Pháp luật Hoa Kỳ bảo vệ người mua căn hộ du lịch - Những gợi mở cho Việt Nam

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
PHÁP LUẬT HOA KỲ BẢO VỆ NGƯỜI MUA CĂN HỘ DU LỊCH -  
NHỮNG GỢI MỞ CHO VIỆT NAM  
Đào Thu Hà*  
* ThS. Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.  
Tóm tắt:  
Thông tin bài viết:  
Quy định của pháp luật về căn hộ du lịch tại Hoa Kỳ đã được phát triển theo  
hướng bảo vệ người mua căn hộ du lịch và cũng đã góp phần tạo ra sự thành công  
của mô hình khách sạn kiểu mới ở đất nước này. Mô hình kinh doanh này được  
phổ biến và phát triển nhanh chóng ở nhiều quốc gia khác, trong đó có Việt Nam  
trong giai đoạn hiện nay. Do vậy, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật Hoa  
Kỳ về bảo vệ người mua căn hộ du lịch sẽ là rất hữu ích, để rút ra những gợi mở  
cho việc xây dựng pháp luật nhằm phát triển và vận hành tổ hợp căn hộ du lịch  
ở nước ta trong thời gian tới.  
Từ khóa: Căn hộ du lịch, pháp  
luật về căn hộ du lịch, người  
mua căn hộ du lịch, bảo vệ người  
mua căn hộ du lịch.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 05/02/2021  
: 26/02/2021  
: 03/3/2021  
Abstract:  
Article Infomation:  
In the United States, the legal regulations of the vacation apartments have been  
developed on the orientation towards the protection of the buyers, which has also  
provided a significant contribution to the success of this new type of hotel modality  
in this country. This business model is popular and rapidly developed in many other  
countries, including Vietnam in the current period. Therefore, it is very helpful  
to study the legal regulations of the US on the protection of vacation apartment  
buyers to give out recommendations for the development of legal regulations for  
the vacation apartments in our country in the near future.  
Keywords: Vacation apartment;  
legal regulation on vacation  
apartment; buyers of vacation  
apartments;  
protection  
of  
vacation apartment buyers.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 05 Feb. 2021  
: 26 Feb. 2021  
: 03 Mar. 2021  
Approved  
1. Dẫn nhập  
Hoa Kỳ, rồi sau đó được phổ biến nhanh  
chóng ra nhiều quốc gia khác trên thế giới,  
Từ những năm 1960, nhằm mục đích  
giảm nhẹ gánh nặng chi phí tài chính để  
tài trợ cho việc phát triển dự án khách sạn  
và thu hồi vốn đầu tư nhanh chóng, tổ hợp  
căn hộ du lịch - một mô hình khách sạn  
kiểu mới đầu tiên đã được hình thành tại  
đặc biệt mô hình khách sạn này đã phát  
triển rất mạnh mẽ ở Hồng Kông, Bangkok,  
Bắc Kinh, Manila1. Tuy các tổ hợp căn hộ  
du lịch đã trở nên phổ biến trên thế giới,  
nhưng đến nay, các học giả vẫn chưa thống  
nhất được khái niệm chung về tổ hợp căn  
1 Xem Mark C. K. Lu (2005), The Cause and Consequences of Condo Hotel Conversion in Waikiki, Hawaii,  
Unpublished dissertation, Massachusetts Institute of Technology, USA; và Desire Ann Greenberg (2017), The  
Development, Geography and Organisation of Serviced Apartments in South Africa, Dissertation submitted to  
the Faculty of Science, University of Johannesburg, South Africa.  
54  
Số 07(431) - T4/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
hộ du lịch, thậm chí thuật ngữ sử dụng để  
xác định mô hình khách sạn này cũng rất  
khác nhau ở nhiều quốc gia (ở Hoa Kỳ là  
serviced apartments, condominiums hoặc  
condo-hotel; ở châu Âu là aparthotel và  
corporate housing; ở Vương Quốc Anh là  
commonhold và leasehold; Australia và  
New Zealand là strata và multi strata; ở  
Việt Nam là condotel…). Mặc dù không  
thống nhất được về khái niệm, nhưng các  
nhà nghiên cứu đã cùng chỉ ra một số đặc  
điểm chung của căn hộ du lịch như nó  
cung cấp chỗ ở khép kín, đầy đủ tiện nghi,  
bao gồm một phòng bếp nhỏ, một phòng  
khách bên cạnh (các) phòng ngủ, để phục  
vụ khách lưu trú ngắn hạn với một số dịch  
vụ bổ sung. Ngoài ra, một căn hộ du lịch  
còn có hai thuộc tính pháp lý là: (1) Căn hộ  
thuộc quyền sở hữu của một cá nhân có lợi  
ích riêng biệt; (2) Chủ sở hữu căn hộ cũng  
có quyền sở hữu chung cùng các chủ sở  
hữu căn hộ khác đối với các khu vực chung  
thuộc tòa nhà, mà khu vực chung này được  
vận hành bởi nhà điều hành khách sạn2.  
Nói cách khác, căn hộ du lịch là một căn hộ  
thuộc tòa nhà chung cư mà tòa nhà chung  
cư đó được quản lý và vận hành như một  
khách sạn. Có cùng quan điểm đó, tác giả  
Mark C.K. Lu đã đưa ra khái niệm: “Căn  
hộ du lịch là căn hộ thuộc sở hữu của cá  
nhân hoặc nhà đầu tư nhỏ, nằm trong một  
tòa nhà chung cư được vận hành chuyên  
nghiệp với các dịch vụ và tiện nghi của  
khách sạn”3. Tương tự, Irvin W.Sandman  
and Kelly C. Aldrich cũng cho rằng, tổ hợp  
căn hộ du lịch là khách sạn trong đó một số  
hoặc tất cả các căn hộ được bán cho các cá  
nhân, sau đó mỗi chủ sở hữu căn hộ có thể  
cho thuê căn hộ như một phần hoạt động  
của khách sạn4.  
Có thể thấy rằng, nếu phát triển một  
khách sạn dưới dạng tổ hợp căn hộ du lịch,  
sẽ làm phát sinh các quan hệ mua bán giữa  
nhà đầu tư phát triển tổ hợp căn hộ du lịch  
(nhà đầu tư phát triển) với những người  
mua căn hộ du lịch, nhưng theo sau mối  
quan hệ này là nhiều loại quan hệ khác phát  
sinh như quan hệ giữa người mua với ngân  
hàng cho vay để mua căn hộ du lịch, quan  
hệ giữa nhà đầu tư phát triển với tổ chức  
được thuê để vận hành tổ hợp căn hộ du  
lịch (người vận hành) khi nó được đưa vào  
khai thác, quan hệ giữa người mua - đã trở  
thành chủ sở hữu căn hộ du lịch với người  
vận hành, quan hệ giữa các chủ sở hữu căn  
hộ du lịch với nhau... Nhìn chung, quá trình  
hình thành, phát triển và được đưa vào vận  
hành của tổ hợp căn hộ du lịch có thể đem  
lại lợi ích kinh tế cho tất cả các bên nêu trên.  
Tuy nhiên, nếu như việc khai thác căn hộ du  
lịch không thuận lợi như kỳ vọng và/hoặc  
các thỏa thuận giữa các bên có cấu trúc  
không phù hợp thì tổ hợp căn hộ du lịch khi  
đó lại trở thành một tình huống được - mất -  
được - mất5, mà người chịu rủi ro, thiệt hại  
nhiều nhất trong trường hợp này là chủ sở  
hữu căn hộ du lịch. Do vậy, pháp luật các  
quốc gia khi điều tiết các quan hệ liên quan  
2 Xem Desire Ann Greenberg (2017), The Development, Geography and Organisation of Serviced Apartments  
in South Africa, Dissertation submitted to the Faculty of Science, University of Johannesburg, South Africa.  
3 Xem Mark C. K. Lu (2005), The Cause and Consequences of Condo Hotel Conversion in Waikiki, Hawaii,  
Unpublished dissertation, Massachusetts Institute of Technology, USA.  
4 Xem Irvin W.Sandman and Kelly C. Aldrich (2006), Condo-Hotels: How Developers and Owners’ Associations  
can Avert a Hotel Implosion, Fifh Annual Hospitality Law Conference, Houston, Texas, USA.  
5
Xem Jim Butler and the Global Hospitality Group (2014), Using condo hotels for financing new hotel  
development: Traditional condo hotel structures as “non-securities, https://hotellaw.jmbm.com/original-  
formula-condo-hotels-as-non-securities.html, truy cập ngày 27/8/2020.  
Số 07(431) - T4/2021  
55  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
đến phát triển và vận hành tổ hợp căn hộ  
du lịch thường có xu hướng bảo vệ chủ thể  
là người mua căn hộ du lịch, mà người này  
sau đó trở thành chủ sở hữu căn hộ du lịch,  
nhằm bảo đảm lợi ích chính đáng của tất cả  
các bên trong mối quan hệ với nhau.  
hệ thống pháp luật Hoa Kỳ còn có tính phức  
tạp về cấu trúc, hệ thống đó là tập hợp của  
hệ thống pháp luật liên bang và 50 hệ thống  
pháp luật tiểu bang6. Do đó, cũng như nhiều  
lĩnh vực pháp luật khác tại Hoa Kỳ, pháp  
luật bảo vệ người mua căn hộ du lịch là  
tập hợp các quy định của pháp luật thành  
văn và các nguyên tắc pháp lý nằm rải rác  
ở nhiều đạo luật được ban hành bởi các cơ  
quan lập pháp liên bang và các tiểu bang,  
cùng với nhiều phán quyết giải quyết các  
tranh chấp cụ thể của các tòa án liên bang  
và các tiểu bang.  
Ở Việt Nam, tổ hợp căn hộ du lịch đầu  
tiên đã xuất hiện vào năm 2009 và sau đó  
rất nhiều dự án tổ hợp căn hộ du lịch đã  
được chào bán, đặc biệt là trong giai đoạn  
năm 2016 đến 2018. Trong thời gian này,  
nhiều vấn đề phức tạp đã phát sinh từ mối  
quan hệ giữa bên bán và bên mua căn hộ du  
lịch, mà người mua đang là bên chịu nhiều  
rủi ro, thua thiệt hơn. Cụ thể, gần đây liên  
tiếp xảy ra tình trạng nhà đầu tư phát triển  
tuyên bố không tiếp tục chi trả lợi nhuận  
như đã cam kết, đồng thời người mua căn  
hộ còn phải chịu tiền lãi ngân hàng cho  
khoản tiền vay để mua căn hộ du lịch, nhiều  
trường hợp người mua còn chưa được nhận  
bàn giao căn hộ du lịch (trường hợp tổ hợp  
căn hộ du lịch Cocobay - Đà Nẵng và tổ hợp  
căn hộ du lịch của tập đoàn FLC)… Thực  
tiễn này dẫn đến nhu cầu cần phải có các  
quy định để điều chỉnh hiệu quả các mối  
quan hệ phát sinh trong quá trình phát triển  
và vận hành tổ hợp căn hộ du lịch tại Việt  
Nam; trong đó, cần có những quy định bảo  
vệ quyền, lợi ích chính đáng của chủ sở hữu  
căn hộ du lịch.  
Vì quan hệ giữa người mua căn hộ du  
lịch với các bên khác như nhà đầu tư phát  
triển, người vận hành… liên quan đến phát  
triển và vận hành căn hộ du lịch là các mối  
quan hệ tư nên các quan hệ này trước hết  
được điều chỉnh bởi pháp luật hợp đồng.  
Bên cạnh đó, do căn hộ du lịch là một bộ  
phận của khách sạn kiểu mới - là loại khách  
sạn được phát triển dưới dạng chung cư,  
nên các quy định về nhà chung cư cũng  
là một trong những nguồn luật quan trọng  
điều chỉnh mối quan hệ giữa người mua căn  
hộ du lịch (mà sau khi tiếp nhận quyền sở  
hữu thông qua việc mua bán căn hộ du lịch  
thì người mua trở thành chủ sở hữu căn hộ  
du lịch) với các bên khác trong việc quản  
lý và vận hành tổ hợp căn hộ du lịch. Như  
vậy, dựa trên đặc điểm của các quan hệ xã  
hội giữa một bên là người mua căn hộ du  
lịch với (các) bên khác liên quan trong quá  
trình khai thác và vận hành tổ hợp căn hộ du  
lịch thì nguồn luật điều chỉnh quan hệ giữa  
người mua căn hộ du lịch và các bên khác  
chỉ gồm luật hợp đồng và luật chung cư như  
đã nêu ra ở trên. Tuy nhiên, với bản chất của  
một hệ thống thông luật đầy tính sáng tạo  
và không ngừng phát triển, hệ thống pháp  
2. Pháp luật bảo vệ người mua căn hộ du  
lịch tại Hoa Kỳ  
Hệ thống pháp luật Hoa Kỳ là hệ thống  
pháp luật thông luật (Common Law) có  
nguồn gốc từ nước Anh, nhưng đồng thời  
hệ thống này cũng bao gồm cả những quy  
định của pháp luật thành văn rất phát triển.  
Không chỉ có tính phức tạp về nguồn luật,  
6 Xem Alan B. Morrison (ed.,1998), Những vấn đề cơ bản của luật pháp Mỹ, do Lê Thị Thu và cộng sự dịch,  
Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
56  
Số 07(431) - T4/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
luật Hoa Kỳ đã dần dần, từng bước xác lập  
các quy tắc pháp lý mới thông qua thực tiễn  
xét xử của tòa án đối với các tranh chấp cụ  
thể, và thực tế là vào năm 1946, việc xét xử  
vụ án Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch  
(Securities and Exchange Commission -  
SEC) kiện W.J. Howey Co.7 tại tòa án đã  
mở ra khả năng cho phép người mua căn hộ  
du lịch có thể sử dụng Luật Chứng khoán  
năm 1933 (Securities Act) để bảo vệ quyền  
và lợi ích của mình trong mối quan hệ với  
nhà đầu tư phát triển tổ hợp căn hộ du lịch.  
Từ án lệ nêu trên, năm 1973, SEC đã ban  
hành Thông cáo số 33-5347 xác định, nếu  
việc chào bán các căn hộ chung cư kèm theo  
một chương trình quản lý cho thuê thì giao  
dịch mua bán căn hộ khi đó sẽ được xem là  
một hợp đồng đầu tư được điều chỉnh bởi  
luật chứng khoán8.  
để điều chỉnh việc phát triển và quản lý nhà  
chung cư với mục đích chủ yếu là bảo vệ  
người mua và chủ sở hữu căn hộ chung cư9.  
Còn luật hợp đồng (khác với hai lĩnh vực  
luật chứng khoán và luật chung cư) là lĩnh  
vực thông luật, đó là tập hợp của các tiền  
lệ tư pháp - kết quả của việc giải quyết các  
tranh chấp hợp đồng riêng rẽ, mà từ đó xác  
lập các quyền và nghĩa vụ của các bên tư  
nhân trong việc hình thành, thực thi và kết  
thúc các thỏa thuận trên cơ sở nhất trí của  
các bên10.  
2.1. Bảo vệ người mua căn hộ du lịch  
trong luật chứng khoán Hoa Kỳ  
Luật chứng khoán hay nói chính xác  
hơn là các quy định của pháp luật điều tiết  
thị trường chứng khoán, bao gồm Luật  
Chứng khoán năm 1933; Luật về Sở giao  
dịch chứng khoản năm 1934; và bốn (04)  
văn bản luật khác cùng được ban hành năm  
1988 là: Luật Công ty đầu tư; Luật Tư vấn  
đầu tư; Luật Thoả thuận tín thác; Luật Công  
ty mẹ - con công ích. Luật Chứng khoán  
năm 1933 đã giải thích thuật ngữ “chứng  
khoán” có nghĩa là bất kỳ ghi chú nào, cổ  
phiếu, cổ phiếu quỹ, chứng khoán tương lai,  
hoán đổi dựa trên chứng khoán, trái phiếu,  
giấy ghi nợ, bằng chứng mắc nợ, chứng  
chỉ lãi suất hoặc tham gia vào bất kỳ thỏa  
thuận phân chia lợi nhuận nào, chứng chỉ tài  
sản đảm bảo, chứng chỉ hoặc đăng ký mua  
chứng khoán chưa phát hành, cổ phần có  
thể chuyển nhượng, hợp đồng đầu tư, chứng  
Như vậy, pháp luật bảo vệ người mua  
căn hộ du lịch tại Hoa Kỳ bao gồm các quy  
định của luật chứng khoán, luật chung cư và  
luật hợp đồng. Trong đó, luật chứng khoán  
(sẽ được áp dụng điều chỉnh quan hệ mua  
bán căn hộ du lịch nếu việc chào bán căn  
hộ du lịch ban đầu cấu thành một hợp đồng  
đầu tư; còn các vấn đề khác về phát triển  
và vận hành căn hộ du lịch sẽ được điều  
chỉnh bởi luật chung cư và luật hợp đồng.  
Luật chung cư (từ năm 1980) là tập hợp  
những quy định của pháp luật do cơ quan  
lập pháp ở các tiểu bang ban hành trên cơ sở  
những quy định của Luật Chung cư thống  
nhất (Uniform Condominium Act - UCA)  
7 Xem Supreme Court of The United States (1946), Securities and Exchange Commission v. W. J. Howey Co.,  
328 U.S. 293, USA.  
8 Xem Arthur Spaulding (2013), Condo-Hotel Unit Sales, Rental Programs and Securities Laws, https://www.  
hotelexecutive.com/business_review/3677/condo-hotel-unit-sales-rental-programs-and-securities-laws, truy  
cập ngày 21/8/2020.  
9 Xem Alan B. Morrison (ed.,1998), Những vấn đề cơ bản của luật pháp Mỹ, do Lê ị u và cộng sự dịch, Nxb.  
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
10 Mặc dù vậy, trong những năm gần đây, nguồn của luật hợp đồng ở Hoa Kỳ còn bao gồm một số quy định  
(đặc biệt là Điều 2) tại Bộ luật Thương mại thống nhất (Uniform Commercial Code – UCC).  
Số 07(431) - T4/2021  
57  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
chỉ ủy thác biểu quyết…, hay bất kỳ lãi suất  
hoặc công cụ nào thường được gọi là chứng  
khoán…11. Theo định nghĩa đó, “chứng  
khoán” là một thuật ngữ có thể sử dụng để  
mô tả cho vô số kế hoạch được nghĩ ra bởi  
những người muốn tìm cách sử dụng tiền  
của người khác kèm theo cam kết chia sẻ  
lợi nhuận với người đầu tư. Tuy vậy, Luật  
Chứng khoán năm 1933 không giải thích thế  
nào là hợp đồng đầu tư, và phải thông qua  
vụ án Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch  
kiện W.J. Howey Co. vào năm 1946, Tòa  
án tối cao liên bang mới diễn giải về khái  
niệm này. Trong vụ án đó, W.J. Howey Co.  
bị kiện vì đã chào bán các phần đất trong  
khu đất trồng cam ở Florida của mình cho  
những người mua (hầu hết là những người  
không sống ở Florida và không phải là nông  
dân), kèm theo những lời giới thiệu về việc  
người mua đất có thể lựa chọn sử dụng dịch  
vụ chăm sóc vườn cam được cung cấp bởi  
Howey-in-the-Hills Service, Inc.12 (Công  
ty dịch vụ). Công ty dịch vụ này cũng làm  
đại lý tiếp thị và tiêu thụ trái cây thu hoạch  
được từ vườn cây của người mua. Khi chào  
bán các phần đất đó, W.J. Howey Co. đã  
nhấn mạnh tính ưu việt của dịch vụ do Công  
ty dịch vụ cung cấp và hứa hẹn lợi nhuận  
đáng kể mà người mua đất có thể thu được.  
Theo Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch,  
việc chào bán tài sản và dịch vụ của W.J.  
Howey Co. như trên là cấu thành việc chào  
bán chứng khoán, nhưng công ty này không  
thực hiện việc công khai thông tin theo quy  
định của Luật Chứng khoán năm 1933.  
Tòa án tối cao liên bang đã kết luận hoạt  
động chào bán tài sản của W.J. Howey là  
hợp đồng đầu tư theo nghĩa của Luật Chứng  
khoán năm 1933 và đưa ra diễn giải về hợp  
đồng đầu tư, đó là hợp đồng hay giao dịch  
hoặc kế hoạch mà theo đó một người đầu  
tư tiền của mình vào một doanh nghiệp và  
dẫn đến việc mong đợi lợi nhuận chỉ từ nỗ  
lực của người quảng bá hoặc bên thứ ba,  
không phụ thuộc vào việc cổ phần tại doanh  
nghiệp đó được chứng minh bằng chứng  
chỉ chính thức hoặc bằng lợi ích danh nghĩa  
đối với tài sản vật chất được sử dụng trong  
doanh nghiệp đó13. Trên cơ sở án lệ Howey  
nêu trên, năm 1973, Ủy ban Chứng khoán  
và Giao dịch đã phát hành Thông cáo số  
33-5347 (Thông cáo số 33) về hướng dẫn  
áp dụng luật chứng khoán liên bang đối với  
việc bán căn hộ chung cư và các đơn vị bất  
động sản. Nội dung Thông cáo số 33 nêu rõ  
rằng khi chào bán căn hộ chung cư và đồng  
thời đưa ra một trong các loại gợi ý hoặc đề  
nghị14 sau đây sẽ bị coi là chào bán chứng  
khoán dưới hình thức hợp đồng đồng tư15:  
(1) Giới thiệu về các hình thức cho thuê  
căn hộ hoặc dịch vụ tương tự với mục đích  
nhấn mạnh lợi ích kinh tế mà người mua sẽ  
thu được từ nỗ lực quản lý của người xúc tiến  
(hoặc bên thứ ba do người xúc tiến chỉ định  
hoặc sắp xếp, và từ tiền cho thuê căn hộ;  
(2) Đề nghị tham gia vào thỏa thuận cho  
thuê hồ bơi;  
(3) Đề nghị cho thuê hoặc thỏa thuận  
tương tự, theo đó người mua phải giữ căn  
11 Xem Sec. 2 (a) (1) Securities Act (1933).  
12 Đây là công ty được sở hữu và điều hành bởi chính người sở hữu và điều hành của W.J. Howey Co.  
13 Xem Supreme Court of The United States (1946), Securities and Exchange Commission v. W. J. Howey Co.,  
328 U.S. 293, USA.  
14  
Các gợi ý hoặc đề nghị này có thể được đưa ra dưới dạng các quảng cáo, tài liệu bán hàng, chương trình  
khuyến mại hoặc được tuyên bố bằng miệng nhằm nhấn mạnh lợi ích kinh tế mà người mua căn hộ có thể thu  
được từ nỗ lực quản lý của người bán hoặc bên thứ ba được người bán chỉ định.  
15 Xem Securities and Exchange Commission (1973), Condominium Release No. 33-5347, USA.  
58  
Số 07(431) - T4/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
hộ của mình có sẵn để cho thuê trong bất  
kỳ thời điểm nào trong năm, phải sử dụng  
đại lý cho thuê độc quyền hoặc người mua  
bị hạn chế nghiêm ngặt trong việc sử dụng  
hoặc tự cho thuê căn hộ của mình.  
khoán, Luật Chứng khoán năm 1933 đã tạo  
ra một cơ chế công khai thông tin bắt buộc  
đối với người phát hành chứng khoán khi  
chào bán chứng khoán ra công chúng. Nội  
dung của Luật này xuất phát từ lý thuyết  
cho rằng, việc bán một khoản đầu tư tồi  
là bất hợp pháp, trừ khi tất cả mọi thông  
tin về khoản đầu tư tồi đó được cung cấp  
chính xác cho người mua. Theo đó, Luật  
Chứng khoán năm 1933 đảm bảo rằng:  
(1) Nhà đầu tư phải nhận được đầy đủ và  
chính xác thông tin về chứng khoán trước  
khi họ quyết định đầu tư; (2) Người phát  
hành có nghĩa vụ cung cấp thông tin đầy đủ  
và chịu trách nhiệm đối với tính chính xác  
của thông tin về chứng khoán chào bán20.  
Cụ thể Luật Chứng khoán năm 1933 buộc  
tất cả người phát hành chứng khoán ra công  
chúng phải có một bản tuyên bố được đăng  
ký với Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch  
trước khi chào bán một chứng khoán, kể cả  
khi họ thông qua các tổ chức thương mại  
xuyên bang để bán một chứng khoán cho  
mình thì họ vẫn phải đăng ký bản tuyên bố  
như vậy. Nội dung của bản tuyên bố phải có  
32 nhóm thông tin được yêu cầu theo phụ  
lục A của Luật Chứng khoán năm 1933, bao  
gồm: Các thông tin mô tả về người (công ty)  
phát hành chứng khoán; thông tin mô tả về  
loại chứng khoán, số lượng và giá cả chứng  
khoán được chào bán, ước tính số tiền thu  
được từ bán chứng khoán, số tiền phải trả  
cho các bên bảo lãnh phát hành và môi giới  
Thông cáo số 33 cho thấy Luật Chứng  
khoán năm 1933 có thể điều chỉnh việc chào  
bán căn hộ du lịch nếu việc chào bán đó cấu  
thành hợp đồng đầu tư như chỉ dẫn ở Thông  
cáo, điều này cũng có nghĩa là không phải  
mọi trường hợp chào bán căn hộ du lịch đều  
là chào bán chứng khoán. Trường hợp chào  
bán căn hộ du lịch không bị coi là chào bán  
chứng khoán đã được chỉ ra trong Thư cấm  
hành động của SEC gửi cho Intrawest16 (Thư  
cấm hành động) để phản hồi đối với các yêu  
cầu cần giải đáp của công ty này vào năm  
2002. Thực chất Thư cấm hành động này là  
một Thông cáo cập nhật, sửa đổi của Thông  
cáo số 3317. Nội dung Thư cấm hành động  
đã đưa ra một danh sách các hướng dẫn về  
cách thức chào bán căn hộ du lịch mà không  
bị coi là chào bán chứng khoán18. Theo các  
khuyến nghị trong Thư cấm hành động nêu  
trên, nếu căn hộ du lịch được bán tách rời  
và không liên quan với các cuộc thảo luận  
về tiềm năng cho thuê căn hộ du lịch đó thì  
việc chào bán căn hộ du lịch không phải là  
chào bán chứng khoán và không chịu sự điều  
chỉnh của Luật Chứng khoán năm 193319.  
Với mục đích hạn chế hành vi đầu cơ  
để kiếm lời bất chính trên thị trường chứng  
16 Intrawest là một trong những nhà phát triển và điều hành các khu nghỉ dưỡng trên núi hàng đầu ở Bắc Mỹ.  
17 Thông cáo số 33 đã được cập nhật (sửa đổi) nhiều lần, trong đó bổ sung thêm các tình huống chào bán căn  
hộ du lịch được coi là chào bán chứng khoán, và lần sửa đổi gần đây nhất của Thông cáo này chính là Thư cấm  
hành động của SEC gửi cho Intrawest.  
18  
Xem Securities and Exchange Commission (2002), No Action, Interpretive and/or Exemptive Letter:  
Intrawest Corporation, USA.  
19  
Xem Arthur Spaulding (2013), Condo-Hotel Unit Sales, Rental Programs and Securities Laws, https://  
truy cập ngày 21/8/2020.  
20 Xem United States Congress (1933), Securities Act, USA.  
Số 07(431) - T4/2021  
59  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
chào bán chứng khoán; kế hoạch sử dụng  
số tiền thu được từ bán chứng khoán; mô tả  
về quyền lợi của người mua chứng khoán  
(bao gồm quyền thanh lý chứng khoán); mô  
tả về đặc điểm sở hữu vốn và lợi ích của  
những người quản lý (giám đốc) ở công ty  
phát hành chứng khoán; báo cáo tài chính  
và bảng cân đối kế toán của công ty phát  
hành chứng khoán21. Người phát hành  
chứng khoán cũng bị yêu cầu phải chịu  
trách nhiệm nghiêm ngặt về những thông  
tin trong bản tuyên bố đã đăng ký, cũng như  
chịu trách nhiệm cập nhật các thông tin để  
không xảy ra tình trạng thông tin sai lệch  
về việc chào bán hoặc bán chứng khoán22.  
Có thể nói rằng, bằng cách bắt buộc người  
bán chứng khoán phải công khai thông tin  
về chứng khoán và việc bán chứng khoán,  
Luật Chứng khoán năm 1933 đã tạo cho nhà  
đầu tư (mua chứng khoán) quyền được biết  
đầy đủ thông tin để tự bảo vệ mình trong  
việc mua chứng khoán. Ngược lại, trong  
trường hợp người bán không thực hiện  
nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định  
hoặc không trung thực thì luật này là cở sở  
để tòa án tuyên bố giao dịch mua bán chứng  
khoán là vô hiệu theo yêu cầu của người  
mua và buộc người bán chứng khoán phải  
hoàn trả tiền và bồi thường thiệt hại cho  
người mua.  
không tuân thủ quy định đăng ký bán chứng  
khoán với SEC. Các nguyên đơn đã yêu cầu  
biện pháp khắc phục là hủy bỏ hợp đồng  
mua bán của họ và bị đơn phải bồi thường  
thiệt hại. Những vụ kiện như thế này thường  
xảy ra do những người mua căn hộ du lịch  
không nhận được lợi nhuận đã kỳ vọng và  
nếu có thể viện dẫn được luật chứng khoán  
trong vụ kiện của mình thì họ sẽ thoát khỏi  
hợp đồng mua bán căn hộ du lịch23. Một số  
vụ kiện cáo buộc bên bán căn hộ du lịch vi  
phạm luật chứng khoán như vậy đã thành  
công, nhưng một số khác thì bị Tòa án bác  
bỏ do không đủ bằng chứng về việc người  
bán căn hộ du lịch đã chào bán nó cùng với  
quảng cáo, chương trình khuyến mại, hoặc  
cung cấp thông tin nhằm nhấn mạnh lợi ích  
kinh tế do căn hộ du lịch đem lại, làm cho  
người mua kỳ vọng về việc thu được lợi  
nhuận chỉ từ nỗ lực quản lý, kinh doanh của  
người bán hoặc bên thứ ba được người bán  
chỉ định. Các phán quyết của Tòa án hủy bỏ  
hợp đồng mua bán căn hộ du lịch là kết quả  
của việc áp dụng Luật Chứng khoán năm  
1933 để có thể bảo vệ quyền lợi cho người  
mua căn hộ du lịch trong mối quan hệ với  
người bán. Các vụ kiện đòi hủy hợp đồng  
mua bán và đòi bồi thường của người mua  
căn hộ du lịch đã ảnh hưởng đến phương  
thức chào bán căn hộ du lịch. Trong thời  
gian gần đây, các nhà đầu tư phát triển đã  
dựa vào gợi ý của Thư cấm hành động để  
thiết kế các chương trình bán căn hộ du lịch  
sao cho việc chào bán không bị coi là chào  
bán chứng khoán dưới dạng hợp đồng đầu  
tư, từ đó né tránh việc tuân thủ các quy định  
của Luật Chứng khoán năm 1933. Nhưng  
Thực tế ở Hoa Kỳ đã có nhiều vụ kiện  
trong đó người mua căn hộ du lịch kiện nhà  
đầu tư phát triển tổ hợp căn hộ du lịch với  
cáo buộc rằng nhà đầu tư phát triển đã vi  
phạm luật chứng khoán liên bang do bán các  
căn hộ du lịch như một loại chứng khoán mà  
21 Xem Sec. 7 và Schedule A của Securities Act (1933).  
22 Xem Alan B. Morrison (ed.,1998), Những vấn đề cơ bản của luật pháp Mỹ, do Lê Thị Thu và cộng sự dịch,  
Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
23  
Xem Dan Brown (2010), Condo Hotels As Securities: Has the Litigation Boom Begun?, https://www.  
hotelexecutive.com/business_review/1293/condo-hotels-as-securities-has-the-litigation-boom-begun,truycập  
ngày 21/8/2020.  
60  
Số 07(431) - T4/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
dù sao, Luật chứng khoán cũng đã cung  
cấp một trong số những giải pháp để bảo vệ  
người mua căn hộ du lịch trong mối quan hệ  
với các nhà đầu tư phát triển.  
là sự xuất hiện nhiều hơn của các tổ hợp căn  
hộ du lịch tại Hoa Kỳ24.  
Ngoài các điều khoản chung xác định  
các khái niệm được áp dụng chung, Luật  
Chung cư thống nhất quy định về bốn vấn  
đề sau: (1) Tạo lập, thay đổi và chấm dứt  
hoạt động của nhà chung cư; (2) Quản lý  
nhà chung cư; (3) Bảo vệ người mua căn  
hộ; (4) Quản lý hành chính và việc đăng ký  
nhà chung cư. Trong đó, các quy định về  
tạo lập, thay đổi và chấm dứt hoạt động của  
nhà chung cư cho phép nhà đầu tư phát triển  
có thể linh hoạt trong việc tạo ra một dự án  
chung cư, các điều khoản hạn chế hoạt động  
của nhà đầu tư phát triển có thể gây hại cho  
người mua căn hộ cũng được đưa ra nhưng  
có nội dung hợp lý hơn so với các quy định  
về nhà chung cư trước đó.  
2.2. Bảo vệ người mua căn hộ du lịch  
trong luật chung cư Hoa Kỳ  
Do tổ hợp căn hộ du lịch vừa là khách sạn  
nhưng đồng thời cũng là một chung cư, nên  
việc quản lý, vận hành, khai thác tổ hợp căn  
hộ du lịch phải chịu sự điều chỉnh của Luật  
Chung cư thống nhất. Luật Chung cư thống  
nhất được Ủy ban Luật thống nhất (Uniform  
Law Commission - ULC) soạn thảo và giới  
thiệu năm 1980, sau đó đã được cơ quan  
lập pháp của các bang thông qua (có một số  
sửa đổi) trở thành Luật Chung cư của các  
bang. Trước khi có Luật Chung cư thống  
nhất năm 1980, việc phát triển và quản lý  
nhà chung cư được điều chỉnh bằng các quy  
định của luật bất động sản và các luật sở  
hữu nhà chung cư do cơ quan lập pháp của  
các bang ban hành. Những quy định này đã  
tạo ra những ràng buộc ngoài ý muốn đối  
với cả nhà phát triển chung cư và chủ sở  
hữu căn hộ (trước đó chính là người mua  
căn hộ). Chúng can thiệp không cần thiết  
vào hoạt động phát triển nhà chung cư của  
các nhà phát triển, đồng thời cũng can thiệp  
không cần thiết đối với quyền tự quản lý tài  
sản của các chủ sở hữu căn hộ đối với khu  
chung cư sau khi nhà phát triển bàn giao tòa  
nhà cho các chủ sở hữu. Nhìn chung, Luật  
Chung cư thống nhất có tính linh hoạt cao,  
nó vừa bảo vệ lợi ích của các chủ sở hữu  
căn hộ, trong khi vẫn cho phép các bên liên  
quan đến nhà chung cư thực hiện những ý  
tưởng đổi mới. Do vậy, từ khi Luật Chung  
cư thống nhất được cơ quan lập pháp các  
bang thông qua, các dự án nhà chung cư đã  
có một sự phát triển nhanh chóng, đặc biệt  
Luật Chung cư thống nhất quy định về  
cách thức tổ chức Hiệp hội các chủ sở hữu  
căn hộ, quy định nhiệm vụ và quyền hạn  
của Hiệp hội, việc bầu cử hoặc bãi bỏ các  
chức danh quản lý trong Hiệp hội, các quy  
tắc trong quản lý nhà chung cư…; theo đó  
các chủ sở hữu căn hộ được quyền tham gia  
trở thành thành viên của ban điều hành nhà  
chung cư trong giai đoạn đầu của quá trình  
phát triển dự án, cũng như sau đó tham gia  
vào quá trình quản lý nhà chung cư.  
Luật Chung cư thống nhất cũng quy định  
về việc chào bán công khai căn hộ chung  
cư của nhà đầu tư phát triển, quy định trách  
nhiệm bảo đảm chất lượng căn hộ và bảo  
hành, trách nhiệm pháp lý đối với các hành  
vi lạm dụng của nhà đầu tư phát triển, quy  
định người tiêu dùng phải công bố thông  
tin khai báo trước khi chuyển nhượng căn  
hộ cho người mua khác… Cuối cùng, Luật  
Chung cư thống nhất đề cập đến việc quản  
24 Xem Stephen B. Cohen,Allen Goldberg and Conrad M. Mulvaney (1981), Condominium Law:Acomparison  
of the Uniform Act with the Illinois Act, The John Marshall Law Review, 14 (2), 387-440.  
Số 07(431) - T4/2021  
61  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
lý hành chính và đăng ký đối với nhà chung  
cư, quy định về việc giám sát hành chính  
đối với hoạt động của những người có nghĩa  
vụ kê khai các thông tin về nhà chung cư.  
hành hiệp hội) của chủ sở hữu căn hộ nếu  
người đó không nộp quỹ Hiệp hội. Hiệp hội  
cũng phải tuân theo các hạn chế như không  
được ngừng cung cấp dịch vụ cho căn hộ  
hoặc chủ sở hữu căn hộ không nộp quỹ nếu  
việc ngừng cung cấp dịch vụ đó gây nguy  
hiểm cho sức khỏe, sự an toàn hoặc tài sản  
của người khác.  
Điểm tiến bộ nhất của Luật Chung cư  
thống nhất so với các quy định trước đây về  
nhà chung cư do các bang ban hành là: Quy  
định của Luật Chung cư thống nhất hướng  
tới bảo vệ chủ sở hữu căn hộ. Điều này chủ  
yếu được thể hiện thông qua quy định về  
thành lập, quản lý và chấm dứt hoạt động  
của Hiệp hội các chủ sở hữu. Chính việc áp  
dụng các quy định này trong quá trình quản  
lý, vận hành các tổ hợp căn hộ du lịch đã góp  
phần bảo vệ quyền, lợi ích cho các chủ sở  
hữu căn hộ25. Theo quy định của Điều 3 Luật  
Chung cư thống nhất, việc tổ chức Hiệp hội  
các chủ sở hữu căn hộ phải được thực hiện  
ngay khi chủ sở hữu căn hộ đầu tiên chuyển  
đến; Hiệp hội luôn bao gồm tất cả các chủ sở  
hữu căn hộ; Hiệp hội phải được tổ chức dưới  
dạng một công ty hoặc quỹ tín thác, hoặc bất  
kỳ hình thức tổ chức nào khác do pháp luật  
bang cho phép; Hiệp hội phải có ban điều  
hành do Hiệp hội bầu (hoặc khi chưa thành  
lập Hiệp hội sẽ do nhà đầu tư phát triển chỉ  
định). Văn bản luật này cũng xác định các  
quyền hạn và nhiệm vụ của Hiệp hội các chủ  
sở hữu như: Hiệp hội có thể thông qua và  
sửa đổi các quy tắc của nhà chung cư; quản  
lý ngân sách chung, quyết định đầu tư quỹ  
của Hiệp hội; quyết định việc sửa chữa; có  
thể thuê và sa thải nhà vận hành khách sạn,  
hoặc các nhân viên khác, các nhà thầu sửa  
chữa độc lập; có thể khởi kiện hoặc đại diện  
các chủ sở hữu căn hộ khởi kiện các bên gây  
ảnh hưởng đến lợi ích chung của nhà chung  
cư, có quyền đình chỉ bất kỳ quyền hoặc đặc  
quyền nào (trừ quyền sử dụng căn hộ, quyền  
biểu quyết và tham gia ứng cử vào ban điều  
Đối với ban điều hành của Hiệp hội các  
chủ sở hữu, Luật Chung cư Thống nhất  
cũng áp đặt các nhiệm vụ cho ban điều  
hành như phải quan tâm và trung thành với  
lợi ích của Hiệp hội, phải tuân thủ các quy  
tắc tránh xung đột lợi ích giống như các  
quy định của pháp luật về trách nhiệm của  
giám đốc và người quản lý của công ty. Bên  
cạnh đó, Luật Chung cư thống nhất cũng  
trao quyền cho chủ sở hữu căn hộ có thể  
khởi kiện Hiệp hội các chủ sở hữu nếu Hiệp  
hội và ban điều hành vì đã có sơ suất, có vi  
phạm hợp đồng, nghĩa vụ đã được ủy thác  
hoặc tiêu chuẩn quản lý, bảo dưỡng, bảo trì  
nhà chung cư.  
Như vậy, các quy định của Luật Chung  
cư thống nhất, trong đó đặc biệt là những  
quy định về Hiệp hội các chủ sở hữu đã tạo  
ra điều kiện thuận lợi để các chủ sở hữu căn  
hộ du lịch có thể quản lý tài sản của mình  
hiệu quả hơn, tránh sự lạm dụng, xâm hại  
quyền lợi của mình bởi tổ chức vận hành  
khách sạn hay nhà đầu tư phát triển, vì họ  
có cơ hội tham gia một phần vào việc quản  
lý, giám sát việc quản lý tài sản là căn hộ  
du lịch của mình, cụ thể là họ có thể tham  
gia vào quyết định thuê hoặc hoặc chấm dứt  
việc thuê tổ chức vận hành khách sạn, tham  
gia vào quyết định bảo trì, nâng cấp tổ hợp  
căn hộ du lịch và các tiện ích phục vụ hoạt  
động của tổ hợp căn hộ du lịch… dù cho  
nhà đầu tư phát triển có giữ lại phần lớn căn  
25  
Xem Irvin W.Sandman and Kelly C. Aldrich (2006), Condo-Hotels: How Developers and Owners’  
Associations can Avert a Hotel Implosion, Fifth Annual Hospitality Law Conference, Houston, Texas, USA.  
62  
Số 07(431) - T4/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
hộ du lịch và các tiện ích thương mại của tổ  
hợp căn hộ du lịch.  
cần phải đặt ra những quy định về nghĩa vụ  
cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về  
đối tượng giao dịch.  
3. Những gợi mở cho Việt Nam  
Quy định về nghĩa vụ cung cấp thông  
tin của người phát hành chứng khoán  
trong Luật Chứng khoán năm 1933 của  
Hoa Kỳ là gợi ý tốt để xây dựng các quy  
định của pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ  
cung cấp thông tin của nhà đầu tư phát  
triển khi chào bán căn hộ du lịch. Trong  
bối cảnh của Việt Nam hiện nay, những  
quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin  
đó nên được xây dựng và ban hành dưới  
hình thức nghị định của Chính phủ, bao  
gồm những nội dung cơ bản sau:  
Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của  
pháp luật của Hoa Kỳ về căn hộ du lịch, có  
thể rút ra một số gợi mở cho quá trình xây  
dựng pháp luật nhằm phát triển và vận hành  
tổ hợp căn hộ du lịch tại Việt Nam sau đây:  
3.1. Xây dựng quy định nhằm đảm  
bảo quan hệ giữa nhà đầu tư phát triển  
và người mua căn hộ du lịch được xác  
lập trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết,  
thỏa thuận  
Pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa nhà  
đầu tư phát triển và người mua căn hộ du  
lịch nói riêng và pháp luật điều chỉnh các  
quan hệ tư nói chung phải đảm bảo các  
quan hệ này được xác lập trên cơ sở tự do,  
tự nguyện cam kết. Bởi vì, chỉ khi các bên  
tham gia giao dịch được tự do cân nhắc  
đưa ra quyết định và tự nguyện cam kết  
xác lập giao dịch thì giao dịch đó mới được  
coi là công bằng và có hiệu lực ràng buộc  
đối với các bên. Tự do, tự nguyện cam kết  
nghĩa là không bên nào vì bị ép buộc, bị đe  
dọa mà phải tham gia giao dịch mà mình  
không mong muốn, nó cũng có nghĩa là  
không bên nào vì bị lừa dối hay bị nhầm  
lẫn mà đi đến quyết định tham gia giao  
dịch. Tự do, tự nguyện cam kết cũng đòi  
hỏi các bên phải được biết đầy đủ và chính  
xác về tất cả các thông tin liên quan đến  
đối tượng của giao dịch và điều kiện giao  
dịch, đặc biệt là đối với các trường hợp mà  
sự bất cân xứng về thông tin giữa các bên  
trong giao dịch có thể gây thiệt hại lớn cho  
một bên và đem lại lợi nhuận không chính  
đáng cho bên còn lại. Do vậy, nhằm đảm  
bảo quan hệ giữa nhà đầu tư phát triển và  
người mua căn hộ du lịch được xác lập trên  
cơ sở tự do, tự nguyện, pháp luật Việt Nam  
Thứ nhất, quy định về hình thức cung  
cấp thông tin. Nhà đầu tư phát triển phải  
cung cấp thông tin dưới dạng một bản tuyên  
bố, và bản tuyên bố thông tin này phải được  
đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước. Sự  
tham gia của cơ quan quản lý nhà nước  
trong trường hợp này là cần thiết để kiểm  
soát tính đầy đủ của các thông tin được cung  
cấp, bảo vệ lợi ích của người mua căn hộ du  
lịch. Nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm về  
tính đầy đủ và trung thực của các thông tin  
trong bản tuyên bố.  
Thứ hai, quy định về cơ quan quản lý  
nhà nước tổ chức thực hiện đăng ký bản  
tuyên bố của nhà đầu tư phát triển. Nhằm  
đảm bảo sự quản lý thống nhất, việc đăng  
ký bản tuyên bố của nhà đầu tư phát triển  
cần được giao cơ quan quản lý xây dựng  
ở địa phương (Sở Xây dựng). Vì việc phát  
triển tổ hợp căn hộ du lịch liên quan đến cấp  
phép, quản lý xây dựng công trình, đồng  
thời, quá trình vận hành tổ hợp căn hộ du  
lịch cũng liên quan đến quản lý, sử dụng  
chung cư hiện cũng đang thuộc quyền quản  
lý của cơ quan này. Sở Xây dựng có trách  
nhiệm tiếp nhận, kiểm tra bản tuyên bố do  
nhà đầu tư phát triển đăng ký và phải công  
Số 07(431) - T4/2021  
63  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
khai đầy đủ bản tuyên bố của nhà đầu tư  
phát triển ngay khi nó đáp ứng đủ yêu cầu  
về nội dung thông tin.  
định về quản lý, sử dụng nhà chung cư với  
việc tổ chức Hội nghị nhà chung cư không  
được áp dụng trong quá trình khai thác,  
quản lý các khách sạn kiểu mới này. Hậu  
quả là người mua căn hộ du lịch không có  
cơ sở để thực hiện quyền giám sát việc quản  
lý, sử dụng căn hộ mà mình đã ủy thác kinh  
doanh; không thể bảo vệ mình khỏi những  
hành vi gian lận trong tính toán doanh thu,  
chi phí và lợi nhuận hoạt động cho thuê căn  
hộ du lịch; họ cũng bị mất quyền giám sát  
việc khai thác hoặc bảo trì, nâng cấp những  
tài sản thuộc sở hữu chung được sử dụng  
để phục vụ việc khai thác tổ hợp căn hộ du  
lịch, bao gồm cả việc sử dụng quỹ bảo trì  
mà họ đã đóng góp.  
Thứ ba, quy định về quyền được tiếp cận  
đầy đủ nội dung bản tuyên bố này của mọi  
chủ thể có nhu cầu.  
Thứ tư, quy định về các nội dung thông  
tin cần phải có trong bản tuyên bố của  
nhà đầu tư phát triển. Các thông tin gồm:  
thông tin về dự án tổ hợp căn hộ du lịch  
(giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy  
phép xây dựng, số lượng căn hộ chào bán,  
số lượng căn hộ nhà đầu tư phát triển giữ  
lại, tài sản chung và tài sản riêng của các  
bên sau khi hoàn tất việc mua bán...);  
thông tin về kế hoạch khai thác tổ hợp  
căn hộ du lịch, người quản lý, vận hành tổ  
hợp căn hộ du lịch; thông tin về đặc điểm  
thiết kế, kỹ thuật của căn hộ, chi tiết các  
trang thiết bị kèm theo căn hộ, phương  
pháp xác định giá bán...; thông tin về các  
tiện ích phục vụ hoạt động khách sạn của  
tổ hợp dự án căn hộ du lịch; thông tin về  
mẫu hợp đồng mua bán căn hộ du lịch,  
các thỏa thuận về hợp tác khai thác, vận  
hành căn hộ du lịch và nội quy quản lý, sử  
dụng căn hộ du lịch...  
Quy định về bảo vệ quyền của chủ sở  
hữu căn hộ chung cư của Luật Chung cư  
thống nhất Hoa Kỳ cũng là một gợi ý tốt  
cho việc xây dựng và hoàn thiện quy định  
của pháp luật Việt Nam nhằm bảo vệ người  
mua căn hộ du lịch. Theo đó, Việt Nam  
cần ban hành quy định đảm bảo người  
mua căn hộ du lịch có quyền tham gia vào  
các quyết định lựa chọn thuê hoặc chấm  
dứt việc thuê tổ chức vận hành khách sạn,  
quyết định sửa chữa, nâng cấp tài sản ủy  
thác (căn hộ du lịch và tài sản thuộc sở  
hữu chung khác) để vận hành kinh doanh  
khách sạn; quyền kiểm tra hoạt động vận  
hành khách sạn, kiểm toán tài chính của  
hoạt động kinh doanh khách sạn; quyền  
tham gia đàm phán giá cả đối với các dịch  
vụ, tiện ích thương mại phục vụ hoạt động  
khai thác tổ hợp căn hộ du lịch; quyền khởi  
kiện tổ chức vận hành khách sạn, nhà đầu  
tư phát triển và các cá nhân khác (ra tòa án,  
trọng tài thương mại hoặc trung tâm hòa  
giải thương mại) về các hành vi gây thiệt  
hại do những người này gây ra trong quá  
trình quản lý, khai thác và vận hành tổ hợp  
3.2. Xây dựng quy định nhằm bảo vệ  
người mua căn hộ du lịch  
Hiện nay, các tổ hợp căn hộ du lịch tại  
Việt Nam đều được điều hành, khai thác bởi  
nhà đầu tư phát triển hoặc một bên do nhà  
đầu tư phát triển chỉ định và mối quan hệ  
giữa (các) bên này với người mua căn hộ du  
lịch đều chỉ dựa trên các thỏa thuận về “ủy  
thác kinh doanh” do nhà đầu tư phát triển  
soạn thảo. Về bản chất, tổ hợp căn hộ du lịch  
có tính chất của một tòa nhà/cụm tòa nhà  
chung cư, nhưng các nhà đầu tư phát triển  
hiện tại ở Việt Nam đã lập luận rằng, căn  
hộ du lịch không phải là nhà ở nên các quy  
căn hộ du lịch  
64  
Số 07(431) - T4/2021  
pdf 11 trang Thùy Anh 12360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Pháp luật Hoa Kỳ bảo vệ người mua căn hộ du lịch - Những gợi mở cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphap_luat_hoa_ky_bao_ve_nguoi_mua_can_ho_du_lich_nhung_goi_m.pdf