Một số trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng

MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP NGOẠI LỆ...  
CỦA NGUYÊN TẮC TỰ DO GIAO KẾT HỢP ĐỒNG  
HOÀNG TRUNG HIẾU*  
Pháp luật về hợp đồng đã quy định về nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng dân sự  
trong nhiều quy định cụ thể, giúp các chủ thể có định hướng đúng đắn khi sử dụng quyền  
tự định đoạt của mình trong giao kết và thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn  
tồn tại một số trường hợp những giao dịch dân sự không tuân thủ nguyên tắc này được  
gọi là những trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng dân sự. Bài viết  
trình bày, phân tích những trường hợp ngoại lệ cụ thể, đồng thời đưa ra những ví dụ thực  
tế của những ngoại lệ này.  
Từ khoá: Hợp đồng dân sự, ngoại lệ, nguyên tắc, tự do.  
Ngày nhận bài: 11/11/2020; Biên tập xong: 12/11/2020; Duyệt đăng: 12/11/2020.  
Laws has stipulated the principle of freedom to contract in many specific provisions  
that helps the entities have a correct orientation when using their self-determination  
right in entering into and and implementation contract. However, some cases of civil  
transactions do not comply with this principle called exception of the principle of  
freedom to contract. The article analyzes specific exceptions as well as gives examples  
of these exceptions.  
Keywords: Civil contracts, exception, principle, freedom.  
1. Ngoại lệ của việc tự do quyết định giao thông trên lãnh thổ nước Cộng hòa  
tham gia giao kết hợp đồng  
xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải tham gia  
bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự  
của chủ xe cơ giới theo quy định tại  
khoản 1, Điều 4 Thông tư 22/2016/TT-  
BTC ngày 16/02/2016 của Bộ Tài chính  
quy định quy tắc, điều khoản, biểu phí  
và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc  
trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới và  
các quy định khác của pháp luật có liên  
quan. Nghĩa vụ này có hiệu lực từ ngày  
17/12/1997 khi Chính phủ ban hành Nghị  
định 115/1997/NĐ-CP ngày 17/12/1997  
của Chính phủ về chế độ bảo hiểm bắt  
buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ  
giới, trong đó quy định rõ chủ xe cơ giới,  
kể cả chủ xe là người nước ngoài có giấy  
phép lưu hành xe trên lãnh thổ Việt Nam  
đều phải tham gia bảo hiểm trách nhiệm  
của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba  
tại các doanh nghiệp bảo hiểm trong  
Trong quan hệ hợp đồng, các chủ thể  
có quyền tự do trong việc tham gia giao  
kết, đề nghị giao kết và chấp nhận giao  
kết, việc có tham gia giao kết hợp đồng  
hay không là do các chủ thể tự quyết  
định. Tuy nhiên, trong một số trường  
hợp nhất định, để bảo đảm trật tự công  
cộng, lợi ích quốc gia, quyền tự do tham  
gia giao kết hợp đồng bị hạn chế. Một số  
trường hợp cụ thể như:  
Trong lĩnh vực bảo hiểm, mặc dù các  
chủ thể có quyền tự do tham gia mua  
bảo hiểm với loại hình bảo hiểm tự  
nguyện nhưng với loại hình bảo hiểm  
bắt buộc thì dù muốn hay không muốn  
các chủ thể vẫn bắt buộc phải tham gia.  
Ví dụ: Sản phẩm bảo hiểm bắt buộc trách  
nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới là sản  
phẩm bảo hiểm mang tính chất bắt buộc  
của Nhà nước. Chủ xe cơ giới tham gia  
* Thạc sĩ, Giảng viên Học viện Thanh thiếu niên  
Việt Nam  
Số chuyên đề 4 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 48  
HOÀNG TRUNG HIẾU  
nước. Việc quy định tính bắt buộc của  
nghiệp vụ này mang một số ý nghĩa sau:  
Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, trường  
hợp việc sử dụng sáng chế nhằm mục đích  
công cộng, phi thương mại, phục vụ quốc  
phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh,  
dinh dưỡng cho nhân dân hoặc đáp ứng  
các nhu cầu cấp thiết của xã hội, người  
nắm độc quyền sử dụng sáng chế không  
thực hiện nghĩa vụ sử dụng sáng chế sau  
khi kết thúc bốn năm kể từ ngày nộp đơn  
đăng ký sáng chế và kết thúc ba năm kể từ  
ngày cấp bằng độc quyền sáng chế. Người  
có nhu cầu sử dụng sáng chế không đạt  
được thoả thuận với người nắm độc quyền  
sử dụng sáng chế về việc ký kết hợp đồng  
sử dụng sáng chế mặc dù trong một thời  
gian hợp lý đã cố gắng thương lượng với  
mức giá và các điều kiện thương mại thoả  
đáng hoặc người nắm độc quyền sử dụng  
sáng chế bị coi là thực hiện hành vi hạn  
chế cạnh tranh bị cấm theo quy định của  
pháp luật về cạnh tranh. Khi đó, quyền  
sử dụng sáng chế được chuyển giao cho  
tổ chức, cá nhân khác sử dụng theo quyết  
định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền  
mà không cần được sự đồng ý của người  
nắm độc quyền sử dụng sáng chế theo  
quy định tại Điều 145 Luật Sở hữu trí tuệ  
sửa đổi năm 2019.  
Thứ nhất, nhằm bảo vệ những quyền  
lợi hợp pháp của những người bị thiệt  
hại do lỗi của các chủ phương tiện gây  
ra, đồng thời cũng là bảo vệ lợi ích của  
toàn xã hội;  
Thứ hai, việc quy định bắt buộc còn  
nâng cao trách nhiệm trong việc điều  
khiển xe, giúp cho các cơ quan quản lý số  
lượng đầu xe đang lưu hành và thống kê  
đầy đủ các vụ tai nạn, cũng như những  
nguyên nhân của nó để có các biện pháp  
đề phòng và hạn chế tổn thất một cách có  
hiệu quả;  
Thứ ba, tính bắt buộc còn xuất phát  
từ việc thi hành nghiêm túc những quy  
định của pháp luật, thực hiện tốt nghĩa  
vụ dân sự chủ yếu là nghĩa vụ bồi thường  
đã được quy định trong Bộ luật dân sự  
(BLDS), thể hiện sự công minh và công  
bằng của pháp luật.  
Trong lĩnh vực thu hồi đất, để giải  
phóng mặt bằng làm đường, quy hoạch  
xây dựng các khu đô thị mới, khu công  
nghiệp, hoặc đối với hợp đồng trưng  
mua nhà, chủ sở hữu nhà dù muốn hay  
không muốn giao kết hợp đồng nhưng  
cũng bị buộc phải chuyển nhượng quyền  
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở cho chủ  
thể khác theo quyết định hành chính của  
cơ quan nhà nước có thẩm quyền.  
2. Ngoại lệ của việc tự do lựa chọn đối  
tác giao kết hợp đồng  
Với mục đích bảo vệ người yếu thế hoặc  
người thứ ba, hoặc bởi các lý do khác, pháp  
luật có thể quy định ngăn cản việc giao kết  
hợp đồng hoặc phải ưu tiên giao kết hợp  
đồng với một số người nhất định.  
Trong lĩnh vực thương mại, người  
cung cấp dịch vụ công cộng không được  
từ chối giao kết hợp đồng nếu còn khả  
năng cung cấp dịch vụ và phải mở ra cho  
tất cả mọi người đều có cơ hội như nhau  
trong việc mua hoặc sử dụng dịch vụ.  
Người giao kết hợp đồng không được từ  
chối giao kết hợp đồng vì lý do sắc tộc,  
tôn giáo hay quốc tịch; thương nhân phải  
cung cấp hàng hoá hay dịch vụ đã quảng  
cáo.  
Khoản 2 Điều 196 BLDS năm 2015 quy  
định: “Khi tài sản đem bán là tài sản thuộc  
di tích lịch sꢀ - văn hóa theo quy định của  
Luật di sản văn hóa thì Nhà nước có quyền  
ưu tiên mua”. Theo đó, trong trường hợp  
này, chủ sở hữu tài sản buộc phải ưu tiên  
Nhà nước là đối tác giao kết hợp đồng  
trước khi có quyền lựa chọn đối tác giao  
kết hợp đồng khác. Việc quy định này  
Số chuyên đề 4 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 49  
MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP NGOẠI LỆ...  
là do di tích lịch sử, văn hóa là nơi có ý cho bên cho thuê tính đến thời điểm bên cho  
nghĩa to lớn đối với xã hội và đất nước, thuê có thông báo về việc bán nhà cho thuê,  
con người, việc thay đổi chủ sở hữu mang  
lại thay đổi cho những giá trị lịch sử, văn  
hóa ấy. Do đó, pháp luật quy định như  
vậy để đảm bảo một cách tốt nhất sự bảo  
tồn và phát triển di tích lịch sử, văn hóa,  
gắn liền với đời sống văn hóa của con  
người và xã hội.  
trừ trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung;  
trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bên thuê  
nhà ở nhận được thông báo mà không mua  
thì chủ sở hữu nhà ở được quyền bán nhà ở  
đó cho người khác, trừ trường hợp các bên  
có thỏa thuận khác về thời hạn”. Theo đó,  
trong trường hợp bán nhà đang cho thuê,  
chủ thể trong giao dịch dân sự bị hạn chế  
trong việc lựa chọn đối tác của mình mà  
phải ưu tiên cho những chủ thể nhất định  
là bên thuê nhà. Việc quy định này cũng  
nhằm mục đích đảm bảo quyền và lợi ích  
hợp pháp của các chủ thể và bên thứ ba  
trong quan hệ pháp luật dân sự.  
Khoản 3 Điều 218 BLDS năm 2015 quy  
định: “Trường hợp một chủ sở hữu chung  
theo phần bán phần quyền sở hữu của mình  
thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu  
tiên mua. Trong thời hạn 03 tháng đối với  
tài sản chung là bất động sản, 01 tháng đối  
với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các  
chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo  
về việc bán và các điều kiện bán mà không  
có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở  
hữu đó được quyền bán cho người khác. Việc  
thông báo phải được thể hiện bằng văn bản  
và các điều kiện bán cho chủ sở hữu chung  
khác phải giống như điều kiện bán cho người  
không phải là chủ sở hữu chung.” Quy định  
này nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp  
pháp của chủ thể có phần sở hữu chung  
tài sản được bán. Trong trường hợp bán  
phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm  
về quyền ưu tiên mua thì pháp luật quy  
định trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày  
phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên  
mua, chủ sở hữu chung theo phần trong  
số các chủ sở hữu chung có quyền yêu  
cầu Toà án chuyển sang cho mình quyền  
và nghĩa vụ của người mua và bên có lỗi  
gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.  
Khoản 3 Điều 116 Luật Doanh nghiệp  
năm 2014 đã quy định về việc cổ đông  
sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết trong  
công ty cổ phần không được chuyển  
nhượng cổ phần đó cho người khác.  
Trường hợp này chủ thể của việc giao  
kết hợp đồng bị hạn chế giao kết với đối  
tượng cụ thể để đảm bảo quyền và lợi ích  
của doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp  
năm 2020 được Quốc hội thông qua vào  
ngày 17/6/2020 và chính thức có hiệu lực  
từ ngày 01/01/2021 cũng giữ nguyên tinh  
thần của quy định này. Tại Khoản 3 Điều  
117 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy  
định: “Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đꢀi biểu  
quyết không được chuyển nhượng cổ phần  
đó cho người khác, trừ trường hợp chuyển  
nhượng theo phán quyết của tòa án hoặc thừa  
kế”. Theo đó, Luật Doanh nghiệp năm  
2020 vẫn hạn chế quyền lựa chọn đối  
tượng giao kết hợp đồng của chủ thể giữ  
vị trí quan trọng, mang tính chất quyết  
định trong doanh nghiệp. Việc hạn chế  
này nhằm đảm bảo sự ổn định, hài hoà  
trong vận hành doanh nghiệp, phù hợp  
với định hướng phát triển kinh tế. Tuy  
Điều 127 Luật Nhà ở năm 2014 quy  
định về mua bán nhà ở đang cho thuê,  
trong đó có quy định tại khoản 1: “Trường  
hợp chủ sở hữu bán nhà ở đang cho thuê thì  
phải thông báo bằng văn bản cho bên thuê  
nhà ở biết về việc bán và các điều kiện bán  
nhà ở; bên thuê nhà ở được quyền ưu tiên nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 2020 giữ  
mua nếu đꢀ thanh toán đầy đủ tiền thuê nhà nguyên sự ưu tiên quyền tự do lựa chọn  
50 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 4 - 2020  
HOÀNG TRUNG HIẾU  
chủ thể chuyển nhượng cho trường hợp ba liên quan, do hoạt động thương mại  
chuyển nhượng theo phán quyết của Toà thường chứa đựng nhiều rủi ro và bảo  
án hoặc thừa kế. Điều này đảm bảo tính đảm sự công bằng, bình đẳng và khách  
thượng tôn pháp luật và tôn trọng ý chí quan trong quan hệ hợp đồng.  
của chủ thể tham gia giao kết hợp đồng  
3. Ngoại lệ của việc tự do lựa chọn nội  
dân sự trong những trường hợp đặc biệt.  
dung giao kết hợp đồng  
Pháp luật cạnh tranh cũng nghiêm  
Tuỳ theo từng loại hợp đồng, các bên  
cấm việc các doanh nghiệp thỏa thuận  
có thể thoả thuận về những nội dung  
nhằm mục đích thực hiện độc quyền,  
quy định cụ thể tại Điều 398 BLDS năm  
chiếm vị trí ưu thế nổi trội trên thị trường  
2015. Tuy nhiên, để bảo vệ trật tự công  
nhằm ngăn cản, hạn chế hoặc làm sai  
cộng, đạo đức xã hội hay thực hiện các  
lệch quy luật cạnh tranh trên thị trường  
chính sách kinh tế - xã hội, pháp luật  
tại Điều 12 Luật Cạnh tranh năm 2018.  
dân sự hạn chế quyền tự do thỏa thuận  
Theo đó, với những trường hợp thỏa  
nội dung hợp đồng trong từng lĩnh vực  
thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh  
cụ thể như sau:  
nghiệp trên cùng thị trường hoặc thỏa  
- Đối tượng của hợp đồng  
thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh  
nghiệp kinh doanh ở các công đoạn khác  
nhau trong cùng một chuỗi sản xuất,  
phân phối, cung ứng đối với một loại  
hàng hóa, dịch vụ nhất định mà gây tác  
động hoặc có khả năng gây tác động hạn  
chế cạnh tranh một cách đáng kể trên  
thị trường được quy định là những thoả  
thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm. Trường  
hợp hạn chế nguyên tắc tự do giao kết  
hợp đồng này nhằm đảm bảo sự công  
bằng, phát triển bền vững của nền kinh  
tế thị trường.  
Với các hợp đồng có đối tượng là tài  
sản, các bên có quyền tự do thỏa thuận  
lựa chọn loại tài sản bất kì nào đó làm  
đối tượng của hợp đồng sẽ giao kết. Tuy  
nhiên, tài sản là đối tượng của hợp đồng  
phải đáp ứng được những điều kiện nhất  
định như: Phải được phép giao dịch (tại  
thời điểm giao kết hợp đồng, tài sản đó  
không thuộc đối tượng bị cấm lưu thông  
theo quy định của pháp luật như vũ khí,  
ma túy, chất phóng xạ…), không đang có  
tranh chấp, không đang bị kê biên, không  
đang là đối tượng của biện pháp bảo đảm  
trong một số trường hợp và không phải là  
vật tiêu hao trong trường hợp hợp đồng  
cho thuê và hợp đồng cho mượn…  
Đối với các giao dịch dân sự do người  
đại diện ký, khoản 3 Điều 141 BLDS năm  
2015 quy định: “Một cá nhân, pháp nhân  
có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp  
nhân khác nhau nhưng không được nhân  
danh người được đại diện để xác lập, thực  
hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc  
với bên thứ ba mà mình cũng là người đại  
Với các hợp đồng có đối tượng là một  
công việc phải thực hiện, các bên cũng  
có quyền tự do lựa chọn công việc mà  
các bên muốn hướng tới khi giao kết hợp  
diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật đồng. Tuy nhiên, công việc đó cũng phải  
có quy định khác”.  
đáp ứng được các điều kiện nhất định  
như: phải được xác định cụ thể; có tính  
khả thi; không vi phạm điều cấm của  
pháp luật và không trái đạo đức xã hội.  
Việc pháp luật quy định các trường  
hợp ngoại lệ trên xuất phát từ mục đích  
thực hiện các chính sách kinh tế của Nhà  
nước, bảo vệ lợi ích chung của xã hội, bảo  
Trong pháp luật cạnh tranh, pháp luật  
đảm trật tự công cộng, bảo vệ người thứ chống độc quyền cấm bên ở thế mạnh  
Số chuyên đề 4 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 51  
MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP NGOẠI LỆ...  
về kinh tế đưa ra những điều khoản hợp lꢀi suất thì lꢀi suất theo thỏa thuận không  
đồng có tính chất lạm dụng để gây thiệt  
hại cho bên ở thế yếu trong quan hệ hợp  
đồng, nhất là các điều khoản liên quan  
đến các nội dung như: Bán hàng kèm  
theo những điều kiện phân biệt đối xử  
như việc yêu cầu bên kia phải hạn chế  
cung cấp dịch vụ, sản xuất, mua bán  
hàng hóa hoặc hạn chế cơ hội mua bán  
hàng hóa, dịch vụ, mua tín dụng từ các  
thương nhân khác, hay chỉ được bán  
lẻ, v.v… để đặt các bên này vào thế bất  
lợi trong hợp đồng hoặc trong cạnh  
tranh trên thị trường; đặt điều kiện khác  
trong hợp đồng buộc bên kia phải thực  
hiện thêm các nghĩa vụ mà theo thông  
lệ thương mại không liên quan đến đối  
tượng của hợp đồng.  
được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay,  
trừ trường hợp luật khác có liên quan quy  
định khác”. Việc quy định mức lãi suất  
trần dựa trên lãi suất cơ bản do Ngân  
hàng Nhà nước công bố là để tạo ra sự  
thống nhất về xác định lãi suất trong hợp  
đồng vay tài sản, ngăn ngừa việc cho vay  
nặng lãi, đảm bảo quyền và lợi ích hợp  
pháp của các chủ thể.  
Điều 4 Nghị định 37/2015/NĐ-CP  
ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định  
chi tiết về hợp đồng xây dựng quy định  
về nguyên tắc ký kết hợp đồng xây dựng,  
trong đó khoản 4 quy định về giá ký kết  
hợp đồng không được vượt giá trúng  
thầu hoặc kết quả đàm phán, thương  
thảo hợp đồng xây dựng, trừ khối lượng  
phát sinh ngoài phạm vi công việc của  
gói thầu được người có thẩm quyền  
quyết định đầu tư cho phép.  
- Số lượng, chất lượng  
Điều 13 Nghị định 37/2015/NĐ-  
CP quy định chi tiết về hợp đồng xây  
dựng yêu cầu về chất lượng sản phẩm  
và nghiệm thu, bàn giao sản phẩm hợp  
đồng xây dựng, trong đó yêu cầu “Chất  
lượng sản phẩm của hợp đồng xây dựng  
phải đáp ứng các yêu cầu của hợp đồng,  
tuân thủ và đáp ứng các yêu cầu về chất  
lượng theo quy định của pháp luật. Các  
bên tham gia hợp đồng phải thỏa thuận  
trong hợp đồng về quy chuẩn, tiêu chuẩn  
(tiêu chuẩn và quy chuẩn Quốc gia), chỉ  
dẫn kỹ thuật áp dụng cho sản phẩm của  
hợp đồng xây dựng. Đối với thiết bị,  
hàng hóa nhập khẩu còn phải quy định  
về nguồn gốc, xuất xứ.” Việc quy định  
về yêu cầu bắt buộc trong hợp đồng xây  
dựng như vậy vì đây là loại hợp đồng có  
đối tượng mang tính chất bền vững, lâu  
dài, do đó việc đảm bảo chất lượng sản  
phẩm nhằm đảm bảo lợi ích của các bên  
và đảm bảo trật tự xã hội.  
Trong lĩnh vực điện lực, Điều 31 Luật  
Điện lực năm 2018 quy định: Giá bán lẻ  
điện do đơn vị bán lẻ điện xây dựng căn  
cứ khung giá của mức giá bán lẻ điện  
bình quân, cơ chế điều chỉnh giá và cơ  
cấu biểu giá bán lẻ điện do Thủ tướng  
Chính phủ quy định phù hợp với cấp  
độ phát triển của thị trường điện lực. Bộ  
Công thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài  
chính xây dựng khung giá của mức giá  
bán lẻ điện bình quân, cơ chế điều chỉnh  
giá và cơ cấu biểu giá bán lẻ điện trình  
Thủ tướng Chính phủ quyết định. Khung  
giá phát điện, khung giá bán buôn điện,  
giá truyền tải điện, giá dịch vụ phụ trợ  
hệ thống điện, phí điều độ vận hành hệ  
thống điện và phí điều hành giao dịch  
thị trường điện lực do đơn vị điện lực  
có liên quan xây dựng; cơ quan điều tiết  
điện lực thẩm định trình Bộ trưởng Bộ  
Công thương, Bộ trưởng Bộ Tài chính  
phê duyệt theo sự phân công của Chính  
- Giá, phương thức thanh toán  
Khoản 1 Điều 468 BLDS năm 2015 quy  
định: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về phủ. Giá phát điện theo hợp đồng mua  
52 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 4 - 2020  
HOÀNG TRUNG HIẾU  
bán điện có thời hạn, giá bán buôn điện chuyển hàng hóa, hành khách tới nơi đến  
do các đơn vị điện lực thỏa thuận nhưng một cách an toàn theo lộ trình: Mua bảo  
không được vượt quá khung giá phát  
điện, khung giá bán buôn điện đã được  
phê duyệt.  
hiểm trách nhiệm dân sự đối với hành  
khách…, còn hành khách phải có nghĩa  
vụ tôn trọng, chấp hành đúng các quy  
định của bên vận chuyển và các quy  
định khác về bảo đảm an toàn giao thông  
- đây là nghĩa vụ bắt buộc trong hợp  
đồng. Điều 40, 41, 46 Luật Điện lực Việt  
Nam năm 2018 quy định đối với các hợp  
đồng cung cấp điện, bên cung cấp điện  
có nghĩa vụ cung cấp điện theo phương  
thức an toàn, phù hợp với các tiêu chuẩn  
chất lượng do Nhà nước ban hành. Bên  
sử dụng điện phải có nghĩa vụ sử dụng  
điện hợp lý theo cách thức an toàn, phù  
hợp với các quy định của Nhà nước.  
Giáchuyểnnhượngquyềnsửdụngđất  
không thấp hơn giá do Ủy ban nhân dân  
cấp tỉnh xác định. Khoản 11 Điều 2 Nghị  
định 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015  
của Chính phủ quy định chi tiết thi hành  
luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các  
luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số  
điều của các Nghị định về thuế sửa đổi  
Điều 18 Nghị định 65/2013/NĐ-CP ngày  
27/6/2013 của Chính phủ quy định chi  
tiết một số điều của luật thuế thu nhập  
cá nhân và luật sửa đổi, bổ sung một số  
điều của luật thuế thu nhập cá nhân quy  
định: “Trường hợp cho thuê lại mà đơn giá  
cho thuê lại trên hợp đồng thấp hơn giá do  
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời  
điểm cho thuê lại thì giá cho thuê lại được xác  
định căn cứ theo bảng giá do Ủy ban nhân  
dân cấp tỉnh quy định”. Việc quy định như  
vậy giúp hạn chế việc lạm quyền của cán  
bộ tài chính và bảo đảm quyền lợi hợp  
pháp của chủ thể.  
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng  
và phạt vi phạm hợp đồng  
Điều 40, 41, 46 Luật Điện lực Việt  
Nam năm 2018 quy định trách nhiệm của  
các bên khi vi phạm hợp đồng như sau:  
Trường hợp bên cung cấp điện không  
cung cấp theo phương thức an toàn do  
Nhà nước quy định và do đó gây thiệt  
hại cho bên sử dụng điện thì phải chịu  
trách nhiệm đối với thiệt hại đó. Trường  
hợp bên sử dụng điện không sử dụng  
điện theo cách thức an toàn theo quy  
định của Nhà nước và theo hợp đồng  
gây thiệt hại cho bên cung cấp điện và  
bên thứ ba thì phải chịu trách nhiệm đối  
với thiệt hại đó.  
Đối với một số loại hàng hóa, dịch  
vụ nhất định và có tính chất đặc thù  
như trên, Nhà nước quy định giá chuẩn  
buộc các bên phải giao kết hợp đồng theo  
khung giá quy định hoặc giới hạn khung  
giá cụ thể. Khi đó, các bên thực hiện theo  
mức giá do Nhà nước quy định mà không  
được quyền tự do, thỏa thuận.  
Ngoài ra, pháp luật cũng quy định  
những trường hợp hạn chế riêng đối với  
những nội dung khác. Việc pháp luật quy  
định nghĩa vụ bắt buộc của các bên trong  
một số hợp đồng liên quan đến lợi ích  
chung có ảnh hưởng đến trật tự kinh tế  
xã hội và nhằm mục đích bảo đảm trật tự  
kinh tế xã hội, bảo vệ trật tự cạnh tranh  
lành mạnh, bảo vệ quyền và lợi ích của  
- Quyền, nghĩa vụ của các bên  
Pháp luật quy định buộc các bên phải  
tuân thủ và phải quy định trong hợp  
đồng những điều khoản về nghĩa vụ của  
các bên. Ví dụ, theo các điều 128, 143,  
145, 148 Luật Hàng không dân dụng Việt  
Nam năm 2006, sửa đổi năm 2014 thì đối  
với hợp đồng vận chuyển hàng không, các bên, bảo vệ sự bình đẳng, công bằng,  
người vận chuyển phải có nghĩa vụ vận khách quan trong quan hệ hợp đồng.  
Số chuyên đề 4 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 53  
MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP NGOẠI LỆ...  
4. Ngoại lệ của việc tự do lựa chọn hữu căn hộ cùng sử dụng chung thửa  
đất trong nhà chung cư.  
hình thức giao kết hợp đồng  
- Về điều kiện hình thức hợp đồng  
Việc quy định giao kết hợp đồng bằng  
văn bản có mục đích tạo bằng chứng về  
hợp đồng được giao kết, tạo ra các chuẩn  
mực và bảo đảm thận trọng khi giao  
kết hợp đồng, đồng thời nhằm bảo vệ  
quyền lợi các bên, tránh xảy ra lừa dối,  
bội ước trong quá trình thực hiện hợp  
đồng. Pháp luật Việt Nam hiện hành quy  
định những loại hợp đồng buộc phải  
giao kết bằng hình thức văn bản thường  
là các hợp đồng có giá trị lớn, hợp đồng  
dài hạn, hợp đồng ký kết trong một số  
lĩnh vực đặc thù như: Hợp đồng về nhà  
ở theo quy định tại Điều 121 Luật Nhà  
ở năm 2014, Hợp đồng kinh doanh bất  
động sản quy định tại Khoản 3 Điều 61  
Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014;  
Hợp đồng Tín dụng quy định tại Điều 51  
Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa  
đổi năm 2017,…  
Xuất phát từ mục đích bảo vệ trật tự  
công cộng, bảo vệ lợi ích của người thứ  
ba hoặc nhằm bảo đảm giá trị chứng cứ  
khi phát sinh tranh chấp, pháp luật hợp  
đồng quy định một số trường hợp ngoại  
lệ đối với nguyên tắc tự do lựa chọn hình  
thức hợp đồng là:  
Một số loại hợp đồng phải được thiết  
lập bằng văn bản hoặc được giao kết theo  
thủ tục chặt chẽ. Đơn cử như theo quy  
định của Điều 345, BLDS năm 2015 về  
hình thức của tín chấp: “Việc cho vay có  
bảo đảm bằng tín chấp phải được lập thành  
văn bản có xác nhận của tổ chức chính trị -  
xꢀ hội bảo đảm bằng tín chấp về điều kiện,  
hoàn cảnh của bên vay vốn.”  
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử  
dụng đất được hướng dẫn theo quy định  
tại Điều 502 BLDS năm 2015, Điều 167  
Luật Đất đai năm 2013 và Điều 64 Nghị  
định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/204 của  
Chính phủ quy định chi tiết thi hành  
một số điều của luật đất đai. Theo đó,  
hình thức của hợp đồng chuyển nhượng  
quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với  
đất phải được lập thành văn bản và phải  
công chứng, chứng thực đối với từng  
loại hợp đồng cụ thể. Hợp đồng, văn bản  
giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền  
sở hữu tài sản gắn liền với đất của hộ gia  
đình phải được người có tên trên Giấy  
chứng nhận hoặc người được ủy quyền  
theo quy định của pháp luật về dân sự  
ký tên. Hợp đồng, văn bản giao dịch về  
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài  
sản gắn liền với đất của nhóm người sử  
dụng đất, nhóm chủ sở hữu tài sản gắn  
Ngoài ra, điều kiện hình thức hợp  
đồng mà pháp luật đề cập cần phải được  
giao kết theo một thủ tục chặt chẽ theo  
quy định của pháp luật. Các thủ tục này  
thường bao gồm: Đăng ký hợp đồng; phê  
chuẩn hợp đồng bởi cơ quan có thẩm  
quyền hoặc phải được công chứng, chứng  
thực, ví dụ hợp đồng mua bán hoặc hợp  
đồng thuê bất động sản phải được lập  
thành văn bản và công chứng thực. Việc  
quy định thủ tục giao kết hợp đồng có ý  
nghĩa trong việc thực hiện quản lý Nhà  
nước đối với một số lĩnh vực nhất định  
hoặc nhằm bảo đảm tính công khai của  
nội dung hợp đồng.  
- Về ảnh hưởng của điều kiện hình  
thức đối với hiệu lực của hợp đồng  
Theo nguyên tắc tự do ý chí, hợp  
liền với đất phải được tất cả các thành đồng có hiệu lực khi các bên đạt được  
viên trong nhóm ký tên hoặc có văn bản sự thỏa thuận về nội dung hợp đồng.  
ủy quyền theo quy định của pháp luật Nguyên tắc này được hầu hết hệ thống  
về dân sự, trừ trường hợp các chủ sở pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, xuất  
54 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 4 - 2020  
HOÀNG TRUNG HIẾU  
phát từ những lý do đã nêu trên, một số  
-
Trong trường hợp hợp đồng được  
nước quy định các trường hợp ngoại lệ, lập thành văn bản, được công chứng,  
chứng thực, đăng ký hoặc cho phép thì  
việc sửa đổi hợp đồng cũng phải tuân  
theo hình thức đó quy định tại khoản 3,  
Điều 421 của BLDS năm 2015.  
đối với một số hợp đồng nhất định pháp  
luật quy định hình thức hợp đồng là  
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Đây  
là các trường hợp liên quan đến hợp  
đồng mà việc đạt được thỏa thuận đủ  
để bảo đảm cho hợp đồng có hiệu lực.  
Trong trường hợp này, pháp luật quy  
định thỏa thuận của các bên muốn có  
hiệu lực phải: Thể hiện dưới hình thức  
văn bản; tuân theo những thủ tục nhất  
định. Các hợp đồng phải tuân thủ điều  
kiện này thường được quy định cụ thể  
trong các văn bản về hợp đồng của các  
nước, có những loại hợp đồng chỉ cần  
được thực hiện bằng văn bản nhưng có  
những loại hợp đồng phải tuân theo các  
điều kiện trên.  
Việc quy định điều kiện hình thức hợp  
đồng bằng văn bản trên cơ sở tôn trọng  
tối đa quyền tự do, tự nguyện thỏa thuận  
của các bên. Quy định này vừa bảo đảm  
nguyên tắc tự do hợp đồng đồng thời  
vẫn thể hiện sự tác động của Pháp luật  
vào hình thức hợp đồng ở mức độ nhất  
định, nhằm đạt được những mục đích cơ  
bản mà các nhà làm luật đã đưa ra.  
5. Ngoại lệ của việc tự do lựa chọn  
phương thức giải quyết tranh chấp  
Pháp luật Việt Nam thừa nhận nguyên  
tắc tự do lựa chọn phương thức giải quyết  
tranh chấp của các bên trong hợp đồng.  
Tuy nhiên, trong một số trường hợp cụ  
thể, nguyên tắc này có một số hạn chế sau:  
Theo quy định hiện hành của pháp  
luật Việt Nam, một số hợp đồng cụ thể  
bắt buộc phải được cơ quan có thẩm  
quyền công chứng hoặc chứng thực như:  
Đối với phương thức giải quyết tranh  
chấp bằng con đường trọng tài thì trọng  
tài chỉ thụ lý những tranh chấp phát sinh  
trong hoạt động thương mại quy định tại  
Điều 2 Luật Trọng tài thương mại năm  
2010. Các tranh chấp phát sinh trong lĩnh  
vực khác, các bên phải đưa tranh chấp ra  
giải quyết tại Tòa án hoặc tự thương lượng,  
đàm phán hoặc qua trung gian hòa giải.  
-
Hợp đồng mua bán nhà ở, trừ  
trường hợp bên bán nhà ở là tổ chức có  
chức năng kinh doanh nhà ở và hợp đồng  
tặng cho nhà ở hoặc bất động sản khác  
phải đăng ký quyền sở hữu, trừ bên tặng  
cho nhà ở là tổ chức quy định tại Điều  
122 của Luật Nhà ở năm 2014.  
-
Hợp đồng chuyển đổi, chuyển  
nhượng quyền sử dụng đất quy định tại  
Điều 502 của BLDS năm 2015; Điểm b,  
khoản 1, Điều 126; Điểm a, khoản 3, Điều  
167 của Luật Đất đai năm 2013.  
Đối với phương thức giải quyết tranh  
chấp qua Tòa án, trong một số trường  
hợp, pháp luật quy định những thủ tục  
nhất định và nếu các bên không tiến hành  
các thủ tục đó thì Tòa án sẽ không thụ  
lý để giải quyết vụ án. Ví dụ khi người  
khởi kiện nộp đơn khởi kiện vụ án lao  
động và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn  
đến Tòa án thì công việc đầu tiên của Tòa  
án là kiểm tra đơn khởi kiện. Về nguyên  
-
Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất  
quy định tại điểm b, khoản 3, Điều 167  
Luật Đất đai năm 2013.  
-
Hợp đồng tặng cho, thế chấp, góp  
vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử  
dụng đất và tài sản gắn liền với đất quy  
định tại điểm b, khoản 3, Điều 167 Luật tắc, đơn khởi kiện vụ án lao động cũng  
Đất đai năm 2013.  
phải có đầy đủ nội dung được quy định  
Số chuyên đề 4 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 55  
MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP NGOẠI LỆ...  
tại Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm nghĩa vụ hạn chế thiệt hại của bên bị vi  
2015. Sau khi kiểm tra đơn khởi kiện, nếu phạm khi bên kia vi phạm nghĩa vụ hợp  
thấy đơn có đầy đủ nội dung được quy đồng, gây thiệt hại cho mình. Ngoài ra,  
định thì công việc tiếp theo của Tòa án là nếu một thỏa thuận dù có hợp pháp hay  
kiểm tra các tài liệu, chứng cứ nộp kèm ràng buộc các bên hợp đồng nhưng ảnh  
theo đơn khởi kiện. Tùy theo yêu cầu của hưởng đến bên thứ ba ngay tình thì về  
người khởi kiện và quan hệ pháp luật có nguyên tắc, bên thứ ba ngay tình được  
tranh chấp mà Tòa án kiểm tra tài liệu bảo vệ.  
liên quan nộp kèm theo đơn khởi kiện.  
Khoản 2 Điều 3 BLDS năm 2015 còn  
Nếu các bên trình bày tranh chấp của họ  
quy định rằng: “Cam kết, thoả thuận hợp  
đã qua hòa giải cơ sở thì cán bộ thụ lý cần  
pháp có hiệu lực thực hiện đối với các bên  
yêu cầu người khởi kiện nộp cho Tòa án  
và phải được chủ thể khác tôn trọng”. Vấn  
giấy tờ, tài liệu chứng minh việc hòa giải  
đề đặt ra là các bên thứ ba (chủ thể khác)  
tại cơ sở không thành (Biên bản hòa giải  
không thuộc các bên hợp đồng thì làm  
không thành). Nếu không có đủ giấy tờ  
thế nào để biết và tôn trọng một hợp  
chứng minh việc hòa giải tại cơ sở, Tòa  
đồng do hai bên khác giao kết với nhau?  
án sẽ xem xét để quyết định không thụ  
Tôn trọng mang nghĩa pháp lý như thế  
lý vụ án.  
nào? Việc xác định một bên có hay không  
tôn trọng hợp đồng của các bên không  
liên quan khác như thế nào và hậu quả  
của việc không tôn trọng là gì? Bị xử phạt  
hành chính, hình sự (theo phạm vi áp  
dụng của pháp luật hành chính, hình sự)  
hay phải bồi thường thiệt hại (theo phạm  
vi áp dụng của pháp luật dân sự)? Nếu  
phải bồi thường thì bồi thường theo cơ  
chế nào? Như vậy, quy định một chủ thể  
khác có nghĩa vụ tôn trọng thỏa thuận  
riêng của các bên hợp đồng tại có đúng  
hay không?  
6. Một số kiến nghị hoàn thiện một số  
quy định của pháp luật về nguyên tắc tự  
do giao kết hợp đồng dân sự  
Về cơ bản, những quy định về pháp  
luật hợp đồng của BLDS năm 2015 đã bảo  
đảm được nguyên tắc tự do giao kết hợp  
đồng. BLDS năm 2015 thừa nhận nguyên  
tắc tự do tại khoản 2, Điều 3, quy định này  
không cho phép một cam kết hay thỏa  
thuận vi phạm điều cấm của luật hay đạo  
đức xã hội, tương đồng với quy định của  
các BLDS của các nước trên thế giới dù  
cách đặt tên khái niệm “điều cấm pháp luật  
và đạo đức xꢀ hội” là khác nhau. Hậu quả  
của hành vi vi phạm được quy định tại  
Điều 128; theo đó, hành vi vi phạm điều  
cấm của pháp luật hoặc đạo đức xã hội bị  
vô hiệu. Tuy nhiên, BLDS năm 2015 còn  
thiếu quy định liên quan đến hạn chế đối  
với quyền tự do hợp đồng trong trường  
hợp vi phạm nguyên tắc thiện chí, ngay  
tình. Nguyên tắc thiện chí, ngay tình đầu  
tiên được áp dụng giữa các bên hợp đồng  
khi các bên này giao kết hoặc thực hiện  
Những nội dung phân tích trên cho  
thấy, nguyên tắc tự do thỏa thuận của  
các chủ thể dẫn đến quyền tự do giao kết  
hợp đồng được thể hiện khá đa dạng,  
dẫn đến thực tiễn thực hiện quyền tự do  
hợp đồng theo quy định của pháp luật  
hiện hành còn nhiều hạn chế. Kiến nghị  
hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này tập  
trung vào việc sửa đổi, bổ sung một số  
quy định liên quan đến nguyên tắc tự do  
giao kết hợp đồng dân sự trong BLDS.  
Điều 398 BLDS năm 2015 quy định về  
hợp đồng, ví dụ như nghĩa vụ hợp tác các điều khoản nội dung của hợp đồng  
khi giao kết và thực hiện hợp đồng hay nhưng các điều khoản này lại không có  
56 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 4 - 2020  
HOÀNG TRUNG HIẾU  
giá trị bắt buộc, điều này rất khó xác định của BLDS. Một số văn bản pháp luật  
thỏa thuận nào được coi là hợp đồng, qua chuyên ngành do được ban hành trước  
đó để xác định một đề nghị như thế nào khi thông qua BLDS năm 2015, nên các  
được coi là đề nghị giao kết hợp đồng. quy định về hợp đồng trong các lĩnh vực  
Điều 386 BLDS năm 2015 quy định: “Đề cụ thể có những điểm không phù hợp,  
nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý mâu thuẫn thậm chí trái với quy định  
định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về hợp đồng trong BLDS. Do vậy, cần rà  
về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đꢀ soát lại các quy định về hợp đồng trong  
được xác định hoặc tới công chúng (sau đây các văn bản pháp luật chuyên ngành,  
gọi chung là bên được đề nghị). Trường hợp tiến hành sửa đổi, bổ sung các quy định  
đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn về hợp đồng trong các văn bản này, hủy  
trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng bỏ các quy định không còn phù hợp, để  
với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được bảo đảm sự thống nhất với quy định của  
đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại BLDS hiện hành./.  
cho bên được đề nghị mà không được giao kết  
hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh.”. Quy  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
định này chưa rõ ràng, đầy đủ và cụ thể.  
1. Hoàng Trung Hiếu, Nguyên tắc tự do  
giao kết hợp đồng dân sự, Khoá luận tốt nghiệp,  
Trường Đại học Luật Hà Nội, 2016.  
Trong thực tế, một lời đề nghị thiếu đối  
tượng của hợp đồng thì không thể coi là  
đề nghị giao kết hợp đồng. Vì vậy, cần bổ  
sung thêm một điều khoản vào Điều 386  
quy định về nội dung cơ bản của đề nghị  
giao kết hợp đồng.  
2. Nguyễn Văn Phái, Sꢁa đổi, bổ sung các  
quy định liên quan đến đề nghị giao kết hợp đồng  
trong Bộ luật dân sự, Tạp chí Nghiên cứu lập  
pháp, số 24/2010, tr. 36 - 43.  
Một trong những nội dung cơ bản của  
quyền tự do giao kết hợp đồng là các bên  
có quyền tự do lựa chọn phương thức giải  
quyết tranh chấp bao gồm thương lượng,  
hòa giải, trọng tài và tòa án. Tuy nhiên,  
các phương thức giải quyết tranh chấp  
này mới chỉ được quy định trong các luật  
chuyên ngành. BLDS chưa có điều khoản  
nào quy định cụ thể về các phương thức  
giải quyết tranh chấp mà chỉ quy định rải  
rác trong một số điều khoản có liên quan  
như Điều 429 BLDS năm 2015 quy định về  
thời hiệu khởi kiện hợp đồng dân sự. Do  
vậy, với vai trò là một đạo luật gốc, BLDS  
cần bổ sung điều khoản về các phương  
thức giải quyết tranh chấp hợp đồng  
nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của các  
bên khi tham gia và các giao dịch dân sự.  
3. Vũ Thị Hồng Yến, Bình luận quy định  
của Bộ luật dân sự năm 2015 về hợp đồng tặng  
cho tài sản, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật. Số  
9/2018, tr. 36 - 43.  
4. Nguyễn Thùy Trang, Bình luận về các  
biện pháp xꢁ lý vi phạm hợp đồng trong Bộ luật  
dân sự năm 2015, Tạp chí Khoa học pháp lý.  
Số 3(106)/2017, tr. 22 - 27.  
5. Trần Thị Thu Phương, Đề nghị giao kết  
hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam, Tạp  
chí Luật học. Số 2/2012, tr. 44 - 54.  
6. Hà Thị Thuý; Đoàn Đức Lương, Đánh  
giá và đề xuất diễn giải áp dụng quy định của Bộ  
luật dân sự năm 2015 về giao kết, thực hiện, sꢁa  
đổi, chấm dứt hợp đồng, Tạp chí Nhà nước và  
Pháp luật. 2020. Số 6, tr. 38–47.  
Bên cạnh đó, cần xem xét để sửa đổi  
cả những quy định tại các luật chuyên  
ngành cho phù hợp với những quy định  
Số chuyên đề 4 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 57  
pdf 10 trang Thùy Anh 9360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_truong_hop_ngoai_le_cua_nguyen_tac_tu_do_giao_ket_hop.pdf