Công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài - Kinh nghiệm từ công ước New York năm 1958 và luật mẫu Uncitral

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI -  
KINH NGHIỆM TỪ CÔNG ƯỚC NEW YORK NĂM 1958  
VÀ LUẬT MẪU UNCITRAL  
Nguyễn Thị Thanh Ngân  
Công ty cổ phần Superbrain Group  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Phán quyết của trọng  
tài nước ngoài, Công ước New  
York năm 1958, Luật Mẫu  
UNCITRAL.  
Đứng trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế quốc tế và giao lưu  
thương mại, nhu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài  
nước ngoài tại Việt Nam cũng bắt đầu tăng theo. Với nhiều nỗ lực trong  
việc phát triển phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, đánh  
dấu sự ra đời của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (Luật TTTM năm  
2010) và cải thiện thủ tục công nhận và cho thi hành phán quyết của  
trọng tài nước ngoài bằng những sửa đổi, bổ sung các quy định tương  
ứng trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Bộ luật TTDS năm 2015).  
Tuy nhiên, trong suốt thời gian qua hoạt động công nhận và cho thi hành  
phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập.  
Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày, phân tích các quy định về  
công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Công  
ước New York năm 1958; Luật Mẫu UNCITRAL về trọng tài quốc tế  
năm 1985 (Luật Mẫu); và các quy định của pháp luật Việt Nam về công  
nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài, trong đó chỉ ra  
một số bất cập và đưa ra kiến nghị hoàn thiện.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 11/01/2021  
: 26/01/2021  
: 03/02/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Keywords: Foreign arbitral  
awards; the New York Convention  
1958; UNCITRAL Model Law on  
International Arbitration 1985  
Faced with the strong development of the international economy and  
trade exchanges, the demand for recognition and enforcement of foreign  
arbitral awards in Vietnam has increased. With efforts in developing the  
method of dispute settlement by arbitration, marking issuance of the  
Law on Commercial Arbitration 2010 and the improved procedures for  
recognition and enforcement of awards of foreign arbitration by amending  
the corresponding provisions in the Civil Procedure Code of 2015.  
However, several shortcomings have been unveiled in recognizing and  
enforcing foreign arbitral awards in Vietnam for the last time. Within the  
scope of this article, the author provides an introduction and analysis of the  
provisions on recognition and enforcement of foreign arbitral awards in  
the New York Convention 1958; UNCITRAL Model Law on International  
Arbitration 1985 (Model Law); and the provisions of Vietnamese law on  
the recognition and enforcement of foreign arbitral awards, which point  
out some shortcomings and make recommendations for improvement.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 11 Jan. 2021  
: 26 Jan. 2021  
: 03 Feb. 2021  
Approved  
1. Dẫn nhập  
nước ngoài tại Việt Nam còn ở mức cao so  
với các nước trong khu vực và trên thế giới,  
ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết tranh  
Số liệu thống kê gần đây cho thấy, tỷ lệ  
không công nhận phán quyết của trọng tài  
12  
Số 10(434) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
chấp bằng trọng tài1. Nguyên nhân xuất phát  
từ việc các tòa án cấp sơ thẩm vẫn còn gặp  
một số khó khăn trong việc diễn giải các quy  
định có liên quan của Bộ luật TTDS cũng  
như Công ước New York năm 1958 (Công  
ước). Từ đó, dẫn đến việc áp dụng không  
thống nhất các quy định này trong giải quyết  
đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán  
quyết của trọng tài nước ngoài. Việc tòa  
án không công nhận phán quyết của trọng  
tài nước ngoài với tỷ lệ cao mà không có  
cơ sở thuyết phục có thể gián tiếp khuyến  
khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp  
vi phạm hợp đồng, vi phạm thỏa thuận ảnh  
hưởng đến uy tín của doanh nghiệp, tổ chức  
cá nhân của Việt Nam trong hoạt động kinh  
doanh2, từ đó làm suy giảm uy tín của Việt  
Nam trên trường quốc tế. Bên cạnh đó, việc  
Việt Nam không công nhận phán quyết của  
trọng tài nước ngoài phù hợp với Công ước  
còn có thể dẫn đến việc phía nước ngoài  
kiện Chính phủ Việt Nam theo các hiệp định  
khuyến khích và bảo hộ đầu tư cũng như  
các điều ước quốc tế khác mà Việt Nam là  
thành viên, gây ra hệ lụy phức tạp, tốn kém  
về nguồn lực xử lý.  
và có tính ràng buộc thay vì đưa ra tòa án.  
Phán quyết trọng tài có 03 (ba) đặc điểm:  
(i) có sự đồng thuận dựa trên sự thỏa thuận  
của các bên; (ii) là biện pháp giải quyết  
tranh chấp có tính chung thẩm (có hiệu lực  
pháp luật ngay) và ràng buộc các bên; (iii)  
là phương thức thay thế tố tụng tại tòa án.  
Khác với quyết định của trọng tài là  
quyết định được ban hành trong quá trình  
giải quyết tranh chấp, phán quyết của trọng  
tài là quyết định giải quyết toàn bộ tranh  
chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài. Những  
phán quyết này sẽ được xem xét để công  
nhận và cho thi hành tại một quốc gia khác  
không phải là quốc gia nơi phán quyết  
được tuyên.  
2.1. Quy định của Công ước New York  
năm 1958 về công nhận và cho thi hành  
phán quyết của trọng tài nước ngoài  
Với mong muốn thiết lập một cơ chế  
công nhận và cho thi hành đơn giản, hiệu  
quả, Công ước tiếp cận trên tinh thần ủng  
hộ cho việc thi hành theo cơ chế chọn - bỏ,  
điều đó có nghĩa là, về cơ bản các phán quyết  
của trọng tài nước ngoài sẽ được công nhận  
và cho thi hành tại các quốc gia là thành  
viên của Công ước, chỉ trừ một số trường  
hợp hữu hạn mà bị từ chối. Các phán quyết  
trọng tài nước ngoài sẽ được thi hành như  
những quyết định của tòa án địa phương và  
hệ thống các cơ quan tư pháp của Nhà nước  
có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế để  
thi hành phán quyết3.  
2. Quy định của Công ước New York  
năm 1958, Luật Mẫu về công nhận và  
cho thi hành phán quyết của trọng tài  
nước ngoài  
Thể thức trọng tài là một phương thức  
giải quyết tranh chấp mà trong đó các bên  
thống nhất đưa tranh chấp ra một bên thứ  
ba là bên sẽ đưa ra quyết định chung thẩm  
1 Nguyễn Mạnh Dũng (2020), Báo cáo đánh giá, so sánh quy định của pháp luật Việt Nam về công nhận và cho  
thi hành phán quyết trọng tài với Luật Mẫu UNCITRAL, đề xuất khả năng áp dụng Luật Mẫu tại Việt Nam, tr.6.  
2 Hiện nay, nhiều đối tác nước ngoài như Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Bắc Ai Len, Thụy Sĩ, Hiệp hội trọng tài  
Bông quốc tế,… đã nhiều lần gửi thư và gặp các cơ quan của Việt Nam (Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công  
thương, Tòa án nhân dân tối cao,..) chính thức bày tỏ quan ngại về tỷ lệ lớn các phán quyết của trọng tài nước  
ngoài không được công nhận tại Việt Nam, việc giải thích các yêu cầu công nhận và thi hành phán quyết của  
trọng tài nước ngoài tại Việt Nam chưa phù hợp với Công ước.  
3 Tòa án nhân dân tối cao (2018), Chuyên đề: Công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài  
tại Việt Nam, tài liệu tập huấn trực tuyến ngày 25/6/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, tr.2.  
Số 10(434) - T5/2021  
13  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Công ước xác định những nguyên tắc  
chính trong quá trình công nhận và cho thi  
hành phán quyết của trọng tài nước ngoài  
như sau:  
Theo đó, bên phải thi hành có nghĩa vụ  
chứng minh các bên trong một thỏa thuận  
trọng tài, theo pháp luật của mỗi bên không  
có đủ năng lực pháp luật để tham gia thỏa  
thuận hoặc thỏa thuận trọng tài không có  
giá trị pháp luật theo pháp luật các bên chịu  
sự điều chỉnh hoặc theo pháp luật của nước  
nơi phán quyết được tuyên.  
- Các quốc gia thành viên Công ước thừa  
nhận giá trị hiệu lực của một thỏa thuận  
trọng tài bằng văn bản, đồng thời đảm bảo  
các tòa án của họ sẽ từ chối thụ lý vụ kiện  
trong trường hợp các bên tranh chấp đã có  
một thỏa thuận trọng tài;  
Một trường hợp khác, bên phải thi  
hành phán quyết phải chứng minh được  
rằng mình không được thông báo một  
cách phù hợp về việc chỉ định trọng tài  
viên hoặc về tố tụng trọng tài hoặc do một  
nguyên nhân khác không thể trình bày vụ  
việc của mình.  
- Các quốc gia thành viên bảo đảm việc  
công nhận và cho thi hành trên lãnh thổ của  
quốc gia mình một phán quyết của trọng tài  
đã được tuyên trên lãnh thổ quốc gia thành  
viên khác;  
- Các quốc gia thành viên không được có  
sự phân biệt đối xử giữa công nhận và thi  
hành phán quyết của trọng tài nước ngoài  
so với phán quyết của trọng tài trong nước;4  
Bên cạnh đó, liên quan đến trường hợp  
vượt quá yêu cầu khởi kiện, người phải  
thi hành phải chứng minh phán quyết giải  
quyết tranh chấp không được dự liệu trong  
các điều khoản của đơn yêu cầu đưa ra trọng  
tài giải quyết hay nằm ngoài điều khoản đó  
hoặc phán quyết trọng tài bao gồm các quyết  
định nằm ngoài phạm vi yêu cầu giải quyết  
bằng trọng tài. Tuy nhiên, trong trường hợp  
các quyết định nằm ngoài đó có thể tách rời  
với các quyết định nằm trong phạm vi yêu  
cầu thì phần quyết định thuộc phạm vi yêu  
cầu đó vẫn có thể được xem xét công nhận  
và cho thi hành.  
- Công ước không loại trừ quyền được áp  
dụng các quy định có lợi hơn đối với việc  
công nhận và cho thi hành phán quyết của  
trọng tài được quy định trong các điều ước  
quốc tế khác hoặc pháp luật quốc gia.  
Bên cạnh đó, Công ước cũng đề ra một  
số trường hợp mà căn cứ theo đó, quốc gia  
thành viên có thể từ chối công nhận và cho  
thi hành phán quyết của trọng tài của quốc  
gia thành viên khác, bao gồm:  
Vi phạm thủ tục tố tụng trọng tài: Đây là  
trường hợp mà quá trình tiến hành tố tụng  
hoặc thành phần tham gia tố tụng trọng tài  
vi phạm sự thỏa thuận của các bên hoặc  
pháp luật nơi tiến hành tố tụng (nếu không  
có thỏa thuận). Phán quyết chưa có hiệu lực  
pháp luật hoặc bị đình chỉ, bị hủy theo pháp  
luật hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước  
nơi phán quyết được tuyên cũng là một căn  
cứ từ chối công nhận và cho thi hành theo  
các điều khoản của Công ước.  
- Nhóm 1: Các trường hợp mà người  
phải thi hành có nghĩa vụ chứng minh: (i)  
các bên không có năng lực thỏa thuận trọng  
tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu; (ii)  
vi phạm thủ tục thông báo hoặc không thể  
trình bày vụ việc; (iii) phán quyết vượt khỏi  
yêu cầu khởi kiện; (iv) vi phạm thủ tục tố  
tụng trọng tài; (v) phán quyết chưa có hiệu  
lực pháp luật hoặc bị đình chỉ, bị hủy theo  
pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền của  
nước nơi phán quyết được tuyên.  
4 Không phân biệt đối xử nghĩa là không được đặt ra các điều kiện khó khăn đáng kể hoặc các khoản phí cao  
hơn so với công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài trong nước.  
14  
Số 10(434) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
- Nhóm 2: Các trường hợp tòa án tự  
xem xét để ra quyết định từ chối công  
nhận và cho thi hành: (i) đối tượng tranh  
chấp theo pháp luật của nước có yêu cầu  
công nhận và cho thi hành không được  
giải quyết bằng trọng tài; (ii) việc công  
nhận và cho thi hành là trái với trật tự  
công cộng của nơi công nhận và cho thi  
hành phán quyết.  
Hiện nay, Luật Mẫu ngày càng khẳng  
định vị trí của mình khi nhận được sự đồng  
thuận của nhiều quốc gia đối với các vấn  
đề quan trọng trong thực tiễn tố tụng trọng  
tài. Chỉ tính riêng khu vực ASEAN, đã có  
tới 7/10 quốc gia thành viên áp dụng Luật  
Mẫu6. Đặc biệt, trong những năm gần đây,  
nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ đã đưa  
Luật Mẫu trở thành pháp luật điều chỉnh  
hoạt động trọng tài ở nước mình7.  
Như vậy, Công ước quy định rất rõ các  
nguyên tắc và các căn cứ từ chối công nhận  
và cho thi hành phán quyết của trọng tài  
nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi để các  
quốc gia thành viên thực thi Công ước một  
cách có hiệu quả nhất.  
Tính chất quốc tế của trọng tài theo quy  
định của Luật Mẫu không được xác định  
trên cơ sở quốc tịch của trọng tài viên8.  
Theo đó, tính quốc tế trước tiên phụ thuộc  
vào địa điểm kinh doanh của các bên trong  
thỏa thuận trọng tài. Nếu địa điểm kinh  
doanh của các bên tại các quốc gia khác  
nhau, thì trọng tài được xem là “quốc tế”.  
Trong trường hợp địa điểm kinh doanh của  
các bên không cùng ở tại một quốc gia, các  
yếu tố khác sẽ được xem xét để xác định  
địa điểm tố tụng trọng tài, bất kỳ địa điểm  
nào mà một phần đáng kể của các nghĩa vụ  
trong quan hệ thương mại được thực hiện,  
… Bên cạnh đó, yếu tố quốc tế của trọng tài  
còn có thể được xác định theo thỏa thuận  
của các bên9.  
2.2. Quy định của Luật Mẫu về công  
nhận và cho thi hành phán quyết của trọng  
tài nước ngoài  
Khác với Công ước chỉ quy định về hai  
hoạt động là thi hành thỏa thuận trọng tài và  
công nhận và cho thi hành phán quyết trọng  
tài, các quy định của Luật Mẫu bao gồm  
toàn bộ quá trình tố tụng trọng tài. Bên cạnh  
đó, Luật Mẫu không có tính chất như một  
điều ước quốc tế, không buộc các quốc gia  
phải tuân thủ tuyệt đối. Luật Mẫu chỉ mang  
tính chất khuyến nghị và mềm dẻo, linh  
hoạt để các quốc gia vận dụng và chuyển  
hóa vào hệ thống pháp luật trong nước, đảm  
bảo tối đa sự hài hòa pháp luật về trọng tài  
của các quốc gia5.  
Công nhận và cho thi hành phán quyết  
trọng tài10 được quy định tại Điều 35 và các  
căn cứ từ chối công nhận và cho thi hành  
quy định tại Điều 36 Luật Mẫu. Có thể thấy  
5 Nguyễn Mạnh Dũng (2020), tlđd (1), tr.10.  
6 Bao gồm: Brunei, Malaysia, Philippines, Campuchia, Myanmar, Singapore, Thái Lan. Bên cạnh đó Luật Mẫu  
cũng được áp dụng tại nhiều quốc gia nơi có hệ thống trọng tài phát triển như Anh, Singapore, Hồng Kông,  
Nhật bản, Hàn Quốc,…  
7 Điển hình như Quatar, Mông Cổ, Nam Phi, MaCao, …  
8 Theo khoản 3 Điều 1 Luật Mẫu.  
9 Các bên đồng ý rằng nội dung của thỏa thuận trọng tài liên quan đến nhiều hơn một quốc gia.  
10 Luật Mẫu không giải thích hoặc định nghĩa như thế nào là phán quyết trọng tài. Thay vào đó Luật Mẫu chỉ  
quy định phán quyết trọng tài bao gồm cả phán quyết theo thỏa thuận ghi nhận sự thỏa thuận của các bên trong  
quá trình tiến hành tố tụng trọng tài; phán quyết phải bằng văn bản do trọng tài viên hoặc các trọng tài viên ký.  
Nội dung phán quyết bao gồm: (i) lý do đưa ra phán quyết và (ii) ngày tháng, địa điểm tố tụng trọng tài (Xem  
Điều 30, Điều 31 Luật Mẫu).  
Số 10(434) - T5/2021  
15  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
tiêu đề của chương VII, Điều 35 và Điều 36  
đều không nhắc tới “phán quyết trọng tài  
nước ngoài” như Công ước. Nội dung của  
Điều 35 cũng khẳng định việc công nhận  
và cho thi hành phán quyết của trọng tài là  
“không phụ thuộc vào quốc gia phán quyết  
được tuyên”. Việc áp dụng chung thủ tục  
công nhận và cho thi hành với tất cả các  
phán quyết không phân biệt nơi phán quyết  
được tuyên để tạo ra cơ chế công bằng cho  
cả phán quyết trọng tài trong nước và phán  
quyết trọng tài quốc tế. Như vậy, có thể  
thấy, phạm vi áp dụng của Luật Mẫu là rộng  
hơn Công ước bởi lẽ việc công nhận và cho  
thi hành không chỉ bị giới hạn trong phạm  
vi phán quyết “nước ngoài”.  
hay không là quyền của tòa án nơi công  
nhận và cho thi hành.  
Các quyết định về biện pháp tạm thời  
cũng sẽ được công nhận và cho thi hành  
theo Luật Mẫu. Các quy định về công nhận  
và cho thi hành quyết định về biện pháp tạm  
thời không bị giới hạn bởi việc hội đồng  
trọng tài ban hành biện pháp tạm thời tại  
nơi tiến hành tố tụng trọng tài. Tòa án nơi  
quốc gia có yêu cầu công nhận hoặc cho thi  
hành có thể buộc bên đưa ra yêu cầu thực  
hiện bảo đảm phù hợp nếu xét thấy là hành  
động cần thiết để bảo vệ quyền của bên thứ  
ba. Tòa án cũng sẽ không xem xét lại nội  
dung của biện pháp bảo đảm mà chỉ xem  
xét các căn cứ để từ chối công nhận và cho  
thi hành.  
Luật Mẫu không quy định về thời hạn  
công nhận và cho thi hành phán quyết trọng  
tài. Theo đó, người được thi hành phán  
quyết trọng tài tùy theo điều kiện và khả  
năng của bản thân có thể nộp đơn đề nghị  
tòa án nơi phán quyết được thi hành bất cứ  
lúc nào. Tuy nhiên, ở các quốc gia thành  
viên của Công ước nơi mà phán quyết sẽ  
được công nhận và cho thi hành hầu hết đều  
quy định về thời hạn để người được thi hành  
nộp đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành.  
3. Quy định của pháp luật Việt Nam về  
công nhận và cho thi hành phán quyết  
của trọng tài nước ngoài  
Theo pháp luật Việt Nam, trọng tài nước  
ngoài là trọng tài được thành lập trên cơ sở  
quy định của pháp luật nước ngoài do các  
bên thỏa thuận lựa chọn để tiến hành giải  
quyết tranh chấp có thể phát sinh ở ngoài  
lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ  
Việt Nam11. Phán quyết của trọng tài nước  
ngoài là phán quyết do trọng tài nước ngoài  
tuyên để giải quyết tranh chấp do các bên  
thỏa thuận lựa chọn12, tức là không phụ  
thuộc vào địa điểm giải quyết tranh chấp.  
Luật TTTM năm 2010 không quy định rõ  
địa điểm tố tụng trọng tài có ảnh hưởng như  
thế nào đến tính chất “nước ngoài” của trọng  
tài và căn cứ nào để xác định trọng tài được  
thành lập theo pháp luật nước ngoài13. Đối  
với trọng tài quy chế, việc xác định trọng tài  
đối với vụ việc cụ thể có thể được xác định  
Luật Mẫu còn bổ sung một quy định về  
việc tòa án nơi công nhận hoặc thi hành có  
thể hoãn việc ra quyết định nếu có đơn yêu  
cầu hủy hoặc đình chỉ phán quyết trọng tài  
tại quốc gia nơi phán quyết được tuyên và  
khi đó tòa án, theo yêu cầu của bên đề nghị  
công nhận và cho thi hành phán quyết yêu  
cầu bên phải thi hành nộp phí bảo đảm. Đây  
là quy định nhằm mục đích đảm bảo và cân  
bằng quyền lợi của các bên trong tố tụng  
trọng tài ở giai đoạn công nhận và cho thi  
hành. Tuy nhiên, việc có hoãn ra quyết định  
11 Khoản 11 Điều 3 Luật TTTM năm 2010.  
12 Khoản 12 Điều 3 Luật TTTM năm 2010.  
13  
Nguyễn Mạnh Dũng (2020), tlđd (1), tr.19.  
16  
Số 10(434) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
dễ dàng hơn. Tuy nhiên, đối với trọng tài  
vụ việc mà tố tụng trọng tài hoàn toàn phụ  
thuộc vào sự thỏa thuận của các bên thì việc  
xác định trọng tài được thành lập theo nước  
nào có thể gặp không ít khó khăn, nhất là  
khi yếu tố địa điểm tố tụng trọng tài không  
được nhắc đến. Với quy định hiện hành của  
pháp luật Việt Nam, việc xác định một phán  
quyết trọng tài có phải là phán quyết trọng  
tài nước ngoài hay không sẽ là rất khó khăn.  
Trên cơ sở Công ước, khi gia nhập Việt  
Nam đã giới hạn phạm vi áp dụng của Công  
ước tại Quyết định số 453/QĐ-CTN ngày  
28/7/1995 của Chủ tịch nước về việc tham gia  
Công ước New York năm 1958 (Quyết định  
số 453). Điều 2 Quyết định số 453 đưa ra 03  
(ba) điều bảo lưu cơ bản của Việt Nam16:  
(1) Công ước chỉ áp dụng đối với việc  
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam  
quyết định của trọng tài nước ngoài được  
tuyên tại lãnh thổ của các quốc gia thành  
viên của Công ước; đối với quyết định  
trọng tài nước ngoài được tuyên tại lãnh thổ  
quốc gia chưa ký kết hoặc tham gia Công  
ước, Công ước áp dụng tại Việt Nam theo  
nguyên tắc có đi có lại.  
Hiện nay, thủ tục công nhận và cho thi  
hành phán quyết trọng tài nước ngoài được  
quy định trong phần thứ bảy Bộ luật TTDS  
năm 2015. Để phân biệt giữa phán quyết  
trọng tài (quyết định giải quyết nội dung  
vụ việc) và các quyết định khác của trọng  
tài (về trình tự tố tụng), Bộ luật TTDS năm  
2015 đã sử dụng từ “phán quyết” thay cho  
“quyết định”, đồng thời dẫn chiếu đến các  
khái niệm đã được định nghĩa trong pháp  
luật trọng tài14. Bộ luật TTDS năm 2015  
cũng đã bổ sung trở lại nghĩa vụ chứng minh  
của bên phải thi hành trong các trường hợp  
không công nhận theo quy định của Công  
Ước15. Trình tự thủ tục công nhận và cho thi  
hành có những sửa đổi theo hướng rút ngắn  
thời hạn, giảm bớt khâu trung gian để đẩy  
mạnh tiến trình công nhận và cho thi hành.  
(2) Chỉ áp dụng Công ước đối với tranh  
chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật  
thương mại.  
(3) Mọi sự giải thích Công ước trước tòa  
án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của  
Việt Nam phải tuân thủ các quy định của  
Hiến pháp và pháp luật Việt Nam.  
Hiện nay, khoản 3 Điều 2 Bộ luật TTDS  
năm 2015 quy định: “Bộ luật TTDS được  
áp dụng đối với việc giải quyết việc dân sự  
có yếu tố nước ngoài; trường hợp điều ước  
14 Luật Trọng tài thương mại năm 2010; Nghị định số 63/2011/NĐ-CP ngày 28/7/2011 của Chính phủ quy định  
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trọng tài thương mại và các văn bản sửa đổi, bổ sung; Thông  
tư số 12/2012/TT-BTP ngày 07/11/2012/TT-BTP ngày 07/11/2012 của Bộ Tư pháp ban hành một số biểu mẫu và  
tổ chức hoạt động của trọng tài thương mại; Nghị quyết số 01/2014/NQ - HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng  
thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại.  
15 Văn bản điều chỉnh việc công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài đầu tiên là Pháp lệnh  
công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài năm 1995 (Pháp lệnh năm 1995). Pháp lệnh đã  
quy định nhiều nội dung rất gần với các quy định của Công ước và Luật Mẫu, trong đó có quy định các trường  
hợp không công nhận và cho thi hành nếu bên phải thi hành có sự chứng minh hợp lý (Xem Điều 16 Pháp lệnh  
năm 1995). Tuy vậy, tại thời điểm đó, các quy định về tố tụng dân sự của Việt Nam còn chưa được thống nhất  
nên hiệu quả mà Pháp lệnh 1995 mang lại là không cao. Tiếp theo đó, năm 2004, Bộ luật TTDS năm 2004, tại  
phần thứ sáu quy định về thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài,  
Điều 370 Bộ luật TTDS năm 2004 lại bỏ nội dung về nghĩa vụ chứng minh các trường hợp không công nhận  
thuộc về người phải thi hành, gây ra nhiều vướng mắc trong thực tiễn áp dụng dẫn đến nhiều trường hợp quyết  
định của trọng tài nước ngoài không được công nhận và cho thi hành.  
16 Điều 2 Quyết định số 453.  
Số 10(434) - T5/2021  
17  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt  
Nam là thành viên có quy định khác thì áp  
dụng quy định của điều ước quốc tế đó”.  
- Nhóm 2: Khi tòa án Việt Nam xét thấy:  
(i) vụ tranh chấp không được giải quyết theo  
thể thức trọng tài theo pháp luật Việt Nam19;  
và (ii) việc công nhận và cho thi hành phán  
quyết tại Việt Nam là trái với các nguyên  
tắc cơ bản của pháp luật nước Cộng hòa xã  
hội chủ nghĩa Việt Nam.  
Theo quy định của Điều 424 Bộ luật TTDS  
năm 2015, Tòa án Việt Nam xem xét đơn yêu  
cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam  
phán quyết của trọng tài nước ngoài theo hai  
nguyên tắc cơ bản: trên cơ sở điều ước quốc  
tế17 và trên nguyên tắc có đi có lại18.  
Khi xem xét đơn yêu cầu công nhận  
và cho thi hành, Hội đồng trọng tài không  
được xét xử lại tranh chấp đã được trọng  
tài nước ngoài ra phán quyết mà chỉ được  
kiểm tra, đối chiếu phán quyết của trọng  
tài nước ngoài, giấy tờ, tài liệu kèm theo  
đơn yêu cầu để làm cơ sở cho việc ra quyết  
định công nhận hoặc không công nhận phán  
quyết đó. Hội đồng xét đơn yêu cầu phải  
đánh giá chứng cứ do các bên xuất trình  
một cách cẩn trọng, kỹ lưỡng và vô tư20.  
Khi một phán quyết trọng tài nước ngoài  
được tòa án Việt Nam công nhận và cho thi  
hành tại Việt Nam thì phán quyết đó sẽ có  
“hiệu lực pháp luật” như quyết định của tòa  
án Việt Nam đã có hiệu lực pháp luật. Do  
đó, khi tòa án được yêu cầu công nhận phán  
quyết trọng tài, tòa án không chỉ được yêu  
cầu công nhận hiệu lực pháp lý của phán  
quyết mà còn phải đảm bảo phán quyết đó  
được thi hành21. Điều 427 Bộ luật TTDS  
năm 2015 quy định, phán quyết được công  
nhận sẽ được thi hành theo thủ tục thi hành  
án dân sự và chỉ được thi hành sau khi có  
quyết định của tòa án Việt Nam công nhận  
và cho thi hành phán quyết của trọng tài  
nước ngoài có hiệu lực pháp luật.  
Bộ luật TTDS năm 2015 đã nội luật hóa  
Điều V của Công ước về các trường hợp từ  
chối công nhận và cho thi hành phán quyết  
của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam (Điều  
459). Theo đó, căn cứ để tòa án không công  
nhận và cho thi hành phán quyết của trọng  
tài nước ngoài gồm hai nhóm sau:  
- Nhóm 1: Bên có nghĩa vụ phải thi hành  
cung cấp chứng cứ cho tòa án chứng minh  
rằng: (i) các bên ký thỏa thuận trọng tài  
không có năng lực để ký kết theo pháp luật  
mỗi bên; (ii) thỏa thuận trọng tài không có  
giá trị pháp lý; (iii) bên phải thi hành không  
được thông báo kịp thời và hợp thức về  
việc giải quyết vụ tranh chấp hoặc không  
thể thực hiện được quyền tố tụng của mình  
(với lý do chính đáng); (iv) phán quyết  
được tuyên không được các bên yêu cầu  
giải quyết hoặc vượt quá yêu cầu của các  
bên; (v) thành phần, thủ tục giải quyết tranh  
chấp không phù hợp; (vi) phán quyết chưa  
có hiệu lực bắt buộc đối với các bên; (vii)  
phán quyết bị cơ quan có thẩm quyền của  
nước nơi phán quyết đã được tuyên hoặc  
của nước có pháp luật đã được áp dụng hủy  
bỏ hoặc đình chỉ thi hành.  
Do vậy, công nhận và cho thi hành tại  
Việt Nam phán quyết của trọng tài nước  
17 Điểm a khoản 1 Điều 424 Bộ luật TTDS 2015.  
18 Điểm b khoản 1 Điều 424 Bộ luật TTDS 2015.  
19  
Một tranh chấp có thể được coi là không thể trọng tài nếu nó thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án  
Việt Nam theo Điều 470 Bộ luật TTDS năm 2015.  
20 Tòa án nhân dân tối cao (2018), tlđd (2), tr.16.  
21 Tòa án nhân dân tối cao (2018), tlđd (2), tr. 3.  
18  
Số 10(434) - T5/2021  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
ngoài là một thủ tục tố tụng đặc biệt do tòa  
án tiến hành nhằm xem xét để công nhận  
tính hiệu lực của phán định trọng tài nước  
ngoài trên phạm vi lãnh thổ của Việt Nam.  
kịp thời các thông tin hoặc không thể tham  
gia thực hiện quyền tố tụng của mình với lý  
do chính đáng; (iii) việc công nhận và cho  
thi hành là trái với nguyên tắc cơ bản của  
pháp luật Việt Nam.  
Tuy nhiên, ranh giới giữa việc xem xét  
các yêu cầu để ra quyết định có công nhận  
phán quyết trọng tài hay không với việc  
xem xét nội dung của phán quyết trong  
nhiều trường hợp khó phân biệt rõ ràng như  
căn cứ liên quan đến năng lực của các bên,  
hiệu lực của thỏa thuận trọng tài hoặc vi  
phạm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật  
Việt Nam.  
Những bất cập nêu trên xuất phát từ  
những nguyên nhân sau đây:  
Thứ nhất, chưa có văn bản hướng  
dẫn thống nhất về xác định người phải  
thi hành, nguyên tắc có đi có lại, căn cứ  
hủy phán quyết và từ chối công nhận do  
vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật  
Việt Nam.  
Theo thống kê số liệu giai đoạn báo cáo  
từ ngày 01/02/2012 đến ngày 30/9/201922  
có 33 yêu cầu công nhận và cho thi hành  
phán quyết trọng tài nước ngoài không  
được tòa án thụ lý giải quyết; 84 vụ việc  
thu thập được các quyết định giải quyết và  
đưa ra kết quả giải quyết23 tập trung ở các  
tòa án Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh,  
Bình Dương, Long An24 trong đó 39 vụ việc  
được công nhận và cho thi hành, 33 vụ việc  
không được công nhận, 12 vụ việc đình chỉ  
giải quyết.  
Thứ hai, cách hiểu và áp dụng Công ước  
của các tòa án không được thống nhất (có  
tòa án sẽ đánh giá quyết định của trọng tài  
nước ngoài so với quy định của Công ước  
và Bộ luật TTDS; có tòa án lại không đề cập  
gì đến Công ước hoặc có tòa án chỉ nhắc  
đến tên Công ước mà không có phân tích  
gì thêm).  
Thứ ba, công tác tổng kết, rà soát, đánh  
giá, đôn đốc việc công nhận và cho thi hành  
phán quyết trọng tài cũng như thực hiện  
Công ước chưa được quan tâm đúng mức.  
Một nghiên cứu chỉ ra rằng25, việc tòa  
án không công nhận và cho thi hành phán  
quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam  
thường dựa vào các lý do như: (i) các bên  
tham gia thỏa thuận trọng tài không có năng  
lực để ký thỏa thuận; (ii) cá nhân, tổ chức  
có nghĩa vụ thi hành không được thông báo  
4. Khả năng áp dụng Luật Mẫu trong  
thủ tục công nhận và cho thi hành phán  
quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam  
Mặc dù Công ước đã có hiệu lực tại  
Việt Nam trong 25 năm, tỉ lệ công nhận  
và cho thi hành phán quyết trọng tài ở  
22 Có 55/66 Tòa án có báo cáo. Số liệu được nêu có thể không phản ánh hoàn toàn chính xác thực trạng công  
nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài ở Việt Nam do số liệu cung cấp không đầy đủ.  
23 Số lượng được giải quyết theo Bộ luật TTDS năm 2015 là 23 vụ việc, trong đó 11 vụ việc được công nhận  
và cho thi hành, 5 vụ việc không công nhận và 7 vụ việc đình chỉ giải quyết.  
24 Tòa án Tp. Hà Nội: 15 vụ việc; Tòa án Tp. Hồ Chí Minh: 38 vụ việc; Tòa án tỉnh Bình Dương: 5 vụ việc;  
Tòa án tỉnh Long An: 5 vụ việc.  
25 Nguyễn Mạnh Dũng (2020), tlđd (1), tr. 29. Các căn cứ này được quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1 và  
điểm b khoản 2 Điều V Công ước; điểm a, c khoản 1 Điều 370 Bộ luật TTDS năm 2004; điểm b khoản 2 Điều  
370 Bộ luật TTDS năm 2004. Đối với 5 vụ việc không được công nhận kể từ khi Bộ luật TTDS năm 2015,  
tòa án dựa vào căn cứ tại điểm a, c khoản 1 Điều 459, điểm b khoản 2 Điều 459 Bộ luật TTDS năm 2015.  
Số 10(434) - T5/2021  
19  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Việt Nam vẫn ở mức thấp, vì vậy, đặt ra  
câu hỏi nếu áp dụng Luật Mẫu vào Việt  
Nam có làm tăng cường số lượng các vụ  
việc mà tòa án Việt Nam công nhận và  
cho thi hành phán quyết trọng tài nước  
ngoài hay không?  
Với việc áp dụng toàn bộ nội dung của  
Luật Mẫu vào Việt Nam sẽ không chỉ “quốc  
tế hóa” các quy định của pháp luật trọng  
tài, tạo niềm tin cho các bên trong việc lựa  
chọn trọng tài làm phương thức giải quyết  
tranh chấp mà còn hỗ trợ phát triển nền  
kinh tế thông qua thu hút đầu tư và phát  
triển dịch vụ pháp lý giải quyết tranh chấp.  
Từ đó, tăng vị thế của các doanh nghiệp  
Việt Nam trong việc lựa chọn địa điểm tố  
tụng trọng tài.  
Có thể thấy rằng, Luật Mẫu thể hiện  
các thực tiễn quốc tế tốt nhất về trọng tài,  
dựa trên ý tưởng chính là hạn chế sự can  
thiệp tư pháp của tòa án vào tố tụng trọng  
tài, từ việc tiến hành thủ tục tố tụng trọng  
tài đến việc phản đối phán quyết cuối  
cùng. Việc áp dụng các quy định của Luật  
Mẫu sẽ tăng cường sự hấp dẫn của các  
quốc gia để các bên đặc biệt là bên nước  
ngoài lựa chọn làm địa điểm tố tụng trọng  
tài, thay vì áp dụng các thủ tục tố tụng  
trọng tài trong nước có tính cục bộ và địa  
phương, các bên có thể sẽ dễ chấp nhận  
khuôn khổ quốc tế hơn.  
Mặc dù có nhiều thuận lợi, đứng trước  
bối cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam,  
việc áp dụng Luật Mẫu cũng gặp nhiều khó  
khăn. Việc sửa đổi quy định của pháp luật về  
trọng tài trước mắt không được các nhà lập  
pháp ủng hộ kể cả Luật TTTM năm 2010  
hay Bộ luật TTDS năm 201526. Bên cạnh  
đó, Luật Mẫu được quy định khá linh hoạt  
nhưng việc áp dụng phải đảm bảo được nội  
dung và mục đích của nó. Việc thay đổi từ  
ngữ, bổ sung thêm các điều khoản có thể  
dẫn đến thay đổi về ý nghĩa và nội dung của  
các quy định dẫn đến mục tiêu áp dụng Luật  
Mẫu như một tiêu chuẩn quốc tế là khó thực  
hiện được. Hơn nữa, nguồn lực để thực thi  
các quy định mới, kể cả chuyên môn hóa  
đội ngũ thẩm phán thực hiện nhiệm vụ công  
nhận và cho thi hành còn thiếu, dẫn đến khó  
khăn trong công tác thực thi.  
Xét về điểm thuận lợi, Đảng và Nhà  
nước ta đã nhiều lần nhấn mạnh ưu tiên cho  
phương pháp giải quyết tranh chấp bằng  
trọng tài. Điều này tạo tiền đề quan trọng  
cho những cải cách để pháp luật về trọng  
tài của Việt Nam tiến gần hơn các quy định  
của quốc tế. Bên cạnh đó, với việc cùng xây  
dựng trên nền tảng Công ước các quy định  
về hủy và từ chối công nhận phán quyết  
trọng tài có nhiều điểm tương đồng. Do  
đó, việc áp dụng Luật Mẫu sẽ làm tăng khả  
năng thực thi hiệu quả của Công ước. Với  
mục tiêu hài hòa và hoàn thiện pháp luật  
quốc gia, Luật Mẫu phản ánh sự đồng thuận  
quốc tế các vấn đề cơ bản nhất của pháp luật  
về thủ tục tố tụng trọng tài, đây là cơ chế  
mềm dẻo để các quốc gia khi áp dụng có thể  
thay đổi phù hợp.  
Mặc dù có nhiều khó khăn trong việc  
chính thức áp dụng Luật Mẫu tại Việt Nam  
nhưng những vấn đề này sẽ được khắc phục  
trong quá trình xây dựng pháp luật đáp  
ứng yêu cầu thực tiễn. Việc xây dựng Luật  
TTTM năm 2010 với các quy định rất gần  
với Luật Mẫu thay thế cho Pháp lệnh trọng  
tài năm 2003 là một minh chứng  
26 Trong báo cáo đánh giá số 74/BC-BTP ngày 8/4/2016 của Bộ Tư pháp Sơ kết 4 năm thi hành Luật TTTM  
không hề đề cập đến việc sửa đổi, bổ sung Luật TTTM năm 2010. Việc sửa đổi các quy định của Bộ luật TTDS  
năm 2015 về công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài còn khó hơn khi chưa có tổng kết  
quá trình thi hành đạo luật này.  
20  
Số 10(434) - T5/2021  
pdf 9 trang Thùy Anh 11320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài - Kinh nghiệm từ công ước New York năm 1958 và luật mẫu Uncitral", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcong_nhan_va_cho_thi_hanh_phan_quyet_trong_tai_nuoc_ngoai_ki.pdf