Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA BỊ HẠI, ĐƯƠNG SỰ  
THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015  
Nguyễn Hải Ninh*  
*TS. Khoa Pháp luật hình sự, Trường Đại học Luật Hà Nội  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Bảo vệ quyền, lợi ích của bị hại, đương sự có thể được tiếp cận dưới nhiều  
góc độ: là một nguyên tắc cơ bản trong tố tụng; dưới góc độ là trách nhiệm  
của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc một chế định trong  
luật tố tụng hình sự. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích nguyên  
tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự theo quy định của  
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và đưa ra kiến nghị hoàn thiện.  
Từ khóa: Nguyên tắc bảo vệ  
quyền và lợi ích của bị hại,  
đương sự; quyền và lợi ích hợp  
pháp; Bộ luật Tố tụng hình sự  
năm 2015.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 22/4/2021  
: 05/5/2021  
: 05/5/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
Protection of the legitimate rights and interests of the victims, the plaintiffs  
of criminal cases can be approached in many different perspectives: a  
fundamental principle of criminal procedure; responsibility of criminal  
procedural conducting authorities, or a legal regime in criminal procedure  
law. Within the scope of this article, the author provides an analysis of the  
principles of protection of the legitimate rights and interests of victims and  
the plaintiffs under the provisions of the Criminal Procedure Code 2015  
and makes recommendations for improvements.  
Keywords: Criminal procedural  
principles; criminal victims;  
legitimate rights and interests; the  
Criminal Procedure Code of 2015.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 22 Apr. 2021  
: 05 May 2021  
: 05 May 2021  
Approved  
1. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị  
hại, đương sự - nguyên tắc cơ bản trong  
tố tụng hình sự  
tố tụng có quyền và lợi ích pháp lý liên quan  
đến vụ án hình sự. Vì vậy, cũng giống như  
người bị buộc tội, Bộ luật TTHS năm 2015  
quy định các quyền cũng như nghĩa vụ cho  
bị hại, đương sự. Việc bảo đảm các quyền  
của bị hại, đương sự cũng như của người bị  
buộc tội là điều kiện cần thiết để xác định  
sự thật khách quan của vụ án.  
Bị hại, đương sự (nguyên đơn dân sự,  
bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa  
vụ liên quan đến vụ án hình sự)1 theo quy  
định tại Điều 55 Bộ luật Tố tụng hình sự  
(TTHS) năm 2015 là các chủ thể tham gia  
tố tụng. Do quyền và lợi ích của họ bị ảnh  
hưởng bởi phán quyết của cơ quan có thẩm  
quyền tiến hành tố tụng nên các chủ thể này  
được xác định thuộc nhóm người tham gia  
Điều 3 Hiến pháp năm 2013 khẳng định  
nguyên tắc “công nhận, tôn trọng, bảo vệ  
và bảo đảm quyền con người, quyền công  
dân”. Nguyên tắc này được Bộ luật TTHS  
1 Điểm g khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.  
Số 09(433) - T5/2021  
29  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
năm 2015 cụ thể hóa tại Điều 16 với tên  
gọi: “Bảo đảm quyền bào chữa của người  
bị buộc tội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp  
của bị hại, đương sự”. Điều 16 quy định:  
“Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa,  
nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Cơ  
quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng  
có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo  
đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự  
thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và  
lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của  
Bộ luật này”. Đây là quy định mới so với  
quy định của Bộ luật TTHS năm 2003, thể  
hiện định hướng bảo vệ quyền con người  
của Bộ luật TTHS năm 20152. Quy định này  
phù hợp với yêu cầu đặt ra trong quá trình  
xây dựng Bộ luật TTHS năm 2015 là “bổ  
sung các quyền và cơ chế bảo đảm quyền  
của những người tham gia tố tụng một cách  
chặt chẽ, khả thi, phù hợp với các điều ước  
quốc tế mà Việt Nam là thành viên”3.  
TTHS năm 2015, bị hại, đương sự có quyền  
tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền, lợi ích  
hợp pháp cho mình. Bị hại, đương sự có thể  
nhờ: Luật sư; Người đại diện; Bào chữa viên  
nhân dân; Trợ giúp viên pháp lý để tham gia  
tố tụng với tư cách người bảo vệ quyền và  
lợi ích hợp pháp cho mình. Bộ luật TTHS  
năm 2015 đã bổ sung, hoàn thiện nhiều nội  
dung về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp  
pháp của bị hại, đương sự như: i) bổ sung  
diện người được tham gia tố tụng với tư  
cách bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị  
hại, đương sự; ii) bổ sung các quyền cho  
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của  
bị hại, đương sự như: quyền đưa ra chứng  
cứ; kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về  
chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu  
cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng  
kiểm tra, đánh giá; có mặt khi cơ quan có  
thẩm quyền tiến hành tố tụng lấy lời khai,  
đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói của  
người mà mình bảo vệ. Bên cạnh đó, quy  
định của Bộ luật TTHS năm 2015 về người  
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại,  
đương sự còn một số hạn chế sau:  
Ngoài quy định của Điều 16 Bộ luật  
TTHS năm 2015, bảo vệ quyền, lợi ích hợp  
pháp của bị hại, đương sự còn được bảo  
đảm thực hiện thông qua các nguyên tắc:  
tranh tụng trong xét xử; bình đẳng trong  
việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ,  
đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan  
của vụ án.  
Thứ nhất, Bộ luật TTHS năm 2015 chưa  
quy định thủ tục pháp lý xác định chủ thể  
tham gia tố tụng với tư cách người bảo vệ  
quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại, đương  
sự. Việc thiếu các quy định về thủ tục đăng  
ký tham gia tố tụng với tư cách người bảo  
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại, đương  
sự dẫn đến thiếu thống nhất trong việc áp  
dụng pháp luật.  
2. Nội dung nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi  
ích hợp pháp của bị hại, đương sự  
2.1. Quy định về người bảo vệ quyền,  
lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự  
Theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 62,  
điểm i khoản 2 Điều 63, điểm i khoản 2  
Điều 64, điểm đ khoản 2 Điều 65 Bộ luật  
Để tạo cơ sở pháp lý cho Cơ quan Điều  
tra trong việc xác định tư cách người bảo vệ  
quyền lợi của bị hại, đương sự, Bộ Công an  
2 Nguyễn Ngọc Chí (2018), Giáo trình các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự, Nxb. Đại học Quốc  
gia Hà Nội, tr. 202.  
3
Nguyễn Hoà Bình (2016), “Tổng quan những nội dung lớn sửa đổi, bổ sung trong Bộ luật TTHS năm  
2015” trong sách “Những nội dung mới trong Bộ luật TTHS năm 2015” do Nguyễn Hòa Bình chủ biên, Nxb.  
Chính trị Quốc gia, tr. 21.  
30  
Số 09(433) - T5/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
đã ban hành Thông tư số 46/TT-BCA ngày  
10/10/2019 quy định về trách nhiệm của  
lực lượng Công an nhân dân trong việc thực  
hiện các quy định của Bộ luật TTHS năm  
2015 liên quan đến bảo đảm quyền bào chữa  
của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp,  
người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả  
tang hoặc theo quyết định truy nã, người bị  
tạm giữ, bị can; bảo vệ quyền và lợi ích hợp  
pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác,  
người bị kiến nghị khởi tố. Điều 9 Thông  
tư hướng dẫn cụ thể thủ tục đăng ký bảo vệ  
quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương  
sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi  
tố tương tự như thủ tục đăng ký bào chữa  
quy định trong Bộ luật TTHS năm 20154.  
Tuy nhiên, đây là hướng dẫn có phạm vi  
áp dụng trong lực lượng Công an nhân dân,  
không phải thông tư liên ngành điều chỉnh  
hoạt động của tất cả các cơ quan có thẩm  
quyền tiến hành tố tụng5.  
tin về tội phạm, chủ thể bị thiệt hại chưa  
được xác định là bị hại hay đương sự nên  
quyền của họ hạn chế. Trong quá trình tố  
tụng, họ hoàn toàn có thể thay đổi tư cách  
và tham gia tố tụng với tư cách bị hại hay  
các đương sự khác. Việc xác định người bị  
thiệt hại do tội phạm gây ra tham gia tố tụng  
với tư cách bị hại “khi và chỉ khi được cơ  
quan tiến hành tố tụng công nhận”6. Khi  
được xác định tham gia tố tụng với tư cách  
bị hại quyền năng pháp lý của họ được mở  
rộng (khoản 2 Điều 62 Bộ luật TTHS năm  
2015); đồng thời, họ có quyền nhờ người  
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. Do đó, có  
thể nói rằng, việc Bộ luật TTHS năm 2015  
không quy định thời điểm tham gia tố tụng  
của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp  
của bị hại, đương sự là chưa đáp ứng đầy đủ  
nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp  
của bị hại, đương sự. Tác giả cho rằng, bị  
hại cần được xác định tư cách tố tụng đúng  
thời điểm hoặc mở rộng quyền được nhờ  
người bảo vệ cho người tố giác tội phạm  
để người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp  
của người tố giác được tham gia vào cả giai  
đoạn tiền tố tụng từ đó hỗ trợ và cùng với  
người tố giác tội phạm – người sau này có  
thể được xác định là bị hại, đương sự thực  
hiện việc thu thập, cung cấp các chứng cứ  
hoặc đưa ra kiến nghị về việc điều tra để  
chứng minh tội phạm làm cơ sở khởi tố vụ  
án, khởi tố bị can.  
Thứ hai, Bộ luật TTHS năm 2015 không  
quy định thời điểm tham gia tố tụng của  
người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị  
hại, đương sự là chưa hợp lý (khoản 2 Điều  
59 Bộ luật TTHS năm 2003 có quy định về  
thời điểm tham gia tố tụng của người bảo  
vệ quyền lợi của đương sự - từ khi khởi tố  
bị can).  
Theo quy định của Điều 143 Bộ luật  
TTHS năm 2015, vụ án hình sự có thể được  
khởi tố trong trường hợp cá nhân tố giác về  
tội phạm, trong đó có trường hợp cá nhân  
tố giác chính là chủ thể bị thiệt hại do tội  
phạm gây ra. Tại thời điểm tố giác, báo  
2.2. Quy định về chứng cứ và chứng  
minh nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp  
của bị hại, đương sự  
4
Xem Điều 9 Thông tư số 46/TT-BCA ngày 10/10/2019 của Bộ Công an quy định về trách nhiệm của lực  
lượng Công an nhân dân trong việc thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 liên quan  
đến bảo đảm quyền bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm  
tội quả tang hoặc theo quyết định truy nã, người bị tạm giữ, bị can; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị  
hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.  
5 Xem Điều 2 Thông tư số 46/TT-BCA ngày 10/10/2019.  
6 Lê Tiến Châu (2007), “Người bị hại trong tố tụng hình sự”, Tạp chí khoa học pháp lý (01), tr.42.  
Số 09(433) - T5/2021  
31  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Điều 88 Bộ luật TTHS năm 2015 quy  
định người tham gia tố tụng, trong đó có  
bị hại, đương sự có thể đưa ra chứng cứ,  
tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và trình bày  
những vấn đề có liên quan đến vụ án. Đồng  
thời, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố  
tụng phải lập biên bản giao nhận và kiểm  
tra, đánh giá theo quy định của Bộ luật  
TTHS. Để tránh việc thất lạc chứng cứ do  
người tham gia tố tụng nói chung, bị hại,  
đương sự nói riêng cung cấp gây ảnh hưởng  
đến việc xác định sự thật khách quan của vụ  
án, bảo đảm hoạt động kiểm sát của Viện  
kiểm sát nhân dân, khoản 5 Điều 88 Bộ luật  
TTHS năm 2015 quy định cụ thể trình tự  
lập biên bản tiếp nhận cũng như gửi biên  
bản, tài liệu cho Viện kiểm sát nhân dân7.  
cơ quan có thẩm quyền về xử lý vật chứng  
có thể dẫn đến sự tùy nghi trong thực tiễn  
áp dụng. Tác giả cho rằng, trong trường  
hợp xác định rõ tài sản đã thu giữ, tạm giữ  
không phải là vật chứng hoặc việc trả lại  
không ảnh hưởng đến việc xử lý vật chứng  
và thi hành án thì việc trả lại ngay cho chủ  
sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp phải  
được xác định là trách nhiệm của các cơ  
quan có thẩm quyền xử lý vật chứng.  
2.3. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp  
của bị hại, đương sự trong thủ tục tố tụng  
hình sự  
- Thủ tục tiến hành các hoạt động điều tra  
Nhằm bảo đảm xác định sự thật khách  
quan của vụ án, bảo đảm quyền không chỉ  
cho người bị buộc tội mà cho cả bị hại và  
các đương sự khác, Bộ luật TTHS năm  
2015 bổ sung một số thủ tục khi tiến hành  
hoạt động điều tra, cụ thể: i) bổ sung quy  
định bắt buộc phải thông báo cho Viện kiểm  
sát nhân dân cùng cấp để cử Kiểm sát viên  
tham gia các hoạt động đối chất, nhận dạng,  
nhận biết giọng nói, thực nghiệm điều tra;  
ii) ghi nhận cụ thể hơn quyền của bị hại đối  
với kết luận giám định; iii) bổ sung quy  
định về việc phải thông báo cho người bảo  
vệ quyền lợi của bị hại khi cơ quan điều tra  
ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, quyết  
định đình chỉ điều tra, quyết định phục hồi  
điều tra; iv) bổ sung quy định về thủ tục tố  
tụng đối với người bị hại dưới 18 tuổi.  
Thông thường, việc xử lý vật chứng sẽ  
được quyết định khi vụ án bị đình chỉ hoặc  
khi đưa ra xét xử. Tuy nhiên, để bảo đảm  
quyền cho các chủ thể có quyền lợi, nghĩa  
vụ có liên quan trong đó có bị hại, đương  
sự, khoản 3 Điều 106 Bộ luật TTHS năm  
2015 quy định “Trong quá trình điều tra,  
truy tố, xét xử, cơ quan, người có thẩm  
quyền quy định tại khoản 1 Điều này có  
quyền: trả lại ngay tài sản đã thu giữ, tạm  
giữ nhưng không phải là vật chứng cho chủ  
sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản  
đó; trả lại ngay vật chứng cho chủ sở hữu  
hoặc người quản lý hợp pháp nếu xét thấy  
không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và  
thi hành án”. Như vậy, bị hại, nguyên đơn  
dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên  
quan có thể nhận được ngay tài sản là vật  
chứng trong các vụ án, không phải đợi đến  
khi vụ án được giải quyết xong, bảo đảm  
các quyền năng trong quyền sở hữu được  
thực hiện tốt nhất.  
Về cơ bản, thủ tục tiến hành các hoạt động  
điều tra, thu thập chứng cứ bảo đảm quyền  
con người, xác định được sự thật khách quan  
của vụ án. Tuy nhiên, trên thực tế, những quy  
định trên vẫn còn một số bất cập sau:  
Một là, Điều 188 Bộ luật TTHS năm  
2015 quy định việc triệu tập, lấy lời khai  
Tuy nhiên, việc khoản 3 Điều 106 Bộ  
luật TTHS năm 2015 quy định quyền của  
7 Khoản 5 Điều 88 Bộ luật TTHS năm 2015.  
32  
Số 09(433) - T5/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
của bị hại, đương sự được thực hiện theo  
quy định tại các điều 185, 186 và 187 Bộ  
luật TTHS, tức là tiến hành giống với thủ  
tục triệu tập, lấy lời khai người làm chứng.  
Quy định này là chưa hợp lý. Bởi lẽ, người  
làm chứng khi tham gia tố tụng không có  
quyền và lợi ích pháp lý liên quan đến vụ  
án, họ không cần người tham gia tố tụng  
với tư cách người bảo vệ quyền lợi cho họ.  
Trong khi bị hại, đương sự có quyền nhờ  
người khác bảo vệ quyền và lợi ích cho  
mình. Những người này có quyền “Có  
mặt khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành  
tố tụng lấy lời khai, đối chất, nhận dạng,  
nhận biết giọng nói của người mà mình bảo  
vệ” (điểm d khoản 3 Điều 84 Bộ luật TTHS  
năm 2015).  
cho xã hội (đặc biệt các tội xâm phạm tình  
dục). Nếu không được thu thập đầy đủ, kịp  
thời, có việc bỏ qua các dấu vết trong quá  
trình xem xét sẽ dẫn đến hậu quả gây khó  
khăn cho quá trình giải quyết vụ án, thậm  
chí việc giải quyết vụ án có thể đi vào bế  
tắc. Vì vậy, đối với hoạt động điều tra xem  
xét dấu vết trên thân thể, cần có quy định về  
sự tham dự của đại diện Viện kiểm sát nhân  
dân cũng như người bảo vệ quyền của bị hại  
trong trường hợp bị hại có yêu cầu để bảo  
đảm cho việc thu thập dấu vết tội phạm.  
- Thủ tục xét xử sơ thẩm  
Nhằm bảo đảm quyền của bị hại, đương  
sự, Bộ luật TTHS năm 2015 đã bổ sung một  
số quy định về thủ tục xét xử sơ thẩm như:  
i) mở rộng diện chủ thể được nhận bản án,  
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, trong  
đó bổ sung quy định về việc giao quyết định  
đưa vụ án ra xét xử cho bị hại, đương sự  
và giao bản án sơ thẩm cho bị hại; ii) quy  
định chi tiết hơn việc tranh luận tại phiên  
tòa, trong đó có sự tham gia tranh tụng của  
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của  
bị hại, đương sự; iii) bổ sung yêu cầu đối  
với bản án sơ thẩm phải ghi rõ ý kiến của  
người bào chữa, bị hại, đương sự, người  
khác tham gia phiên tòa được Tòa án triệu  
tập…. Tuy nhiên, quy định của Bộ luật  
TTHS năm 2015 về thủ tục xét xử sơ thẩm  
vẫn còn bất cập ảnh hưởng đến việc thực  
hiện quyền của các chủ thể này. Cụ thể,  
mục III Chương XXI về xét xử sơ thẩm,  
Bộ luật TTHS năm 2015 không đề cập đến  
sự có mặt của người bảo vệ quyền, lợi ích  
hợp pháp của bị hại, đương sự. Tác giả cho  
rằng, việc ghi nhận quyền tranh tụng nhưng  
không quy định về sự có mặt của người bảo  
vệ quyền, lợi ích của người bảo vệ quyền tại  
phiên tòa sơ thẩm thể hiện sự thiếu thống  
nhất trong quy định của pháp luật cần được  
khắc phục.  
Hai là, Bộ luật TTHS năm 2015 không  
quy định trách nhiệm của cơ quan tiến hành  
lấy lời khai thông báo cho người bảo vệ  
quyền lợi của bị hại, đương sự. Chỉ trong  
trường hợp lấy lời khai của bị hại dưới 18  
tuổi, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố  
tụng phải thông báo trước thời gian, địa  
điểm lấy lời khai cho người đại diện, người  
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại  
(khoản 1 Điều 421 Bộ luật TTHS năm  
2015). Đây là hạn chế cần được khắc phục  
nhằm bảo đảm quyền, lợi ích của bị hại,  
đương sự được bảo vệ trên thực tế.  
Ba là, điểm d khoản 2 Điều 84 Bộ luật  
TTHS năm 2015 không ghi nhận quyền có  
mặt của người bảo vệ quyền, lợi ích của bị  
hại khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành  
hoạt động điều tra xem xét dấu vết trên thân  
thể. Thực tế cho thấy, trong các vụ án có  
người bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe,  
các dấu vết tội phạm để lại trên bị hại có ý  
nghĩa quan trọng giúp đánh giá đúng tính  
chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, trong  
nhiều trường hợp có giá trị trong việc xác  
định đối tượng thực hiện hành vi nguy hiểm  
Số 09(433) - T5/2021  
33  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
- Thủ tục xét xử phúc thẩm  
hợp pháp của bị hại chỉ là quyền mang tính  
“hình thức”. Đặc biệt, trong trường hợp bị  
hại, đương sự là người dưới 18 tuổi hoặc  
người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể  
chất không thực hiện quyền kháng cáo, Viện  
kiểm sát nhân dân không kháng nghị mà chỉ  
có người đại diện, người bảo vệ quyền lợi  
ích hợp pháp cho bị hại, đương sự kháng  
cáo yêu cầu sửa án theo hướng tăng nặng thì  
mặc dù kháng cáo có căn cứ, Hội đồng xét  
xử phúc thẩm cũng không thể sửa án theo  
hướng không có lợi cho bị cáo.  
Các quy định về phần thủ tục xét xử phúc  
thẩm trong Bộ luật TTHS năm 2015 bảo  
đảm được nguyên tắc hai cấp xét xử, bảo  
đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người  
tham gia tố tụng, trong đó có bị hại, đương  
sự8. Những thay đổi trong phần xét xử phúc  
thẩm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của  
bị hại, đương sự bao gồm: i) bổ sung, thay  
đổi trình tự, thủ tục kháng cáo, kháng nghị  
theo hướng rõ ràng, mạch lạc; ii) quy định  
rõ hơn cách xử lý đơn kháng cáo quá hạn;  
iii) quy định rõ hơn trách nhiệm của Viện  
kiểm sát nhân dân đã ban hành kháng nghị  
phải gửi quyết định này cho những người có  
liên quan đến kháng nghị; iv) quy định bắt  
buộc phải triệu tập người kháng cáo, người  
bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp  
của bị hại, đương sự… đến phiên tòa.  
Hai là, khoản 2 Điều 357 Bộ luật TTHS  
năm 2015 quy định: “…nếu có căn cứ thì  
Hội đồng xét xử vẫn có thể… giảm mức bồi  
thường thiệt hại”; khoản 3 Điều 357 cũng  
quy định trường hợp có căn cứ, Hội đồng xét  
xử phúc thẩm có thể sửa bản án sơ thẩm theo  
hướng có lợi cho bị cáo, bao gồm cả giảm  
mức bồi thường thiệt hại cho những bị cáo  
không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo,  
kháng nghị. Quy định giảm mức bồi thường  
thiệt hại trong trường hợp không có kháng  
cáo, khángnghịyêucầugiảmmứcbồithường  
thiệt hại mặc dù có lợi cho bị cáo nhưng lại  
không có lợi cho bị hại hoặc nguyên đơn dân  
sự và vi phạm nguyên tắc không làm xấu  
hơn tình trạng của bị cáo và đương sự. Theo  
nguyên tắc này, Tòa án cấp phúc thẩm không  
được làm xấu hơn tình trạng pháp lý của  
bị cáo, đương sự nếu không có kháng cáo,  
kháng nghị theo hướng không có lợi cho họ.  
Nguyên tắc này có đối tượng không chỉ là bị  
cáo mà còn các đương sự khác như người bị  
hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người  
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án9.  
Như vậy, quy định tại khoản 3 Điều 357  
Tuy nhiên, quy định của Bộ luật TTHS  
năm 2015 còn một bất cập sau đây:  
Một là, khoản 2 Điều 357 Bộ luật TTHS  
năm 2015 quy định Hội đồng xét xử phúc  
thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không  
có lợi cho bị cáo trong trường hợp Viện  
kiểm sát nhân dân kháng nghị hoặc bị hại  
kháng cáo yêu cầu. Như vậy, trong trường  
hợp kháng cáo là của người đại diện của bị  
hại, đương sự hoặc người bảo vệ quyền, lợi  
ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người  
dưới 18 tuổi hoặc người có nhược điểm về  
tâm thần hoặc thể chất thì mặc dù có căn  
cứ để sửa án theo hướng tăng nặng, không  
có lợi đối với bị cáo, Hội đồng xét xử phúc  
thẩm cũng không có quyền sửa án theo  
hướng đó. Như vậy, quyền kháng cáo của  
người đại diện, người bảo vệ quyền, lợi ích  
8
Hoàng Anh Tuyên (2016), “Xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm vụ án hình sự”, trong sách “Những nội  
dung mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015” do Nguyễn Hòa Bình chủ biên, Nxb. Chính trị Quốc Gia,  
Hà Nội, tr.328.  
9 Mai Thanh Hiếu (2015), “Không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo và đương sự trong xét xử phúc thẩm”,  
Tạp chí luật học, (10), tr. 23-24.  
34  
Số 09(433) - T5/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Bộ luật TTHS năm 2015 là chưa hợp lý,  
không phù hợp với nguyên tắc quyền tự định  
đoạt của đương sự gây ảnh hưởng đến quyền  
và lợi ích của người bị hại, đương sự.  
Bộ luật TTHS năm 2015 sẽ được chỉnh sửa  
lại như sau:  
Điều 56. Người tố giác, báo tin về tội  
phạm, kiến nghị khởi tố  
3. Kiến nghị  
………..  
Nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp  
của bị hại, đương sự, trên cơ sở những phân  
tích trên đây, tác giả kiến nghị:  
3. Trong trường hợp cá nhân tố giác,  
báo tin về tội phạm có quyền và lợi ích hợp  
pháp gắn liền với việc tố giác thì cá nhân  
có quyền nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích  
hợp pháp cho mình.  
Thứ nhất, sửa đổi Điều 16 Bộ luật TTHS  
năm 2015 theo hướng bổ sung nội dung về  
quyền tự bảo vệ, nhờ người khác bảo vệ của bị  
hại, đương sự vào nhằm bảo đảm sự bình đẳng  
giữa các chủ thể tham gia tố tụng, làm căn cứ  
để quy định trách nhiệm của các cơ quan có  
thẩm quyền. Theo đó, Điều 16 Bộ luật TTHS  
năm 2015 sẽ được chỉnh sửa lại như sau:  
Thứ ba, sửa đổi Điều 84 Bộ luật TTHS  
năm 2015 theo hướng bổ sung quyền có mặt  
của người bảo về quyền, lợi ích hợp pháp  
của bị hại, đương sự khi cơ quan có thẩm  
quyền xem xét dấu vết trên thân thể người  
mà họ bảo vệ; bổ sung khoản 5, 6 quy định  
về thủ tục đăng ký tham gia tố tụng với tư  
cách người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp  
của bị hại, đương sự và xác định rõ thời  
điểm tham gia tố tụng của họ để tư cách tố  
tụng của họ được xác định hợp pháp, thống  
nhất. Theo đó, Điều 84 Bộ luật TTHS năm  
2015 sẽ được chỉnh sửa lại như sau:  
Điều 16. Bảo đảm quyền bào chữa của  
người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích  
hợp pháp của bị hại, đương sự  
Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa,  
nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.  
Bị hại, đương sự có quyền tự bảo vệ,  
nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp  
pháp cho mình.  
Điều 84. Người bảo vệ quyền, lợi ích  
hợp pháp của bị hại, đương sự  
………..  
………  
Thứ hai, sửa đổi Điều 56 Bộ luật TTHS  
năm 2015 theo hướng bổ sung quyền tự bảo  
vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ cho người tố  
giác, báo tin về tội phạm để bảo vệ quyền,  
lợi ích hợp pháp của họ. Việc bổ sung này  
bảo đảm được quyền của bị hại ngay khi  
tiến hành các hoạt động tố tụng đầu tiên  
trong trường hợp người tố giác, báo tin về  
tội phạm chuyển tư cách tố tụng sang thành  
bị hại, đương sự khác10. Theo đó, Điều 56  
3d) Có mặt khi cơ quan có thẩm quyền  
tiến hành tố tụng lấy lời khai, đối chất, nhận  
dạng, nhận biết giọng nói, xem xét dấu vết  
trên thân thể của người mà mình bảo vệ;  
………  
5. Thủ tục đăng ký tham gia tố tụng để  
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại,  
đương sự thực hiện tương tự theo quy định  
tại khoản 2, 4 Điều 78 của Bộ luật này.  
10 Theo đó, cần bổ sung thêm quy định về người tham gia tố tụng với tư cách người bảo vệ quyền, lợi ích hợp  
pháp của người tố giác, báo tin về tội phạm trong Điều 55 Bộ luật TTHS năm 2015; đồng thời ghi nhận quyền,  
nghĩa vụ và thủ tục đăng ký tham gia tố tụng của chủ thể này trong một điều luật riêng biệt. Nội dung về đề  
xuất này sẽ được tác giả trình bày cụ thể trong một nghiên cứu khác liên quan đến người tố giác, báo tin về  
tội phạm.  
Số 09(433) - T5/2021  
35  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
6. Người bảo vệ quyền và lợi ích của bị  
hại, đương sự tham gia tố tụng ngay sau  
khi có thông báo chấp nhận đăng ký của cơ  
quan có thẩm quyền.  
định trách nhiệm của Điều tra viên phải  
thông báo cho người bảo vệ quyền và lợi  
ích hợp pháp của bị hại, đương sự khi tiến  
hành lấy lời khai người mà mình bảo vệ để  
hỗ trợ cũng như thực hiện nghĩa vụ bảo vệ  
đối với bị hại, đương sự. Theo đó, Điều 188  
Bộ luật TTHS năm 2015 sẽ được chỉnh sửa  
lại như sau:  
Thứ tư, sửa đổi khoản 3 Điều 106 Bộ  
luật TTHS năm 2015 theo hướng xác định  
việc xử lý vật chứng là trách nhiệm của cơ  
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi  
cần trả ngay tài sản cho chủ sở hữu hoặc  
người quản lý hợp pháp. Theo đó, khoản 3  
Điều 106 Bộ luật TTHS năm 2015 sẽ được  
chỉnh sửa lại như sau:  
Điều 188. Triệu tập, lấy lời khai của bị  
hại, đương sự  
Việc triệu tập, lấy lời khai của bị hại,  
đương sự được thực hiện theo quy định tại  
các điều 185, 186 và 187 của Bộ luật này.  
Điều 106. Xử lý vật chứng  
…………  
Trước khi tiến hành lấy lời khai, Điều  
tra viên phải thông báo cho người bảo vệ  
quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại, đương  
sự về thời gian, địa điểm lấy lời khai.  
3a. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét  
xử, cơ quan, người có thẩm quyền quy định  
tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm:  
Việc lấy lời khai của bị hại, đương sự có  
thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.  
a) Trả lại ngay tài sản đã thu giữ, tạm  
giữ nhưng không phải là vật chứng cho  
chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp  
tài sản đó;  
Thứ sáu, sửa đổi khoản 1 Điều 203 Bộ  
luật TTHS năm 2015 theo hướng bổ sung  
quy định về yêu cầu thông báo cho người  
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị  
hại, đương sự khi xem xét dấu vết trên  
thân thể người mà họ bảo vệ; quy định  
về sự có mặt của Kiểm sát viên khi tiến  
hành hoạt động này nhằm bảo đảm thu  
thập chứng cứ được đầy đủ, tạo điều kiện  
xác định sự thật khách quan của vụ án.  
Theo đó, khoản 1 Điều 203 Điều 203 Bộ  
luật TTHS năm 2015 sẽ được chỉnh sửa  
lại như sau:  
b) Trả lại ngay vật chứng cho chủ sở hữu  
hoặc người quản lý hợp pháp nếu xét thấy  
không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và  
thi hành án;  
c) Vật chứng là động vật hoang dã và  
thực vật ngoại lai thì ngay sau khi có kết  
luận giám định phải giao cho cơ quan quản  
lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo  
quy định của pháp luật.  
3b. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét  
xử, cơ quan, người có thẩm quyền quy định  
tại khoản 1 Điều này có quyền bán theo quy  
định của pháp luật đối với vật chứng thuộc  
loại mau hỏng hoặc khó bảo quản; trường  
hợp không bán được thì tiêu hủy;  
Điều 203. Xem xét dấu vết trên  
thân thể  
1. Khi cần thiết, Điều tra viên tiến hành  
xem xét dấu vết của tội phạm hoặc các  
dấu vết khác có ý nghĩa đối với việc giải  
quyết vụ án trên thân thể người bị giữ trong  
trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người  
bị tạm giữ, bị can, bị hại, người làm chứng.  
………  
Thứ năm, sửa đổi Điều 188 Bộ luật  
TTHS năm 2015 theo hướng bổ sung quy  
36  
Số 09(433) - T5/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Trong trường hợp cần thiết thì Cơ quan điều  
tra trưng cầu giám định.  
và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự,  
khắc phục thực trạng quyền kháng cáo  
mang tính “hình thức”; sửa đổi khoản 3  
Điều 357 Bộ luật TTHS năm 2015 theo  
hướng không sửa án theo hướng giảm bồi  
thường thiệt hại cho bị cáo không kháng  
cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị  
nhằm tôn trọng nguyên tắc quyền tự định  
đoạt của đương sự đối với các vấn đề về  
dân sự. Theo đó, khoản 2, 3 Điều 357 Bộ  
luật TTHS năm 2015 sẽ được chỉnh sửa  
lại như sau:  
Trước khi tiến hành xem xét dấu vết trên  
thân thể, Điều tra viên phải thông báo cho  
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để cử  
Kiểm sát viên kiểm sát việc xem xét dấu  
vết trên thân thể. Kiểm sát viên phải có  
mặt để kiểm sát việc xem xét dấu vết trên  
thân thể. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì  
ghi rꢀ vào biên bản xem xét dấu vết trên  
thân thể. Trong trường hợp xem xét dấu vết  
trên thân thể của bị hại phải thông báo cho  
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp  
của bị hại.  
Điều 357. Sửa bán án sơ thẩm  
……..  
...........  
2. Trường hợp Viện kiểm sát kháng  
nghị hoặc bị hại, người đại diện theo pháp  
luật của bị hại kháng cáo yêu cầu thì hội  
đồng xét xử phúc thẩm có thể tăng hình  
phạt, áp dụng điều, khoản của Bộ luật hình  
sự về tội nặng hơn; áp dụng hình phạt bổ  
sung; áp dụng biện pháp tư pháp; chuyển  
sang hình phạt khác thuộc loại nặng hơn;  
không cho bị cáo hưởng án treo.  
Thứ bảy, sửa đổi khoản 1 Điều 292 Bộ  
luật TTHS năm 2015 theo hướng bổ sung  
quy định về sự có mặt của người bảo vệ  
quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại, đương  
sự tại phiên tòa sơ thẩm, tạo điều kiện cho  
các chủ thể này thực hiện quyền tranh tụng  
dân chủ tại phiên tòa. Theo đó, khoản 1  
Điều 292 Bộ luật TTHS năm 2015 sẽ được  
chỉnh sửa lại như sau:  
Trường hợp bị hại, nguyên đơn dân sự,  
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan  
đến vụ án, người đại diện của họ, người  
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị  
hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền  
lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là người  
dưới 18 tuổi hoặc người có nhược điểm về  
tâm thần hoặc thể chất kháng cáo yêu cầu  
thì hội đồng xét xử phúc thẩm có thể tăng  
mức bồi thường thiệt hại.  
Điều 292. Sự có mặt của bị hại,  
đương sự, người đại diện hoặc người  
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ  
1. Nếu bị hại, đương sự, người đại diện  
hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích của  
họ vắng mặt thì tùy trường hợp, Hội đồng  
xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn  
tiến hành xét xử.  
…….  
3. Trường hợp có căn cứ, Hội đồng  
xét xử phúc thẩm có thể sửa bản án sơ  
thẩm theo quy định tại điểm a, b, c, đ,  
e, g khoản 1 Điều này và sửa quyết định  
xử lý vật chứng cho những bị cáo không  
kháng cáo hoặc không bị kháng cáo,  
Thứ tám, sửa đổi khoản 2 Điều 357 Bộ  
luật TTHS năm 2015 theo hướng cho phép  
Tòa án cấp phúc thẩm có thẩm quyền sửa  
án theo hướng không có lợi cho bị cáo  
khi có kháng cáo của người đại diện của  
bị hại nhằm bảo đảm quyền kháng cáo  
của người đại diện, người bảo vệ quyền  
kháng nghị  
Số 09(433) - T5/2021  
37  
pdf 9 trang Thùy Anh 14580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_ve_quyen_loi_ich_hop_phap_cua_bi_hai_duong_su_theo_quy_d.pdf