Vấn đề kỳ vọng chính đáng của nhà đầu tư trong thực tiễn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đầu tư quốc tế

HOÏC VIEÄN TÖ PHAÙP  
VẤN ĐỀ KỲ VỌNG CHÍNH ĐÁNG CỦA NHÀ ĐẦU TƯ TRONG THỰC TIỄN  
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI ĐẦU TƯ QUỐC TẾ  
Nguyễn Thị Anh Thơ1  
Tóm tắt: Vấn đề bảo vệ kỳ vọng chính đáng của nhà đầu tư đã luôn được các xác định là yếu tố  
nền tảng trong nguyên tắc đối xử công bằng và thoả đáng (Fair and Equitable Treatment – FET).  
Vì vậy, câu hỏi đặt ra là tiêu chuẩn FET có hay không bao gồm việc bảo vệ các kỳ vọng chính đáng  
của nhà đầu tư. Bài viết đi sâu phân tích vấn đề pháp lý này, trên cơ sở đó, liên hệ thực tiễn pháp  
luật đầu tư quốc tế của Việt Nam và đưa ra một số kiến nghị về những điểm cần lưu ý trong quá trình  
thực thi.  
Từ khoá: Kỳ vọng chính đáng, đầu tư, nước tiếp nhận đầu tư, trọng tài.  
Nhận bài: 20/7/2021; Hoàn thành biên tập: 10/8/2021; Duyệt đăng: 23/8/2021.  
Abstract: Protecting investors’ legitimate expectations has always been identified as the  
cornerstone of the Fair and Equitable Treatment (FET) principle. Therefore, the question raised is  
whether, and to what extent, the FET standard will include the protection of investors’ legitimate  
expectations. This paper will deeply analyze this legal issue and from that basis, the article provides  
comments on the practice of Vietnam’s international investment law and gives some  
recommendations on implementation.  
Keywords: Legitimate expectation, investment, host country, arbitration.  
Date of receipt: 20/7/2021; Date of revision: 10/8/2021; Date of Approval: 23/8/2021.  
1. Quan điểm về kỳ vọng chính đáng trong  
thực tiễn giải quyết tranh chấp của trọng tài  
đầu tư quốc tế  
1.1. Cách tiếp cận theo hướng bảo vệ kỳ  
vọng của nhà đầu tư  
động nhất quán, không mơ hồ và minh bạch, đảm  
bảo nhà đầu tư biết trước các chính sách và thông  
lệ quản lý và hành chính mà họ sẽ phải tuân theo.  
Cách tiếp cận này thực sự đòi hỏi khắt khe đối  
với nước tiếp nhận đầu tư và gần như không thể  
Khái niệm kỳ vọng chính đáng đã được sử đạt được. Như Douglas đã lưu ý, “tiêu chuẩn mà  
dụng trong các quyết định trọng tài áp dụng điều Hội đồng trọng tài đề ra trong vụ Tecmed thực ra  
khoản đối xử công bằng và thoả đáng (Fair and không phải là một tiêu chuẩn nào cả; mà đúng  
Equitable Treatment – FET). Khái niệm này đã hơn là quy chế công hoàn hảo trong một thế giới  
được áp dụng riêng hoặc song song với các khái hoàn hảo, nơi mà tất cả các quốc gia đều phải  
niệm liên quan khác như “sự ổn định của quy khao khát nhưng rất ít (nếu có) sẽ đạt được”2.  
định pháp luật”, tập trung vào khuôn khổ pháp  
Một số vụ kiện sau đó cơ quan tài phán đã áp  
lý đảm bảo hoạt động kinh doanh ổn định. Các dụng theo cách tiếp cận này. Vì vậy, trong vụ  
tuyên bố cổ điển về tiêu chuẩn kỳ vọng chính CMS kiện Argentina3 và vụ Enron kiện  
đáng một cách giản đơn được nhận diện trong Argentina4, các hội đồng trọng tài cho rằng tiêu  
phán quyết trọng tài Vụ Tecmed kiện Mexico. Hội chuẩn FET bao gồm yêu cầu về một “khuôn khổ  
đồng trọng tài theo cách tiếp cận này yêu cầu các ổn định cho đầu tư”. Để đưa ra kết luận này, cả  
cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại phải hành hai Tòa án dựa trên phần mở đầu của Hiệp định  
1 Thạc sỹ, Phó Trưởng Khoa Pháp luật thương mại quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội.  
2
Douglas Z (2006), Nothing if not critical for investment treaty arbitration: Occidental, Eureko and Methanex,  
Arbitration International, tr.28.  
3 CMS Gas Transmission Company v. The Republic of Argentina, ICSID Case No. ARB/01/8.  
4 Enron Corporation and Ponderosa Assets, L.P. v. Argentine Republic, ICSID Case No. ARB/01/3.  
24  
Soá 08/2021 - Naêm thöù möôøi saùu  
1.2. Cách tiếp cận theo hướng phân định  
phạm vi kỳ vọng của nhà đầu tư, đảm bảo sự  
cân bằng lợi ích giữa nhà đầu tư và nước tiếp  
nhận đầu tư  
Để tránh việc đưa ra quá nhiều tiêu chuẩn  
FET bằng cách tham chiếu đến các kỳ vọng hợp  
pháp, một số phán quyết đã tìm cách xác định  
các yếu tố phân định phạm vi của các kỳ vọng  
đó. Đây dường như là một cách tiếp cận hợp lý  
hơn, vì những kỳ vọng chính đáng của nhà đầu tư  
phải dựa trên thực tế, kinh nghiệm và bối cảnh.  
Trong vụ Duke Energy kiện Ecuador8, hội đồng  
trọng tài nhấn mạnh sự cần thiết phải xem xét tất  
cả các tình huống9.  
Phán quyết này đã phân định trường hợp mà  
một nhà đầu tư có thể mong đợi một cách hợp  
pháp từ các cơ quan có thẩm quyền của nước sở  
tại. Đồng thời, quan điểm của cơ quan tài phán  
đó là phải xem xét chặt chẽ mối liên hệ nhân  
quả giữa khoản đầu tư và một lời hứa cụ thể của  
nước tiếp nhận đầu tư đối với nhà đầu tư. Từ  
tuyên bố của hội đồng trọng tài trong vụ Duke  
Energy kiện Ecuador và các trường hợp khác10,  
có thể xác định một số yếu tố định tính chính  
để xác định kỳ vọng chính đáng của nhà đầu tư:  
(a) Các kỳ vọng hợp pháp chỉ có thể nảy sinh  
từ các đại diện cụ thể hoặc cam kết cụ thể của  
một quốc gia đã thực hiện với nhà đầu tư mà  
quốc gia đó đã dựa vào đó; (b) Nhà đầu tư phải  
nhận thức được môi trường pháp lý chung ở  
nước sở tại; (c) Kỳ vọng của nhà đầu tư phải  
được cân bằng với các hoạt động quản lý hợp  
pháp của nước sở tại.  
đầu tư song phương Argentina-Hoa Kỳ, trong đó  
nói rõ ràng rằng “đối xử công bằng và thoả đáng  
trong đầu tư là mong muốn để duy trì một khuôn  
khổ ổn định cho đầu tư”5. Về thực tế, hội đồng  
trọng tài cho rằng các biện pháp khẩn cấp mà  
Argentina thực hiện sau cuộc khủng hoảng Peso  
năm 2000 - 2002 là vi phạm tiêu chuẩn FET, vì  
họ đã loại bỏ chế độ bảo đảm thuế quan mà ban  
đầu đã khuyến khích nhà đầu tư đầu tư, do đó  
phá hoại bất kỳ sự ổn định nào về khuôn khổ  
pháp lý cho đầu tư6. Đáng chú ý, hội đồng trọng  
tài đã bác bỏ lý do hành vi của Argentina là  
không liên quan đến việc xác định xem có vi  
phạm xảy ra hay không: “Ngay cả khi giả định  
rằng bị đơn đã được hướng dẫn bởi những ý định  
tốt nhất, mà hội đồng trọng tài không có lý do để  
nghi ngờ, ở đây có sự vi phạm khách quan tiêu  
chuẩn FET”7.  
Trong những trường hợp này, các hội đồng  
trọng tài đã cho rằng bất kỳ thay đổi bất lợi nào  
trong hoạt động kinh doanh hoặc khuôn khổ  
pháp lý của nước sở tại có thể dẫn đến vi phạm  
tiêu chuẩn FET trong đó các kỳ vọng chính đáng  
của nhà đầu tư về khả năng dự đoán và ổn định.  
Cách tiếp cận này là không hợp lý, vì có khả  
năng ngăn cản quốc gia chủ nhà đưa ra bất kỳ  
thay đổi pháp lý hợp pháp nào, chưa nói đến việc  
thực hiện một cuộc cải cách quy định có thể được  
yêu cầu. Cách tiếp cận này bỏ qua yêu cầu thực  
tế rằng các nhà đầu tư nên hiểu rõ các quy định  
sẽ thay đổi theo thời gian như một khía cạnh hoạt  
động bình thường của các quy trình pháp lý và  
chính sách tại nền kinh tế mà họ đang tiến hành  
đầu tư. Những cân nhắc kiểu này đã khiến một số  
hội đồng trọng tài yêu cầu các yếu tố đủ điều kiện  
hơn nữa đối với khái niệm kỳ vọng chính đáng  
của nhà đầu tư.  
- Tính đại diện cụ thể.  
Sự cần thiết phải có các đại diện cụ thể đã  
được nhấn mạnh trong vụ Methanex kiện Hoa  
5 CMS v. Argentina, Award of 12 May 2005, đoạn 274; Enron v. Argentina, Award of 22 May 2007, đoạn 259–260.  
6 Enron v. Argentina, Award of 22 May 2007, đoạn 264–268.  
7
Enron v. Argentina, Award of 22 May 2007, đoạn 268; Enron v. Argentina, Decision on the Application for  
Annulment, 30 July 2010, đoạn 298–316.  
8 Duke Energy Electroquil Partners & Electroquil S.A. v. Republic of Ecuador, ICSID Case No. ARB/04/19.  
9 Duke Energy v. Ecuador, ICSID Case No. ARB/04/19, Award, August 18, 2008, đoạn 340.  
10 See, for instance, Continental Casualty v. Argentina, ICSID Case No.ARB/03/9, Award, 5 September 2008, đoạn 261.  
25  
HOÏC VIEÄN TÖ PHAÙP  
Kỳ, một tranh chấp NAFTA11, trong đó nguyên đến những kỳ vọng nội tại của mỗi bên không  
đơn, một nhà sản xuất metanol ở Canada, đã tương xứng với kỳ vọng như được hiểu trong luật  
phản đối luật pháp của California cấm sản xuất quốc tế”14.  
xăng có chứa phụ gia gốc metanol vì lý do môi  
trường. Nhà đầu tư đã tuyên bố đây là hành vi vi  
- Môi trường pháp lý chung ở nước sở tại.  
Trong vụ Methanex kiện Hoa Kỳ, đã thảo  
phạm nghĩa vụ FET của NAFTA, cho rằng lệnh luận ở trên, trọng tài nhấn mạnh sự cần thiết của  
cấm là vô lý, phá hủy thị trường của họ và phân nhà đầu tư phải có nhận thức chung về môi  
biệt đối xử có lợi cho ngành sản xuất methanol trường pháp lý mà mình đang hoạt động như một  
nội địa của Hoa Kỳ. Khi bác bỏ tuyên bố này, điều kiện để áp dụng học thuyết kỳ vọng hợp  
trọng tài đặc biệt coi trọng thực tế là Methanex pháp15. Trong vụ Genin kiện Estonia, Tòa án đã  
không được Hoa Kỳ đưa ra bất kỳ tuyên bố nào phát hiện ra rằng không có vi phạm nào đối với  
mà họ có thể dựa vào đó một cách hợp lý để kết FET có tính đến thực tế là các bên tranh chấp đã  
luận rằng những thay đổi quy định như vậy sẽ cố ý chọn đầu tư vào: “… một quốc gia độc lập  
không xảy ra12.  
đang phục hồi”16.  
Các quyết định trọng tài gợi ý rằng nhà đầu  
Một số hội đồng trọng tài đã coi tính minh  
tư có thể đạt được những kỳ vọng hợp pháp từ bạch và sự tham gia là một phần trong kỳ vọng  
(a) Các cam kết cụ thể được đề cập đến với cá hợp pháp của nhà đầu tư17. Bản thân sự minh  
nhân mình, ví dụ, dưới dạng điều khoản ổn định, bạch không phải là dấu chấm hết; mà là một  
hoặc (b) Các quy tắc không được đề cập cụ thể phương tiện để đạt được quản trị tốt hơn và tránh  
đến một nhà đầu tư nhưng được thực hiện với hành vi độc đoán và phân biệt đối xử. Mặc dù sự  
mục đích cụ thể là thu hút đầu tư nước ngoài và minh bạch trong cách ứng xử và tham vấn với  
nhà đầu tư nước ngoài dựa vào đó để thực hiện nhà đầu tư là một thông lệ tốt, nhưng không phải  
đầu tư của mình13.  
tất cả các quốc gia đều có sẵn khuôn khổ pháp lý  
Trong một số trường hợp liên quan đến mối và thể chế để cho phép sự tham gia và minh bạch  
quan hệ hợp đồng giữa nhà đầu tư và quốc gia đầy đủ. Rất ít quốc gia có thể tuyên bố hoàn toàn  
chủ nhà, nguyên đơn đưa ra lập luận rằng họ có minh bạch trong quá trình thực hiện và ra quyết  
kỳ vọng chính đáng để được quốc gia đó thực định theo quy định của họ. Một cách tiếp cận  
hiện hợp đồng và do đó, bất kỳ hành vi vi phạm thiếu linh hoạt và không thực tế đối với những  
hợp đồng nào của quốc gia cũng có thể vi phạm vấn đề này sẽ chuyển rủi ro hoạt động trong môi  
nghĩa vụ FET. Các hội đồng trọng tài đã không trường nước đang phát triển từ nhà đầu tư sang  
đồng ý và phân biệt các kỳ vọng hợp pháp theo nước tiếp nhận đầu tư.  
luật quốc tế với các quyền theo hợp đồng. Trong  
- Cân bằng kỳ vọng của nhà đầu tư so với  
vụ kiện Parkerings kiện Lithuania, Tòa án tuyên mục đích của nước tiếp nhận đầu tư.  
bố rằng “Không phải mọi hy vọng đều là một kỳ  
vọng theo luật quốc tế […] Hợp đồng liên quan phải cân bằng kỳ vọng của nhà đầu tư so với các  
Một số phán quyết đã nhấn mạnh sự cần thiết  
11 Methanex Corporation v. United States of America, UNCITRAL, (NAFTA), Final Award, 3 August 2005.  
12 Methanex Corporation v. United States of America, UNCITRAL, (NAFTA), Final Award, at Part IV, Chapter D,  
tr. 5, đoạn 7.  
13 See Glamis Gold, Ltd. v. United States, UNCITRAL (NAFTA), Award, 8 June 2009, đoạn 627.  
14 Parkerings-Compagniet AS v. Lithuania, ICSID Case No. ARB/05/8, Award, 11 September 2007, đoạn 344.  
15 See Methanex v. United States, Final Award, 3 August 2005, Part IV, Chapter D, đoạn 10.  
16 Genin v. Estonia, ICSID Case No. ARB/99/2, Award, 25 June 2001, đoạn 348.  
17 Relevant case law is reviewed in Newcombe and Paradell, 2009, tr. 291–294; as well as in Salacuse, 2010,  
tr. 237 - 238.  
26  
Soá 08/2021 - Naêm thöù möôøi saùu  
mục tiêu pháp lý hợp pháp của nước tiếp nhận  
Trong vụ Vivendi kiện Argentina II, Hội đồng  
đầu tư. Các Hội đồng trọng tài gợi ý rằng nghĩa trọng tài đã chấp nhận rằng một chính phủ mới  
vụ FET không ngăn cản các nước tiếp nhận đầu được bầu có quan điểm chính sách khác với  
tư hành động vì lợi ích công cộng ngay cả khi chính phủ tiền nhiệm của nó có quyền đi ngược  
những hành vi đó ảnh hưởng xấu đến các khoản lại. Tuy nhiên, Hội đồng trọng tài đề nghị rằng sự  
đầu tư. Đây là một tiêu chuẩn quan trọng đối với thay đổi này nên đi kèm với một cuộc thương  
phương pháp tiếp cận kỳ vọng hợp pháp.  
lượng lại minh bạch và không ép buộc đối với  
Nền tảng cho cách tiếp cận này đã được khởi hợp đồng đang được đề cập, và không thông qua  
nguồn từ vụ Saluka kiện Cộng hòa Séc18. Trong những lời đe dọa hủy bỏ dựa trên những cáo buộc  
quá trình ra quyết định này, Hội đồng trọng tài không chính đáng21.  
đã phân tích quá trình cân bằng liên quan đến  
Tóm lại, việc tham chiếu tới các phán quyết  
một khiếu nại dựa trên sự vi phạm các kỳ vọng của các Hội đồng trọng tài đối trong các vụ kiện  
chính đáng: “Để xác định xem liệu sự kỳ vọng khác nhau về kỳ vọng chính đáng để đi tới kết  
của nhà đầu tư nước ngoài có chính đáng và hợp luận về việc nước tiếp nhận đầu tư có vi phạm  
lý hay không, quyền hợp pháp của nước tiếp đối xử công bằng và bình đẳng không thể được  
nhận đầu tư sau đó trong việc điều chỉnh các vấn áp dụng tách biệt khỏi bối cảnh pháp lý, kinh tế,  
đề trong nước vì lợi ích cộng đồng cũng phải xã hội và chính trị thực tế. Bên cạnh đó, cơ quan  
được xem xét”.  
tài phán cũng cần xem xét đến sự cân bằng cần  
Trong vụ kiện Parkerings-Compagniet kiện thiết giữa kỳ vọng của nhà đầu tư và chức năng  
Lithuania, Hội đồng trọng tài cho rằng mỗi quốc của các nước tiếp nhận đầu tư cách là chủ thể  
gia có quyền thực hiện quyền lập pháp có chủ giám hộ lợi ích công cộng. Điều này đặc biệt  
quyền của mình - một cách hợp lý và công bằng quan trọng ở các nước đang phát triển. Khái niệm  
- và rằng nhà đầu tư phải lường trước một sự thay công bằng và đối xử bình đẳng sẽ cần phải tính  
đổi hoàn cảnh có thể xảy ra, và do đó cấu trúc đến, không chỉ lợi ích của các nhà đầu tư, mà cả  
khoản đầu tư của mình để thích ứng với môi lợi ích của nước tiếp nhận đầu tư.  
trường pháp lý mới, đặc biệt là của một quốc gia  
Những kỳ vọng nào có thể được coi là hợp  
đang trong quá trình chuyển đổi. Hội đồng trọng pháp và được bảo vệ bởi tiêu chuẩn FET cũng sẽ  
tài đã bác bỏ khiếu nại vi phạm FET, kết luận được xem xét một cách dè dặt hơn. Đặc biệt, các  
rằng Cộng hòa Lithuania đã không đưa ra bất kỳ nhà đầu tư phải lường trước và chấp nhận rằng  
lời hứa rõ ràng hay ẩn ý nào rằng khuôn khổ môi trường quản lý và lập pháp có thể thay đổi  
pháp lý của khoản đầu tư sẽ không thay đổi19.  
theo thời gian. Tuy nhiên, theo tiêu chuẩn FET,  
Trong Vụ Continental Casualty kiện các nhà đầu tư có thể mong đợi rằng những thay  
Argentina, Hội đồng trọng tài đặc biệt lưu ý rằng đổi như vậy sẽ được thực hiện một cách thiện chí  
sự ổn định của khung pháp lý cho các khoản đầu và không lạm dụng; các lập luận về lợi ích công  
tư, được đề cập trong phần mở đầu của BIT hiện sẽ không được sử dụng để ngụy trang cho các  
hành, không phải là nghĩa vụ pháp lý đối với các biện pháp độc đoán và phân biệt đối xử. Quyền  
Bên ký kết và rằng “điều đó sẽ là vô lương tâm lực của các quốc gia trong việc điều chỉnh mà  
đối với một quốc gia hứa không thay đổi luật pháp không bồi thường cho các nhà đầu tư nước ngoài  
của mình khi thời gian và nhu cầu thay đổi”20.  
cũng sẽ bị hạn chế khi quốc gia đưa ra các đảm  
18 Saluka v. Czech Republic, UNCITRAL Rules, Partial Award, 17 March 2006.  
19 Parkerings-Compagniet AS v. Lithuania, ICSID Case No. ARB/05/8, Award, 11 September 2007, paras. 334–338.  
20 Continental Casualty v. Argentina, ICSID Case No. ARB/03/9, Award, 5 September 2008, đoạn 258.  
21 Kinnear, 2008, p. 225, referring to Vivendi v. Argentina II, ICSID Case No. ARB/97/3, Award, 20 August 2007,  
đoạn 7.4.31.  
27  
HOÏC VIEÄN TÖ PHAÙP  
bảo cụ thể với nhà đầu tư về việc tuân thủ các  
Tuy nhiên, theo xu hướng hiện nay, khi ký các  
khía cạnh nhất định về điều kiện kinh doanh hoặc IIAs có nguyên tắc đối xử công bằng và thoả  
pháp lý. Tương tự như vậy, các quy định chung đáng, Việt Nam đã bổ sung các nội dung cụ thể  
được đưa ra đặc biệt để thu hút các khoản đầu tư vào điều khoản như trong Hiệp định Bảo hộ đầu  
nước ngoài và nhà đầu tư dựa vào đó có thể khiến tư giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (gọi tắt  
một quốc gia phải chịu trách nhiệm nếu sau đó là Hiệp định EVIPA), Hiệp định Đối tác Toàn  
quyết định thay đổi hoặc rút bỏ các quy định đó. diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (gọi tắt  
2. Bảo đảm đầu tư theo các hiệp định về  
đầu tư của Việt Nam  
là Hiệp định CPTPP). Đây cũng là cách mà các  
bên ký kết áp dụng để làm rõ nội dung của nghĩa  
Tiêu chí sự kỳ vọng chính đáng vẫn tiếp tục vụ đối xử công bằng và thoả đáng, làm cho việc  
là tâm điểm khi xác định tiêu chuẩn FET. Ngày thực thi điều khoản này trở nên dễ dự đoán hơn.  
nay, khái niệm sự kỳ vọng chính đáng là một  
Tóm lại, việc quy định rõ hơn điều khoản công  
phần của tiêu chuẩn FET trong các BITs và nên bằng và thoả đáng trong các hiệp định nêu trên đã  
được giải thích trong giới hạn của Hiệp định. Các thể hiện rõ mục tiêu giới hạn nghĩa vụ bảo hộ FET  
Hiệp định đầu tư quốc tế (IIAs) có những cách của các bên ký kết. Theo đó, các bên ký kết muốn  
tiếp cận khác biệt đối với tiêu chuẩn FET, bao giới hạn sự mở rộng quá mức nội hàm của công  
gồm: (i) Không quy định về nghĩa vụ đối xử bằng và thoả đáng, giúp Việt Nam cũng như các  
FET; (ii) Quy định về FET không dẫn chiếu tới bên ký kết khác giảm thiểu rủi ro bị kiện theo các  
luật quốc tế hay bất kỳ tiêu chuẩn bổ sung; (iii) điều khoản này khi theo đuổi các chính sách nhằm  
Quy định về FET phù hợp với luật quốc tế; (iv) bảo vệ các mục tiêu của quốc gia.  
3. Một số kiến nghị đối với Việt Nam  
Quy định về FET với nội dung bổ sung (từ chối  
tiếp cận công lý, các biện pháp không hợp  
Chính phủ Việt Nam cần lưu ý một số vấn đề  
lý/phân biệt đối xử, vi phạm các nghĩa vụ trong sau trong quá trình ban hành, thực thi chính sách  
các hiệp ước khác)22.  
để tránh vi phạm nguyên tắc về FET như sau:  
Theo thống kê của UNCTAD, đến nay Việt  
Thứ nhất, cần lưu ý về cách tiếp cận và giải  
Nam đã ký kết 67 Hiệp định khuyến khích và bảo thích các tiêu chuẩn FET của các hội đồng trọng  
hộ đầu tư với các quốc gia và vùng lãnh thổ tài trong các vụ kiện, để hiểu rõ hơn về nội dung  
khác23, và 26 hiệp định song phương và đa và phạm vi áp dụng, tạo thuận lợi cho việc đàm  
phương có chương đầu tư. Trong các hiệp định phán, thực thi hiệp định cũng như chủ động ứng  
này, nguyên tắc công bằng và thoả đáng được đề phó với các tranh chấp mà Chính phủ Việt Nam  
cập không hoàn toàn giống nhau về mặt nội có thể phải đối mặt.  
dung. Phần lớn các cam kết có hiệu lực của Việt  
Thứ hai, trong quy định của pháp luật Việt  
Nam chỉ đề cập một cách chung chung, dưới Nam về bảo hộ đầu tư kinh doanh chỉ giới hạn  
dạng một cam kết đơn giản rằng sẽ trao cho trường hợp văn bản pháp luật mới có thay đổi về  
khoản đầu tư của nhà đầu tư sự đối xử “công những ưu đãi cho nhà đầu tư. Vậy những ưu đãi  
bằng và thỏa đáng” trong lãnh thổ của nước đó, này được hiểu theo hướng như thế nào, phạm vi,  
mà không đề cập đến tiêu chuẩn hay những giới đối tượng áp dụng ra sao thì Luật đầu tư năm  
hạn nội dung24.  
2020 cũng không quy định rõ. Vì vậy, khi cơ  
22  
United Nations Conference on Trade and Development, Fair and Equitable Treatment,  
23 https://investmentpolicy.unctad.org/international-investment-agreements/countries/229/viet-nam, truy cập ngày  
11/3/2021.  
24 Ví dụ: BIT Việt Nam - Úc 1991, Việt Nam - Campuchia 2005, Việt Nam - Cộng hòa Séc 1996… Xem thêm:  
11/3/2021.  
28  
Soá 08/2021 - Naêm thöù möôøi saùu  
quan có thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật minh châu Âu (EVIPA) đều theo hướng cân bằng  
mới, cần xem xét cụ thể những ưu đãi trong các lợi ích giữa lợi ích chính đáng của nhà đầu tư và  
Giấy phép đầu tư, Giấy phép kinh doanh, Giấy nhu cầu bảo vệ lợi ích công cộng chính đáng của  
chứng nhận ưu đãi đầu tư, Giấy chứng nhận đầu quốc gia tiếp nhận đầu tư, vì vậy, trong trường  
tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, văn bản hợp nếu có tranh chấp phát sinh, hội đồng trọng  
quyết định chủ trương đầu tư hoặc văn bản khác tài đầu tư sẽ khó có thể có cách tiếp cận theo  
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thông hướng có lợi cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, khi ban  
thường, những ưu đãi có thể tồn tại dưới hình hành các chính sách hay thay đổi pháp luật, Việt  
thức ưu đãi về thuế, miễn hoặc giảm tiền thuê đất Nam cần lưu ý những tiêu chuẩn liên quan tới lợi  
trong khoảng thời gian nhất định, hoặc các hình ích công cộng, tránh phân biệt đối xử.  
thức ưu đãi khác trong giấy phép đầu tư25. Vì vậy,  
Thứ năm, trong trường hợp Chính phủ Việt  
Chính phủ Việt Nam có thể thay đổi quy định đối Nam ký hợp đồng với nhà đầu tư nước ngoài, cần  
với một dự án, ví dụ như áp mức thuế mới, trong phân biệt các kỳ vọng hợp pháp theo luật quốc tế  
đó vẫn duy trì “ưu đãi” mà không vi phạm nghĩa với các quyền theo hợp đồng. Có thể tham khảo  
vụ FET, nếu thuế không được ghi nhận trong phán quyết của trọng tài trong vụ Parkerings vs.  
giấy phép đầu tư hoặc các văn bản khác.  
Lithuania27; hoặc phán quyết của trọng tài trong vụ  
Thứ ba, trong trường hợp giấy phép hết thời Hamester vs. Ghana kết luận rằng “không đủ để  
hạn, nhà đầu tư có được cấp lại giấy phép đó hay một nguyên đơn viện dẫn các quyền theo hợp đồng  
không, hoặc việc thay đổi giấy phép có được xem bị cáo buộc vi phạm để duy trì khiếu nại do vi phạm  
như là trường hợp văn bản pháp luật thay đổi hay tiêu chuẩn FET”28. Cách tiếp cận ngược lại sẽ khiến  
không. Theo tác giả, việc thay đổi giấy phép đầu tất cả các hợp đồng giữa nhà đầu tư và nước tiếp  
tư đồng nghĩa với việc cơ quan có thẩm quyền nhận đầu tư sự bảo vệ của nguyên tắc FET, và tiêu  
ban hành một quyết định hành chính. Vì vậy, việc chuẩn này sẽ tạo thành một điều khoản bao trùm  
thay đổi giấy phép đầu tư dường như không thể (umbrella clause) được tiếp cận theo hướng mở  
được xem như pháp luật thay đổi. Quy định trong rộng nghĩa vụ của nước tiếp nhận đầu tư.  
Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam năm 1992  
Thứ sáu, quyền ban hành luật vì lợi ích công  
tiếp cận theo hướng rộng hơn Luật đầu tư năm của nước tiếp nhận đầu tư nên được tôn trọng,  
2020 khi quy định về vấn đề “văn bản pháp luật ngay cả khi có những thay đổi ảnh hưởng tiêu  
mới hoặc chính sách thay đổi”26. Việc thu hẹp cực đến nhà đầu tư nước ngoài. Việt Nam có thể  
phạm vi như trong Luật đầu tư năm 2020 đã hạn tham khảo phán quyết của trọng tài trong vụ  
chế nghĩa vụ của Chính phủ Việt Nam về vấn đề Joseph C. Lemire vs. Ukraine 29. Ngoại lệ liên  
bảo hộ hoạt động đầu tư kinh doanh.  
quan tới lợi ích công cộng sẽ giúp giải thoát  
Thứ tư, cách tiếp cận trong các hiệp định nghĩa vụ cho chính phủ nước tiếp nhận đầu tư,  
thương mại tự do thế hệ mới bao gồm các theo đó chính phủ sẽ không bị coi là vi phạm kỳ  
chương đầu tư như Hiệp định hợp tác toàn diện vọng chính đáng của nhà đầu tư và vi phạm tiêu  
Châu Á - Thái Bình Dương (CPTPP) hay Hiệp chuẩn FET, miễn là Chính phủ thực hiện một  
định về bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Liên cách trung thực, thiện chí./.  
25 Hop Dang, Legal Issues in Vietnam’s FDI Protections under Domestic Law, Bilateral Investment Treaties and  
Sovereign Guarantees, in Vivienne Bath, Luke Nottage ed, Foreign Investment and Dispute Resolution Law and  
Practice in Asia, tr. 231.  
26 Điều 11, Luật đầu tư nước ngoài năm 1992.  
27 Parkerings-Compagniet AS v. Lithuania, ICSID Case No. ARB/05/8, Award, 11 September 2007, para 344.  
28 Hamester v. Ghana, ICSID Case No. ARB/07/24, Award, 18 June 2010, para 337.  
29 8 See also Joseph C. Lemire v. Ukraine, ICSID Case No. ARB/06/18, Decision on Jurisdiction and Liability, 21  
January 2010.  
29  
pdf 6 trang Thùy Anh 15161 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vấn đề kỳ vọng chính đáng của nhà đầu tư trong thực tiễn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đầu tư quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_de_ky_vong_chinh_dang_cua_nha_dau_tu_trong_thuc_tien_gia.pdf