Nghĩa vụ cung cấp thông tin của người sử dụng lao động khi giao kết hợp đồng lao động: Một số vấn đề đặt ra và hướng hoàn thiện

Lê Thảo Nguyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 4(47) (2021) 65-75  
65  
4(47) (2021) 65-75  
Nghĩa vụ cung cấp thông tin của người sử dụng lao động khi giao kết hợp  
đồng lao động: Một số vấn đề đặt ra và hướng hoàn thiện  
Employers’ obligation to provide information before entering into employment contracts:  
Some issues and directions for improvement  
Lê Thảo Nguyên  
Le Thao Nguyen*  
Khoa Luật Kinh tế, Trường Đại học Luật, Đại học Huế  
Faculty of Economic Law, University of Law, Hue University  
(Ngày nhận bài: 6/4/2021, ngày phản biện xong: 9/4/2021, ngày chấp nhận đăng: 19/5/2021)  
Tóm tắt  
Giao kết hợp đồng lao động là bước khởi đầu làm phát sinh quan hệ lao động và thông qua việc giao kết các bên chủ thể  
đã cùng nhau thiết lập ra một hệ thống các quyền và nghĩa vụ ràng buộc nhau trong quá trình thực hiện hợp đồng. Với  
mục đích tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, đảm bảo họ có các thông  
tin cần thiết để cân nhắc, quyết định giao kết hợp đồng, pháp luật về lao động đã ban hành các quy định nhằm bảo đảm,  
trong quá trình xác lập hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải cung cấp đầy đủ, chính xác và kịp thời các  
thông tin cần thiết cho người lao động. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng vào thực tế, các quy định trên đã nảy sinh  
một số hạn chế, bất cập cần phải được hoàn thiện. Bài viết phân tích một số bất cập trong quy định về nghĩa vụ cung  
cấp thông tin của người sử dụng lao động khi giao kết hợp đồng lao động và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp  
luật trong thời gian tới.  
Từ khóa: Nghĩa vụ cung cấp thông tin; giao kết hợp đồng lao động; người sử dụng lao động; người lao động.  
Abstract  
Entering into employment contracts is the first step that generates labor relations and through the signing, the parties  
have together established a system of binding rights and obligations in the process of contract performance. With the  
aim of creating a legal basis to better protect the legal rights and interests of employees, ensuring they have the  
necessary information to consider and decide to enter into a labor contract, the labor law has issued some regulations to  
ensure that, in the process of setting up contracts, employers must provide sufficient, accurate and timely necessary  
information to employees. However, in the application process, there are still certain limitations and shortcomings. The  
article analyzes some shortcomings in the regulations on the employers' obligation to provide information when  
entering into labor contracts and proposes some perfection solutions in the coming time.  
Keywords: Obligation to provide information; entering into employment contracts; employers; employees.  
Corresponding Author: Le Nguyen Thao; Faculty of Economic Law, University of Law, Hue University  
66  
Lê Thảo Nguyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 4(47) (2021) 65-75  
1. Đặt vấn đề  
HĐLĐ, đó là sự thoả thuận ràng buộc về mặt  
pháp lý đối với các bên. Tuy nhiên, hạn chế của  
định nghĩa trên là mới chỉ đề cập tới chủ thể  
NLĐ là công nhân. Trên thực tế, bất kỳ người  
nào đủ tiêu chuẩn về độ tuổi, năng lực đều có  
thể là NLĐ. Vì vậy, nếu chỉ xem xét dưới khía  
cạnh NLĐ là công nhân thì định nghĩa trên vô  
hình chung đã thu hẹp phạm vi của nhóm chủ  
thể này. Trong khi đó, pháp luật của Pháp coi  
nguồn gốc của HĐLĐ là hợp đồng dân sự. Án  
lệ nước này ghi nhận “Hợp đồng lao động là sự  
thỏa thuận theo đó một người cam kết tiến hành  
một hoạt động theo sự chỉ đạo của người khác,  
lệ thuộc vào người đó và được trả công”. [2]  
Nói về tầm quan trọng của hợp đồng lao  
động (HĐLĐ), có ý kiến cho rằng: “Hợp đồng  
lao động là xương sống của Luật Lao động Việt  
Nam” [1]. Đây là cơ sở pháp lý đầu tiên và quan  
trọng nhất để xác lập quan hệ lao động cũng  
như quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể  
tham gia. Mặt khác, trong giao kết HĐLĐ, ở  
bất kì xã hội nào, đa phần các trường hợp người  
sử dụng lao động (NSDLĐ) sẽ là người có  
quyền cân nhắc, lựa chọn người lao động  
(NLĐ) mà mình đồng ý tuyển dụng, xác lập  
quan hệ lao động. Trong khi đó, NLĐ là đối  
tượng cần công việc để có thu nhập cho cuộc  
sống, họ bị phụ thuộc và yếu thế hơn trong đàm  
phán, thỏa thuận các điều kiện lao động, điều  
này dẫn đến việc đôi khi họ bỏ sót những quyền  
lợi mà đáng ra họ phải được bảo đảm. Do đó,  
pháp luật lao động quy định NSDLĐ phải có  
nghĩa vụ cung cấp thông tin nhằm giúp NLĐ  
nắm rõ, hiểu đủ các thông tin cần thiết và liên  
quan đến quá trình giao kết HĐLĐ. Việc quy  
định như trên sẽ góp phần đảm bảo tính thiện  
chí, bình đẳng, hợp tác đôi bên cùng có lợi giữa  
các chủ thể, đồng thời hạn chế các xung đột lợi  
ích giữa NLĐ và NSDLĐ, tránh những tranh  
chấp phát sinh làm ảnh hưởng xấu đến quan hệ  
lao động. Vì vậy, nghĩa vụ cung cấp thông tin  
của NSDLĐ khi giao kết HĐLĐ đóng vai trò và  
ý nghĩa hết sức quan trọng, nó quyết định đến  
sự hình thành và tồn tại mối quan hệ lao động  
giữa các bên bền vững hay thất bại, công bằng  
hay bất cân xứng.  
Tại Việt Nam, từ Sắc lệnh 29-SL ngày  
12/3/1947, Sắc lệnh 77-SL ngày 22/5/1950 đến  
những văn bản quy phạm pháp luật liên quan  
được ban hành sau này đều có khái niệm về  
HĐLĐ. Điều 26 Bộ luật Lao động năm 1994  
quy định về HĐLĐ như sau: “Hợp đồng lao  
động là sự thỏa thuận giữa người lao động và  
người sử dụng lao động về việc làm có trả  
công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ  
của mỗi bên trong quan hệ lao động”. Có thể  
nói, so với những khái niệm về HĐLĐ trước  
đây, khái niệm về HĐLĐ theo quy định của Bộ  
luật Lao động năm 1994 tạo được sự bao quát  
hơn, phản ánh được bản chất của HĐLĐ.  
Hiện nay, theo quy định tại Điều 13 Bộ  
luật Lao động năm 2019, khái niệm HĐLĐ  
được quy định như sau: “Hợp đồng lao động là  
sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử  
dụng lao động về việc làm có trả công, tiền  
lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ  
của mỗi bên trong quan hệ lao động. Trường  
hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác  
nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả  
công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám  
sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao  
động”. So với Bộ luật Lao động 2012 (Điều  
15), thì pháp luật hiện hành đã bổ sung quy  
định trường hợp 2 bên thỏa thuận bằng tên gọi  
2. Một số khái niệm pháp lý có liên quan  
2.1. Khái niệm hợp đồng lao động  
Khái niệm về “hợp đồng lao động” có nhiều  
cách tiếp cận khác nhau. Theo Tổ chức Lao  
động quốc tế (ILO), HĐLĐ là: “Một thỏa thuận  
ràng buộc pháp lý giữa một người sử dụng lao  
động và một công nhân, trong đó xác lập các  
điều kiện và chế độ việc làm”. Ưu điểm của  
định nghĩa này là nêu bật được bản chất của  
Lê Thảo Nguyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 4(47) (2021) 65-75  
67  
khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có  
trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành,  
giám sát của một bên thì được coi là HĐLĐ.  
Việc bổ sung quy định mới này nhằm phù hợp  
với tình hình thực tế; có thể không gọi với tên  
là HĐLĐ mà sử dụng các tên gọi khác nhau  
như thỏa thuận hợp tác, thỏa thuận lao động,  
nhưng nếu có nội dung thể hiện đúng bản chất  
đó là HĐLĐ thì vẫn coi là HĐLĐ. Qua đây, có  
thể thấy cách tiếp cận khái niệm “hợp đồng lao  
động” theo quy định mới Bộ luật Lao động năm  
2019 khá đầy đủ và chi tiết, bao quát được bản  
chất cốt lõi của HĐLĐ và sẽ đảm bảo được  
quyền và lợi ích chính đáng của các bên tham  
gia, đặc biệt là NLĐ.  
yếu tố “làm việc theo hợp đồng lao động”  
trong định nghĩa về NLĐ. Mặt khác, Bộ luật  
Lao động 2019, tại khoản 1 Điều 2 đã bổ sung  
thêm đối tượng “người làm việc không có quan  
hệ lao động” thuộc đối tượng áp dụng của Bộ  
luật. Theo đó, khái niệm của đối tượng này  
được quy định tại khoản 6 Điều 3 như sau:  
“Người làm việc không có quan hệ lao động là  
người làm việc không trên cơ sở thuê mướn  
bằng hợp đồng lao động.” Quy định này là sự  
thể chế hóa Hiến pháp 2013, đó là “Công dân  
có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc  
làm và nơi làm việc”, đồng thời thể hiện sự phù  
hợp với khuyến nghị của Tổ chức Lao động  
quốc tế (ILO) nhằm đảm bảo tính đồng bộ,  
thống nhất trong hệ thống pháp luật, thích ứng  
với sự linh hoạt của thị trường lao động, thúc  
đẩy áp dụng các quy định của Bộ luật Lao động  
đối với người làm việc không có quan hệ lao  
động và góp phần dịch chuyển lao động từ khu  
vực không có quan hệ lao động sang khu vực  
có quan hệ lao động. Điểm khác biệt cơ bản  
giữa NLĐ và người làm việc không có quan hệ  
lao động, đó là về mối quan hệ giữa họ với  
NSDLĐ, và cơ sở làm phát sinh quan hệ. Trước  
hết, giữa NLĐ và NSDLĐ, thông qua hành vi  
pháp lý là việc giao kết HĐLĐ hay các thỏa  
thuận với tên gọi khác nhưng có nội dung thể  
hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự  
quản lý, điều hành, giám sát của một bên đã  
hình thành nên quan hệ lao động chính là các  
“quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê  
mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa NLĐ,  
NSDLĐ, các tổ chức đại diện của các bên, cơ  
quan nhà nước có thẩm quyền” (khoản 5 Điều  
3 Bộ luật Lao động năm 2019). Trong khi đó,  
đối với người làm việc không có quan hệ lao  
động, mặc dù có yếu tố làm việc cho NSDLĐ  
nhưng mối quan hệ giữa đối tượng này và  
NSDLĐ không phải là quan hệ lao động, không  
xuất phát từ việc thuê mướn bằng giao kết hợp  
HĐLĐ.  
2.2. Khái niệm người lao động và người sử  
dụng lao động  
* Người lao động  
Theo Công ước số 155 Công ước về An toàn  
lao động, vệ sinh lao động và môi trường làm  
việc (1981), “người lao động” bao gồm tất cả  
những người đang được sử dụng, kể cả công  
chức. Theo nghĩa rộng, NLĐ bao gồm tất cả  
những người thuộc giới lao động trong xã hội;  
theo nghĩa hẹp NLĐ gồm những người làm  
công cho các doanh nghiệp, cơ quan tổ chức, cá  
nhân gia đình trên cơ sở HĐLĐ. Hiện nay, pháp  
luật lao động của Việt Nam và hầu hết các nước  
khác thường sử dụng thuật ngữ “người lao  
động” để chỉ những đối tượng thuộc phạm vi  
theo nghĩa hẹp này.  
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Bộ luật  
Lao động năm 2019, NLĐ là “người làm việc  
cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận,  
được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành,  
giám sát của người sử dụng lao động. Độ tuổi  
lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15  
tuổi, trừ trường hợp quy định tại Mục 1  
Chương XI của Bộ luật này.”  
Có thể thấy, so với quy định tại Bộ luật Lao  
động năm 2012, quy định mới trên đã loại bỏ  
68  
Lê Thảo Nguyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 4(47) (2021) 65-75  
Từ đây, có thể hiểu NLĐ là một bên chủ thể  
2.3. Khái niệm giao kết hợp đồng lao động  
của quan hệ pháp luật lao động và cần hội tụ đủ  
3 yếu tố sau đây để được bảo đảm các quyền và  
lợi ích của mình theo các quy định của pháp  
luật lao động mà không phụ thuộc vào tên gọi  
của loại hợp đồng được ký kết: (i) thuộc độ tuổi  
lao động quy định tại khoản 1 Điều 3 Bộ luật  
Lao động 2019; (ii) làm việc cho NSDLĐ theo  
thỏa thuận; (iii) được trả lương và chịu sự quản  
lý, điều hành, giám sát của NSDLĐ.  
Nhằm đi đến việc xác lập mối quan hệ lao  
động, NLĐ và NSDLĐ phải tiến hành quá trình  
giao kết HĐLĐ. Đây là giai đoạn vô cùng quan  
trọng, là hình thức ban đầu chủ yếu làm phát  
sinh quan hệ lao động pháp luật. Bên cạnh đó,  
quá trình giao kết HĐLĐ cũng là quá trình để  
các bên tìm hiểu, đánh giá về nhau một cách  
trực tiếp từ đó lựa chọn và ra quyết định chính  
thức. Đây là giai đoạn đầu tiên thể hiện sự hợp  
tác của các bên để đi đến sự thống nhất ý chí  
nhằm tạo lập quan hệ lao động. Vì vậy, để xác  
lập được một quan hệ lao động hài hòa, ổn định  
trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, các bên cần phải  
có ý thức pháp luật và thiện chí khi thương  
lượng [4].  
* Người sử dụng lao động  
“Người sử dụng lao động” (employer) là  
thuật ngữ được dùng để chỉ một bên của quan  
hệ lao động trong mối tương quan với bên  
NLĐ/người làm thuê (employee/worker). Theo  
quy định của pháp luật lao động các nước như  
Indonesia, Liên bang Nga, thuật ngữ "NSDLĐ"  
có thể được hiểu là các đơn vị sử dụng lao động  
(cơ quan, tổ chức, công ty, hợp tác xã,...), hoặc  
có thể được dùng để chỉ cá nhân cụ thể có sử  
dụng lao động (hộ gia đình, cá nhân) [3]. Trong  
đơn vị sử dụng lao động, NSDLĐ thông qua  
chủ thể có thẩm quyền, có quyền “tối cao”  
trong việc quyết định các vấn đề kinh tế hay xã  
hội và quản lý quá trình lao động của NLĐ,  
đồng thời có nghĩa vụ bảo đảm các quyền lợi  
đối với NLĐ.  
Hơn thế nữa, giao kết HĐLĐ được coi là  
vấn đề trung tâm trong mối quan hệ lao động.  
Có ý kiến cho rằng, giao kết HĐLĐ là “hành vi  
pháp lý làm phát sinh quan hệ lao động” [5].  
Một mặt, giao kết HĐLĐ là tiền đề ban đầu để  
tạo điều kiện cho quyền, nghĩa vụ pháp lý của  
các bên được xác lập và thực hiện trong tương  
lai; mặt khác, đó là cơ sở cho sự ổn định, hài  
hòa bền vững của quan hệ lao động sẽ được  
thiết lập.  
Ở Việt Nam, căn cứ theo khoản 2 Điều 3 Bộ  
luật Lao động năm 2019, thì NSDLĐ là “doanh  
nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia  
đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao  
động làm việc cho mình theo thỏa thuận;  
trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân  
thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ”.  
Từ đây, có thể hiểu “giao kết hợp đồng lao  
động” là quá trình NLĐ và NSDLĐ bày tỏ ý  
chí nhằm đi đến việc xác lập quan hệ lao động.  
Pháp luật lao động không quy định cụ thể về  
trình tự, thủ tục giao kết HĐLĐ mà chỉ đặt ra  
khung pháp lý buộc các bên phải tuân theo khi  
giao kết, trong đó bao gồm quy định về quyền  
và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ  
lao động, đặc biệt là nghĩa vụ cung cấp thông  
tin khi giao kết HĐLĐ.  
Như vậy, “người sử dụng lao động” là một  
bên chủ thể của quan hệ pháp luật lao động, bao  
gồm các cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh  
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, cơ quan  
tổ chức nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam, các  
cá nhân và hộ gia đình có thuê mướn, sử dụng  
NLĐ. Bên cạnh đó, pháp luật yêu cầu nếu  
NSDLĐ là cá nhân thì phải có năng lực hành vi  
dân sự đầy đủ.  
3. Quy định của pháp luật về nghĩa vụ cung  
cấp thông tin của người sử dụng lao động  
khi giao kết hợp đồng lao động  
Theo quy định của pháp luật hiện hành,  
nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giao kết  
Lê Thảo Nguyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 4(47) (2021) 65-75  
69  
HĐLĐ được xem xét như một nghĩa vụ tiền  
hợp đồng. Trong khoa học pháp lý, nghĩa vụ  
tiền hợp đồng được hiểu là cách xử sự mà pháp  
luật buộc các bên chủ thể trước khi tham gia ký  
kết hợp đồng phải thực hiện và trong trường  
hợp các bên vi phạm nghĩa vụ sẽ phải gánh chịu  
các hậu quả pháp lý bất lợi đối với mình [6].  
Trong quan hệ hợp đồng nói chung và HĐLĐ  
nói riêng, để đi đến xác lập hợp đồng, các chủ  
thể thường trải qua giai đoạn đàm phán, thương  
lượng về những điều kiện, căn cứ, nội dung cơ  
bản dự thảo hợp đồng. Nhìn chung, ở giai đoạn  
này, NSDLĐ đưa ra yêu cầu tuyển dụng, điều  
kiện và các chế độ đối với NLĐ, NLĐ căn cứ  
vào những yêu cầu và đề nghị của NSDLĐ đưa  
ra để xem xét, quyết định việc giao kết HĐLĐ.  
Mặt khác, để tạo ra sự hài hòa trong quyền và  
nghĩa vụ, NLĐ cũng phải cung cấp cho  
NSDLĐ các thông tin cần thiết nhằm thiết lập  
một quan hệ hợp đồng không có sự khiếm  
khuyết về thông tin. Những thông tin mà hai  
bên phải cung cấp cho nhau thường là những  
thông tin tối thiểu liên quan đến quyền và lợi  
ích chính đáng của mỗi bên trong quan hệ lao  
động sẽ được thiết lập, ảnh hưởng đến nội dung  
và triển vọng phát triển của quan hệ lao động.  
Điều này sẽ đảm bảo tính minh bạch trong việc  
giao kết HĐLĐ, thực hiện triệt để nguyên tắc  
“Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và  
trung thực”.  
thiện chí và hợp tác nói trên, tính trung thực  
của các bên trong quá trình cung cấp các thông  
tin cần thiết, đặc biệt là từ phía NSDLĐ sẽ là  
yếu tố trung tâm và mang tính quyết định khi  
các bên cân nhắc giao kết HĐLĐ. Việc NSDLĐ  
cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin theo  
quy định của pháp luật và những yêu cầu liên  
quan trực tiếp đến việc giao kết từ phía NLĐ  
không chỉ đảm bảo cho hợp đồng được hợp  
pháp, mà còn giúp quan hệ lao động tồn tại lâu  
dài và bền vững. Ngược lại, nếu yếu tố trung  
thực không được đảm bảo, có sự lừa dối hay  
không rõ ràng trong thông tin mà NSDLĐ cung  
cấp, sẽ dẫn đến hậu quả là quyền và lợi ích chính  
đáng của NLĐ bị xâm phạm, đồng thời quan hệ  
lao động cũng có thể chấm dứt nhanh chóng.  
Căn cứ theo quy định tại khoản 1, Điều 16  
Bộ luật Lao động năm 2019, nghĩa vụ cung cấp  
thông tin trong giao kết HĐLĐ của NSDLĐ  
được quy định như sau:  
“Người sử dụng lao động phải cung cấp  
thông tin trung thực cho người lao động về  
công việc, địa điểm làm việc, điều kiện làm  
việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an  
toàn, vệ sinh lao động, tiền lương, hình thức trả  
lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo  
hiểm thất nghiệp, quy định về bảo vệ bí mật  
kinh doanh, bảo vệ bí mật công nghệ và vấn đề  
khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp  
đồng lao động mà người lao động yêu cầu”.  
Việc nguyên tắc trên được các nhà làm luật  
nhấn mạnh không chỉ có ý nghĩa đề cao sự cần  
thiết và quan trọng của nó, mà còn nhằm lưu ý  
các chủ thể về đặc trưng của quan hệ HĐLĐ  
(sự thiện chí, hợp tác và trung thực) khi ký kết  
và thực hiện trong tương lai. Nhìn chung,  
HĐLĐ thường được thực hiện trong thời gian  
tương đối dài, giữa hai chủ thể có mối quan hệ  
mật thiết gắn bó về quyền lợi với nhau, như vậy  
yếu tố thiện chí và hợp tác là vô cùng quan  
trọng và không thể thiếu, điều này khác với sự  
mua đứt bán đoạn trong các giao dịch dân sự  
hay kinh doanh thương mại. Và để đạt được sự  
Có thể thấy, so với Bộ luật Lao động năm  
2012 (Điều 19), thì quy định hiện hành tại Bộ  
luật Lao động năm 2019 đã bổ sung thêm thông  
tin mà NSDLĐ phải cung cấp cho NLĐ là về  
bảo hiểm thất nghiệp, các nội dung còn lại của  
điều luật hầu như được giữ nguyên, không thay  
đổi so với quy định cũ. Việc bổ sung như trên  
nhằm phù hợp với quy định pháp luật liên quan  
về bảo hiểm thất nghiệp. Bên cạnh đó, trong  
thời buổi kinh tế khó khăn hiện nay, bảo hiểm  
thất nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng và  
được xem là phao cứu sinh giải quyết không ít  
70  
Lê Thảo Nguyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 4(47) (2021) 65-75  
khó khăn cho NLĐ. Bảo hiểm thất nghiệp đóng  
vai trò là giải pháp nhằm mục đích giúp NLĐ  
khắc phục tình trạng thất nghiệp, trợ giúp kịp  
thời cho những người thất nghiệp không có  
công ăn việc làm trong thời gian nghỉ việc mà  
chưa tìm được việc làm và tạo cơ hội cho họ  
học nghề, tìm kiếm công việc mới. Chính vì  
vậy, việc Bộ luật Lao động bổ sung nội dung về  
bảo hiểm thất nghiệp trong các thông tin mà  
NSDLĐ phải cung cấp khi giao kết HĐLĐ là  
cần thiết và phù hợp với thực tiễn, góp phần  
bảo vệ NLĐ trước những rủi ro về việc làm có  
thể xảy ra và đây sẽ là yếu tố không thể thiếu  
mà NLĐ cần xem xét kỹ lưỡng trước khi quyết  
định xác lập quan hệ lao động.  
nay, tài sản trí tuệ, trong đó bao gồm các bí mật  
công nghệ, bí mật kinh doanh trở nên ngày  
càng quan trọng và đóng vai trò then chốt trong  
sự thành công của các doanh nghiệp, đặc biệt là  
các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực  
công nghệ. Đối với nhóm NLĐ cung cấp sức  
lao động đặc thù mang tính tri thức, hay trực  
tiếp tham gia vào quá trình sản xuất hoặc nắm  
giữ các bí mật về kinh doanh, công nghệ, thì  
phía NSDLĐ luôn yêu cầu tính bảo mật kỹ  
càng, sự cam kết từ phía NLĐ để đảm bảo cho  
các tài sản trí tuệ, thông tin độc quyền của  
doanh nghiệp, tổ chức không bị rò rỉ ra bên  
ngoài, làm ảnh hưởng đến quá trình hoạt động  
và hiệu quả kinh doanh của NSDLĐ. Vì vậy, để  
đạt được mục đích và yêu cầu này, NSDLĐ cần  
cung cấp đầy đủ và kịp thời cho NLĐ những  
thông tin liên quan đến các quy định, chính  
sách bảo mật của mình đối với việc bảo vệ các  
bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ.  
Dựa vào tính chất tương đồng, có thể phân  
loại các thông tin mà NSDLĐ phải cung cấp  
theo quy định trên như sau:  
(i) Nhóm thông tin về nội dung công việc cụ  
thể của NLĐ, thời gian làm việc, thời gian nghỉ  
ngơi. Đây là nhóm các thông tin cơ bản nhất để  
NLĐ xác định được nhiệm vụ, công việc cụ thể  
và giờ giấc làm việc của mình.  
(v) Thông tin về những vấn đề khác liên  
quan trực tiếp đến việc giao kết HĐLĐ mà  
NLĐ yêu cầu. Hiện nay, quan hệ lao động ngày  
càng trở nên phức tạp và liên quan đến nhiều  
vấn đề, trong khi đó nhu cầu của các chủ thể  
tham gia lại rất đa dạng, chính vì vậy để bảo vệ  
quyền lợi cho NLĐ, pháp luật lao động quy  
định ngoài các thông tin cụ thể được liệt kê ở  
khoản 1 Điều 16 Bộ luật Lao động 2019, khi có  
sự yêu cầu của NLĐ thì NSDLĐ phải cung cấp  
những thông tin về các vấn đề có liên quan trực  
tiếp đến việc xác lập, giao kết HĐLĐ.  
(ii) Nhóm thông tin về địa điểm, điều kiện  
làm việc, an toàn lao động, vệ sinh lao động.  
Đây là các thông tin ảnh hưởng đến sức khỏe  
của NLĐ, đặc biệt với sức lao động là một loại  
hàng hóa đặc biệt, cần có sự tái tạo để phát  
triển. Do đó, môi trường, điều kiện làm việc là  
thông tin hết sức quan trọng để NLĐ cân nhắc  
khi giao kết hợp đồng.  
(iii) Nhóm thông tin về tiền lương, hình thức  
trả lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo  
hiểm thất nghiệp. NLĐ khi giao kết hợp đồng  
luôn mong muốn được NSDLĐ đánh giá và trả  
công tương xứng với sức lao động mà họ bỏ ra.  
Do đó, các thông tin về tiền lương, hình thức trả  
lương, bảo hiểm luôn là các thông tin NLĐ quan  
tâm để quyết định giao kết hợp đồng.  
4. Một số vấn đề đặt ra từ quy định về nghĩa  
vụ cung cấp thông tin của người sử dụng lao  
động khi giao kết HĐLĐ  
Qua việc phân tích quy định của pháp luật  
lao động hiện hành về nghĩa vụ cung cấp thông  
tin của NSDLĐ trong giao kết hợp đồng, có thể  
thấy, mặc dù đã đáp ứng các yêu cầu điều chỉnh  
các mối quan hệ phát sinh và phát huy vai trò  
bảo vệ quyền lợi của NLĐ, tuy vậy, quy định  
nêu trên vẫn tồn tại một số bất cập sau:  
(iv) Nhóm thông tin về bảo vệ bí mật kinh  
doanh, bí mật công nghệ. Trong xu thế ngày  
Lê Thảo Nguyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 4(47) (2021) 65-75  
71  
4.1. Quy định tại khoản 1 Điều 16 Bộ luật Lao  
động năm 2019 chỉ điều chỉnh nghĩa vụ cung  
cấp thông tin của NSDLĐ trong giai đoạn tiền  
hợp đồng  
nghệ, bảo vệ bí mật kinh doanh, thay đổi địa  
điểm làm việc của NLĐ hoặc các thông tin  
khác liên quan đến việc thực hiện hợp đồng thì  
có phải thông tin cho NLĐ hay không? Chính  
vì vậy, tác giả cho rằng cần phải quy định nghĩa  
vụ NSDLĐ phải báo trước, cung cấp thông tin  
cho NLĐ biết khi có sự thay đổi thông tin so  
với thời điểm giao kết HĐLĐ để có sự chuẩn bị  
nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của họ.  
Giai đoạn tiền hợp đồng là “giai đoạn ban  
đầu của việc đàm phán trong đó các bên xem  
xét khả năng giao kết của hợp đồng, thương  
lượng những điều khoản nhất định và tạo  
những điều kiện cần thiết cho việc giao kết”  
(precontractual phase) [7]. Những thông tin  
NSDLĐ đưa ra nhằm mục đích để NLĐ cân  
nhắc việc có giao kết hợp đồng hay không hoặc  
giao kết với những điều kiện như thế nào. Tuy  
nhiên, quy định này lại không điều chỉnh quá  
trình thực hiện hợp đồng. Nói cách khác, sau  
khi hợp đồng đã được ký kết, Điều 16 Bộ luật  
Lao động năm 2019 không áp dụng để điều  
chỉnh hành vi của các chủ thể, trong đó có  
NSDLĐ. Vấn đề đặt ra là, nếu trong quá trình  
thực hiện hợp đồng, những thông tin theo  
khoản 1 Điều 16 có sự thay đổi, NSDLĐ có  
phải thông báo cho NLĐ hay không? Trong khi  
đó, không thể dùng quy định tại khoản 1 Điều  
16 nêu trên để bắt buộc NSDLĐ phải có trách  
nhiệm cung cấp thông tin trong trường hợp này.  
Bên cạnh đó, các quy định về nghĩa vụ cung  
cấp thông tin của NSDLĐ được quy định rải  
rác trong một số chế định như nghĩa vụ cung  
cấp thông tin trước giao kết hay chấm dứt  
HĐLĐ, trong quan hệ an toàn, vệ sinh lao  
động, thương lượng tập thể… Các quy định này  
dẫn đến tình trạng bỏ sót những trường hợp  
NSDLĐ phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin  
cho NLĐ hoặc cho các chủ thể khác của quan  
hệ lao động. Nếu không có một quy định chung  
nhằm điều chỉnh nghĩa vụ cung cấp thông tin  
của NSDLĐ trong toàn bộ quan hệ lao động,  
chúng ta sẽ không thể lường hết được các tình  
huống trên thực tế để yêu cầu NSDLĐ cung cấp  
thông tin.  
Xét ở góc độ pháp luật so sánh, pháp luật lao  
động Cộng hoà Pháp quy định nghĩa vụ cung  
cấp thông tin của NSDLĐ trong rất nhiều  
trường hợp trong đó có các trường hợp đặc thù  
như: Thông tin, số điện thoại, địa chỉ của thanh  
tra lao động, thông tin của người trực bộ phận  
điện thoại của công ty, thông tin của bác sĩ  
công ty, thông tin về bộ phận quản lý hỏa hoạn  
tai nạn, thông tin về sự bình đẳng giữa nam và  
nữ, thông tin về cấm hút thuốc lá [8], thông tin  
về địa chỉ tất cả các công đoàn đại diện NLĐ  
trong khu vực mà doanh nghiệp đặt trụ sở [9].  
Qua đây, xem xét đối chiếu với pháp luật Việt  
Nam, có thể thấy quy định tại Bộ luật Lao động  
đang bỏ sót khá nhiều trường hợp NSDLĐ phải  
có nghĩa vụ thông tin cho NLĐ hoặc cho các  
chủ thể khác.  
Qua xem xét, phân tích các quy định trong  
hệ thống pháp luật lao động Việt Nam, tác giả  
nhận thấy rằng, pháp luật lao động chưa có quy  
định chung nhằm điều chỉnh nghĩa vụ cung cấp  
thông tin trong quan hệ lao động giữa các chủ  
thể, trong đó có NSDLĐ. Trong khi đó, quan hệ  
lao động là quan hệ rất đặc thù với những điều  
kiện riêng biệt đòi hỏi các chủ thể tham gia  
quan hệ cần phải nắm bắt kịp thời các thông tin  
để đưa ra cách xử sự phù hợp. Khoản 1 Điều 16  
quy định khi giao kết hợp đồng phải cung cấp  
các thông tin như địa điểm làm việc, thời gian  
làm việc, thời gian nghỉ ngơi, quy định về bảo  
vệ bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh... Tuy  
nhiên, khi hợp đồng đã được ký kết, NSDLĐ  
thay đổi các chính sách về bảo vệ bí mật công  
72  
Lê Thảo Nguyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 4(47) (2021) 65-75  
4.2. Về tính bao quát các thông tin cần thiết  
mà người sử dụng lao động phải cung cấp khi  
giao kết HĐLĐ  
Bên cạnh đó, điều luật yêu cầu phải là các vấn  
đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết  
HĐLĐ mà “người lao động yêu cầu”. Như  
vậy, theo cách hiểu của điều luật trên, nếu NLĐ  
không yêu cầu thì sẽ không thuộc phạm vi điều  
chỉnh của quy định này. Trong quan hệ lao  
động, NLĐ là chủ thể luôn được xem ở vị trí  
yếu thế so với NSDLĐ, đó chính là lý do mà  
các quy định của pháp luật lao động luôn buộc  
NSDLĐ phải thực hiện nghĩa vụ của mình một  
cách chủ động. Trong khi đó, theo ý cuối của  
khoản 1 Điều 16 Bộ luật Lao động năm 2019  
thì chỉ khi nào NLĐ yêu cầu thì NSDLĐ mới  
phải thực hiện. Đây là điều chưa thật sự phù  
hợp để áp dụng trong thực tiễn, bởi lẽ trong quá  
trình cân nhắc, xem xét để ký kết HĐLĐ, NLĐ  
trong đa số trường hợp chưa thể tự mình lường  
trước những vấn đề khác liên quan trực tiếp đến  
việc giao kết hợp đồng để yêu cầu NSDLĐ  
thực hiện nghĩa vụ nhằm bảo vệ quyền lợi của  
mình và rất khó để chứng minh NLĐ đã yêu  
cầu nhưng NSDLĐ không cung cấp thông tin.  
Khoản 1 Điều 16 quy định các thông tin  
NSDLĐ cần cung cấp cho NLĐ trước khi giao  
kết hợp đồng theo hướng liệt kê các thông tin  
và đưa vào một nội dung nhằm bao quát đó là:  
“và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc  
giao kết HĐLĐ mà người lao động yêu cầu”.  
Tác giả cho rằng, quy định trên có hai điểm  
chưa hợp lý:  
Một là, quy định theo hướng liệt kê dẫn đến  
rất nhiều thông tin quan trọng ảnh hưởng đến  
quyết định giao kết hợp đồng của NLĐ nhưng  
không được khoản 1 Điều 16 Bộ luật Lao động  
năm 2019 quy định. Bao gồm các thông tin  
như: Cơ cấu tổ chức, quy mô công ty, các quy  
chế nội bộ, văn hóa đặc thù của doanh nghiệp,  
các chế độ phúc lợi khác ngoài tiền lương, yêu  
cầu về làm thêm giờ,… Nhìn chung, cách quy  
định theo hướng liệt kê mà không có căn cứ để  
xác định những thông tin nào là thông tin cần  
phải cung cấp khi giao kết hợp đồng sẽ dẫn đến  
sự thiếu sót và gây khó khăn trong quá trình áp  
dụng. Chính vì vậy, theo quan điểm của tác giả,  
bên cạnh các thông tin được quy định tại khoản  
1 Điều 16 mà NSDLĐ có nghĩa vụ cung cấp  
khi giao kết HĐLĐ, cần phải bổ sung điều luật  
quy định cụ thể căn cứ để xác định các thông  
tin cần cung cấp theo đúng mục đích và nghĩa  
vụ thông tin khi giao kết hợp đồng là giúp các  
chủ thể có đầy đủ thông tin để quyết định giao  
kết hợp đồng.  
4.3. Về hình thức cung cấp thông tin của  
người sử dụng lao động khi giao kết HĐLĐ  
Khoản 1 Điều 16 Bộ luật Lao động năm  
2019 khi quy định về nghĩa vụ cung cấp thông  
tin của NSDLĐ khi giao kết hợp đồng đã bỏ sót  
quy định về hình thức của việc cung cấp thông  
tin. Sự thiếu sót này thể hiện trong xuyên suốt  
các quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin  
của NSDLĐ trong pháp luật về lao động hiện  
hành. Theo đó, các điều luật chỉ quy định  
NSDLĐ phải cung cấp thông tin cho NLĐ hoặc  
các chủ thể khác nhưng không quy định việc  
cung cấp thông tin phải thể hiện bằng hình thức  
nào.  
Hai là, nếu cho rằng, Bộ luật Lao động đã  
dự liệu sự thiếu sót này bằng ý cuối tại khoản 1  
Điều 16: “và vấn đề khác liên quan trực tiếp  
đến việc giao kết HĐLĐ mà người lao động yêu  
cầu” thì cần cân nhắc bởi lẽ quy định này vẫn  
chưa hợp lý và có thể gây bất lợi cho NLĐ.  
Trước hết, cần xác đinh rõ “các vấn đề khác  
liên quan trực tiếp đến việc giao kết HĐLĐ” là  
các vấn đề nào, dựa theo căn cứ gì để xác định.  
Trong khi đó ở Pháp, Bộ luật Lao động quy  
định về nghĩa vụ cung cấp thông tin của  
NSDLĐ liên quan đến thông tin của thanh tra  
lao động, cấm hút thuốc, giờ làm việc, nghỉ  
ngơi phải được niêm yết tại nơi làm việc, thông  
tin về các tổ chức công đoàn đại diện NLĐ  
Lê Thảo Nguyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 4(47) (2021) 65-75  
73  
trong khu vực mà doanh nghiệp đặt trụ sở phải  
được thông báo bằng tất cả mọi phương tiện  
cho NLĐ, những thông tin khác NSDLĐ có thể  
cung cấp cho NLĐ bằng email, văn bản, niêm  
yết hoặc bằng bất kì phương tiện nào khác [8].  
diện vấn đề này, tác giả cho rằng, một khi  
NSDLĐ có sự vi phạm nghĩa vụ cung cấp  
thông tin khi giao kết hợp đồng thì sự định đoạt  
đối với giá trị pháp lý của hợp đồng này nên  
được dành cho NLĐ. Theo đó, nên ghi nhận  
NLĐ có quyền yêu cầu đơn phương chấm dứt  
HĐLĐ khi NSDLĐ có hành vi vi phạm nghĩa  
vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng.  
Ngoài ra, nếu phát sinh thiệt hại cho NLĐ,  
NSDLĐ cần chịu trách nhiệm bồi thường cho  
NLĐ ngoài các quy định về nghĩa vụ khi chấm  
dứt HĐLĐ.  
4.4. Về trách nhiệm pháp lý do vi phạm nghĩa  
vụ cung cấp thông tin của người sử dụng lao  
động khi giao kết HĐLĐ  
Mục đích lớn nhất của việc ghi nhận nghĩa  
vụ cung cấp thông tin của NSDLĐ khi giao kết  
HĐLĐ là nhằm bảo đảm cho NLĐ cân nhắc, đi  
đến quyết định có giao kết hợp đồng hay  
không, hoặc giao kết với những điều kiện khác.  
Như vậy, yếu tố quyết định việc giao kết hợp  
đồng có vai trò rất lớn của việc thực hiện nghĩa  
vụ cung cấp thông tin từ các chủ thể, trong đó  
NSDLĐ luôn ở vị thế tốt hơn, do đó họ cần bảo  
đảm cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin cần  
thiết theo luật định cho NLĐ. Vấn đề đặt ra, khi  
NSDLĐ vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin  
theo luật định, điều gì sẽ xảy ra với HĐLĐ đã  
ký kết. Nói cách khác, khi một HĐLĐ được ký  
kết có sự khiếm khuyết về thông tin từ phía  
người sử dụng, giá trị pháp lý của hợp đồng  
trên như thế nào? Dường như pháp luật về lao  
động hiện hành chưa có quy định cụ thể về vấn  
đề pháp lý trên.  
Bên cạnh đó, khi xem xét toàn bộ Nghị định  
số 28/2020/NĐ-CP ngày 01/3/2020 quy định về  
xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực lao động,  
bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam  
đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, không  
có điều luật nào quy định về xử phạt hành vi vi  
phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin của NSDLĐ  
trong giao kết HĐLĐ. Do đó, để bảo đảm tốt  
hơn quyền tiếp cận thông tin của NLĐ khi giao  
kết HĐLĐ và nâng cao trách nhiệm thực hiện  
nghĩa vụ của NSDLĐ, nên bổ sung chế tài xử  
phạt vi phạm hành chính trong trường hợp này.  
5. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về  
nghĩa vụ cung cấp thông tin của người sử  
dụng lao động khi giao kết hợp đồng lao động  
Xem xét các quy định về hợp đồng vô hiệu  
theo quy định tại Điều 49 Bộ luật Lao động  
2019 thì hợp đồng chỉ bị vô hiệu khi thuộc các  
trường hợp:  
Qua việc phân tích một số bất cập trong quy  
định của pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông  
tin của người sử dụng khi giao kết HĐLĐ, tác  
giả đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp  
luật như sau:  
-
Toàn bộ nội dung của HĐLĐ vi phạm  
pháp luật;  
- Thứ nhất, Bộ luật Lao động cần bổ sung  
quy định chung nhằm điều chỉnh nghĩa vụ cung  
cấp thông tin của NSDLĐ trong quan hệ lao  
động. Bên cạnh quy định nghĩa vụ cung cấp  
thông tin trong từng trường hợp cụ thể, quy  
định chung này có mục đích điều chỉnh trong  
mọi hoàn cảnh, mọi quan hệ giữa NLĐ và  
NSDLĐ. Theo đó, khi cần thiết, nhằm bảo đảm  
quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ, NSDLĐ  
-
Người giao kết HĐLĐ không đúng thẩm  
quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết  
HĐLĐ;  
-
Công việc đã giao kết trong HĐLĐ là  
công việc mà pháp luật cấm.  
Như vậy, chúng ta không thể vận dụng các  
quy định về chế định vô hiệu để điều chỉnh  
HĐLĐ trong trường hợp này. Xem xét toàn  
74  
Lê Thảo Nguyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 4(47) (2021) 65-75  
thông tin được quy định theo hướng liệt kê tại  
tại khoản 1 Điều 16 Bộ luật Lao động năm  
2019, cần bổ sung quy định:  
cần cung cấp thông tin để NLĐ có cơ sở tự bảo  
vệ hoặc yêu cầu các chủ thể khác bảo vệ mình.  
- Thứ hai, quy định chung về nghĩa vụ cung  
cấp thông tin của NSDLĐ trong quan hệ lao  
động cần ghi nhận hình thức của việc cung cấp  
thông tin nhằm khắc phục những mâu thuẫn,  
bất cập có thể xảy ra giữa NLĐ và NSDLĐ.  
Theo đó, nếu pháp luật không ghi nhận một  
hình thức khác, việc cung cấp thông tin có thể  
được thực hiện bằng văn bản, niêm yết công  
khai, email hoặc phương tiện điện tử khác hoặc  
một hình thức phù hợp khác theo sự thỏa thuận  
giữa các bên.  
“Trường hợp người sử dụng lao động có  
thông tin khác ảnh hưởng đến việc chấp nhận  
giao kết hợp đồng lao động của người lao động  
thì phải thông báo cho người lao động biết.  
Thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận  
giao kết hợp đồng lao động là những thông tin  
quan trọng liên quan trực tiếp và cần thiết đối  
với nội dung của hợp đồng hoặc đặc tính của  
các bên tham gia quan hệ hợp đồng.”  
- Thứ tư, Bộ luật Lao động cần bổ sung quy  
định cụ thể để xác định hậu quả pháp lý của  
HĐLĐ khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ cung  
cấp thông tin của NSDLĐ khi giao kết HĐLĐ.  
Theo đó, tác giả kiến nghị theo hướng ghi nhận  
NLĐ có quyền yêu cầu đơn phương chấm dứt  
HĐLĐ khi NSDLĐ có hành vi vi phạm nghĩa  
vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng.  
Bên cạnh đó, nếu phát sinh thiệt hại cho NLĐ,  
NSDLĐ cần chịu trách nhiệm bồi thường cho  
NLĐ, ngoài các quy định về nghĩa vụ khi chấm  
dứt HĐLĐ.  
Theo đó, điều luật này có thể được thiết kế  
như sau:  
“Nghĩa vụ cung cấp thông tin trong quan hệ  
lao động  
1. Trong quan hệ lao động, nếu một bên nắm  
giữ thông tin liên quan trực tiếp đến việc thực  
hiện quyền và nghĩa vụ của bên kia thì phải  
thông báo cho bên kia biết.  
2. Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác,  
việc cung cấp thông tin có thể được thực hiện  
bằng văn bản, niêm yết công khai, email hoặc  
phương tiện điện tử khác hoặc một hình thức phù  
hợp khác theo sự thỏa thuận giữa các bên.  
6. Kết luận  
Quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin của  
NSDLĐ khi giao kết hợp đồng có vai trò và ý  
nghĩa quan trọng, không chỉ tạo cơ sở pháp lý  
cho việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp  
cho NLĐ, mà còn là tiền đề tạo nên mối quan  
hệ lao động hài hòa, ổn định và phát triển. Tuy  
nhiên, bên cạnh đó, quy định trên vẫn còn tồn  
tại một số bất cập, đặc biệt là trách nhiệm pháp  
lý mà NSDLĐ phải gánh chịu do vi phạm nghĩa  
vụ cung cấp thông tin khi giao kết HĐLĐ chưa  
được quy định cụ thể và chưa đủ tính răn đe.  
Chính vì vậy, các giải pháp hoàn thiện để khắc  
phục thực trạng pháp luật là hết sức cần thiết  
nhằm góp phần thiết lập quan hệ lao động đảm  
bảo cân bằng, hài hòa lợi ích của các bên, đồng  
thời là cơ sở để Nhà nước thực hiện chức năng  
quản lý của mình.  
3. Bên vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin  
trong quan hệ lao động nếu gây thiệt hại phải  
bồi thường theo quy định của Bộ luật Lao động  
và pháp luật có liên quan”.  
- Thứ ba, cần bổ sung quy định về căn cứ  
xác định các thông tin cần cung cấp trong quá  
trình giao kết HĐLĐ.  
Mục đích chính của việc cung cấp thông tin  
trong quá trình giao kết HĐLĐ là nhằm bảo  
đảm NLĐ có đầy đủ thông tin để xem xét,  
quyết định việc giao kết hợp đồng và các điều  
kiện của hợp đồng. Do đó, tác giả cho rằng, để  
đảm bảo sự bao quát các thông tin quan trọng  
mà NSDLĐ có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho  
NLĐ khi giao kết HĐLĐ, thì ngoài những  
Lê Thảo Nguyên / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 4(47) (2021) 65-75  
75  
trong bối cảnh sửa đổi Bộ luật Dân sự, Tạp chí  
Luật học, Nxb Đại học Luật Hà Nội, số 6/2015,  
tr.111-122.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Lê Thị Hoài Thu (1999), Hợp đồng lao động - Chế  
định cơ bản của Luật Lao động Việt Nam, Tạp chí  
Khoa học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, số 1/1999,  
tr.41-47.  
[7] Rodrigo Novoa (2005), Culpa in contrahendo : a  
comparative law study : Chilean law and the united  
nation convention on contracts for the international  
sales of goods (CISG), Arizona Journal of  
International and Comparative Law, số 3/2005,  
tr. 586.  
[2] Lê Thị Nga (2014), Thực tiễn áp dụng pháp luật hợp  
đồng lao động tại các doanh nghiệp trong khu công  
nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, Luận văn Thạc  
sĩ, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.6.  
[8] Điều D4711-1, Điều 1132-3-3, Điều R4227-34 đến  
R4227-38, Điều R3221-2, Điều R3512-2 Bộ luật Lao  
động Cộng hòa Pháp,  
[3] Điều 2 Luật Nhân lực Indonesia; Điều 20 Bộ luật Lao  
động Liên bang Nga.  
[4] Nguyễn Hữu Chí (2002), Hợp đồng lao động trong  
cơ chế thị trường ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật  
học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.66  
0206, truy cập ngày 02/3/2021.  
[5] Cục Thống kê Đà Nẵng (2013), Tình hình kinh tế  
xã hội thành phố Đà Nẵng năm 2013, tr.3.  
[9] Điều 13 Pháp lệnh ngày 22/9/2017 về Đàm phán tập  
thể, số 1385 của Cộng hòa Pháp.  
[6] Kiều Thị Thùy Linh (2015), Nghĩa vụ tiền hợp đồng  
và điều chỉnh hợp đồng trong hoàn cảnh thay đổi  
pdf 11 trang Thùy Anh 10140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghĩa vụ cung cấp thông tin của người sử dụng lao động khi giao kết hợp đồng lao động: Một số vấn đề đặt ra và hướng hoàn thiện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghia_vu_cung_cap_thong_tin_cua_nguoi_su_dung_lao_dong_khi_g.pdf