Pháp luật đặc thù về giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số, miền núi và thực trạng thi hành

Pháp luật đặc thù về giáo dục ở các vùng DTTS, miền núi và thực trạng thi hành  
– Phần -  
I-  
LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI  
Khái niệm dân tộc thiểu số và miền núi  
1.1.  
Thiểu số là định nghĩa chỉ về một, một số đối tượng có tính đặc thù, riêng lẻ trong  
cộng đồng, đây là một trong những vấn đề phức tạp được đặt ra từ rất lâu trong đời sống  
xã hội. Khái niệm nhóm người thiểu số được dùng để chỉ các nhóm người có những sự  
khác biệt về một phương diện nào đó với cộng đồng người chung trong xã hội. Họ có thể  
khác biệt với nhóm người đa số về phương diện ngôn ngữ và văn hoá, khác biệt về nhận  
thức và tôn giáo, về hoàn cảnh kinh tế, điều kiện sống và thu nhập v.v ...và đi kèm theo đó  
là sự khác biệt về phương thức ứng xử của cộng đồng đối với chính họ.  
Nhà xã hội học Mỹ Louis Wirth năm 1945 đã đưa ra một định nghĩa khá thông  
dụng về nhóm người thiểu số như sau: “Có thể gọi là thiểu số mọi nhóm người, do một số  
nét đặc thù về ngoại hình hay văn hoá, bị đối xử khác biệt và không bằng những thành  
viên khác của xã hội mà họ sinh sống và do đó tự coi mình là đối tượng của một sự phân  
biệt tập thể”  
"Dân tộc thiểu số" là khái niệm thuộc phạm trù "người thiểu số” – một trong những  
nhóm người dễ bị tổn thương, được sử dụng rộng rãi trong các văn kiện pháp lý quốc tế.  
Năm 1930, Tòa án Công lý quốc tế thường trực (Permanent Court of International Justice  
- PCIJ, cơ quan tài phán của Hội Quốc Liên), đưa ra ý kiến tư vấn về vụ tranh cãi giữa hai  
nước Hy Lạp và Bungari liên quan đến vị thế của các cộng đồng nhập cư thiểu số ở hai  
nước này. PCIJ xác định một cộng đồng thiểu số là “một nhóm người sống trên một quốc  
gia hoặc địa phương nhất định, có những đặc điểm đồng nhất về chủng tộc, tín ngưỡng,  
ngôn ngữ và truyền thống, có sự giúp đỡ lẫn nhau và có quan điểm thống nhất trong việc  
bảo lưu những yếu tố truyền thống, duy trì tôn giáo, tín ngưỡng và hướng dẫn, giáo dục  
trẻ em trong cộng đồng theo tinh thần và truyền thống của chủng tộc họ”  
Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc đưa ra khái niệm tại  
K2- Đ4 "DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh  
thổ nước CHXHCNVN"; K3- Điều 4: "Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên  
50% tổng số dân của cả nước theo điều tra dân số quốc gia".  
1
1.2.  
Đặc điểm tình hình dân tộc thiểu số và miền núi ở nước ta  
Việt Nam là quốc gia có 53 dân tộc thiểu số, dân số giữa các dân tộc không đều  
nhau, nhiều nhất phải kể đến dân tộc Tày, Thái, Mường, ít nhất là dân tộc Rơ măm, Brâu,  
Ơ Đu. Trong các dân tộc thiểu số, quy mô dân số cũng có sự chênh lệch đáng kể. Tuy số  
dân có sự chênh lệch đáng kể, nhưng các dân tộc luôn luôn coi nhau như anh em một nhà,  
quý trọng, thương yêu đùm bọc và gắn bó với nhau, chung sức xây dựng và bảo vệ Tổ  
quốc.  
Không có dân tộc nào có một vùng lãnh thổ riêng mà cư trú xen kẽ nhau, tạo thành  
một cộng đồng đa bản sắc, tạo điều kiện để tăng cường hiểu biết nhau, đoàn kết, xích lại  
gần nhau, xây dựng cộng đồng các dân tộc ngày càng gắn bó vững chắc, cùng nhau tiến  
bộ và phát triển, sự cách biệt về trình độ phát triển từng bước thu hẹp lại.  
Các dân tộc thiểu số chủ yếu cư trú trên các vùng núi, biên giới, nơi có vị trí quan  
trọng, khu vực có tiềm năng phát triển kinh tế to lớn. Ngoài ra, đường biên giới trên đất  
liền của nước ta dài 4.000km thì 3.000 km nằm ở khu vực miền núi, có nhiều cửa ngõ  
thông thương với các nước láng giềng, là điều kiện thuận lợi để mở rộng quan hệ kinh tế,  
văn hoá giữa nước ta với các nước láng giềng, qua đó tới các nước trong khu vực và trên  
thế giới. Song đây cũng là địa bàn hiểm trở, khó khăn cho phát triển kinh tế - xã hội, nâng  
cao đời sống cho đồng bào các dân tộc thiểu số cư trú tại địa bàn; khó khăn cho việc kiểm  
tra, kiểm soát, ngăn chặn buôn lậu, ma tuý xâm nhập….Miền núi, biên giới là "phên dậu”  
vững chắc của Tổ quốc, là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh trong việc bảo vệ  
vững chắc chủ quyền quốc gia, chông âm mưu xâm nhập, gây bạo loạn, lật đổ, bảo vệ sự  
nghiệp hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ở vùng biên giới có các dân tộc thiểu số vừa  
cư trú ở Việt Nam, vừa cư trú ở nước láng giềng, giữ quan hệ dòng họ, quan hệ thân tộc  
với nhau. Những năm gần đây, các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng vấn đề dân tộc,  
tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, kích động, gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa các dân tộc. Bởi  
vậy, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta không chỉ vì lợi ích các dân  
tộc thiểu số mà còn vì lợi ích cả nước, không chỉ là đối nội mà còn là đối ngoại, không chỉ  
về kinh tế - xã hội, mà cả về chính trị, quốc phòng, an ninh quốc gia.  
Các dân tộc có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không giống nhau. Ở các quốc gia  
có nhiều dân tộc, sự phát triển không đồng đều giữa các dân tộc là tình trạng khá phổ  
biến, do nhiều nguyên nhân: lịch sử, xã hội, điều kiện tự nhiên nơi sinh sống quy định.  
Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, mỗi dân tộc anh  
em có những giá trị và sắc thái văn hóa riêng, mỗi dân tộc anh em có những giá trị và sắc  
thái văn hóa riêng. Vì thế, ở nước ta có nhiều dòng ngôn ngữ, trong mỗi dòng lại có  
2
những nhóm khác nhau. Văn hóa, sản xuất, kiến trúc, xây dựng ... giữa các dân tộc cũng  
có nhiều nét khác nhau. Văn hóa ăn, mặc của các dân tộc hết sức phong phú. Phong tục,  
tập quán, lối sống của mỗi dân tộc một khác nhau. Tổ chức xã hội của dân tộc Kinh có  
xóm, làng, xã; dân tộc Thái có bản, mường; dân tộc Êđê có buôn, xã; dân tộc Khmer có  
phum, xóc... Già làng, già bản ở nhiều dân tộc thiểu số có uy tín cao. Đặc biệt, các dân tộc  
thiểu số ở nước ta có kho tàng văn hóa dân gian, bao gồm các làn điệu dân ca, các điệu  
múa, các bản trường ca, v.v., vô cùng phong phú và có giá trị nghệ thuật lớn. Chính bản  
sắc văn hóa mỗi dân tộc nước ta tạo nên nền văn hoá Việt Nam rực rỡ. Sự nghiệp xây dựng  
và phát triển văn hoá Việt Nam trong thời kỳ mới phải hướng vào việc củng cố và tăng  
cường sự thống nhất, nhân lên sức mạnh tinh thần chung của toàn dân tộc. Đồng thời phải  
khai thác và phát triển mọi sắc thái và giá trị văn hóa của các dân tộc, đáp ứng nhu cầu văn  
hóa tinh thần ngày càng cao và nhu cầu phát triển của từng dân tộc.  
Việt Nam có một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số theo các tôn giáo khác nhau.  
Về mặt văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo, đồng bào các dân tộc thiểu số ở ba khu vực Tây  
Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ có những nét riêng rất độc đáo tạo nên nền văn hóa Việt  
Nam phong phú, đa dạng. Sau này, theo thời gian các tôn giáo dần dần thâm nhập vào  
những vùng đồng bào dân tộc thiểu số hình thành các cộng đồng tôn giáo. Việc một bộ  
phận đồng bào dân tộc thiểu số theo các tôn giáo đặt ra cho Đảng và Nhà nước ta là  
cùng một lúc thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo đối với đồng bào dân tộc  
thiểu số theo các tôn giáo, cùng một lúc giải quyết cả hai vấn đề lớn là công tác dân tộc  
và công tác tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.  
1.3.  
Quan điểm của Đảng và Nhà nước về dân tộc  
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung,  
phát triển năm 2011) khẳng định các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam bình  
đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển. Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần  
thứ XII của Đảng nêu rõ: “Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân  
tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp  
nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng  
có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ,  
tây duyên hải miền Trung”  
- Hết phần 1 -  
Phan Thị Nhật Tài  
3
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Nguyễn Công Đức, Nguyễn Văn Lập (2015, tr 40), Vấn đề ngôn ngữ của học sinh dân tộc  
thiểu số trong giáo dục phổ thông (trường hợp học sinh người M’Nông, tỉnh Đak Nông),  
NXB ĐHQG – HCM  
2. TS. Phùng Đức Tùng, TS. Nguyễn Việt Cường, TS. Nguyễn Cao Thịnh, ThS. Nguyễn Thị  
Nhung, Ths. Tạ Thị Khánh Vân (2017), Tổng quan thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân  
tộc thiểu số, Tài liệu lưu hành nội bộ  
3. Luật giáo dục 2005, 2009 (2009), NXB Chính trị quốc gia  
4. Chiến lược phát triển giáo dục 2010 – 2020 (2010), NXB Giáo dục 2010  
5. Quyết định phê duyệt đề án phát triển giáo dục đối với các dân tộc ít người giai đoạn  
2010 – 2015  
6. Lê Xuân Trình (2015), Luận văn thạc sĩ luật học Quyền của người dân tộc thiểu số theo  
quy định của pháp luật quốc tế và Việt Nam, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội  
7. Nhóm chuyên gia Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn  
(2012), Báo cáo nghiên cứu rà soát các chính sách dân tộc và đề xuất xây dựng hệ thống  
chính sách dân tộc đến năm 2020  
8. Bộ giáo dục và đào tạo,  
Báo cáo tóm tắt Trẻ em ngoài nhà trường 2016 – nghiên cứu  
của Việt Nam  
9. Ủy ban dân tộc, Báo cáo số 07/BC-UBDT về tổng kết công tác dân tộc năm 2018, triển  
khai nhiệm vụ 2019  
10. Hong Anh Vu (2010), Báo cáo hiện trạng bất bình đẳng giới trong cộng đồng người dân  
tộc thiểu số, Syracuse University  
11. Nhiều tác giả (2014), Kỷ yếu hội thảo quốc tế Phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo  
cho đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi, NXB Đại học Thái Nguyên  
12. Tổng cục Thống kê (2011), Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009 – Giaó dục ở  
Việt Nam: Phân tích các chỉ số chủ yếu  
13. World Bank, Bộ Kế hoạch và đầu tư (2015), Việt Nam 2035 – Hướng tới thịnh vượng,  
sáng tạo, công bằng và dân chủ  
4
pdf 4 trang Thùy Anh 6500 Free
Bạn đang xem tài liệu "Pháp luật đặc thù về giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số, miền núi và thực trạng thi hành", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphap_luat_dac_thu_ve_giao_duc_o_cac_vung_dan_toc_thieu_so_mi.pdf