Pháp luật Hoa Kỳ bảo vệ người mua căn hộ du lịch - Những gợi mở cho Việt Nam
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
PHÁP LUẬT HOA KỲ BẢO VỆ NGƯỜI MUA CĂN HỘ DU LỊCH -
NHỮNG GỢI MỞ CHO VIỆT NAM
Đào Thu Hà*
* ThS. Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Tóm tắt:
Thông tin bài viết:
Quy định của pháp luật về căn hộ du lịch tại Hoa Kỳ đã được phát triển theo
hướng bảo vệ người mua căn hộ du lịch và cũng đã góp phần tạo ra sự thành công
của mô hình khách sạn kiểu mới ở đất nước này. Mô hình kinh doanh này được
phổ biến và phát triển nhanh chóng ở nhiều quốc gia khác, trong đó có Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay. Do vậy, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật Hoa
Kỳ về bảo vệ người mua căn hộ du lịch sẽ là rất hữu ích, để rút ra những gợi mở
cho việc xây dựng pháp luật nhằm phát triển và vận hành tổ hợp căn hộ du lịch
ở nước ta trong thời gian tới.
Từ khóa: Căn hộ du lịch, pháp
luật về căn hộ du lịch, người
mua căn hộ du lịch, bảo vệ người
mua căn hộ du lịch.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 05/02/2021
: 26/02/2021
: 03/3/2021
Abstract:
Article Infomation:
In the United States, the legal regulations of the vacation apartments have been
developed on the orientation towards the protection of the buyers, which has also
provided a significant contribution to the success of this new type of hotel modality
in this country. This business model is popular and rapidly developed in many other
countries, including Vietnam in the current period. Therefore, it is very helpful
to study the legal regulations of the US on the protection of vacation apartment
buyers to give out recommendations for the development of legal regulations for
the vacation apartments in our country in the near future.
Keywords: Vacation apartment;
legal regulation on vacation
apartment; buyers of vacation
apartments;
protection
of
vacation apartment buyers.
Article History:
Received
Edited
: 05 Feb. 2021
: 26 Feb. 2021
: 03 Mar. 2021
Approved
1. Dẫn nhập
Hoa Kỳ, rồi sau đó được phổ biến nhanh
chóng ra nhiều quốc gia khác trên thế giới,
Từ những năm 1960, nhằm mục đích
giảm nhẹ gánh nặng chi phí tài chính để
tài trợ cho việc phát triển dự án khách sạn
và thu hồi vốn đầu tư nhanh chóng, tổ hợp
căn hộ du lịch - một mô hình khách sạn
kiểu mới đầu tiên đã được hình thành tại
đặc biệt mô hình khách sạn này đã phát
triển rất mạnh mẽ ở Hồng Kông, Bangkok,
Bắc Kinh, Manila1. Tuy các tổ hợp căn hộ
du lịch đã trở nên phổ biến trên thế giới,
nhưng đến nay, các học giả vẫn chưa thống
nhất được khái niệm chung về tổ hợp căn
1 Xem Mark C. K. Lu (2005), The Cause and Consequences of Condo Hotel Conversion in Waikiki, Hawaii,
Unpublished dissertation, Massachusetts Institute of Technology, USA; và Desire Ann Greenberg (2017), The
Development, Geography and Organisation of Serviced Apartments in South Africa, Dissertation submitted to
the Faculty of Science, University of Johannesburg, South Africa.
54
Số 07(431) - T4/2021
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
hộ du lịch, thậm chí thuật ngữ sử dụng để
xác định mô hình khách sạn này cũng rất
khác nhau ở nhiều quốc gia (ở Hoa Kỳ là
serviced apartments, condominiums hoặc
condo-hotel; ở châu Âu là aparthotel và
corporate housing; ở Vương Quốc Anh là
commonhold và leasehold; Australia và
New Zealand là strata và multi strata; ở
Việt Nam là condotel…). Mặc dù không
thống nhất được về khái niệm, nhưng các
nhà nghiên cứu đã cùng chỉ ra một số đặc
điểm chung của căn hộ du lịch như nó
cung cấp chỗ ở khép kín, đầy đủ tiện nghi,
bao gồm một phòng bếp nhỏ, một phòng
khách bên cạnh (các) phòng ngủ, để phục
vụ khách lưu trú ngắn hạn với một số dịch
vụ bổ sung. Ngoài ra, một căn hộ du lịch
còn có hai thuộc tính pháp lý là: (1) Căn hộ
thuộc quyền sở hữu của một cá nhân có lợi
ích riêng biệt; (2) Chủ sở hữu căn hộ cũng
có quyền sở hữu chung cùng các chủ sở
hữu căn hộ khác đối với các khu vực chung
thuộc tòa nhà, mà khu vực chung này được
vận hành bởi nhà điều hành khách sạn2.
Nói cách khác, căn hộ du lịch là một căn hộ
thuộc tòa nhà chung cư mà tòa nhà chung
cư đó được quản lý và vận hành như một
khách sạn. Có cùng quan điểm đó, tác giả
Mark C.K. Lu đã đưa ra khái niệm: “Căn
hộ du lịch là căn hộ thuộc sở hữu của cá
nhân hoặc nhà đầu tư nhỏ, nằm trong một
tòa nhà chung cư được vận hành chuyên
nghiệp với các dịch vụ và tiện nghi của
khách sạn”3. Tương tự, Irvin W.Sandman
and Kelly C. Aldrich cũng cho rằng, tổ hợp
căn hộ du lịch là khách sạn trong đó một số
hoặc tất cả các căn hộ được bán cho các cá
nhân, sau đó mỗi chủ sở hữu căn hộ có thể
cho thuê căn hộ như một phần hoạt động
của khách sạn4.
Có thể thấy rằng, nếu phát triển một
khách sạn dưới dạng tổ hợp căn hộ du lịch,
sẽ làm phát sinh các quan hệ mua bán giữa
nhà đầu tư phát triển tổ hợp căn hộ du lịch
(nhà đầu tư phát triển) với những người
mua căn hộ du lịch, nhưng theo sau mối
quan hệ này là nhiều loại quan hệ khác phát
sinh như quan hệ giữa người mua với ngân
hàng cho vay để mua căn hộ du lịch, quan
hệ giữa nhà đầu tư phát triển với tổ chức
được thuê để vận hành tổ hợp căn hộ du
lịch (người vận hành) khi nó được đưa vào
khai thác, quan hệ giữa người mua - đã trở
thành chủ sở hữu căn hộ du lịch với người
vận hành, quan hệ giữa các chủ sở hữu căn
hộ du lịch với nhau... Nhìn chung, quá trình
hình thành, phát triển và được đưa vào vận
hành của tổ hợp căn hộ du lịch có thể đem
lại lợi ích kinh tế cho tất cả các bên nêu trên.
Tuy nhiên, nếu như việc khai thác căn hộ du
lịch không thuận lợi như kỳ vọng và/hoặc
các thỏa thuận giữa các bên có cấu trúc
không phù hợp thì tổ hợp căn hộ du lịch khi
đó lại trở thành một tình huống được - mất -
được - mất5, mà người chịu rủi ro, thiệt hại
nhiều nhất trong trường hợp này là chủ sở
hữu căn hộ du lịch. Do vậy, pháp luật các
quốc gia khi điều tiết các quan hệ liên quan
2 Xem Desire Ann Greenberg (2017), The Development, Geography and Organisation of Serviced Apartments
in South Africa, Dissertation submitted to the Faculty of Science, University of Johannesburg, South Africa.
3 Xem Mark C. K. Lu (2005), The Cause and Consequences of Condo Hotel Conversion in Waikiki, Hawaii,
Unpublished dissertation, Massachusetts Institute of Technology, USA.
4 Xem Irvin W.Sandman and Kelly C. Aldrich (2006), Condo-Hotels: How Developers and Owners’ Associations
can Avert a Hotel Implosion, Fifh Annual Hospitality Law Conference, Houston, Texas, USA.
5
Xem Jim Butler and the Global Hospitality Group (2014), Using condo hotels for financing new hotel
development: Traditional condo hotel structures as “non-securities, https://hotellaw.jmbm.com/original-
formula-condo-hotels-as-non-securities.html, truy cập ngày 27/8/2020.
Số 07(431) - T4/2021
55
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
đến phát triển và vận hành tổ hợp căn hộ
du lịch thường có xu hướng bảo vệ chủ thể
là người mua căn hộ du lịch, mà người này
sau đó trở thành chủ sở hữu căn hộ du lịch,
nhằm bảo đảm lợi ích chính đáng của tất cả
các bên trong mối quan hệ với nhau.
hệ thống pháp luật Hoa Kỳ còn có tính phức
tạp về cấu trúc, hệ thống đó là tập hợp của
hệ thống pháp luật liên bang và 50 hệ thống
pháp luật tiểu bang6. Do đó, cũng như nhiều
lĩnh vực pháp luật khác tại Hoa Kỳ, pháp
luật bảo vệ người mua căn hộ du lịch là
tập hợp các quy định của pháp luật thành
văn và các nguyên tắc pháp lý nằm rải rác
ở nhiều đạo luật được ban hành bởi các cơ
quan lập pháp liên bang và các tiểu bang,
cùng với nhiều phán quyết giải quyết các
tranh chấp cụ thể của các tòa án liên bang
và các tiểu bang.
Ở Việt Nam, tổ hợp căn hộ du lịch đầu
tiên đã xuất hiện vào năm 2009 và sau đó
rất nhiều dự án tổ hợp căn hộ du lịch đã
được chào bán, đặc biệt là trong giai đoạn
năm 2016 đến 2018. Trong thời gian này,
nhiều vấn đề phức tạp đã phát sinh từ mối
quan hệ giữa bên bán và bên mua căn hộ du
lịch, mà người mua đang là bên chịu nhiều
rủi ro, thua thiệt hơn. Cụ thể, gần đây liên
tiếp xảy ra tình trạng nhà đầu tư phát triển
tuyên bố không tiếp tục chi trả lợi nhuận
như đã cam kết, đồng thời người mua căn
hộ còn phải chịu tiền lãi ngân hàng cho
khoản tiền vay để mua căn hộ du lịch, nhiều
trường hợp người mua còn chưa được nhận
bàn giao căn hộ du lịch (trường hợp tổ hợp
căn hộ du lịch Cocobay - Đà Nẵng và tổ hợp
căn hộ du lịch của tập đoàn FLC)… Thực
tiễn này dẫn đến nhu cầu cần phải có các
quy định để điều chỉnh hiệu quả các mối
quan hệ phát sinh trong quá trình phát triển
và vận hành tổ hợp căn hộ du lịch tại Việt
Nam; trong đó, cần có những quy định bảo
vệ quyền, lợi ích chính đáng của chủ sở hữu
căn hộ du lịch.
Vì quan hệ giữa người mua căn hộ du
lịch với các bên khác như nhà đầu tư phát
triển, người vận hành… liên quan đến phát
triển và vận hành căn hộ du lịch là các mối
quan hệ tư nên các quan hệ này trước hết
được điều chỉnh bởi pháp luật hợp đồng.
Bên cạnh đó, do căn hộ du lịch là một bộ
phận của khách sạn kiểu mới - là loại khách
sạn được phát triển dưới dạng chung cư,
nên các quy định về nhà chung cư cũng
là một trong những nguồn luật quan trọng
điều chỉnh mối quan hệ giữa người mua căn
hộ du lịch (mà sau khi tiếp nhận quyền sở
hữu thông qua việc mua bán căn hộ du lịch
thì người mua trở thành chủ sở hữu căn hộ
du lịch) với các bên khác trong việc quản
lý và vận hành tổ hợp căn hộ du lịch. Như
vậy, dựa trên đặc điểm của các quan hệ xã
hội giữa một bên là người mua căn hộ du
lịch với (các) bên khác liên quan trong quá
trình khai thác và vận hành tổ hợp căn hộ du
lịch thì nguồn luật điều chỉnh quan hệ giữa
người mua căn hộ du lịch và các bên khác
chỉ gồm luật hợp đồng và luật chung cư như
đã nêu ra ở trên. Tuy nhiên, với bản chất của
một hệ thống thông luật đầy tính sáng tạo
và không ngừng phát triển, hệ thống pháp
2. Pháp luật bảo vệ người mua căn hộ du
lịch tại Hoa Kỳ
Hệ thống pháp luật Hoa Kỳ là hệ thống
pháp luật thông luật (Common Law) có
nguồn gốc từ nước Anh, nhưng đồng thời
hệ thống này cũng bao gồm cả những quy
định của pháp luật thành văn rất phát triển.
Không chỉ có tính phức tạp về nguồn luật,
6 Xem Alan B. Morrison (ed.,1998), Những vấn đề cơ bản của luật pháp Mỹ, do Lê Thị Thu và cộng sự dịch,
Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
56
Số 07(431) - T4/2021
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
luật Hoa Kỳ đã dần dần, từng bước xác lập
các quy tắc pháp lý mới thông qua thực tiễn
xét xử của tòa án đối với các tranh chấp cụ
thể, và thực tế là vào năm 1946, việc xét xử
vụ án Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch
(Securities and Exchange Commission -
SEC) kiện W.J. Howey Co.7 tại tòa án đã
mở ra khả năng cho phép người mua căn hộ
du lịch có thể sử dụng Luật Chứng khoán
năm 1933 (Securities Act) để bảo vệ quyền
và lợi ích của mình trong mối quan hệ với
nhà đầu tư phát triển tổ hợp căn hộ du lịch.
Từ án lệ nêu trên, năm 1973, SEC đã ban
hành Thông cáo số 33-5347 xác định, nếu
việc chào bán các căn hộ chung cư kèm theo
một chương trình quản lý cho thuê thì giao
dịch mua bán căn hộ khi đó sẽ được xem là
một hợp đồng đầu tư được điều chỉnh bởi
luật chứng khoán8.
để điều chỉnh việc phát triển và quản lý nhà
chung cư với mục đích chủ yếu là bảo vệ
người mua và chủ sở hữu căn hộ chung cư9.
Còn luật hợp đồng (khác với hai lĩnh vực
luật chứng khoán và luật chung cư) là lĩnh
vực thông luật, đó là tập hợp của các tiền
lệ tư pháp - kết quả của việc giải quyết các
tranh chấp hợp đồng riêng rẽ, mà từ đó xác
lập các quyền và nghĩa vụ của các bên tư
nhân trong việc hình thành, thực thi và kết
thúc các thỏa thuận trên cơ sở nhất trí của
các bên10.
2.1. Bảo vệ người mua căn hộ du lịch
trong luật chứng khoán Hoa Kỳ
Luật chứng khoán hay nói chính xác
hơn là các quy định của pháp luật điều tiết
thị trường chứng khoán, bao gồm Luật
Chứng khoán năm 1933; Luật về Sở giao
dịch chứng khoản năm 1934; và bốn (04)
văn bản luật khác cùng được ban hành năm
1988 là: Luật Công ty đầu tư; Luật Tư vấn
đầu tư; Luật Thoả thuận tín thác; Luật Công
ty mẹ - con công ích. Luật Chứng khoán
năm 1933 đã giải thích thuật ngữ “chứng
khoán” có nghĩa là bất kỳ ghi chú nào, cổ
phiếu, cổ phiếu quỹ, chứng khoán tương lai,
hoán đổi dựa trên chứng khoán, trái phiếu,
giấy ghi nợ, bằng chứng mắc nợ, chứng
chỉ lãi suất hoặc tham gia vào bất kỳ thỏa
thuận phân chia lợi nhuận nào, chứng chỉ tài
sản đảm bảo, chứng chỉ hoặc đăng ký mua
chứng khoán chưa phát hành, cổ phần có
thể chuyển nhượng, hợp đồng đầu tư, chứng
Như vậy, pháp luật bảo vệ người mua
căn hộ du lịch tại Hoa Kỳ bao gồm các quy
định của luật chứng khoán, luật chung cư và
luật hợp đồng. Trong đó, luật chứng khoán
(sẽ được áp dụng điều chỉnh quan hệ mua
bán căn hộ du lịch nếu việc chào bán căn
hộ du lịch ban đầu cấu thành một hợp đồng
đầu tư; còn các vấn đề khác về phát triển
và vận hành căn hộ du lịch sẽ được điều
chỉnh bởi luật chung cư và luật hợp đồng.
Luật chung cư (từ năm 1980) là tập hợp
những quy định của pháp luật do cơ quan
lập pháp ở các tiểu bang ban hành trên cơ sở
những quy định của Luật Chung cư thống
nhất (Uniform Condominium Act - UCA)
7 Xem Supreme Court of The United States (1946), Securities and Exchange Commission v. W. J. Howey Co.,
328 U.S. 293, USA.
8 Xem Arthur Spaulding (2013), Condo-Hotel Unit Sales, Rental Programs and Securities Laws, https://www.
hotelexecutive.com/business_review/3677/condo-hotel-unit-sales-rental-programs-and-securities-laws, truy
cập ngày 21/8/2020.
9 Xem Alan B. Morrison (ed.,1998), Những vấn đề cơ bản của luật pháp Mỹ, do Lê ị u và cộng sự dịch, Nxb.
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
10 Mặc dù vậy, trong những năm gần đây, nguồn của luật hợp đồng ở Hoa Kỳ còn bao gồm một số quy định
(đặc biệt là Điều 2) tại Bộ luật Thương mại thống nhất (Uniform Commercial Code – UCC).
Số 07(431) - T4/2021
57
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
chỉ ủy thác biểu quyết…, hay bất kỳ lãi suất
hoặc công cụ nào thường được gọi là chứng
khoán…11. Theo định nghĩa đó, “chứng
khoán” là một thuật ngữ có thể sử dụng để
mô tả cho vô số kế hoạch được nghĩ ra bởi
những người muốn tìm cách sử dụng tiền
của người khác kèm theo cam kết chia sẻ
lợi nhuận với người đầu tư. Tuy vậy, Luật
Chứng khoán năm 1933 không giải thích thế
nào là hợp đồng đầu tư, và phải thông qua
vụ án Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch
kiện W.J. Howey Co. vào năm 1946, Tòa
án tối cao liên bang mới diễn giải về khái
niệm này. Trong vụ án đó, W.J. Howey Co.
bị kiện vì đã chào bán các phần đất trong
khu đất trồng cam ở Florida của mình cho
những người mua (hầu hết là những người
không sống ở Florida và không phải là nông
dân), kèm theo những lời giới thiệu về việc
người mua đất có thể lựa chọn sử dụng dịch
vụ chăm sóc vườn cam được cung cấp bởi
Howey-in-the-Hills Service, Inc.12 (Công
ty dịch vụ). Công ty dịch vụ này cũng làm
đại lý tiếp thị và tiêu thụ trái cây thu hoạch
được từ vườn cây của người mua. Khi chào
bán các phần đất đó, W.J. Howey Co. đã
nhấn mạnh tính ưu việt của dịch vụ do Công
ty dịch vụ cung cấp và hứa hẹn lợi nhuận
đáng kể mà người mua đất có thể thu được.
Theo Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch,
việc chào bán tài sản và dịch vụ của W.J.
Howey Co. như trên là cấu thành việc chào
bán chứng khoán, nhưng công ty này không
thực hiện việc công khai thông tin theo quy
định của Luật Chứng khoán năm 1933.
Tòa án tối cao liên bang đã kết luận hoạt
động chào bán tài sản của W.J. Howey là
hợp đồng đầu tư theo nghĩa của Luật Chứng
khoán năm 1933 và đưa ra diễn giải về hợp
đồng đầu tư, đó là hợp đồng hay giao dịch
hoặc kế hoạch mà theo đó một người đầu
tư tiền của mình vào một doanh nghiệp và
dẫn đến việc mong đợi lợi nhuận chỉ từ nỗ
lực của người quảng bá hoặc bên thứ ba,
không phụ thuộc vào việc cổ phần tại doanh
nghiệp đó được chứng minh bằng chứng
chỉ chính thức hoặc bằng lợi ích danh nghĩa
đối với tài sản vật chất được sử dụng trong
doanh nghiệp đó13. Trên cơ sở án lệ Howey
nêu trên, năm 1973, Ủy ban Chứng khoán
và Giao dịch đã phát hành Thông cáo số
33-5347 (Thông cáo số 33) về hướng dẫn
áp dụng luật chứng khoán liên bang đối với
việc bán căn hộ chung cư và các đơn vị bất
động sản. Nội dung Thông cáo số 33 nêu rõ
rằng khi chào bán căn hộ chung cư và đồng
thời đưa ra một trong các loại gợi ý hoặc đề
nghị14 sau đây sẽ bị coi là chào bán chứng
khoán dưới hình thức hợp đồng đồng tư15:
(1) Giới thiệu về các hình thức cho thuê
căn hộ hoặc dịch vụ tương tự với mục đích
nhấn mạnh lợi ích kinh tế mà người mua sẽ
thu được từ nỗ lực quản lý của người xúc tiến
(hoặc bên thứ ba do người xúc tiến chỉ định
hoặc sắp xếp, và từ tiền cho thuê căn hộ;
(2) Đề nghị tham gia vào thỏa thuận cho
thuê hồ bơi;
(3) Đề nghị cho thuê hoặc thỏa thuận
tương tự, theo đó người mua phải giữ căn
11 Xem Sec. 2 (a) (1) Securities Act (1933).
12 Đây là công ty được sở hữu và điều hành bởi chính người sở hữu và điều hành của W.J. Howey Co.
13 Xem Supreme Court of The United States (1946), Securities and Exchange Commission v. W. J. Howey Co.,
328 U.S. 293, USA.
14
Các gợi ý hoặc đề nghị này có thể được đưa ra dưới dạng các quảng cáo, tài liệu bán hàng, chương trình
khuyến mại hoặc được tuyên bố bằng miệng nhằm nhấn mạnh lợi ích kinh tế mà người mua căn hộ có thể thu
được từ nỗ lực quản lý của người bán hoặc bên thứ ba được người bán chỉ định.
15 Xem Securities and Exchange Commission (1973), Condominium Release No. 33-5347, USA.
58
Số 07(431) - T4/2021
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
hộ của mình có sẵn để cho thuê trong bất
kỳ thời điểm nào trong năm, phải sử dụng
đại lý cho thuê độc quyền hoặc người mua
bị hạn chế nghiêm ngặt trong việc sử dụng
hoặc tự cho thuê căn hộ của mình.
khoán, Luật Chứng khoán năm 1933 đã tạo
ra một cơ chế công khai thông tin bắt buộc
đối với người phát hành chứng khoán khi
chào bán chứng khoán ra công chúng. Nội
dung của Luật này xuất phát từ lý thuyết
cho rằng, việc bán một khoản đầu tư tồi
là bất hợp pháp, trừ khi tất cả mọi thông
tin về khoản đầu tư tồi đó được cung cấp
chính xác cho người mua. Theo đó, Luật
Chứng khoán năm 1933 đảm bảo rằng:
(1) Nhà đầu tư phải nhận được đầy đủ và
chính xác thông tin về chứng khoán trước
khi họ quyết định đầu tư; (2) Người phát
hành có nghĩa vụ cung cấp thông tin đầy đủ
và chịu trách nhiệm đối với tính chính xác
của thông tin về chứng khoán chào bán20.
Cụ thể Luật Chứng khoán năm 1933 buộc
tất cả người phát hành chứng khoán ra công
chúng phải có một bản tuyên bố được đăng
ký với Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch
trước khi chào bán một chứng khoán, kể cả
khi họ thông qua các tổ chức thương mại
xuyên bang để bán một chứng khoán cho
mình thì họ vẫn phải đăng ký bản tuyên bố
như vậy. Nội dung của bản tuyên bố phải có
32 nhóm thông tin được yêu cầu theo phụ
lục A của Luật Chứng khoán năm 1933, bao
gồm: Các thông tin mô tả về người (công ty)
phát hành chứng khoán; thông tin mô tả về
loại chứng khoán, số lượng và giá cả chứng
khoán được chào bán, ước tính số tiền thu
được từ bán chứng khoán, số tiền phải trả
cho các bên bảo lãnh phát hành và môi giới
Thông cáo số 33 cho thấy Luật Chứng
khoán năm 1933 có thể điều chỉnh việc chào
bán căn hộ du lịch nếu việc chào bán đó cấu
thành hợp đồng đầu tư như chỉ dẫn ở Thông
cáo, điều này cũng có nghĩa là không phải
mọi trường hợp chào bán căn hộ du lịch đều
là chào bán chứng khoán. Trường hợp chào
bán căn hộ du lịch không bị coi là chào bán
chứng khoán đã được chỉ ra trong Thư cấm
hành động của SEC gửi cho Intrawest16 (Thư
cấm hành động) để phản hồi đối với các yêu
cầu cần giải đáp của công ty này vào năm
2002. Thực chất Thư cấm hành động này là
một Thông cáo cập nhật, sửa đổi của Thông
cáo số 3317. Nội dung Thư cấm hành động
đã đưa ra một danh sách các hướng dẫn về
cách thức chào bán căn hộ du lịch mà không
bị coi là chào bán chứng khoán18. Theo các
khuyến nghị trong Thư cấm hành động nêu
trên, nếu căn hộ du lịch được bán tách rời
và không liên quan với các cuộc thảo luận
về tiềm năng cho thuê căn hộ du lịch đó thì
việc chào bán căn hộ du lịch không phải là
chào bán chứng khoán và không chịu sự điều
chỉnh của Luật Chứng khoán năm 193319.
Với mục đích hạn chế hành vi đầu cơ
để kiếm lời bất chính trên thị trường chứng
16 Intrawest là một trong những nhà phát triển và điều hành các khu nghỉ dưỡng trên núi hàng đầu ở Bắc Mỹ.
17 Thông cáo số 33 đã được cập nhật (sửa đổi) nhiều lần, trong đó bổ sung thêm các tình huống chào bán căn
hộ du lịch được coi là chào bán chứng khoán, và lần sửa đổi gần đây nhất của Thông cáo này chính là Thư cấm
hành động của SEC gửi cho Intrawest.
18
Xem Securities and Exchange Commission (2002), No Action, Interpretive and/or Exemptive Letter:
Intrawest Corporation, USA.
19
Xem Arthur Spaulding (2013), Condo-Hotel Unit Sales, Rental Programs and Securities Laws, https://
truy cập ngày 21/8/2020.
20 Xem United States Congress (1933), Securities Act, USA.
Số 07(431) - T4/2021
59
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
chào bán chứng khoán; kế hoạch sử dụng
số tiền thu được từ bán chứng khoán; mô tả
về quyền lợi của người mua chứng khoán
(bao gồm quyền thanh lý chứng khoán); mô
tả về đặc điểm sở hữu vốn và lợi ích của
những người quản lý (giám đốc) ở công ty
phát hành chứng khoán; báo cáo tài chính
và bảng cân đối kế toán của công ty phát
hành chứng khoán21. Người phát hành
chứng khoán cũng bị yêu cầu phải chịu
trách nhiệm nghiêm ngặt về những thông
tin trong bản tuyên bố đã đăng ký, cũng như
chịu trách nhiệm cập nhật các thông tin để
không xảy ra tình trạng thông tin sai lệch
về việc chào bán hoặc bán chứng khoán22.
Có thể nói rằng, bằng cách bắt buộc người
bán chứng khoán phải công khai thông tin
về chứng khoán và việc bán chứng khoán,
Luật Chứng khoán năm 1933 đã tạo cho nhà
đầu tư (mua chứng khoán) quyền được biết
đầy đủ thông tin để tự bảo vệ mình trong
việc mua chứng khoán. Ngược lại, trong
trường hợp người bán không thực hiện
nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định
hoặc không trung thực thì luật này là cở sở
để tòa án tuyên bố giao dịch mua bán chứng
khoán là vô hiệu theo yêu cầu của người
mua và buộc người bán chứng khoán phải
hoàn trả tiền và bồi thường thiệt hại cho
người mua.
không tuân thủ quy định đăng ký bán chứng
khoán với SEC. Các nguyên đơn đã yêu cầu
biện pháp khắc phục là hủy bỏ hợp đồng
mua bán của họ và bị đơn phải bồi thường
thiệt hại. Những vụ kiện như thế này thường
xảy ra do những người mua căn hộ du lịch
không nhận được lợi nhuận đã kỳ vọng và
nếu có thể viện dẫn được luật chứng khoán
trong vụ kiện của mình thì họ sẽ thoát khỏi
hợp đồng mua bán căn hộ du lịch23. Một số
vụ kiện cáo buộc bên bán căn hộ du lịch vi
phạm luật chứng khoán như vậy đã thành
công, nhưng một số khác thì bị Tòa án bác
bỏ do không đủ bằng chứng về việc người
bán căn hộ du lịch đã chào bán nó cùng với
quảng cáo, chương trình khuyến mại, hoặc
cung cấp thông tin nhằm nhấn mạnh lợi ích
kinh tế do căn hộ du lịch đem lại, làm cho
người mua kỳ vọng về việc thu được lợi
nhuận chỉ từ nỗ lực quản lý, kinh doanh của
người bán hoặc bên thứ ba được người bán
chỉ định. Các phán quyết của Tòa án hủy bỏ
hợp đồng mua bán căn hộ du lịch là kết quả
của việc áp dụng Luật Chứng khoán năm
1933 để có thể bảo vệ quyền lợi cho người
mua căn hộ du lịch trong mối quan hệ với
người bán. Các vụ kiện đòi hủy hợp đồng
mua bán và đòi bồi thường của người mua
căn hộ du lịch đã ảnh hưởng đến phương
thức chào bán căn hộ du lịch. Trong thời
gian gần đây, các nhà đầu tư phát triển đã
dựa vào gợi ý của Thư cấm hành động để
thiết kế các chương trình bán căn hộ du lịch
sao cho việc chào bán không bị coi là chào
bán chứng khoán dưới dạng hợp đồng đầu
tư, từ đó né tránh việc tuân thủ các quy định
của Luật Chứng khoán năm 1933. Nhưng
Thực tế ở Hoa Kỳ đã có nhiều vụ kiện
trong đó người mua căn hộ du lịch kiện nhà
đầu tư phát triển tổ hợp căn hộ du lịch với
cáo buộc rằng nhà đầu tư phát triển đã vi
phạm luật chứng khoán liên bang do bán các
căn hộ du lịch như một loại chứng khoán mà
21 Xem Sec. 7 và Schedule A của Securities Act (1933).
22 Xem Alan B. Morrison (ed.,1998), Những vấn đề cơ bản của luật pháp Mỹ, do Lê Thị Thu và cộng sự dịch,
Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
23
hotelexecutive.com/business_review/1293/condo-hotels-as-securities-has-the-litigation-boom-begun,truycập
ngày 21/8/2020.
60
Số 07(431) - T4/2021
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
dù sao, Luật chứng khoán cũng đã cung
cấp một trong số những giải pháp để bảo vệ
người mua căn hộ du lịch trong mối quan hệ
với các nhà đầu tư phát triển.
là sự xuất hiện nhiều hơn của các tổ hợp căn
hộ du lịch tại Hoa Kỳ24.
Ngoài các điều khoản chung xác định
các khái niệm được áp dụng chung, Luật
Chung cư thống nhất quy định về bốn vấn
đề sau: (1) Tạo lập, thay đổi và chấm dứt
hoạt động của nhà chung cư; (2) Quản lý
nhà chung cư; (3) Bảo vệ người mua căn
hộ; (4) Quản lý hành chính và việc đăng ký
nhà chung cư. Trong đó, các quy định về
tạo lập, thay đổi và chấm dứt hoạt động của
nhà chung cư cho phép nhà đầu tư phát triển
có thể linh hoạt trong việc tạo ra một dự án
chung cư, các điều khoản hạn chế hoạt động
của nhà đầu tư phát triển có thể gây hại cho
người mua căn hộ cũng được đưa ra nhưng
có nội dung hợp lý hơn so với các quy định
về nhà chung cư trước đó.
2.2. Bảo vệ người mua căn hộ du lịch
trong luật chung cư Hoa Kỳ
Do tổ hợp căn hộ du lịch vừa là khách sạn
nhưng đồng thời cũng là một chung cư, nên
việc quản lý, vận hành, khai thác tổ hợp căn
hộ du lịch phải chịu sự điều chỉnh của Luật
Chung cư thống nhất. Luật Chung cư thống
nhất được Ủy ban Luật thống nhất (Uniform
Law Commission - ULC) soạn thảo và giới
thiệu năm 1980, sau đó đã được cơ quan
lập pháp của các bang thông qua (có một số
sửa đổi) trở thành Luật Chung cư của các
bang. Trước khi có Luật Chung cư thống
nhất năm 1980, việc phát triển và quản lý
nhà chung cư được điều chỉnh bằng các quy
định của luật bất động sản và các luật sở
hữu nhà chung cư do cơ quan lập pháp của
các bang ban hành. Những quy định này đã
tạo ra những ràng buộc ngoài ý muốn đối
với cả nhà phát triển chung cư và chủ sở
hữu căn hộ (trước đó chính là người mua
căn hộ). Chúng can thiệp không cần thiết
vào hoạt động phát triển nhà chung cư của
các nhà phát triển, đồng thời cũng can thiệp
không cần thiết đối với quyền tự quản lý tài
sản của các chủ sở hữu căn hộ đối với khu
chung cư sau khi nhà phát triển bàn giao tòa
nhà cho các chủ sở hữu. Nhìn chung, Luật
Chung cư thống nhất có tính linh hoạt cao,
nó vừa bảo vệ lợi ích của các chủ sở hữu
căn hộ, trong khi vẫn cho phép các bên liên
quan đến nhà chung cư thực hiện những ý
tưởng đổi mới. Do vậy, từ khi Luật Chung
cư thống nhất được cơ quan lập pháp các
bang thông qua, các dự án nhà chung cư đã
có một sự phát triển nhanh chóng, đặc biệt
Luật Chung cư thống nhất quy định về
cách thức tổ chức Hiệp hội các chủ sở hữu
căn hộ, quy định nhiệm vụ và quyền hạn
của Hiệp hội, việc bầu cử hoặc bãi bỏ các
chức danh quản lý trong Hiệp hội, các quy
tắc trong quản lý nhà chung cư…; theo đó
các chủ sở hữu căn hộ được quyền tham gia
trở thành thành viên của ban điều hành nhà
chung cư trong giai đoạn đầu của quá trình
phát triển dự án, cũng như sau đó tham gia
vào quá trình quản lý nhà chung cư.
Luật Chung cư thống nhất cũng quy định
về việc chào bán công khai căn hộ chung
cư của nhà đầu tư phát triển, quy định trách
nhiệm bảo đảm chất lượng căn hộ và bảo
hành, trách nhiệm pháp lý đối với các hành
vi lạm dụng của nhà đầu tư phát triển, quy
định người tiêu dùng phải công bố thông
tin khai báo trước khi chuyển nhượng căn
hộ cho người mua khác… Cuối cùng, Luật
Chung cư thống nhất đề cập đến việc quản
24 Xem Stephen B. Cohen,Allen Goldberg and Conrad M. Mulvaney (1981), Condominium Law:Acomparison
of the Uniform Act with the Illinois Act, The John Marshall Law Review, 14 (2), 387-440.
Số 07(431) - T4/2021
61
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
lý hành chính và đăng ký đối với nhà chung
cư, quy định về việc giám sát hành chính
đối với hoạt động của những người có nghĩa
vụ kê khai các thông tin về nhà chung cư.
hành hiệp hội) của chủ sở hữu căn hộ nếu
người đó không nộp quỹ Hiệp hội. Hiệp hội
cũng phải tuân theo các hạn chế như không
được ngừng cung cấp dịch vụ cho căn hộ
hoặc chủ sở hữu căn hộ không nộp quỹ nếu
việc ngừng cung cấp dịch vụ đó gây nguy
hiểm cho sức khỏe, sự an toàn hoặc tài sản
của người khác.
Điểm tiến bộ nhất của Luật Chung cư
thống nhất so với các quy định trước đây về
nhà chung cư do các bang ban hành là: Quy
định của Luật Chung cư thống nhất hướng
tới bảo vệ chủ sở hữu căn hộ. Điều này chủ
yếu được thể hiện thông qua quy định về
thành lập, quản lý và chấm dứt hoạt động
của Hiệp hội các chủ sở hữu. Chính việc áp
dụng các quy định này trong quá trình quản
lý, vận hành các tổ hợp căn hộ du lịch đã góp
phần bảo vệ quyền, lợi ích cho các chủ sở
hữu căn hộ25. Theo quy định của Điều 3 Luật
Chung cư thống nhất, việc tổ chức Hiệp hội
các chủ sở hữu căn hộ phải được thực hiện
ngay khi chủ sở hữu căn hộ đầu tiên chuyển
đến; Hiệp hội luôn bao gồm tất cả các chủ sở
hữu căn hộ; Hiệp hội phải được tổ chức dưới
dạng một công ty hoặc quỹ tín thác, hoặc bất
kỳ hình thức tổ chức nào khác do pháp luật
bang cho phép; Hiệp hội phải có ban điều
hành do Hiệp hội bầu (hoặc khi chưa thành
lập Hiệp hội sẽ do nhà đầu tư phát triển chỉ
định). Văn bản luật này cũng xác định các
quyền hạn và nhiệm vụ của Hiệp hội các chủ
sở hữu như: Hiệp hội có thể thông qua và
sửa đổi các quy tắc của nhà chung cư; quản
lý ngân sách chung, quyết định đầu tư quỹ
của Hiệp hội; quyết định việc sửa chữa; có
thể thuê và sa thải nhà vận hành khách sạn,
hoặc các nhân viên khác, các nhà thầu sửa
chữa độc lập; có thể khởi kiện hoặc đại diện
các chủ sở hữu căn hộ khởi kiện các bên gây
ảnh hưởng đến lợi ích chung của nhà chung
cư, có quyền đình chỉ bất kỳ quyền hoặc đặc
quyền nào (trừ quyền sử dụng căn hộ, quyền
biểu quyết và tham gia ứng cử vào ban điều
Đối với ban điều hành của Hiệp hội các
chủ sở hữu, Luật Chung cư Thống nhất
cũng áp đặt các nhiệm vụ cho ban điều
hành như phải quan tâm và trung thành với
lợi ích của Hiệp hội, phải tuân thủ các quy
tắc tránh xung đột lợi ích giống như các
quy định của pháp luật về trách nhiệm của
giám đốc và người quản lý của công ty. Bên
cạnh đó, Luật Chung cư thống nhất cũng
trao quyền cho chủ sở hữu căn hộ có thể
khởi kiện Hiệp hội các chủ sở hữu nếu Hiệp
hội và ban điều hành vì đã có sơ suất, có vi
phạm hợp đồng, nghĩa vụ đã được ủy thác
hoặc tiêu chuẩn quản lý, bảo dưỡng, bảo trì
nhà chung cư.
Như vậy, các quy định của Luật Chung
cư thống nhất, trong đó đặc biệt là những
quy định về Hiệp hội các chủ sở hữu đã tạo
ra điều kiện thuận lợi để các chủ sở hữu căn
hộ du lịch có thể quản lý tài sản của mình
hiệu quả hơn, tránh sự lạm dụng, xâm hại
quyền lợi của mình bởi tổ chức vận hành
khách sạn hay nhà đầu tư phát triển, vì họ
có cơ hội tham gia một phần vào việc quản
lý, giám sát việc quản lý tài sản là căn hộ
du lịch của mình, cụ thể là họ có thể tham
gia vào quyết định thuê hoặc hoặc chấm dứt
việc thuê tổ chức vận hành khách sạn, tham
gia vào quyết định bảo trì, nâng cấp tổ hợp
căn hộ du lịch và các tiện ích phục vụ hoạt
động của tổ hợp căn hộ du lịch… dù cho
nhà đầu tư phát triển có giữ lại phần lớn căn
25
Xem Irvin W.Sandman and Kelly C. Aldrich (2006), Condo-Hotels: How Developers and Owners’
Associations can Avert a Hotel Implosion, Fifth Annual Hospitality Law Conference, Houston, Texas, USA.
62
Số 07(431) - T4/2021
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
hộ du lịch và các tiện ích thương mại của tổ
hợp căn hộ du lịch.
cần phải đặt ra những quy định về nghĩa vụ
cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về
đối tượng giao dịch.
3. Những gợi mở cho Việt Nam
Quy định về nghĩa vụ cung cấp thông
tin của người phát hành chứng khoán
trong Luật Chứng khoán năm 1933 của
Hoa Kỳ là gợi ý tốt để xây dựng các quy
định của pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ
cung cấp thông tin của nhà đầu tư phát
triển khi chào bán căn hộ du lịch. Trong
bối cảnh của Việt Nam hiện nay, những
quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin
đó nên được xây dựng và ban hành dưới
hình thức nghị định của Chính phủ, bao
gồm những nội dung cơ bản sau:
Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của
pháp luật của Hoa Kỳ về căn hộ du lịch, có
thể rút ra một số gợi mở cho quá trình xây
dựng pháp luật nhằm phát triển và vận hành
tổ hợp căn hộ du lịch tại Việt Nam sau đây:
3.1. Xây dựng quy định nhằm đảm
bảo quan hệ giữa nhà đầu tư phát triển
và người mua căn hộ du lịch được xác
lập trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết,
thỏa thuận
Pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa nhà
đầu tư phát triển và người mua căn hộ du
lịch nói riêng và pháp luật điều chỉnh các
quan hệ tư nói chung phải đảm bảo các
quan hệ này được xác lập trên cơ sở tự do,
tự nguyện cam kết. Bởi vì, chỉ khi các bên
tham gia giao dịch được tự do cân nhắc
đưa ra quyết định và tự nguyện cam kết
xác lập giao dịch thì giao dịch đó mới được
coi là công bằng và có hiệu lực ràng buộc
đối với các bên. Tự do, tự nguyện cam kết
nghĩa là không bên nào vì bị ép buộc, bị đe
dọa mà phải tham gia giao dịch mà mình
không mong muốn, nó cũng có nghĩa là
không bên nào vì bị lừa dối hay bị nhầm
lẫn mà đi đến quyết định tham gia giao
dịch. Tự do, tự nguyện cam kết cũng đòi
hỏi các bên phải được biết đầy đủ và chính
xác về tất cả các thông tin liên quan đến
đối tượng của giao dịch và điều kiện giao
dịch, đặc biệt là đối với các trường hợp mà
sự bất cân xứng về thông tin giữa các bên
trong giao dịch có thể gây thiệt hại lớn cho
một bên và đem lại lợi nhuận không chính
đáng cho bên còn lại. Do vậy, nhằm đảm
bảo quan hệ giữa nhà đầu tư phát triển và
người mua căn hộ du lịch được xác lập trên
cơ sở tự do, tự nguyện, pháp luật Việt Nam
Thứ nhất, quy định về hình thức cung
cấp thông tin. Nhà đầu tư phát triển phải
cung cấp thông tin dưới dạng một bản tuyên
bố, và bản tuyên bố thông tin này phải được
đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước. Sự
tham gia của cơ quan quản lý nhà nước
trong trường hợp này là cần thiết để kiểm
soát tính đầy đủ của các thông tin được cung
cấp, bảo vệ lợi ích của người mua căn hộ du
lịch. Nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm về
tính đầy đủ và trung thực của các thông tin
trong bản tuyên bố.
Thứ hai, quy định về cơ quan quản lý
nhà nước tổ chức thực hiện đăng ký bản
tuyên bố của nhà đầu tư phát triển. Nhằm
đảm bảo sự quản lý thống nhất, việc đăng
ký bản tuyên bố của nhà đầu tư phát triển
cần được giao cơ quan quản lý xây dựng
ở địa phương (Sở Xây dựng). Vì việc phát
triển tổ hợp căn hộ du lịch liên quan đến cấp
phép, quản lý xây dựng công trình, đồng
thời, quá trình vận hành tổ hợp căn hộ du
lịch cũng liên quan đến quản lý, sử dụng
chung cư hiện cũng đang thuộc quyền quản
lý của cơ quan này. Sở Xây dựng có trách
nhiệm tiếp nhận, kiểm tra bản tuyên bố do
nhà đầu tư phát triển đăng ký và phải công
Số 07(431) - T4/2021
63
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
khai đầy đủ bản tuyên bố của nhà đầu tư
phát triển ngay khi nó đáp ứng đủ yêu cầu
về nội dung thông tin.
định về quản lý, sử dụng nhà chung cư với
việc tổ chức Hội nghị nhà chung cư không
được áp dụng trong quá trình khai thác,
quản lý các khách sạn kiểu mới này. Hậu
quả là người mua căn hộ du lịch không có
cơ sở để thực hiện quyền giám sát việc quản
lý, sử dụng căn hộ mà mình đã ủy thác kinh
doanh; không thể bảo vệ mình khỏi những
hành vi gian lận trong tính toán doanh thu,
chi phí và lợi nhuận hoạt động cho thuê căn
hộ du lịch; họ cũng bị mất quyền giám sát
việc khai thác hoặc bảo trì, nâng cấp những
tài sản thuộc sở hữu chung được sử dụng
để phục vụ việc khai thác tổ hợp căn hộ du
lịch, bao gồm cả việc sử dụng quỹ bảo trì
mà họ đã đóng góp.
Thứ ba, quy định về quyền được tiếp cận
đầy đủ nội dung bản tuyên bố này của mọi
chủ thể có nhu cầu.
Thứ tư, quy định về các nội dung thông
tin cần phải có trong bản tuyên bố của
nhà đầu tư phát triển. Các thông tin gồm:
thông tin về dự án tổ hợp căn hộ du lịch
(giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy
phép xây dựng, số lượng căn hộ chào bán,
số lượng căn hộ nhà đầu tư phát triển giữ
lại, tài sản chung và tài sản riêng của các
bên sau khi hoàn tất việc mua bán...);
thông tin về kế hoạch khai thác tổ hợp
căn hộ du lịch, người quản lý, vận hành tổ
hợp căn hộ du lịch; thông tin về đặc điểm
thiết kế, kỹ thuật của căn hộ, chi tiết các
trang thiết bị kèm theo căn hộ, phương
pháp xác định giá bán...; thông tin về các
tiện ích phục vụ hoạt động khách sạn của
tổ hợp dự án căn hộ du lịch; thông tin về
mẫu hợp đồng mua bán căn hộ du lịch,
các thỏa thuận về hợp tác khai thác, vận
hành căn hộ du lịch và nội quy quản lý, sử
dụng căn hộ du lịch...
Quy định về bảo vệ quyền của chủ sở
hữu căn hộ chung cư của Luật Chung cư
thống nhất Hoa Kỳ cũng là một gợi ý tốt
cho việc xây dựng và hoàn thiện quy định
của pháp luật Việt Nam nhằm bảo vệ người
mua căn hộ du lịch. Theo đó, Việt Nam
cần ban hành quy định đảm bảo người
mua căn hộ du lịch có quyền tham gia vào
các quyết định lựa chọn thuê hoặc chấm
dứt việc thuê tổ chức vận hành khách sạn,
quyết định sửa chữa, nâng cấp tài sản ủy
thác (căn hộ du lịch và tài sản thuộc sở
hữu chung khác) để vận hành kinh doanh
khách sạn; quyền kiểm tra hoạt động vận
hành khách sạn, kiểm toán tài chính của
hoạt động kinh doanh khách sạn; quyền
tham gia đàm phán giá cả đối với các dịch
vụ, tiện ích thương mại phục vụ hoạt động
khai thác tổ hợp căn hộ du lịch; quyền khởi
kiện tổ chức vận hành khách sạn, nhà đầu
tư phát triển và các cá nhân khác (ra tòa án,
trọng tài thương mại hoặc trung tâm hòa
giải thương mại) về các hành vi gây thiệt
hại do những người này gây ra trong quá
trình quản lý, khai thác và vận hành tổ hợp
3.2. Xây dựng quy định nhằm bảo vệ
người mua căn hộ du lịch
Hiện nay, các tổ hợp căn hộ du lịch tại
Việt Nam đều được điều hành, khai thác bởi
nhà đầu tư phát triển hoặc một bên do nhà
đầu tư phát triển chỉ định và mối quan hệ
giữa (các) bên này với người mua căn hộ du
lịch đều chỉ dựa trên các thỏa thuận về “ủy
thác kinh doanh” do nhà đầu tư phát triển
soạn thảo. Về bản chất, tổ hợp căn hộ du lịch
có tính chất của một tòa nhà/cụm tòa nhà
chung cư, nhưng các nhà đầu tư phát triển
hiện tại ở Việt Nam đã lập luận rằng, căn
hộ du lịch không phải là nhà ở nên các quy
căn hộ du lịch
64
Số 07(431) - T4/2021
Bạn đang xem tài liệu "Pháp luật Hoa Kỳ bảo vệ người mua căn hộ du lịch - Những gợi mở cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phap_luat_hoa_ky_bao_ve_nguoi_mua_can_ho_du_lich_nhung_goi_m.pdf

