Một số vấn đề lý luận về việc đăng kí thành lập doanh nghiệp và pháp luật về đăng kí kinh doanh (Phần 1)

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC ĐĂNG KÍ THÀNH LẬP DOANH  
NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÍ KINH DOANH – Phần 1  
Nguyễn Thị Thu Na  
1.1 Khái quát về đăng ký thành lập doanh nghiệp  
1.1.1. Đăng kí doanh nghiệp  
Ở Việt Nam, thuật ngữ đăng ký kinh doanh xuất hiện lần đầu tiên trong Luật  
Công ty 1990 và tiếp tục được sử dụng trong các văn bản pháp luật về tổ chức kinh  
doanh sau này. Tuy nhiên, cho tới nay thuật ngữ “đăng ký kinh doanh” chưa được quy  
định cụ thể trong Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành mặc dù thuật  
ngữ này được sử dụng khá phổ biến trong lập pháp cũng như trong thực tế.  
Thuật ngữ “đăng ký kinh doanh” được ghép từ hai từ ghép “đăng ký” và “kinh  
doanh”.  
Về mặt từ ngữ, “kinh doanh” theo Từ điển Luật học, Viện Khoa học pháp lý,  
Nhà xuất bản Tư pháp – Bộ Tư pháp phối hợp với Nhà xuất bản Từ điển bách khoa  
xuất bản năm 2006 được hiểu là: “Các hoạt động đầu tư, sản xuất, mua bán, cung ứng  
dịch vụ do các chủ thể kinh doanh tiến hành một cách độc lập, thường xuyên trên thị  
trường nhằm mục đích lợi nhuận”.  
Pháp luật của nhiều nước trên thế giới sử dụng thuật ngữ “commerce’’ (thương  
mại) theo nghĩa rộng để chỉ một cách tổng hợp các hoạt động sản xuất, mua bán hàng  
hóa, dịch vụ.  
Dưới góc độ pháp lý, theo quy định tại Khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp  
2020 thì: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn  
của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị  
trường nhằm mục đích sinh lợi”.  
Để thực hiện hoạt động kinh doanh, pháp luật Việt Nam quy định các chủ thể  
phải tiến hành đăng ký tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền là cơ quan đăng ký  
kinh doanh.  
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì “đăng ký” được hiểu:  
“1. Chính thức ghi vào văn bản của cơ quan pháp luật những thông tin cần thiết  
của sự kiện làm cơ sở phát sinh hoặc chấm dứt những quan hệ pháp lí nhất định.  
2. Bằng chứng công nhận sự bắt đầu tồn tại hoặc chấm dứt một sự kiện, hiện  
tượng theo pháp luật.”  
Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất  
bản năm 1994 “đăng ký” được hiểu là “ghi vào sổ của cơ quan quản lý để chính thức  
được công nhận cho hưởng quyền lợi hay làm nghĩa vụ”.  
Từ điển Luật học (Viện Khoa học pháp lý, Nhà xuất bản Tư pháp – Bộ Tư pháp  
phối hợp với Nhà xuất bản Từ điển bách khoa xuất bản năm 2006) cũng đã định nghĩa  
đăng ký kinh doanh là: “Sự ghi nhận bằng văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm  
quyền về mặt pháp lý sự ra đời của chủ thể kinh doanh”. Tuy nhiên đăng ký kinh  
doanh có thể được tiếp cận nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau:  
Theo phương diện kinh tế, đăng ký kinh doanh là một hoạt động của doanh  
nghiệp tuy không trực tiếp tạo ra của cải vật chất hay những dịch vụ nhằm thu lợi  
nhuận về cho các doanh nghiệp nhưng đây là hoạt động tạo tiền đề và cơ sở cần thiết  
để doanh nghiệp có thể được tiến hành hoạt động. Chi phí trong quá trình ĐKKD  
thành lập doanh nghiệp sẽ được tính vào chi phí hợp lý của doanh nghiệp sau này và  
được khấu trừ trong khi tính thuế.  
Theo phương diện quản lý nhà nước, đăng ký kinh doanh được coi là biện pháp  
quản lý Nhà nước về kinh tế. Thông qua hoạt động ĐKKD, Nhà nước có được các  
thông tin cần thiết về một doanh nghiệp, từ đó thực hiện các hoạt động quản lý khi  
doanh nghiệp đi vào sản xuất, trong khâu hậu kiểm, thực hiện việc điều tiết kinh tế vĩ  
mô và tạo điều kiện đảm bảo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp ngay từ khâu gia  
nhập thị trường.  
Theo phương diện chính trị, đăng ký kinh doanh được hiểu là quyền tự do của  
mọi người. Tuy nhiên, quyền tự do này phải trong khuôn khổ pháp luật. Bất kỳ một cá  
nhân, tổ chức nào có đủ điều kiện để kinh doanh đều có thể đăng ký với Nhà nước để  
tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh. Quyền tự do này bao gồm quyền tự do lựa  
chọn ngành, nghề kinh doanh mà pháp luật không cấm, tự do lựa chọn hình thức kinh  
doanh và tự do đăng ký kinh doanh.  
Theo phương diện pháp lý, đăng ký kinh doanh là một thủ tục pháp lý có tính  
chất bắt buộc đối với doanh nghiệp khi gia nhập thị trường, được thực hiện tại cơ quan  
Nhà nước có thẩm quyền để xác lập tư cách pháp lý cho doanh nghiệp mà nhà đầu tư  
bỏ vốn thành lập. Thuật ngữ đăng ký kinh doanh được áp dụng từ Luật Công ty 1990  
đến Luật Doanh nghiệp 2005. Tuy nhiên, đến Nghị định số 43/2010/NĐ-CP hướng  
dẫn về đăng ký doanh nghiệp do Chính phủ ban hành ngày 15/4/2010 và có hiệu lực từ  
ngày 01/06/2010 đã chính thức thống nhất quy trình ĐKKD với đăng ký thuế, mỗi  
doanh nghiệp được cấp một mã số duy nhất gọi là mã số doanh nghiệp, mã số này  
đồng thời là mã số thuế của doanh nghiệp, thuật ngữ “đăng ký kinh doanh” được thay  
thế bằng thuật ngữ “đăng ký doanh nghiệp” và thuật ngữ này được sử dụng trong Luật  
Doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành.  
Thuật ngữ “đăng ký doanh nghiệp” được giải thích tại Nghị định số  
78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp theo đó:  
“Đăng ký doanh nghiệp là việc người thành lập doanh nghiệp đăng ký thông tin về  
doanh nghiệp dự kiến thành lập, doanh nghiệp đăng ký những thay đổi hoặc dự kiến  
thay đổi trong thông tin về đăng ký doanh nghiệp với cơ quan đăng ký kinh doanh và  
được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Đăng ký doanh  
nghiệp bao gồm đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký thay đổi những nội dung  
đăng ký doanh nghiệp và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác theo quy định của  
Nghị định này”.  
Như vậy, để gia nhập thị trường và được tiến hành hoạt động kinh doanh, các  
chủ thể kinh doanh phải phải khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về dự kiến  
hoạt động của mình với các thông tin cụ thể, các thông tin này sẽ được lưu giữ tại Cơ  
sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Nhà nước sẽ thừa nhận việc đăng ký  
kinh doanh bằng việc cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Giấy chứng nhận  
đăng ký doanh nghiệp là bằng chứng pháp lý chứng minh chủ thể kinh doanh tiến hành  
các hoạt động kinh doanh một cách hợp pháp, độc lập, bình đẳng với các chủ thể kinh  
doanh khác trong nền kinh tế thị trường và được Nhà nước công nhận, bảo hộ.  
Từ những phân tích trên, đăng ký kinh doanh là một thủ tục pháp lý có tính chất  
bắt buộc đối với các chủ thể kinh doanh, theo đó các chủ thể thực hiện việc đăng ký  
các thông tin theo quy định với cơ quan đăng ký kinh doanh nhằm ghi nhận sự ra đời  
và xác định địa vị pháp lý của chủ thể kinh doanh đó trên thị trường.  
1.1.2. Khái niệm về Đăng ký thành lập doanh nghiệp  
Theo thuật ngữ “đăng ký doanh nghiệp” được giải thích tại Nghị định số  
78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp bao gồm  
“đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký thay đổi những nội dung đăng ký doanh  
nghiệp và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác theo quy định…”  
Về mặt khái quát thì việc đăng ký thành lập doanh nghiệp được tiến hành theo  
quy định của pháp luật tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc thành lập doanh  
nghiệp phải tuân theo quy định của pháp luật trên cơ sở thực hiện các thủ tục đăng ký  
doanh nghiệp để được pháp luật công nhận. Cụ thể hơn việc thành lập doanh nghiệp là  
việc đăng ký xác lập tư cách pháp lý cho doanh nghiệp, xác lập tính hợp pháp của các  
hoạt động kinh doanh dưới sự bảo hộ bởi pháp luật của Nhà nước nói chung.  
Đăng ký thành lập doanh nghiệp là đánh dấu sự khai sinh của một chủ thể kinh  
doanh về mặt pháp lý và được ghi nhận bởi Nhà nước [2]. Bắt đầu từ thời điểm hoàn  
tất tất cả thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh có đầy đủ năng  
lực pháp lý để bắt đầu tiến hành hoạt động kinh doanh tuân theo quy định pháp luật.  
Điều đó đồng nghĩa với việc chủ thể kinh doanh sẽ có điều kiện để thực hiện các hoạt  
động kinh doanh của chính mình khi Nhà nước thừa nhận và đảm bảo đầy đủ về mặt  
pháp lý.  
Đăng ký thành lập doanh nghiệp là một thủ tục hành chính bắt buộc nhằm công  
khai hóa sự ra đời hợp pháp của một chủ thể kinh doanh với cơ quan nhà nước và cộng  
đồng kinh tế. Theo đó, việc kiểm tra tính hợp lệ để cấp giấy chứng nhận đăng ký đăng  
ký doanh nghiệp cho chủ thể kinh doanh sẽ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến  
hành theo đúng luật định. Đây được xem là căn cứ pháp lý nhằm xác lập quyền, nghĩa  
vụ của chủ thể kinh doanh, ghi nhận tư cách pháp nhân và tạo nên tính hợp pháp của  
hoạt động kinh doanh dưới sự bảo hộ, quản lý của Nhà nước với chủ thể kinh doanh.  
pdf 5 trang Thùy Anh 8200 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số vấn đề lý luận về việc đăng kí thành lập doanh nghiệp và pháp luật về đăng kí kinh doanh (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_van_de_ly_luan_ve_viec_dang_ki_thanh_lap_doanh_nghiep.pdf