10/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
phân phối tài nguyên, giảm giá thành,  
khuyến khích sáng tạo…, nhưng nếu quá đề  
cao cạnh tranh sẽ dẫn đến cạnh tranh tự do  
quá mức, không có lợi đối với việc nâng cao  
sức cạnh tranh của ngành và của doanh  
nghiệp, kết quả sẽ ảnh hưởng đến sức cạnh  
tranh quốc gia. Hiện trạng kinh tế Hoa Kỳ  
những năm 70, 80 của thế kỷ XX là ví dụ rõ  
nét. Khi đó nước Mỹ chịu ảnh hưởng của tư  
tưởng tự do kinh tế và dân chủ kinh tế, cơ  
quan tư pháp Mỹ chủ trương “bảo vệ cạnh  
tranh mà không bảo vệ chủ thể cạnh tranh”9,  
không ngần ngại hy sinh hiệu quả kinh tế để  
có được cạnh tranh tự do. Thực tiễn tư pháp  
Hoa Kỳ thời kỳ này cho thấy, Tòa án đã  
nhiều lần đưa ra phán quyết về việc phân  
tách một số công ty có sức mạnh thị trường,  
điển hình là Công ty Northern Securities,  
Công ty Standard Oil, Công ty Atlantic  
Telephone and Telegraph… Nhiều học gia  
cho rằng, đây chính là nguyên nhân dẫn đến  
sự lép vế về quy mô và thành tích thị trường  
của các doanh nghiệp Hoa Kỳ so với các  
doanh nghiệp Nhật Bản và Tây Âu trong quá  
trình cạnh tranh quốc tế những năm 70, 80  
của thế kỷ trước. Nhận thức được vấn đề  
này, sau đó Chính phủ Mỹ đã điều chỉnh  
chính sách cạnh tranh, không xem cạnh  
tranh tự do là mục tiêu hàng đầu nữa mà thay  
vào đó là chính sách cạnh tranh hữu hiệu  
theo trường phái Chicago.  
nhân tạo và toàn bộ nền kinh tế mất đi hoạt  
lực cạnh tranh. Cạnh tranh hữu hiệu thực  
chất là sự dung hòa tối ưu giữa kinh tế quy  
mô và hoạt lực cạnh tranh, từ đó có thể tối  
ưu hóa việc phân phối tài nguyên và nâng  
cao hiệu suất kinh tế.  
Hiện nay, đa số các quốc gia có nền kinh  
tế thị trường phát triển đều đi theo trường  
phái Chigaco và đã thu được những kết quả  
nhất định trong chính sách cạnh tranh. Với  
tư cách là nước đi sau, Việt Nam cũng nên  
tham khảo, học tập các mô hình kinh tế này,  
từ đó vận dụng sáng tạo vào điều kiện kinh  
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.  
4. Quyền tự do cạnh tranh của doanh  
nghiệp không đồng nhất với kết cấu thị  
trường cạnh tranh tự do  
Những phân tích ở trên cho thấy, trường  
phái Harvard cổ vũ cho cạnh tranh tự do,  
không ủng hộ doanh nghiệp độc quyền;  
trong khi đó trường phái Chicago cổ vũ cho  
cạnh tranh hữu hiệu, không phủ nhận cạnh  
tranh tự do cũng không phủ nhận độc quyền;  
chỉ chống hành vi lũng đoạn mà không  
chống bản thân doanh nghiệp có sức mạnh  
lũng đoạn.  
Khi thừa nhận doanh nghiệp có quyền  
tự do cạnh tranh không có nghĩa là chúng ta  
thừa nhận theo đuổi hình thành kết cấu thị  
trường cạnh tranh tự do, thay vào đó, tự do  
cạnh tranh là để hình thành kết cấu thị  
trường cạnh tranh hữu hiệu. Tuy nhiên, trong  
thực tế, đã có có thời kỳ chúng ta lúng túng  
trong việc giải quyết mối quan hệ giữa hai  
khái niệm này, điều này có thể nhận thấy qua  
vụ việc cạnh tranh của công ty xăng dầu  
hàng không Vinapco, xảy ra vào đầu năm  
20081. Nguyên đơn trong vụ việc này là Cục  
Quản lý cạnh tranh, bị đơn là Công ty xăng  
dầu hàng không (Vinapco) trực thuộc Hãng  
hàng không quốc gia Việt Nam (Vietnam  
Airlines). Vụ việc này liên quan đến việc  
Thứ hai, do cạnh tranh và độc quyền đều  
có hai mặt ưu điểm và nhược điểm nên việc  
đồng thời phát huy vai trò tổng hợp của hai  
yếu tố này là nhu cầu tất yếu. Tuy nhiên, vấn  
đề là giữa độc quyền và cạnh tranh luôn tồn  
tại “xung đột Marshall” (Marshall Dilema),  
tức là trong quá trình tìm kiếm kinh tế quy  
mô, doanh nghiệp do tập trung sản xuất sẽ  
dẫn đến xuất hiện độc quyền, mà độc quyền  
là sự phủ định của cạnh tranh, cuối cùng làm  
cho giá cả trên thị trường chịu sự khống chế  
9 Xem phán quyết của vụ án Brown Shoe Co. v. United States, 370 US 294, (1962).  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
15  
Số 20 (420) - T10/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Vinapco từ chối cung cấp nhiên liệu cho  
hãng hàng không Pacific Airlines. Từ ngày  
20/3/2008 đến ngày 31/3/2008, Vinapco đã  
nhiều lần gửi thông báo cho Pacific Airlines  
về việc tăng phí nạp nhiên liệu máy bay lên  
26,5% kể từ ngày 01/4/2008. Nếu Pacific  
Airlines không đồng ý thì Vinapco sẽ ngừng  
cấp xăng dầu. Trong thực tế, Pacific Airlines  
đồng ý với đề xuất này với điều kiện  
Vinapco cũng áp dụng mức tăng giá đó đối  
với Vietnam Airlines. Sau khi thương thảo,  
hai bên vẫn không thể đi đến thống nhất.  
Vinapco cho rằng, bất luận việc nạp nhiên  
liệu là bao nhiêu thì mỗi lần nạp nhiên liệu  
đều cần hai nhân công và một xe bồn chở  
xăng lăn bánh từ kho chứa tới sân bay; thực  
tế mỗi lần nạp nhiên liệu, Vietnam Airlines  
đều nạp nhiều hơn 10 lần so với Pacific  
Airlines. Vì vậy, Vinapco sẽ không tăng giá  
đối với khách hàng lớn là Vietnam Airlines.  
Ngược lại, Pacific Airlines viện lý do quan  
hệ giữa Vinapco và Vietnam Airlines, cho  
rằng với tư cách là công ty con của Vietnam  
Airlines, Vinapco đã thực hiện hành vi phân  
biệt đối xử về giá, từ đó làm cho Pacific  
Airlines ở vào vị trí cạnh tranh bất lợi. Do  
hai bên không thể đạt được nhất trí, ngày  
01/4/2008, Vinapco đã đơn phương chấm  
dứt cung ứng nhiên liệu cho Pacific Airlines,  
làm cho hơn 30 chuyến bay và hơn 5000  
hành khách bị chậm chuyến vài giờ1. Sau đó,  
Cục Hàng không đã lập tức ban hành Công  
văn số 985/CHK-TC, yêu cầu Vinapco tiếp  
tục cung cấp nhiên liệu cho Pacific Airlines,  
đồng thời chỉ rõ trừ khi được sự đồng ý của  
cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nếu không  
thì Vinapco không được đơn phương đình  
chỉ việc cung cấp xăng dầu hàng không.  
Tháng 5 năm 2008, Cục trưởng Cục  
Nam có quyền nhập khẩu xăng dầu và cung  
ứng cho các hãng hàng không. Nói cách  
khác, Vinapco là doanh nghiệp có vị trí độc  
quyền và có thể dựa vào rào cản pháp luật để  
duy trì vị trí hiện có. Điều cần chú ý là đầu  
năm 2008, Chính phủ Việt Nam đã ban hành  
chỉ thị về cấm tăng giá một số mặt hàng thiết  
yếu trong đó có xăng dầu. Rõ ràng là Vinapco  
cần phải tôn trọng quy định này. Ngoài ra,  
hành vi từ chối bán hàng của Vinapco đã tạo  
ra ảnh hưởng làm hoãn nhiều chuyến bay của  
Pacific Airlines, từ đó đã gây tổn hại nghiêm  
trọng cho khách hàng. Hội đồng xử lý vụ việc  
cạnh tranh nhất trí cho rằng, hành vi của  
Vinapco đã vi phạm quy định tại khoản 2 và  
khoản 3 Điều 14 Luật Cạnh tranh năm 2004,  
thuộc vào trường hợp hành vi “áp đặt điều  
kiện bất lợi cho khách hàng” và “lợi dụng vị  
trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc  
hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý  
do chính đáng”. Đồng ý với đề xuất tố tụng  
của Cục Quản lý cạnh tranh, Hội đồng xử lý  
vụ việc cạnh tranh đã xử phạt Vinapco số tiền  
bằng 0,05% tổng doanh thu năm 2007, tương  
đương gần 3,4 tỷ đồng. Ngoài ra, Hội đồng  
xử lý vụ việc cạnh tranh còn đề xuất với Cục  
Hàng không thuộc Bộ Giao thông vận tải tách  
Vinapco ra khỏi Vietnam Airlines, để hình  
thành nên hai doanh nghiệp độc lập với nhau.  
Vinapco không đồng ý với Quyết định này và  
gửi đơn khiếu nại lên Hội đồng cạnh tranh.  
Ngày 26/6/2009, Hội đồng cạnh tranh đã  
ra Quyết định bác đơn khiếu nại của  
Vinapco, giữ nguyên Quyết định của Hội  
đồng xử lý vụ việc cạnh tranh. Tuy nhiên,  
Hội đồng cạnh tranh đã sửa kiến nghị trước  
đây của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh,  
thay vì tách Vinapco ra khỏi Vietnam  
Airlines thành cho phép các công ty khác  
tham gia thị trường xăng dầu hàng không, từ  
đó loại bỏ vị trí độc quyền của Vinapco.  
Không lâu sau đó, vào ngày 01/02/2010, Bộ  
Giao thông vận tải đã pho phép Công ty cổ  
phần xăng dầu hàng không Petrolimex  
(PetrolimexAviation Fuel JSC) tham gia vào  
thị trường này, từ đó hình thành nên kết cấu  
thị trường xăng dầu cạnh tranh.  
Quản lý cạnh tranh đã ký Quyết định tiến  
hành điều tra sơ bộ, hoạt động tố tụng hành  
chính chống lũng đoạn chính thức bắt đầu.  
Ngày 14/ 4/2009, Hội đồng xử lý vụ việc  
cạnh tranh đã mở phiên điều trần. Hội đồng  
nhận định rằng, căn cứ vào quy định của  
pháp luật, Vinapco là doanh nghiệp duy nhất  
trên thị trường xăng dầu hàng không Việt  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
16  
Số 20 (420) - T10/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Một lần nữa Vinapco không đồng ý với  
Quyết định của Hội đồng cạnh tranh và gửi  
đơn kiện tới Tòa án nhân dân thành phố Hà  
Nội. Sau khi xem xét vụ việc, Tòa án cho  
rằng, do Vinapco không thể đưa ra chứng cứ  
chứng minh tính hợp lý của việc tăng giá,  
trong khi Quyết định của Hội đồng xử lý vụ  
việc cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh về  
tính chất hành vi và mức xử phạt đều có căn  
cứ pháp luật, phù hợp với quy định của Luật  
Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi  
hành. Ngày 12/12/2010, Tòa án nhân dân  
thành phố Hà Nội đã ra phán quyết bác đơn  
kiện của Vinapco.  
Như vậy, có thể thấy rằng, kiến nghị của  
Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và Hội  
đồng cạnh tranh đều hướng đến hình thành  
kết cấu thị trường cạnh tranh, tuy nhiên, kiến  
nghị tách Vinapco ra khỏi Vietnam Airlines  
của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh rõ  
ràng là làm mất đi doanh nghiệp có quy mô  
lớn, hình thành kết cấu thị trường toàn doanh  
nghiệp nhỏ. Như vậy, kiến nghị này hướng  
đến hình thành kết cấu thị trường cạnh tranh  
tự do – là mô hình không còn phù hợp với  
xu thế hiện nay. Cách làm này khá giống với  
xu thế phán quyết của Tòa án Mỹ những  
năm 70, 80 của thế kỷ trước, và sự thất bại  
trong cạnh tranh của nền kinh tế Mỹ trước  
Nhật Bản và Tây Âu đã buộc cơ quan tư  
pháp và chính phủ Mỹ sau đó phải từ bỏ  
quan điểm này. Trong thực tế, Hội đồng cạnh  
tranh đã thay đổi kiến nghị của Hội đồng xử  
lý vụ việc cạnh tranh, và sự thay đổi này hợp  
lý hơn, bởi việc vẫn giữ lại Vinapco thuộc  
Vietnam Airlines nhưng kiến nghị thành lập  
một hoặc một vài công ty xăng dầu cung cấp  
nhiên liệu hàng không mới sẽ tạo ra kết cấu  
thị trường cạnh tranh hữu hiệu, thay vì duy  
trì thị trường độc quyền hoặc thị trường cạnh  
tranh tự do; qua đó xử lý hài hòa được mối  
quan hệ giữa thị trường cạnh tranh và kinh  
tế quy mô, góp phần thúc đẩy chất lượng  
dịch vụ và giảm giá bán trên thị trường xăng  
dầu hàng không Việt Nam, đồng thời tạo  
thuận lợi cho việc hình thành các doanh  
nghiệp đủ lớn để có thể cạnh tranh trên thị  
trường quốc tế.  
5. Kết luận  
Những phân tích ở trên cho thấy, cần  
phân biệt hai khái niệm quyền tự do cạnh  
tranh và kết cấu thị trường cạnh tranh tự do.  
Mục đích của chính sách và pháp luật cạnh  
tranh là hướng đến bảo vệ hành vi tự do cạnh  
tranh để thiết lập kết cấu thị trường cạnh  
tranh hữu hiệu, mà không phải là kết cấu thị  
trường cạnh tranh tự do, tức là phải xây dựng  
được kết cấu thị trường kết hợp hài hòa các  
ưu điểm của cạnh tranh và độc quyền, vừa  
tạo điều kiện cho doanh nghiệp hạ giá thành  
sản phẩm, đổi mới sáng tạo, vừa tận dụng  
được các lợi thế của kinh tế quy mô; thực  
hiện mục tiêu kép là bảo vệ người tiêu dùng  
đồng thời bảo vệ doanh nghiệp, cho dù đó là  
doanh nghiệp lớn hay doanh nghiệp vừa và  
nhỏ. Pháp luật cạnh tranh không chỉ là công  
cụ để bảo vệ doanh nghiệp vừa và nhỏ, mà  
phải bảo vệ tất cả các doanh nghiệp, đặc biệt  
những doanh nghiệp do nỗ lực phấn đấu để  
đạt được quy mô lớn, ngay cả khi họ có được  
vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc  
quyền thì pháp luật vẫn phải bảo vệ. Đồng  
thời, pháp luật cạnh tranh chỉ nên đóng vai  
trò là công cụ kiểm soát và điều chỉnh hành  
vi của doanh nghiệp, không nên điều chỉnh  
trạng thái tồn tại của doanh nghiệp, như vậy  
mới có thể hình thành doanh nghiệp lớn, qua  
đó tận dụng được ưu thế của kinh tế quy mô  
và tạo ra sức cạnh tranh của quốc gia trên  
trường quốc tế  
n
detail&id=97, truy cập ngày 26/11/2020.  
co-nhien-lieu-2691759.html, truy cập ngày 26/11/2020.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
17  
Số 20 (420) - T10/2020  
pdf 8 trang Thùy Anh 12880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp và kết cấu thị trường cạnh tranh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquyen_tu_do_canh_tranh_cua_doanh_nghiep_va_ket_cau_thi_truon.pdf