Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người (Phần 2)

Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người  
(concluding observations) mà Ủy ban giám sát công ước đưa ra và công  
bố sau khi kết thúc việc xem xét báo cáo của mỗi quốc gia trong việc thực  
hiện công ước1 cũng là một nguồn tham chiếu khi giải thích một số  
quyền. Ngoài ra, một số nguồn khác đôi khi cũng được sử dụng cho mục  
đích này, trong đó bao gồm những văn kiện và tài liệu có liên quan do  
Liên hợp quốc thông qua, ấn hành2 và một số sách chuyên khảo của các  
chuyên gia nổi tiếng trên thế giới về lĩnh vực quyền con người.3  
Chương IV  
CÁC QUYỀN DÂN SỰ VÀ CHÍNH TRỊ TRONG  
LUẬT QUỐC TẾ  
Xét về danh mục, có nhiều cách phân chia khác nhau với các  
quyền và tự do cá nhân dựa trên những cách tiếp cận khác nhau với nội  
dung của UDHR, ICCPR và ICESCR, tuy nhiên, trong Chương này (và  
cả Chương sau) sử dụng cách tiếp cận liên kết (a coherent approach to  
human rights4), bởi nó cho phép nghiên cứu các quyền và tự do đó  
trong mối liên hệ tác động lẫn nhau. Theo cách tiếp cận này, có thể chia  
các quyền và tự do cá nhân thành 5 nhóm, bao gồm nhóm quyền dân  
sự, nhóm quyền chính trị, nhóm quyền kinh tế, nhóm quyền xã hội và  
nhóm quyền văn hóa. Cụ thể, hai nhóm quyền dân sự và quyền chính trị  
bao gồm các quyền và tự do như sau:  
4.1. KHÁI QUÁT  
Cùng với cơ chế quốc tế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người,  
những chuẩn mực quốc tế về quyền con người (international human  
rights standards) hay còn gọi là các quy phạm quốc tế về các quyền và  
tự do của con người là một trong hai bộ phận quan trọng nhất cấu  
thành luật nhân quyền quốc tế. Như đã đề cập ở các Chương trước đó,  
về cơ bản, hệ thống các chuẩn mực quốc tế về quyền con người được  
chia thành các quyền của cá nhân (individual rights) và các quyền đặc  
thù áp dụng cho một số nhóm người cụ thể quyền của nhóm (group  
rights).  
Nhóm quyền dân sự (civil rights), bao gồm:  
a) Quyền không bị phân biệt đối xử, được thừa nhận và bình đẳng  
trước pháp luật.  
Chương này trình bày và phân tích khái quát nội dung của các  
chuẩn mực quốc tế về các quyền dân sự, chính trị - một trong hai nhóm  
quyền chính cấu thành các quyền và tự do cá nhân cơ bản. Xét ở góc độ  
pháp điển hóa, các quyền và tự do này đầu tiên được ghi nhận trong  
Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 (UDHR), sau  
đó, được tái khẳng định và cụ thể hóa trong nhiều văn kiện quốc tế khác  
mà đặc biệt là Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR)  
(được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào năm 1966) và trong  
một số văn kiện quốc tế khác trên lĩnh vực này.  
b) Quyền sống, tự do và an ninh cá nhân.  
c) Quyền về xét xử công bằng.  
d) Quyền về tự do đi lại, cư trú.  
e) Quyền được bảo vệ đời tư.  
f) Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo.  
g) Quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong hôn nhân.  
1 Xem các nhận xét kết luận của các Ủy ban công ước tại: http://www2.ohchr.org/english/bodies.  
2 Xem các tài liệu phục vụ giáo dục và đào tạo về quyền con người do Liên hợp quốc ấn hành  
Trong khi danh mục các quyền và tự do nêu ở Chương này được xác  
định dựa trên ICCPR, việc phân tích nội dung chi tiết của các quyền về cơ  
bản được dựa trên các bình luận/khuyến nghị chung (general  
comments) của Ủy ban giám sát ICCPR (Ủy ban quyền con người –  
Human Rights Committee). Bên cạnh đó, một số nhận xét kết luận  
3
Một số sách chuyên khảo đáng tin cậy: Về các quyền dân sự, chính trị, xem Manfred  
Nowak, U.N Convenant on Civil and Political Rights – ICCPR Commentary, N.P. Engel  
Publisher (tái bản lần thứ hai, có sửa chữa, bổ sung vào năm 2005).  
4
Về vấn đề này, xem thêm Rolf Künnemann, A Coherent Approach to Human Rights,  
Human Rights Quarterly 17.2 (1995) tr. 323-342.  
151  
152  
Chương IV: Các quyền dân sự và chính trị trong luật Quốc tế  
Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người  
bắt, giam giữ tùy tiện.  
Nhóm quyền chính trị (political rights), bao gồm:  
a) Quyền tự do biểu đạt.  
Quyền được đối xử nhân đạo  
và tôn trọng nhân phẩm của  
những người bị tước tự do.  
Điều 10 ICCPR  
b) Quyền tự do lập hội.  
c) Quyền tự do hội họp một cách hòa bình.  
d) Quyền tham gia vào đời sống chính trị.  
Quyền về xét xử công bằng.  
Các Điều 11, 14 và 15  
ICCPR  
Cần lưu ý là việc phân chia các quyền thành các nhóm kể trên chỉ  
mang tính ước định và tương đối. Thực tế cho thấy, có một số quyền có  
thể xếp vào nhiều hơn một nhóm (ví dụ, quyền tự do lập hội đôi khi  
cũng được xếp vào nhóm quyền xã hội, trong khi quyền về việc làm có  
thể xếp vào nhóm quyền dân sự...). Thêm vào đó, cũng cần lưu ý rằng,  
để phục vụ mục đích nghiên cứu và trong quá trình áp dụng, một số  
quyền thuộc các nhóm ở trên đôi khi còn được chia tách thành những  
quyền khác cụ thể hơn (mà sẽ được đề cập ở các phần tiếp theo). Dưới  
đây là bản tổng hợp (một cách khái quát nhất) các quyền và tự do về  
dân sự, chính trị được ghi nhận trong UDHR, ICCPR một số công ước  
quốc tế về quyền con người.  
Các Điều 12 và 13  
ICCPR  
Quyền về tự do đi lại, cư trú.  
Quyền được bảo vệ đời tư.  
Điều 17 ICCPR.  
Quyền tự do tư tưởng, tín  
ngưỡng, tôn giáo.  
Điều 18 ICCPR  
Quyền tự do ngôn luận và  
biểu đạt.  
Các Điều 19 và 20  
ICCPR  
Quyền kết hôn, lập gia đình và  
bình đẳng trong hôn nhân.  
Điều 23 ICCPR và  
Điều 10 ICESCR  
Quyền tự do lập hội.  
Quyền tự do hội họp.  
Điều 22 ICCPR  
Điều 21 ICCPR  
Điều 25 ICCPR  
Quyền, tự do  
ICCPR và một số  
công ước khác  
Quyền tham gia vào đời sống  
chính trị.  
Điều 21  
Quyền không bị phân biệt Các Điều 2, 3, 16 và  
đối xử, được thừa nhận và  
bình đẳng trước pháp luật.  
26 ICCPR.  
4.2. NỘI DUNG CỦA CÁC QUYỀN DÂN SỰ VÀ CHÍNH TRỊ CHỦ YẾU  
Quyền sống.  
Điều 6 ICCPR  
CRC, CPPCG, ICSPCA.  
4.2.1. Quyền không bị phân biệt đối xử, được thừa nhận  
và bình đẳng trước pháp luật  
Quyền được bảo vệ không bị  
tra tấn, đối xử hoặc trừng  
phạt tàn bạo, vô nhân đạo  
hoặc hạ nhục.  
Điều 7 ICCPR  
CAT  
Quyền này đồng thời được coi như một trong các nguyên tắc cơ bản  
của luật nhân quyền quốc tế, do đó, được đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp  
trong tất cả các văn kiện quốc tế về quyền con người. Nó bao gồm ba khía  
cạnh liên kết với nhau (mà đôi khi được đề cập như các quyền hàm chứa  
(unenumerated rights), đó là: (i) không bị phân biệt đối xử, (ii) được thừa  
nhận tư cách con người trước pháp luật, và (iii) có vị thế bình đẳng trước  
pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng.  
Điều 8 ICCPR Các  
điều ước về xoá bỏ chế  
độ nô lệ (1926, 1953,  
1956) và trấn áp buôn  
người, mại dâm người  
khác (1949, 2000)  
Quyền được bảo vệ không bị  
bắt làm nô lệ hay nô dịch.  
Điều 9  
Điều 9 ICCPR  
Quyền được bảo vệ khỏi bị  
153  
154  
Chương IV: Các quyền dân sự và chính trị trong luật Quốc tế  
Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người  
Quy định về quyền này đầu tiên được đề cập trong các Điều 1, 2, 6,  
7, 8 UDHR, sau đó, được tái khẳng định trong các Điều 2, 3, 16 và 26  
ICCPR, cụ thể như sau:  
nơi. Quy định này được tái khẳng định nguyên văn trong Điều 16  
ICCPR.  
Về khía cạnh thứ ba, Điều 7 UDHR quy định, mọi người đều bình  
đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà  
không có bất kỳ sự phân biệt nào... Điều 8 UDHR cụ thể hóa quy định ở  
Điều 7 khi nêu rằng, mọi người đều có quyền được các toà án quốc gia có  
thẩm quyền bảo vệ bằng các biện pháp hữu hiệu để chống lại những hành vi  
vi phạm các quyền cơ bản của họ mà đã được hiến pháp hay luật pháp quy  
định.  
Về khía cạnh thứ nhất, Điều 1 UDHR nêu rõ, mọi người sinh ra đều  
được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và các quyền... Điều 2 UDHR  
quy định, mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do... mà  
không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới  
tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác,  
nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay các  
địa vị khác. Ngoài ra, Điều này cấm phân biệt đối xử dựa trên địa vị  
chính trị, pháp lý của quốc gia hoặc lãnh thổ, bất kể là lãnh thổ độc lập,  
uỷ trị, quản thác, chưa được tự quản hay đang phải chịu bất kỳ hạn chế  
nào khác về chủ quyền.  
Điều 26 ICCPR tái khẳng định hai quy định kể trên của UDHR, đồng  
thời nêu rõ, về mặt này, pháp luật phải nghiêm cấm mọi sự phân biệt đối  
xử và bảo đảm cho mọi người sự bảo hộ bình đẳng và có hiệu quả chống  
lại những phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn  
giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc  
xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc các địa vị khác.  
Hai điều kể trên của UDHR được nhắc lại và cụ thể hóa trong các  
Điều 2 và 3 ICCPR. Theo Điều 2 ICCPR, các quốc gia thành viên Công  
ước cam kết tôn trọng và bảo đảm cho mọi người trong phạm vi lãnh  
thổ và thẩm quyền tài phán của mình các quyền đã được công nhận  
trong Công ước mà không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc,  
màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan  
điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất  
thân hoặc địa vị khác (Khoản 1). Các Khoản 2 và 3 Điều này đề cập  
nghĩa vụ của các quốc gia thành viên phải tiến hành các biện pháp cần  
thiết... nhằm thực hiện các quyền được công nhận trong Công ước, và  
bảo đảm rằng bất cứ người nào bị xâm phạm các quyền và tự do như  
được công nhận trong Công ước đều nhận được các biện pháp khắc  
phục hiệu quả, cho dù sự xâm phạm này là do hành vi của những  
người thừa hành công vụ gây ra... Điều 3 ICCPR tập trung vào khía  
cạnh bình đẳng giữa nam và nữ, theo đó, các quốc gia thành viên Công  
ước cam kết bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong việc  
thực hiện tất cả các quyền dân sự và chính trị mà Công ước đã quy  
định.  
Bên cạnh những khía cạnh đã nêu cụ thể trong các quy định ở trên  
của UDHR và ICCPR, Ủy ban Quyền con người (Human Rights  
Committee – cơ quan giám sát thực hiện ICCPR của Liên hợp quốc, sau  
đây viết tắt là UNHRC ), trong Bình luận chung số 18 thông qua tại  
phiên họp lần thứ 37 năm 1989 của Ủy ban đã phân tích về ý nghĩa và  
nội hàm của quyền này một cách khá chi tiết, mà có thể tóm tắt những  
44  
điểm quan trọng như sau1:  
Thứ nhất, không phân biệt đối xử, bình đẳng trước pháp luật  
và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng đóng vai trò là cơ sở và  
nguyên tắc chung trong việc bảo vệ tất cả các quyền con người. Các  
quốc gia thành viên có trách nhiệm bảo đảm quyền này cho mọi  
người có mặt trên lãnh thổ nước mình, bất kể người đó là công dân  
nước mình, người không quốc tịch hay người nước ngoài, bất kể các  
yếu tố dân tộc, chủng tộc, quốc tịch, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo,  
quan điểm chính trị, thành phần xã hội, tài sản hay bất kỳ yếu tố nào  
khác (đoạn 1).  
Về khía cạnh thứ hai, Điều 6 UDHR quy định, mọi người đều có  
quyền được công nhận tư cách là con người trước pháp luật ở mọi  
1
Xem các bình luận chung của HRC được trích dẫn trong Chương này trong: http://www2.  
ohchr.org/english/bodies/hrc/comments.htm  
155  
156  
Chương IV: Các quyền dân sự và chính trị trong luật Quốc tế  
Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người  
Thứ hai, Điều 26 ICCPR không chỉ cho phép tất cả mọi người có  
vị thế bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách  
bình đẳng, mà còn nghiêm cấm các quốc gia thành viên ban hành bất kỳ  
quy định pháp luật nào có tính chất phân biệt đối xử (đoạn 1).  
nêu ở Điều 1 Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử  
chống lại phụ nữ sẽ được áp dụng (đoạn 6).  
Thứ bảy, quyền bình đẳng không có nghĩa là áp dụng một kiểu  
đối xử cho mọi đối tượng trong cùng một tình huống (tức cào bằng), và  
không phải mọi sự khác biệt về đối xử đều tạo nên sự phân biệt đối xử.  
Nếu sự đối xử khác biệt được xác định dựa trên các điều kiện hợp lý,  
khách quan và nhằm mục đích để đạt được sự bình đẳng thì không bị  
coi là trái với ICCPR (các đoạn 10 và 13).1  
Thứ ba, quyền không bị phân biệt đối xử, bình đẳng trước pháp  
luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng phải được áp dụng  
trong mọi tình huống, kể cả trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia  
được quy định ở Điều 4 ICCPR1 (đoạn 2).  
Thứ tư, quyền không bị phân biệt đối xử, bình đẳng trước pháp  
luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mang tính chất khái  
quát, thể hiện trong nhiều bối cảnh, có mối liên hệ với việc thực hiện  
các quyền con người khác, cụ thể như với quyền được bình đẳng trước  
tòa án (các Khoản 1 và 3 Điều 14 ICCPR), quyền được tham gia vào đời  
sống của cộng đồng (Điều 25 ICCPR)...(đoạn 2).  
4.2.2. Quyền sống (the right to life)  
Quyền sống đầu tiên được đề cập trong Điều 3 UDHR. Điều này  
gắn kết quyền sống với các khía cạnh có liên quan khác thành một  
quyền gọi là quyền sống, tự do và an ninh cá nhân.  
Điều 6 ICCPR cụ thể hóa quy định về quyền sống trong Điều 3  
UDHR, theo đó: Mọi người đều có quyền cố hữu là được sống. Quyền  
này phải được pháp luật bảo vệ. Không ai có thể bị tước mạng sống một  
cách tuỳ tiện (Khoản 1). Các Khoản 2,3,4,5,6 Điều này quy định các  
nguyên tắc cơ bản trong việc áp dụng hình phạt tử hình ở những nước  
còn duy trì hình phạt này mà có thể tóm tắt như sau:  
Thứ năm, các quốc gia thành viên có quyền tự quyết định các  
biện pháp thích hợp để thực hiện quyền này, tuy nhiên, trong nhiều  
trường hợp, cần phải có những hành động chủ động (ví dụ như: để bảo  
đảm sự bình đẳng về quyền và trách nhiệm của vợ và chồng nêu trong  
Khoản 4 Điều 24 ICCPR...) (đoạn 5).  
Chỉ được phép áp dụng hình phạt tử hình đối với những tội ác  
nghiêm trọng nhất, căn cứ vào luật pháp hiện hành tại thời điểm tội  
phạm được thực hiện;  
Thứ sáu, trên thực tế ICCPR không đưa ra định nghĩa về sự phân  
biệt đối xử, tuy nhiên, theo UNHRC, thuật ngữ này được hiểu là bất kỳ sự  
phân biệt, loại bỏ, hạn chế hay thiên vị nào thực hiện dựa trên bất kỳ yếu  
tố nào như chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm  
chính trị hay quan điểm khác, quốc tịch hay thành phần xã hội, tài sản,  
nguồn gốc hay các vị thế khác, mà có mục đích hoặc có tác động làm vô  
hiệu hóa hay làm suy giảm sự thừa nhận, thụ hưởng hay thực hiện các  
quyền và tự do của tất cả mọi người trên cơ sở bình đẳng (đoạn 7). Cũng  
theo Ủy ban, trong các bối cảnh có liên quan, các định nghĩa về sự phân  
biệt đối xử về chủng tộc nêu ở Điều 1 Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình  
thức phân biệt đối xử về chủng tộc, và về phân biệt đối xử chống lại phụ nữ  
Việc áp dụng hình phạt tử hình không được trái với những quy định của  
ICCPR và của Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng (CPPCG);  
Hình phạt tử hình chỉ được thi hành trên cơ sở bản án đã có hiệu  
lực pháp luật, do một toà án có thẩm quyền phán quyết;  
1 Quan điểm này tương thích với quy định về các biện pháp đặc biệt tạm thời áp dụng để bảo  
đảm bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ trên thực tế mà được nêu ở Điều 4 CEDAW. Thêm  
vào đó, ngay trong ICCPR cũng có một số quy định phản ánh nguyên tắc này, cụ thể như quy  
định trong Khoản 5 Điều 6 ICCPR nghiêm cấm áp dụng hình phạt tử hình với những người  
dưới 18 tuổi và phụ nữ có thai; quy định trong Khoản 3 Điều 10 Công ước yêu cầu phải giam  
giữ người chưa thành niên làm trái pháp luật tách riêng khỏi những tội phạm đã trưởng  
thành. Hoặc như quy định ở Điều 25 cho phép phân tách đối tượng được hưởng các quyền  
chính trị (bầu cử, ứng cử..) trên cơ sở vị thế công dân.  
1 Theo Điều 4 ICCPR, trong những hoàn cảnh khẩn cấp, các quốc gia có thể hạn chế hoặc tạm  
đình chỉ việc áp dụng một số quyền con người, tuy nhiên, việc hạn chế hay đình chỉ phải  
được thực hiện trên cơ sở không phân biệt đối xử về bất cứ yếu tố nào. Chi tiết về vấn đề này  
xem Bình luận chung số 26 của HRC.  
157  
158  
Chương IV: Các quyền dân sự và chính trị trong luật Quốc tế  
Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người  
Bất kỳ người nào bị kết án tử hình đều có quyền xin và quyền được  
xét ân giảm hoặc thay đổi mức hình phạt;  
quyền sống trong Điều 6 có mối liên hệ với nghĩa vụ cấm các hoạt động  
tuyên truyền chiến tranh và kích động hận thù, bạo lực nêu ở Điều 20  
ICCPR (đoạn 3).  
Không áp dụng hình phạt tử hình với người dưới 18 tuổi và không  
được thi hành án tử hình đối với phụ nữ đang mang thai;  
Thứ tư, phòng chống những hành động tội phạm gây nguy hại  
hoặc tước đoạt tính mạng con người cũng là biện pháp hết sức quan  
trọng để bảo đảm quyền sống. Các quốc gia thành viên cần tiến hành  
các biện pháp phòng, chống và trừng trị việc tuỳ tiện tước đoạt tính  
mạng con người do bất kỳ chủ thể nào gây ra, kể cả do các lực lượng an  
ninh của Nhà nước (đoạn 5). Liên quan đến vấn đề này, việc bắt cóc  
người và đưa đi mất tích cũng bị coi là một trong những hình thức tước  
đoạt quyền sống, do đó, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ đưa ra  
những biện pháp và kế hoạch hiệu quả để phòng chống và điều tra các  
vụ việc dạng này (đoạn 4).  
Không được viện dẫn Điều 6 để trì hoãn hoặc ngăn cản việc xoá bỏ  
hình phạt tử hình.  
Bên cạnh ICCPR, một số công ước quốc tế khác về quyền con người  
cũng đề cập quyền sống, trong đó bao gồm CRC1, CPPCG2, Công ước về  
trấn áp và trừng trị tội ác Apácthai (ICSPCA)3…  
Ngoài những khía cạnh đã nêu cụ thể ở Điều 6 ICCPR, trong Bình  
luận chung số 6 thông qua tại phiên họp lần thứ 16 năm 1982, UNHRC  
đã giải thích thêm một số khía cạnh liên quan đến ý nghĩa và nội dung  
của quyền sống, có thể tóm tắt những điểm quan trọng như sau:  
Thứ năm, về mối quan hệ giữa hình phạt tử hình và quyền sống,  
mặc dù ICCPR không bắt buộc các quốc gia thành viên phải xóa bỏ hình  
phạt này, tuy nhiên, các quốc gia có nghĩa vụ phải hạn chế sử dụng nó, cụ  
thể là chỉ được áp dụng hình phạt này với “những tội ác nghiêm trọng  
nhất”, và việc giới hạn áp dụng hình phạt này cũng được coi là một hình  
thức bảo đảm quyền sống. Ngoài ra, các quốc gia thành viên mà hiện còn  
áp dụng hình phạt tử hình có nghĩa vụ bảo đảm những thủ tục tố tụng  
trong những vụ việc bị can, bị cáo bị xét xử với mức án tử hình phải được  
thực hiện một cách công bằng nhất, trong đó bao gồm những khía cạnh  
như: không áp dụng hồi tố, xét xử công khai, được giả định vô tội, bảo  
đảm các quyền bào chữa, kháng cáo và xin ân giảm... (đoạn 6).  
Thứ nhất, quyền sống là “một quyền cơ bản của con người mà  
trong bất cứ hoàn cảnh nào, kể cả trong tình trạng khẩn cấp của quốc  
gia, cũng không thể bị vi phạm...” (đoạn 1).  
Thứ hai, quyền sống không nên hiểu theo nghĩa hẹp chỉ là sự toàn  
vẹn về tính mạng mà phải hiểu quyền này bao gồm cả những khía cạnh  
nhằm bảo đảm sự tồn tại của con người. Theo cách tiếp cận đó, việc bảo  
đảm quyền sống còn đòi hỏi các quốc gia phải thực thi những biện pháp  
để làm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em và tăng tuổi thọ bình quân của người  
dân, cụ thể như các biện pháp nhằm xóa bỏ tình trạng suy dinh dưỡng  
và các dịch bệnh... tức là bao gồm cả các biện pháp thụ động và chủ  
động (đoạn 2).  
Cũng liên quan đến quyền sống, ngoài Bình luận chung số 6,  
UNHRC còn thông qua Bình luận chung số 14 (phiên họp lần thứ 23  
năm 1984) trong đó, tái khẳng định tầm quan trọng của quyền sống,  
coi đó là cơ sở cho tất cả các quyền con người, đồng thời, nhắc lại yêu  
cầu phải thực hiện Điều 6 của ICCPR trong mọi hoàn cảnh. Bản  
Khuyến nghị nhấn mạnh rằng chiến tranh, đặc biệt là chiến tranh hạt  
nhân, là nguy cơ lớn nhất đe dọa quyền sống và yêu cầu các quốc gia  
hạn chế và chấm dứt các cuộc chạy đua vũ trang, đặc biệt là không  
thiết kế, thử nghiệm, chế tạo, tàng trữ, triển khai và sử dụng các loại  
vũ khí hạt nhân. Theo UNHRC, việc thiết kế, thử nghiệm, chế tạo, tàng  
Thứ ba, một trong các nguy cơ phổ biến đe dọa quyền sống là  
chiến tranh và các tội phạm nghiêm trọng như diệt chủng hay tội phạm  
chống nhân loại. Vì vậy, việc chống chiến tranh và các tội phạm này  
cũng là sự bảo đảm quyền sống. Theo cách tiếp cận đó, việc bảo đảm  
1 Điều 6 Công ước này quy định, các quốc gia thành viên thừa nhận rằng tất cả trẻ em đều có  
quyền cố hữu là quyền sống.  
2 Điều 2 Công ước này đưa ra định nghĩa về tội diệt chủng, trong đó bao gồm hành động giết  
các thành viên của một nhóm dân tộc, chủng tộc, sắc tộc hoặc tôn giáo nhất định.  
3
Điều 2 Công ước này đưa ra định nghĩa về tội ác Apácthai, trong đó bao gồm hành động giết  
các thành viên của một nhóm chủng tộc hoặc giết cả nhóm chủng tộc đó.  
159  
160  
Chương IV: Các quyền dân sự và chính trị trong luật Quốc tế  
Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người  
trữ, triển khai và sử dụng các loại vũ khí hạt nhân cần phải coi là  
phạm tội ác chống nhân loại.  
một công chức. Tuy nhiên, Điều này cũng nêu rõ, khái niệm tra tấn không  
bao gồm những đau đớn hoặc đau khổ xuất phát từ, gắn liền với hoặc có  
liên quan đến các biện pháp trừng phạt hợp pháp.  
4.2.3. Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc  
trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục  
Định nghĩa về tra tấn trong Điều 1 CAT hiện được sử dụng như một  
quy định tham chiếu chung trong luật nhân quyền quốc tế và luật hình sự  
quốc tế1 khi đề cập vấn đề tra tấn, tuy nó bị phê phán là đã loại trừ những  
đối tượng và hoàn cảnh mà hành động tra tấn được thực hiện bởi những  
thủ phạm phi công chức (ví dụ, việc một nhóm phiến quân bắt cóc con  
tin và tra tấn họ hay việc một người chồng đánh đập vợ mình sẽ không  
thuộc nội hàm của hành động tra tấn theo định nghĩa này).  
Quyền này đầu tiên được đề cập trong Điều 5 UDHR, trong đó nêu  
rằng, không ai bị tra tấn hay bị đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân  
đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm.  
Điều 7 ICCPR cụ thể hóa nội dung Điều 5 UDHR, trong đó nêu rõ,  
không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo  
hoặc hạ thấp nhân phẩm; không ai có thể bị sử dụng để làm thí  
nghiệm y học hoặc khoa học mà không có sự đồng ý tự nguyện của  
người đó.  
Bên cạnh những khía cạnh đã được nêu cụ thể, một số khía cạnh khác  
liên quan đến nội dung Điều 7 ICCPR đã được UNHRC phân tích, đầu tiên  
là trong Bình luận chung số 7 (thông qua tại phiên họp lần thứ 16 năm  
1982 của Ủy ban), và sau đó, được sửa đổi và bổ sung trong Bình luật  
chung số 20 (thông qua tại phiên họp lần thứ 44 năm 1992 của Ủy ban).  
Sau đây là những nội dung tóm tắt của Bình luận chung số 20:  
Bên cạnh các quy định trên của UDHR và ICCPR, vấn đề chống tra  
tấn còn được đề cập trong một số điều ước quốc tế khác về quyền con  
người, đặc biệt là Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử,  
trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm (CAT, 1984).  
Tuy nhiên, một điều cần lưu ý là, chống tra tấn, đối xử hay trừng phạt  
tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục được coi là một quy phạm tập quán  
quốc tế (international custom law) về quyền con người, bởi vậy, tất cả  
các quốc gia trên thế giới đều có nghĩa vụ phải tuân thủ, bất kể quốc gia  
đó có là thành viên của ICCPR, CAT hay bất cứ điều ước quốc tế nào  
khác có liên quan hay không.  
Thứ nhất, mục đích của Điều 7 ICCPR là để bảo vệ cả phẩm giá và  
sự bất khả xâm phạm về thể chất và tinh thần của các cá nhân (đoạn 1).  
Thứ hai, việc cấm tra tấn và cấm áp dụng các hình thức đối xử,  
trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo và hạ nhục phải được duy trì trong mọi  
tình huống, kể cả trong hoàn cảnh khẩn cấp của quốc gia như quy định  
ở Điều 4 ICCPR. Không chấp nhận bất cứ lý do nào, kể cả về tình trạng  
khẩn cấp của quốc gia và mệnh lệnh cấp trên đưa ra để biện minh cho  
các hành động tra tấn, đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo và hạ  
Xét về nội dung, mặc dù UDHR và ICCPR đều không đưa ra định  
nghĩa về hành động tra tấn, song định nghĩa này được nêu ở Điều 1 của  
CAT, theo đó, tra tấn được hiểu là: bất kỳ hành vi nào cố ý gây đau đớn  
hoặc đau khổ nghiêm trọng về thể xác hay tinh thần cho một người, vì  
những mục đích như lấy thông tin hoặc lời thú tội từ người đó hay một  
người thứ ba, hoặc để trừng phạt người đó vì một hành vi mà người đó  
hay người thứ ba thực hiện hay bị nghi ngờ đã thực hiện, hoặc để đe doạ  
hay ép buộc người đó hay người thứ ba, hoặc vì bất kỳ một lý do nào  
khác dựa trên sự phân biệt đối xử dưới mọi hình thức, khi nỗi đau đớn  
và đau khổ đó do một công chức hay người nào khác hành động với tư  
cách chính thức gây ra, hay với sự xúi giục, đồng tình hay ưng thuận của  
nhục  
(đoạn 3).  
Thứ ba, sự phân biệt giữa các hành động tra tấn và hành động đối  
xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục phụ thuộc vào bản  
chất, mục đích và tính chất nghiêm trọng của hành vi. Ủy ban không  
1
Xem Quy chế Rôma về Tòa án Hình sự quốc tế (1998) và quy chế của các tòa án hình sự  
quốc tế lâm thời về Nam Tư cũ và Ruanđa.  
161  
162  
Chương IV: Các quyền dân sự và chính trị trong luật Quốc tế  
Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người  
thấy cần thiết phải đưa ra các ví dụ hay tiêu chí cụ thể để phân biệt giữa  
các hành động đó (đoạn 4).1  
Quyền này đầu tiên được đề cập trong Điều 4 UDHR, trong đó nêu  
rằng: Không ai bị bắt làm nô lệ hoặc bị cưỡng bức làm việc như nô lệ;  
mọi hình thức nô lệ và buôn bán nô lệ đều bị cấm.  
Thứ tư, về dấu hiệu khách quan, hành vi tra tấn, đối xử hay trừng  
phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nêu trong Điều 7 không chỉ là  
những hành động gây ra những đau đớn về thể xác, mà còn bao gồm  
những hành động gây đau khổ về tinh thần với nạn nhân. Những hành  
động đó không chỉ nhằm mục đích để trừng phạt, mà còn nhằm mục  
đích để giáo dục, rèn luyện một đối tượng nào đó. Như vậy, Điều 7 còn  
có tác dụng bảo vệ trẻ em, học sinh và các bệnh nhân trong môi trường  
giáo dục và y tế (đoạn 5).  
Điều 8 ICCPR cụ thể hóa quy định trong Điều 4 UDHR, trong đó  
nêu rõ: Không ai bị bắt làm nô lệ; mọi hình thức nô lệ và buôn bán nô lệ  
đều bị cấm. Không ai bị bắt làm nô dịch. Không ai bị yêu cầu phải lao  
động bắt buộc hoặc cưỡng bức.  
Xét nội dung, Điều 8 ICCPR bao trùm tất cả các tình huống mà  
một người có thể bị buộc phải phụ thuộc vào người khác, kể cả trong  
những bối cảnh như mại dâm, buôn bán ma túy hoặc trong một số dạng  
lạm dụng tâm lý1. Tuy nhiên, liên quan đến vấn đề lao động cưỡng bức,  
Khoản 3 Điều 8 liệt kê những trường hợp loại trừ, bao gồm:  
Thứ năm, việc kéo dài thời gian biệt giam hoặc tù giam một  
người, kể cả những người đã bị kết án tử hình, mà không có lý do chính  
đáng cũng bị coi là hành động tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn bạo, vô  
nhân đạo (đoạn 6).  
o Lao động cưỡng bức theo bản án của một tòa án có thẩm quyền ở  
những nước còn áp dụng hình phạt tù kèm lao động cưỡng bức  
như một hình phạt đối với tội phạm;  
Thứ sáu, các quốc gia không được trục xuất hay dẫn độ một người  
sang nước khác trong trường hợp người đó có khả năng bị tra tấn, đối  
xử hay trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo sau khi bị trục xuất hay dẫn độ  
(đoạn 9), đồng thời, phải thực hiện các biện pháp để ngăn chặn và xử lý  
các hành động bị nghiêm cấm trong Điều 7, bất kể do chủ thể nào gây  
ra, kể cả đó là các viên chức nhà nước hay dân thường, thực hiện khi thi  
o Những công việc hoặc sự phục vụ mà thông thường đòi hỏi một  
người đang bị giam giữ theo quyết định hợp pháp của toà án hoặc  
một người khi được trả tự do có điều kiện phải làm;  
o Những sự phục vụ mang tính chất quân sự và bất kỳ sự phục vụ  
quốc gia nào do luật pháp của một nước quy định đối với những  
người từ chối làm nghĩa vụ quân sự vì lý do lương tâm, trong  
trường hợp quốc gia đó cho phép từ chối thực hiện nghĩa vụ quân  
sự vì lý do lương tâm;  
hành công vụ hay trong những hoàn cảnh khác (đoạn 2)...  
Tương tự nhưng chi tiết hơn so với Bình luận chung số 20, CAT  
cũng bao gồm những quy định về các biện pháp các quốc gia thành viên  
cần áp dụng để ngăn chặn và trừng trị các hành động tra tấn, đối xử hay  
trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, đồng thời đề cập một số khía cạnh  
mới như yêu cầu về bảo vệ nhân chứng (Điều 13), yêu cầu bồi thường  
cho nạn nhân (Điều 14), cấm sử dụng thông tin thu được do tra tấn làm  
chứng cử trong tố tụng (Điều 15)...  
o Những sự phục vụ được yêu cầu trong trường hợp khẩn cấp hoặc  
thiên tai đe doạ đến tính mạng hoặc đời sống của cả cộng đồng;  
Những công việc hoặc sự phục vụ là một phần của các nghĩa vụ dân  
sự thông thường.  
Cũng cần lưu ý là những quy định về loại trừ phải được áp dụng  
4.2.4. Quyền được bảo vệ để khỏi bị bắt làm nô lệ hay nô dịch  
một cách bình đẳng, không phân biệt đối xử với bất kỳ chủ thể nào, và  
2
45  
phải phù hợp với các quy định khác có liên quan của ICCPR .  
1
Mặc dù vậy, trong một số nghiên cứu, và cả trong một số kết luận đưa ra bởi Tòa án châu  
1 Xem United Nations, Manual on Human Rights Reporting (the International Covenant on  
Civil and Political Rights), New York, 1991.  
2 Manual on Human Rights Reporting, Sđd.  
Âu về quyền con người, người ta đã cố gắng phân biệt giữa hành động tra tấn và các hành  
động đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục.  
163  
164  
Chương IV: Các quyền dân sự và chính trị trong luật Quốc tế  
Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người  
Ngoài ICCPR, trước và sau công ước này còn có nhiều điều ước quốc  
tế do Hội quốc liên, Liên hợp quốc và ILO thông qua có liên quan đến  
quyền được bảo vệ không bị bắt làm nô lệ hay nô dịch. Những điều ước  
này đã đề cập những biện pháp toàn diện mà các quốc gia thành viên  
phải tiến hành nhằm ngăn chặn và xóa bỏ chế độ nô lệ, những thể thức  
tương tự như chế độ nô lệ và việc cưỡng bức lao động. Một số điều ước  
tiêu biểu có liên quan là: Công ước về nô lệ, 1926 (Hội quốc liên); Nghị  
định thư năm 1953 sửa đổi Công ước về Nô lệ 1926 (Liên hợp quốc);  
Công ước bổ sung về xóa bỏ chế độ nô lệ, việc buôn bán nô lệ và các thể  
chế, tập tục khác tương tự chế độ nô lệ, 1956 (Liên hợp quốc); Công ước  
về lao động cưỡng bức (Công ước số 29 của ILO), 1930; Công ước về xóa  
bỏ lao động cưỡng bức (Công ước số 105 của ILO), 1957; Công ước về  
trấn áp việc buôn bán người và bóc lột mại dâm người khác, 1949 (Công  
ước số 29 của ILO); Công ước về trấn áp việc buôn bán người và bóc lột  
mại dâm người khác, 1949 (Liên hợp quốc); Nghị định thư về việc ngăn  
ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là buôn bán  
phụ nữ và trẻ em, bổ sung Công ước của Liên hợp quốc về chống tội  
phạm có tổ chức xuyên quốc gia, 2000...  
với họ; (3). Bất cứ người nào bị bắt hoặc bị giam giữ vì một tội hình  
sự phải được sớm đưa ra toà án hoặc một cơ quan tài phán có thẩm  
quyền thực hiện chức năng tư pháp và phải được xét xử trong thời  
hạn hợp lý hoặc được trả tự do. Việc tạm giam một người trong thời  
gian chờ xét xử không được đưa thành nguyên tắc chung, nhưng việc  
trả tự do cho họ có thể kèm theo những điều kiện để bảo đảm họ sẽ có  
mặt tại toà án để xét xử vào bất cứ khi nào và để thi hành án nếu bị  
kết tội; (4) Bất cứ người nào do bị bắt hoặc giam giữ mà bị tước tự do  
đều có quyền yêu cầu được xét xử trước toà án, nhằm mục đích để toà  
án đó có thể quyết định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc  
giam giữ và ra lệnh trả lại tự do cho họ, nếu việc giam giữ là bất hợp  
pháp;(5). Bất cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị  
giam giữ bất hợp pháp đều có quyền được yêu cầu bồi thường”.  
Ngoài những nội dung đã được nêu cụ thể như trên, trong Bình  
luận chung số 8 thông qua tại phiên họp lần thứ 16 năm 1982, UNHRC  
đã giải thích thêm một số khía cạnh có liên quan đến Điều 9 ICCPR, có  
thể tóm tắt những điểm quan trọng như sau:  
Thứ nhất, về phạm vi áp dụng, quyền này được áp dụng cho tất cả  
những người bị tước tự do, kể cả các trường hợp do phạm tội hay do bị  
tâm thần, lang thang, nghiện ma tuý, hay để nhằm các mục đích giáo  
dục, kiểm soát nhập cư... (đoạn 1).  
Tương tự như vấn đề chống tra tấn, việc chống nô lệ và các hình  
thức nô lệ, nô dịch được coi là một quy phạm tập quán quốc tế về quyền  
con người, do đó, những tiêu chuẩn quốc tế về vấn đề này có hiệu lực  
ràng buộc với mọi quốc gia trên thế giới, bất kể việc quốc gia đó có là  
thành viên của các điều ước quốc tế kể trên hay không.  
Thứ hai, thời hạn tạm giữ, tạm giam phụ thuộc vào pháp luật của các quốc  
gia thành viên, tuy nhiên, theo Ủy ban, thời hạn tạm giữ không nên vượt quá vài  
ngày, còn thời hạn tạm giam cần phù hợp với hai quy tắc: (i) bị can, bị cáo phải  
được xét xử trong thời gian hợp lý hoặc được trả tự do, và (ii) việc tạm giam chỉ  
được coi là ngoại lệ và với thời gian càng ngắn càng tốt (đoạn 2).  
4.2.5. Quyền được bảo vệ để khỏi bị bắt, giam giữ tùy  
tiện  
Quyền này là cốt lõi của tự do và an toàn cá nhân. Đầu tiên nó được  
quy định trong Điều 9 UDHR, trong đó nêu rằng, không ai bị bắt, giam  
giữ hay lưu đày một cách tuỳ tiện.  
Thứ ba, trong trường hợp sử dụng tạm giữ, tạm giam như là một  
biện pháp ngăn chặn, việc này không được tiến hành một cách tùy tiện  
mà phải dựa trên các trình tự, thủ tục được luật pháp quy định, đồng  
thời, phải bảo đảm quyền được thông tin của bị can, quyền được toà án  
quyết định tính hợp pháp của việc giam giữ, quyền được yêu cầu bồi  
thường của bị can, bị cáo trong trường hợp oan sai. Ngoài ra, trong  
trường hợp sau đó có lời buộc tội được đưa ra, còn phải tuân thủ những  
bảo đảm tố tụng nêu trong Điều 14 ICCPR (đoạn 3).  
Điều 9 ICCPR cụ thể hóa Điều 9 UDHR bằng những quy định khá  
chi tiết, trong đó nêu rõ: “(1) Mọi người đều có quyền hưởng tự do và  
an toàn cá nhân. Không ai bị bắt hoặc bị giam giữ vô cớ. Không ai bị  
tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền đó là có lý do và  
theo đúng những thủ tục mà luật pháp đã quy định; (2). Bất cứ người  
nào bị bắt giữ đều phải được thông báo vào lúc bị bắt về những lý do  
họ bị bắt và phải được thông báo không chậm trễ về sự buộc tội đối  
165  
166  
Chương IV: Các quyền dân sự và chính trị trong luật Quốc tế  
Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người  
4.2.6. Quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân  
phẩm của những người bị tước tự do  
hoặc sử dụng họ vào các thí nghiệm y tế hay khoa học mà trái với ý muốn  
của họ, theo như quy định ở Điều 7 ICCPR (đoạn 3).  
Quyền này được quy định trong Điều 10 ICCPR. Theo Điều này,  
những người bị tước tự do phải được đối xử nhân đạo với sự tôn trọng  
nhân phẩm vốn có của con người. Khoản 2 Điều này quy định, trừ  
những hoàn cảnh đặc biệt, bị can, bị cáo phải được giam giữ tách biệt  
với những người đã bị kết án và phải được đối xử theo chế độ riêng, phù  
hợp với quy chế dành cho những người bị tạm giam. Những bị can chưa  
thành niên phải được giam giữ tách riêng khỏi người lớn và phải được  
đưa ra xét xử càng sớm càng tốt. Đặc biệt, Khoản 3 Điều này đề cập một  
nguyên tắc định hướng việc đối xử với những người bị tước tự do, theo  
đó, việc đối xử với tù nhân trong hệ thống trại giam nhằm mục đích  
chính yếu là cải tạo và đưa họ trở lại xã hội, chứ không phải nhằm mục  
đích chính là trừng phạt hay hành hạ họ.  
Thứ ba, đối xử nhân đạo và với sự tôn trọng nhân phẩm của  
những người bị tước tự do là một nguyên tắc cơ bản về quyền con người  
trong tố tụng hình sự mà đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới. Các  
quốc gia thành viên phải áp dụng nguyên tắc này như một yêu cầu tối  
thiểu, không phụ thuộc vào nguồn lực sẵn có của quốc gia và không  
mang tính phân biệt đối xử dưới bất kỳ hình thức nào (đoạn 4).  
Thứ tư, những văn kiện của Liên hợp quốc được sử dụng để làm  
tiêu chuẩn đánh giá việc thực hiện quyền được đối xử nhân đạo khi bị  
tước tự do và để lập báo cáo quốc gia về việc thực hiện quyền này bao  
gồm: Các tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về việc đối xử với tù  
1
46  
nhân (1955) ; Tập hợp các nguyên tắc bảo vệ tất cả những người bị  
giam hay bị cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào (1988); Các quy tắc đạo  
đức trong ứng xử của quan chức thực thi pháp luật (1979) và Các quy tắc  
đạo đức trong ứng xử của nhân viên y tế trong việc bảo vệ tù nhân và  
những người bị giam giữ khỏi sự tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn ác,  
vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm (1982) (đoạn 5).  
Ngoài những khía cạnh đã được nêu rõ, trong Bình luận chung số 9  
thông qua tại phiên họp lần thứ 16 năm 1982, UNHRC đã giải thích  
thêm một số khía cạnh có liên quan đến nội dung của Điều 10 ICCPR.  
Những ý kiến bình luận này sau đó được thay thế, bổ sung bằng Bình  
luận chung số 21 thông qua tại phiên họp lần thứ 44 năm 1992 mà có  
thể tóm tắt những điểm quan trọng như sau:  
Thứ năm, các quốc gia nên xác định dưới 18 là độ tuổi được coi là  
vị thành niên trong tố tụng hình sự. Việc đối xử phù hợp với lứa tuổi và  
tư cách pháp lý của người chưa thành niên nêu ở Khoản 3 Điều 10 phải  
thể hiện ở những yếu tố như: điều kiện giam giữ tốt hơn phạm nhân đã  
thành niên; giờ lao động ngắn hơn; được liên lạc với người thân... Văn  
kiện của Liên hợp quốc được sử dụng để làm tiêu chuẩn đánh giá việc  
thực hiện và để lập báo cáo quốc gia trong vấn đề này là Các quy tắc tiêu  
chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về hoạt động tư pháp với người chưa  
thành niên (Các quy tắc Bắc Kinh, 1985) (đoạn 5).  
Thứ nhất, khái niệm “những người bị tước tự do” nêu ở Khoản 1  
Điều 10 không chỉ giới hạn ở những tù nhân hoặc người bị tạm giam,  
tạm giữ, mà còn mở rộng đến tất cả những đối tượng khác bị hạn chế tự  
do theo quy định pháp luật của các nước thành viên, chẳng hạn như  
những người bị quản chế để học tập, lao động, rèn luyện ở các trại cải  
tạo, trường giáo dưỡng, bệnh viện tâm thần, cơ sở cai nghiện...(đoạn 2).  
Thứ hai, việc đối xử nhân đạo với những người bị tước tự do như quy  
định trong Khoản 1 Điều 10 là một nghĩa vụ của các quốc gia thành viên.  
Bản chất của nghĩa vụ này là phải tôn trọng nhân phẩm của những người bị  
tước tự do tương tự như nhân phẩm của những người tự do. Những người bị  
tước tự do vẫn có những quyền dân sự, chính trị được quy định trong  
ICCPR, chỉ bị hạn chế một số quyền bắt nguồn từ môi trường bị quản chế.  
Nghĩa vụ đối xử nhân đạo với những người bị tước tự do bao gồm việc tuân  
thủ các quy định về cấm tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo  
Thứ sáu, Điều 10 đã xác định các nguyên tắc và quy định cơ bản  
làm cơ sở cho việc xác định rõ ràng hơn nghĩa vụ của các quốc gia thành  
viên trong việc bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự (đoạn 8).  
1
.
Sau này, vào năm 1990, Liên hợp quốc thông qua một văn kiện mới có tên là Các nguyên  
tắc cơ bản về đối xử với tù nhân.  
167  
168  
Chương IV: Các quyền dân sự và chính trị trong luật Quốc tế  
Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người  
vụ án hình sự, hoặc để xác định quyền và nghĩa vụ của người đó trong  
các vụ kiện dân sự. Báo chí và công chúng có thể không được phép  
tham dự toàn bộ hoặc một phần của phiên toà vì lý do đạo đức, trật tự  
công cộng hoặc an ninh quốc gia trong một xã hội dân chủ, hoặc vì lợi  
ích cuộc sống riêng tư của các bên tham gia tố tụng, hoặc trong chừng  
mực cần thiết, theo ý kiến của toà án, trong những hoàn cảnh đặc biệt  
mà việc xét xử công khai có thể làm phương hại đến lợi ích của công  
lý. Tuy nhiên, mọi phán quyết trong vụ án hình sự hoặc vụ kiện dân  
sự phải được tuyên công khai, trừ trường hợp vì lợi ích của người  
chưa thành niên hay vụ việc liên quan đến những tranh chấp hôn  
nhân hoặc quyền giám hộ trẻ em; (2). Người bị cáo buộc là phạm tội  
hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của  
người đó được chứng minh theo pháp luật; (3). Trong quá trình xét  
xử về một tội hình sự, mọi người đều có quyền được hưởng một cách  
đầy đủ và hoàn toàn bình đẳng những bảo đảm tối thiểu như: a)  
Được thông báo không chậm trễ và chi tiết bằng một ngôn ngữ mà  
người đó hiểu về bản chất và lý do buộc tội mình; b) Có đủ thời gian  
và điều kiện thuận lợi để chuẩn bị bào chữa và liên hệ với người bào  
chữa do chính mình lựa chọn;c) Được xét xử mà không bị trì hoãn  
một cách vô lý; d) Được có mặt trong khi xét xử và được tự bào chữa  
hoặc thông qua sự trợ giúp pháp lý theo sự lựa chọn của mình; được  
thông báo về quyền này nếu chưa có sự trợ giúp pháp lý; và được  
nhận sự trợ giúp pháp lý theo chỉ định trong trường hợp lợi ích của  
công lý đòi hỏi và không phải trả tiền cho sự trợ giúp đó nếu không có  
đủ điều kiện trả; e) Được thẩm vấn hoặc yêu cầu thẩm vấn những  
nhân chứng buộc tội mình, và được mời người làm chứng gỡ tội cho  
mình tới phiên toà và thẩm vấn họ tại toà với những điều kiện tương  
tự như đối với những người làm chứng buộc tội mình;f) Được có  
phiên dịch miễn phí nếu không hiểu hoặc không nói được ngôn ngữ sử  
dụng trong phiên toà; g) Không bị buộc phải đưa ra lời khai chống lại  
chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội; (4) Tố tụng áp dụng  
đối với những người chưa thành niên phải xem xét tới độ tuổi của họ  
và mục đích thúc đẩy sự phục hồi nhân cách của họ; (5). Bất cứ người  
nào bị kết án là phạm tội đều có quyền yêu cầu toà án cấp cao hơn  
xem xét lại bản án và hình phạt đối với mình theo quy định pháp luật;  
Theo các nguyên tắc này, không nên coi các trại giam là nơi để trả thù  
phạm nhân mà cần coi đó là nơi để giúp họ hoàn lương (đoạn 10).  
4.2.7. Quyền về xét xử công bằng (the right to a fair  
trial)  
Đây thực chất là một tập hợp các bảo đảm tố tụng nhằm bảo đảm  
quá trình xét xử được công bằng, trong đó bao gồm các khía cạnh như  
được bình đẳng trước tòa án (equality before a court), được suy đoán  
vô tội (assumption of innocence); không bị áp dụng hồi tố (prohibition  
of ex post facto laws); và không bị bỏ tù chỉ vì không hoàn thành nghĩa  
vụ theo hợp đồng (prohibition of imprisonment for debt). Trong một số  
tài liệu, mỗi bảo đảm này được coi như là một quyền con người cụ thể.  
Quyền được xét xử công bằng đầu tiên được đề cập trong các Điều 10  
và 11 UDHR. Theo Điều 10, mọi người đều bình đẳng về quyền được xét xử  
công bằng và công khai bởi một toà án độc lập và khách quan để xác định  
các quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối với  
họ. Điều 11 bổ sung thêm một số khía cạnh cụ thể, theo đó, mọi người bị  
cáo buộc về hình sự đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi được  
chứng minh là phạm tội theo pháp luật tại một phiên toà xét xử công khai  
nơi người đó được bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho  
mình. Không ai bị cáo buộc là phạm tội vì bất cứ hành vi hoặc sự tắc trách  
nào mà không cấu thành một tội phạm hình sự theo pháp luật quốc gia hay  
pháp luật quốc tế vào thời điểm thực hiện hành vi hay có sự tắc trách đó.  
Cũng không ai bị tuyên phạt nặng hơn mức hình phạt được quy định vào  
thời điểm hành vi phạm tội được thực hiện.  
Các quy định kể trên sau đó được tái khẳng định và cụ thể hóa  
trong các Điều 14, 15 và 11 ICCPR.  
Điều 14 ICCPR cụ thể hóa các quyền bình đẳng trước tòa  
án, quyền được suy đoán vô tội và một loạt bảo đảm tố tụng  
tối thiểu khác dành cho bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự,  
theo đó: “(1). Mọi người đều bình đẳng trước các toà án và cơ quan  
tài phán. Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai  
bởi một toà án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra  
trên cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội người đó trong các  
169  
170  
Chương IV: Các quyền dân sự và chính trị trong luật Quốc tế  
Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người  
(6). Khi một người bị kết án về một tội hình sự bởi một quyết định  
chung thẩm và sau đó bản án bị huỷ bỏ, hoặc người đó được tha trên  
cơ sở tình tiết mới hoặc phát hiện mới cho thấy rõ ràng có sự xét xử  
oan, thì người đã phải chịu hình phạt theo bản án trên, theo luật, có  
quyền yêu cầu được bồi thường, trừ trường hợp cơ quan tố tụng  
chứng minh rằng việc sự thật không được làm sáng tỏ tại thời điểm  
đó hoàn toàn hoặc một phần là do lỗi của người bị kết án gây ra; (7).  
Không ai bị đưa ra xét xử hoặc bị trừng phạt lần thứ hai về cùng một  
tội phạm mà người đó đã bị kết án hoặc đã được tuyên trắng án phù  
hợp với pháp luật và thủ tục tố tụng hình sự của mỗi nước.”  
cáo buộc phạm tội, kể cả những người không bị tạm giữ, tạm giam. Yêu  
cầu về việc thông báo không chậm trễ đòi hỏi việc này phải được thực  
hiện ngay sau khi có sự buộc tội bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền  
dưới dạng thông báo nói hay văn bản, nhưng phải chỉ ra những chứng  
cứ và quy định pháp luật được viện dẫn để buộc tội (đoạn 8).  
Thứ năm, việc xác định thời gian thích hợp để người bị buộc tội có  
thể chuẩn bị bào chữa và liên hệ với luật sư phụ thuộc vào hoàn cảnh của  
mỗi vụ án, còn việc dành cho họ điều kiện thuận lợi trong vấn đề này thì  
liên quan đến các yếu tố như: hoạt động thu thập tài liệu và bằng chứng  
cần cho việc bào chữa, cơ hội thuê và tiếp xúc với luật sư... (đoạn 9).  
Liên quan đến Điều 14, bên cạnh những khía cạnh đã được nêu cụ  
thể như trên, trong Bình luận chung số 13 thông qua tại Phiên họp lần  
thứ 21 năm 1984, UNHRC đã làm rõ thêm một số khía cạnh khác mà có  
thể tóm tắt như sau:  
Thứ sáu, yêu cầu được xét xử mà không bị trì hoãn một cách vô  
lý không chỉ liên quan đến khoảng thời gian từ khi người phạm tội bị  
cáo buộc đến khi mở phiên tòa, mà còn đến thời gian xét xử tại tòa và  
thời gian giữa hai phiên xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, tất cả đều không  
được trì hoãn quá lâu (đoạn 10).  
Thứ nhất, Điều 14 có nội dung đa dạng nhưng tất cả đều hướng  
vào mục đích nhằm bảo đảm sự chính xác và công bằng trong hoạt động  
tư pháp. Nội dung của Điều này cần được sử dụng như là cơ sở không  
chỉ trong hoạt động truy tố và xét xử tội phạm, mà còn trong việc xác  
định các quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo, cụ thể như các quyền  
bình đẳng trước tòa án và trước thẩm phán, quyền được bào chữa, được  
xét xử công khai bởi một tòa án có đủ thẩm quyền, độc lập và vô tư,  
được thành lập theo pháp luật (các đoạn 1 và 2).  
Thứ bảy, yêu cầu được có phiên dịch miễn phí nếu không hiểu  
hoặc không nói được ngôn ngữ sử dụng trong phiên toà phải được  
đáp ứng mà không phụ thuộc vào kết quả của hoạt động tố tụng, và phải  
được áp dụng cả với người nước ngoài cũng như với công dân của nước  
mình nếu cần thiết (đoạn 13).  
Thứ tám, để thực hiện được bảo đảm không bị buộc phải đưa ra  
lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội cần  
phải thực hiện các quyền quy định trong các Điều 7 và Khoản 1 Điều 10  
ICCPR. Thêm vào đó, luật pháp quốc gia cần có quy định chứng cứ thu  
được từ việc sử dụng các biện pháp tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo  
hay từ bất cứ hình thức ép buộc nào khác trong hoạt động tố tụng là vô  
giá trị (đoạn 14).  
Thứ hai, Điều 14 áp dụng cho tất cả các dạng tòa án và thẩm  
phán, bất kể tòa án thông thường, tòa án quân sự hay tòa án đặc biệt.  
Và mặc dù ICCPR không cấm việc thành lập các tòa án quân sự hay tòa  
án đặc biệt nhưng việc sử dụng các tòa án đó để xét xử các vụ việc dân  
sự là sự đe dọa nghiêm trọng đến tính công bằng, độc lập và vô tư của  
các tòa án và thẩm phán (đoạn 4).  
Thứ chín, để thực hiện các bảo đảm nêu ở các Khoản 1 và 3 Điều  
14 ICCPR, các thẩm phán cần được trao quyền giải quyết những khiếu  
nại, tố cáo về việc vi phạm các quyền của bị can, bị cáo trong bất kỳ giai  
đoạn tố tụng nào (đoạn 15).  
Thứ ba, những quy định trong Khoản 3 Điều 14 chỉ là những bảo  
đảm tối thiểu để thực hiện yêu cầu về xét xử công bằng (đoạn 5).  
Thứ tư, yêu cầu về việc được thông báo không chậm trễ và chi tiết  
bằng một ngôn ngữ mà người đó hiểu về bản chất và lý do buộc tội  
mình là bảo đảm tối thiểu đầu tiên mà bị can, bị cáo được hưởng trong  
tiến trình tố tụng. Quy định này áp dụng cho tất cả mọi trường hợp bị  
Thứ mười, người chưa thành niên làm trái pháp luật phải được  
hưởng những bảo đảm tố tụng ít nhất cũng ngang bằng với những bảo  
đảm áp dụng với những người đã thành niên. Việc thi hành tố tụng với  
171  
172  
Chương IV: Các quyền dân sự và chính trị trong luật Quốc tế  
Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người  
4.2.8. Quyền tự do đi lại, cư trú  
những người chưa thành niên làm trái pháp luật cần tính đến độ tuổi  
của các em và mục đích khuyến khích các em hoàn lương, mà thể hiện  
qua các khía cạnh như: xác định độ tuổi tối thiểu phải chịu trách nhiệm  
hình sự và độ tuổi tối đa một người có thể được coi là chưa thành niên;  
xây dựng các tòa án, luật và thủ tục tố tụng đặc biệt áp dụng với người  
chưa thành niên và bảo đảm rằng những luật và thủ tục đặc biệt đó đã  
tính đến mục đích khuyến khích các em hoàn lương (đoạn 16).  
Quyền này đầu tiên được đề cập trong Điều 13 UDHR, trong đó  
nêu rằng: Mọi người đều có quyền tự do đi lại và tự do cư trú trong  
phạm vi lãnh thổ của quốc gia. Mọi người đều có quyền rời khỏi bất kỳ  
nước nào, kể cả nước mình, cũng như có quyền trở về nước mình. Quy  
định này sau đó được tái khẳng định và cụ thể hóa trong các Điều 12 và  
13 ICCPR.  
Thứ mười một, quy định bất kỳ người nào bị kết án đều có  
quyền yêu cầu toà án cấp cao hơn xem xét lại bản án và hình phạt đối  
với mình theo quy định của pháp luật cần được áp dụng với mọi trường  
hợp phạm tội chứ không chỉ với những trường hợp phạm tội nghiêm  
trọng (đoạn 17).  
Theo Điều 12 ICCPR thì bất cứ ai cư trú hợp pháp trên lãnh thổ của  
một quốc gia đều có quyền tự do đi lại và tự do lựa chọn nơi cư trú trong  
phạm vi lãnh thổ quốc gia đó; mọi người đều có quyền tự do rời khỏi  
bất kỳ nước nào, kể cả nước mình; không ai bị tước đoạt một cách tuỳ  
tiện quyền được trở về nước mình (các Khoản 1,2,4).  
Điều 15 ICCPR chi tiết hóa bảo đảm về quyền không bị xét xử hồi  
tố, trong đó nêu rõ: Không ai bị coi là phạm tội vì một hành động hoặc  
không hành động mà không cấu thành tội phạm theo pháp luật quốc  
gia hoặc pháp luật quốc tế tại thời điểm thực hiện hành vi đó. Cũng  
không được áp dụng hình phạt nặng hơn hình phạt đã ấn định tại thời  
điểm hành vi phạm tội được thực hiện. Nếu sau khi xảy ra hành vi  
phạm tội mà luật pháp quy định hình phạt nhẹ hơn với hành vi đó, thì  
người phạm tội được hưởng mức hình phạt nhẹ hơn.  
Nhìn tổng quát, có thể thấy rằng, Điều 12 đã đề cập bốn dạng tự  
do cụ thể có mối liên hệ gắn kết với nhau, bao gồm: Tự do lựa chọn  
nơi sinh sống trên lãnh thổ quốc gia; Tự do đi lại trong phạm vi lãnh  
thổ quốc gia; Tự do đi khỏi bất kỳ nước nào, kể cả nước mình; Tự do  
trở về nước mình. Tuy nhiên, theo Khoản 3 Điều 12, quyền tự do đi lại  
và cư trú không phải là một quyền tuyệt đối (absolute right), mà có  
thể bị hạn chế nếu... “do luật định và là cần thiết để bảo vệ an ninh  
quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức xã hội hoặc các  
quyền tự do của người khác, và phải phù hợp với những quyền khác  
được ICCPR công nhận”.  
UNHRC hiện chưa đưa ra bình luận chung nào về nội dung của  
Điều 15, tuy nhiên, có một khía cạnh mà các chuyên gia luật nhân quyền  
quốc tế đều đã thống nhất, đó là quy định ở Điều 15 được áp dụng cả  
trong bối cảnh khẩn cấp của quốc gia. Hay nói cách khác, trong mọi  
tình huống, nguyên tắc “không có tội khi luật chưa quy định ở thời điểm  
thực hiện hành vi” đều phải được áp dụng.  
Về Điều 12 ICCPR, bên cạnh những khía cạnh đã được nêu cụ thể ở  
trên, trong Bình luận chung số 27 thông qua tại phiên họp lần thứ 67  
(1999), UNHRC đã phân tích thêm một số nội dung của quyền này mà  
có thể tóm tắt những điểm quan trọng như sau:  
Điều 11 ICCPR tái khẳng định bảo đảm về quyền không bị bỏ tù chỉ  
vì không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng, trong đó nêu rõ: Không  
ai bị bỏ tù chỉ vì lý do không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ theo  
hợp đồng. Tương tự như Điều 15, UNHRC hiện chưa có bình luận  
chung nào về nội dung của Điều 11. Tuy nhiên, theo ý kiến các chuyên  
gia, cụm từ khả năng hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng đề cập  
những nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch dân sự và thương mại, mà  
thông thường không bị coi là tội phạm nếu như không có yếu tố lừa đảo.  
Thứ nhất, tự do đi lại là điều kiện không thể thiếu đối với sự phát  
triển tự do của cá nhân. Quyền này có ảnh hưởng đến một số quyền  
khác được ghi nhận trong ICCPR và có mối liên hệ chặt chẽ với Điều 13  
(đoạn 1).  
Thứ hai, các quốc gia có thể đặt ra những giới hạn nhất định về  
quyền tự do đi lại, tuy nhiên, những giới hạn đặt ra không được làm vô  
hiệu nguyên tắc tự do đi lại, và phải dựa trên những căn cứ quy định  
173  
174  
Chương IV: Các quyền dân sự và chính trị trong luật Quốc tế  
Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người  
trong Khoản 3 Điều 12 và phải phù hợp với các quyền khác được ICCPR  
công nhận (đoạn 2).  
nhất định trên lãnh thổ quốc gia, ngoại trừ những trường hợp nêu ở  
Khoản 3 Điều 12 (đoạn 7).  
Thứ ba, quyền này không chỉ được áp dụng với các công dân mà  
còn với người nước ngoài đang cư trú hoặc hiện diện hợp pháp trên  
lãnh thổ nước khác. Việc cho phép nhập cảnh và tư cách "hợp pháp" của  
một người nước ngoài trên lãnh thổ của một nước phụ thuộc vào quy  
định pháp luật quốc gia và phù hợp với những nghĩa vụ quốc tế của  
nước đó. Tuy nhiên, khi một người nước ngoài đã được phép nhập cảnh  
vào lãnh thổ một nước thành viên thì người đó phải được coi là hợp  
pháp trong phạm vi lãnh thổ của nước này147. Và khi một người nước  
ngoài có tư cách hợp pháp trong lãnh thổ một nước, thì người này có  
các quyền theo quy định Điều 12; mọi sự đối xử với người này khác với  
sự đối xử dành cho công dân nước đó sẽ phải căn cứ theo các nguyên tắc  
được quy định ở Khoản 3 Điều 12248 (đoạn 4).  
Thứ tám, quyền tự do đi khỏi bất cứ nước nào, kể cả nước mình  
được áp dụng không phụ thuộc vào nước đến và mục đích, thời gian mà  
cá nhân dự định ở lại bên ngoài nước mình. Bởi vậy, quyền này bao  
hàm cả quyền đi ra nước ngoài để làm việc, tham quan cũng như để cư  
trú lâu dài. Quyền này áp dụng cả cho những người nước ngoài sống  
hợp pháp trên lãnh thổ của một nước khác, vì vậy, một người nước  
ngoài bị trục xuất hợp pháp có quyền được lựa chọn nước đến nếu có sự  
đồng ý của nước đó1 (đoạn 8).  
Thứ chín, cả nước mà một người sẽ đến cư trú và nước người đó có  
quốc tịch đều có trách nhiệm bảo đảm quyền tự do rời khỏi bất kỳ nước  
nào nêu ở Khoản 2 Điều 122. Do việc đi lại giữa các nước thường đòi hỏi  
những giấy tờ thông hành như hộ chiếu,v.v.., nên quyền được đi khỏi một  
nước phải bao hàm cả quyền có được những giấy tờ thông hành cần thiết.  
Việc từ chối cấp hoặc gia hạn hộ chiếu cho một người có thể tước đoạt  
của người đó quyền được rời khỏi nước mà họ đang sinh sống để đi nơi  
khác, bao gồm quyền được trở về nước mình3 (đoạn 9).  
Thứ tư, quyền tự do đi lại được áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ của  
một nước, kể cả những phần hợp thành trong trường hợp một quốc gia  
theo thể chế liên bang (đoạn 5).  
Thứ năm, việc bảo đảm quyền đi lại và tự do lựa chọn nơi sinh  
sống trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia không phụ thuộc vào mục  
đích hay lý do của việc đi lại hay của việc lựa chọn nơi cư trú. Bất cứ sự  
hạn chế nào với quyền này phải căn cứ vào quy định trong Khoản 3  
Điều 12 (đoạn 5).  
Thứ mười, những hạn chế quy định trong Khoản 3 Điều 12 chỉ  
được thực hiện nhằm các mục đích bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công  
cộng hay đạo đức xã hội và các quyền và tự do của người khác và phải  
phù hợp với các quyền khác được ghi nhận trong Công ước, cũng như  
phải được quy định trong pháp luật. Khi đặt ra những hạn chế về quyền  
này trong pháp luật, các quốc gia thành viên phải tuân thủ nguyên tắc  
nêu ở Điều 5 ICCPR, theo đó, các hạn chế đưa ra phải không làm tổn  
hại đến bản chất của các quyền; phải có sự tương thích giữa sự hạn chế  
và quyền có liên quan, giữa quy phạm và loại trừ; những hạn chế phải  
tương xứng với lợi ích được bảo vệ và nguyên tắc tương xứng này cần  
Thứ sáu, cần bảo vệ các quyền quy định trong Điều 12 khỏi sự vi  
phạm không chỉ từ phía các cơ quan, viên chức nhà nước, mà còn từ các  
chủ thể khác (ví dụ, phụ nữ có thể bị cản trở việc hưởng thụ quyền này  
từ chồng hoặc những người thân trong gia đình) (đoạn 6).  
Thứ bảy, quyền tự do cư trú còn bao hàm sự bảo vệ khỏi tình  
trạng bị bắt buộc di dời chỗ ở trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, cũng  
như khỏi bị ngăn cấm không được đến hoặc sinh sống ở một khu vực  
1 Về vấn đề này, xem thêm Bình luận chung số 15 của Ủy ban, đoạn 9, tr. 21.  
2
. Về vấn đề này, xem các Kết luận khuyến nghị số 106/1981 của Ủy ban, về vụ Montero kiện  
1.  
Về vấn đề này, xem thêm Kết luận khuyến nghị số 456/1991 của Ủy ban, về Celepli kiện  
Urugoay, đoạn 9.4; số 57/1979, về vụ Vidal Martin kiện Urugoay, đoạn 7; số 77/1980 về vụ  
Lichtensztejn kiện Urugoay, đoạn 6.1.  
Thuỵ Điển, đoạn 9.2.  
3 Về vấn đề này, xem Bình luận số 57/1979, về vụ Vidal Martin kiện Urugoay, đoạn 9.  
2. Về vấn đề này, xem thêm Bình luận chung số 15 của Ủy ban, đoạn 8, tr. 20.  
175  
176  
Chương IV: Các quyền dân sự và chính trị trong luật Quốc tế  
Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người  
được tuân thủ bởi cả các cơ quan lập pháp lẫn các cơ quan tư pháp và  
hành chính (các đoạn từ 11-15).  
Thứ mười một, quyền trở lại đất nước mình không chỉ là quyền  
của một người được trở lại sau khi rời đất nước mà còn là quyền của  
một người có quốc tịch nước đó nhưng sinh ra ở nước ngoài và lần đầu  
tiên trở về nước mà mình mang quốc tịch (đoạn 19). Nó cũng hàm ý về  
quyền của một người được ở lại nước mình và cấm việc di dân bắt buộc  
hoặc cưỡng chế người dân đến các nước khác (đoạn 19). Về chủ thể của  
quyền, do đại từ nhân xưng dùng trong Khoản 4 Điều 12 là không ai (no  
one) và cụm từ nước mình1 (his own country) sử dụng trong Khoản 4  
Điều 12 (mà có nội hàm rộng hơn so với cụm từ nước mình mang quốc  
tịch (country of his nationality) nên chủ thể của quyền này không chỉ  
giới hạn ở những người có quốc tịch của một quốc gia mà bao gồm cả  
những người mà có mối quan hệ đặc biệt với quốc gia đó, ví dụ như  
những người từng là công dân của một nước nhưng đã bị tước quốc tịch  
của nước này theo cách thức không phù hợp với luật quốc tế, hay những  
người có quốc tịch của một nước nhưng quốc tịch của người đó bị phủ  
nhận do nước này sáp nhập vào một nước khác hoặc thay đổi chế độ  
chính trị (đoạn 20).  
Những hạn chế được coi là không thích đáng với quy định ở Điều  
12 ICCPR bao gồm: (i) Không cho phép một người ra nước ngoài vì cho  
rằng người này nắm giữ "các bí mật của nhà nước"; (ii) Ngăn cản một cá  
nhân đi lại trong nước với lý do không có giấy phép cụ thể; (iii) Đòi hỏi  
một cá nhân phải xin phép và được sự chấp nhận của cơ quan có thẩm  
quyền mới được thay đổi nơi cư trú; (iv) Những đòi hỏi đặc biệt với một  
cá nhân để có thể được cấp hộ chiếu; (v) Đòi hỏi phải có bảo lãnh từ  
những thành viên khác trong gia đình mới được xuất cảnh; (vi) Đòi hỏi  
phải mô tả chính xác về lộ trình đi lại; (vii) Trì hoãn trong việc cấp các  
giấy tờ đi lại; (viii) Áp đặt những hạn chế đối với các thành viên gia  
đình trong việc đi lại với nhau; (ix) Đòi hỏi phải cam kết trở lại hoặc  
phải mua vé khứ hồi, về việc phải có giấy mời từ nước đến hoặc từ người  
thân đang sống ở đó; (x) Gây ra những phiền nhiễu với người nộp đơn  
xin xuất cảnh, ví dụ như sự đe doạ xâm hại thân thể, bắt giữ, khiến họ  
mất việc làm hay không cho con cái họ đi học; (xi) Từ chối cấp hộ chiếu  
vì cho rằng người nộp đơn gây hại cho thanh danh của đất nước... (các  
đoạn 16-17).  
Chỉ có một số ít trường hợp mà việc từ chối quyền của cá nhân  
được trở về nước mình có thể coi là hợp lý. Trong mọi trường hợp,  
cá nhân không thể bị tước đoạt một cách trái pháp luật quyền được  
trở về nước mình, bất kể sự tước đoạt đó phát sinh từ hoạt động lập  
pháp, hành pháp hay tư pháp; và kể cả khi một nhà nước đã ra  
quyết định tước quốc tịch của một cá nhân hoặc trục xuất một cá  
nhân đến một nước thứ ba thì cũng không được ngăn cản cá nhân  
này được trở lại đất nước của họ nếu không có lý do chính đáng về  
an ninh quốc gia.  
Những hạn chế được coi là thích đáng có thể bao gồm: (i) Giới hạn  
việc đi vào những khu vực quân sự hay đi ra nước ngoài vì lý do an ninh  
quốc gia; (ii) Những giới hạn về quyền tự do cư trú ở những nơi có cộng  
1
49  
đồng thiểu số hoặc bản xứ sinh sống ...(đoạn 16). Tuy nhiên, cần lưu ý  
là, kể cả khi những hạn chế đưa ra được coi là thích đáng thì vẫn còn  
một khía cạnh nữa phải tuân thủ, đó là việc áp dụng những hạn chế đó  
phải phù hợp với những quyền khác được ghi nhận trong ICCPR và với  
những nguyên tắc cơ bản về bình đẳng và không phân biệt đối xử. Bởi  
vậy, sẽ bị coi là vi phạm Công ước nếu việc hạn chế xuất phát từ sự phân  
biệt đối xử về chủng tộc, giới tính, sắc tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chính  
kiến hay quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, sở hữu, nguồn  
gốc xuất thân hay địa vị khác (ví dụ, việc áp dụng các biện pháp ngăn  
cản phụ nữ được tự do đi lại hay rời khỏi đất nước bằng cách đòi hỏi họ  
phải có sự đồng ý hoặc có chồng đi cùng là vi phạm Điều 12) (đoạn 18).  
Điều 13 ICCPR đề cập cụ thể tới quyền tự do đi lại, cư trú trong mối  
quan hệ với người nước ngoài, theo đó, một người nước ngoài cư trú hợp  
pháp trên lãnh thổ một quốc gia thành viên Công ước chỉ có thể bị trục  
xuất khỏi nước đó theo quyết định phù hợp pháp luật, và trừ trường hợp  
có yêu cầu khác xuất phát từ lý do chính đáng về an ninh quốc gia; người bị  
trục xuất có quyền phản đối việc trục xuất và yêu cầu nhà chức trách có  
thẩm quyền, hoặc một người hoặc những người mà nhà chức trách có  
1
1. Về vấn đề này, xem thêm Bình luận chung 23 của Ủy ban, đoạn 7, tr. 41.  
Xem thêm Bình luận chung số 23 của Ủy ban, đoạn 7, tr. 41.  
177  
178  
Chương IV: Các quyền dân sự và chính trị trong luật Quốc tế  
Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người  
làm nô lệ hay nô dịch; quyền không bị bỏ tù vì không hoàn thành nghĩa vụ  
theo hợp đồng; quyền tự do đi lại, cư trú, tự do rời khỏi đất nước; quyền  
được công nhận là thể nhân trước pháp luật; quyền bình đẳng trước pháp  
luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng; quyền được xét xử công  
bằng, công khai bởi một tòa án độc lập, vô tư, được thành lập theo pháp  
luật; quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm khi bị tước tự  
do; quyền được bảo vệ khỏi bị can thiệp tùy tiện vào đời tư, gia đình, con  
cái, người thân; quyền tự do chính kiến, niêm tin, tín ngưỡng, tôn giáo,  
quyền kết hôn lập gia đình; các quyền dành cho người thiểu số... Các quốc  
gia thành viên không được phân biệt đối xử giữa công dân nước mình và  
người nước ngoài trong việc thực hiện các quyền đã nêu. Những quyền này  
chỉ có thể bị giới hạn với người nước ngoài dựa trên những quy định có liên  
quan trong ICCPR (đoạn 7).  
thẩm quyền đặc biệt cử ra, xem xét lại trường hợp của mình, cũng như có  
quyền có đại diện khi trường hợp của mình được xem xét lại.  
Về nội dung Điều 13 ICCPR, trong Bình luận chung số 15 thông  
qua tại phiên họp thứ 27 năm 1986, UNHRC đã làm rõ thêm một số  
khía cạnh, có thể tóm tắt những điểm quan trọng như sau:  
Thứ nhất, các quyền trong ICCPR được áp dụng cho tất cả các cá  
nhân đang ở trong lãnh thổ và dưới quyền tài phán của các quốc gia,  
như đã được nêu rõ trong Khoản 1 Điều 2 của Công ước. Như vậy, chủ  
thể của các quyền trong ICCPR là tất cả mọi người, bất kể công dân hay  
người nước ngoài (đoạn 1). Quy tắc chung ở đây là các quyền trong  
ICCPR, ngoại trừ một số quyền chỉ được áp dụng cho công dân (Điều  
25), hoặc chỉ áp dụng cho người nước ngoài (Điều 13), còn lại đều phải  
được bảo đảm cho tất cả mọi người mà không có sự phân biệt về vị thế  
công dân và người nước ngoài (đoạn 2)1.  
Thứ tư, khi một người nước ngoài được cho phép cư trú hợp pháp  
ở một quốc gia thì người đó có quyền tự do đi lại và cư trú trên lãnh thổ  
quốc gia đó và những quyền này của họ chỉ có thể bị hạn chế theo  
Khoản 3 Điều 12. Những quy định khác biệt về việc áp dụng quyền này  
giữa công dân và người nước ngoài, hoặc giữa những người nước ngoài  
thuộc các quốc tịch khác nhau cần phải dựa trên quy định ở Khoản 3  
Điều 12. Do bất cứ sự hạn chế nào với các quyền này phải được xem xét  
trong mối tương quan với các quyền khác trong ICCPR, nên một quốc  
gia thành viên không thể tùy ý ngăn cản một người nước ngoài trở về  
nước mình bằng cách không cho anh ta nhập cảnh hoặc trục xuất anh ta  
tới một nước khác (đoạn 8).  
Thứ hai, ICCPR không quy định quyền nhập cảnh hay cư trú của  
người nước ngoài trên lãnh thổ nước khác. Về nguyên tắc, đây là vấn đề  
thuộc quyền quyết định của các quốc gia thành viên. Tuy nhiên, trong  
một số hoàn cảnh nhất định, một người nước ngoài có thể nhận được sự  
bảo vệ của ICCPR, kể cả liên quan đến hai vấn đề nhập cảnh và cư trú,  
ví dụ nếu họ bị phân biệt đối xử, bị đối xử vô nhân đạo và để hòa nhập  
gia đình (đoạn 5).  
Thứ ba, các quốc gia thành viên có thể đưa ra những điều kiện chung  
nhất định, ví dụ như về đi lại, cư trú và làm việc với người nước ngoài khi  
chấp nhận cho họ nhập cảnh. Những điều kiện chung tương tự cũng có thể  
được áp đặt với những người nước ngoài quá cảnh. Tuy nhiên, khi đã cho  
người nước ngoài nhập cảnh vào lãnh thổ của mình, quốc gia liên quan  
phải bảo đảm các quyền của họ theo quy định trong ICCPR (đoạn 6). Cụ  
thể, người nước ngoài trên lãnh thổ nước khác có quyền cố hữu là được  
sống; quyền được pháp luật bảo vệ; quyền không bị tra tấn, phân biệt đối  
xử hay trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục; quyền không bị bắt  
Thứ năm, Điều 13 ICCPR chỉ áp dụng cho những người nước  
ngoài cư trú hợp pháp trên lãnh thổ một quốc gia chứ không áp dụng  
cho những người nước ngoài có tư cách không hợp pháp. Nếu việc trục  
xuất người nước ngoài gắn với việc bắt giữ thì họ còn phải được hưởng  
các bảo đảm quy định ở các Điều 9 và 10 ICCPR. Trong trường hợp việc  
bắt giữ là để dẫn độ thì còn phải áp dụng các quy định khác có liên quan  
đến vấn đề dẫn độ trong luật pháp quốc gia và quốc tế1 (đoạn 9). Quy  
định của Điều 13 rằng việc trục xuất phải bằng “quyết định phù hợp  
1 Quy tắc chung này về cơ bản cũng áp dụng đối với các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa trong  
ICESCR, tuy nhiên không rõ ràng bằng ở các quyền dân sự, chính trị. Nói cách khác, tính  
chất (hay đặc quyền) công dân trong việc hưởng thụ các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa tỏ ra  
rõ nét hơn so với trong việc hưởng thụ các quyền dân sự, chính trị. Cụ thể về vấn đề này xem  
các phần tiếp theo.  
1 Ví dụ như: các quy định trong CAT và Nghị định thư bổ sung ICCPR về xóa bỏ hình phạt tử  
hình trong đó cấm dẫn độ một người sang các quốc gia mà có khả năng người đó sẽ bị tra tấn  
hay bị kết án tử hình.  
179  
180  
Chương IV: Các quyền dân sự và chính trị trong luật Quốc tế  
Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người  
pháp luật” và quyền của người bị trục xuất được “đệ trình những lý lẽ  
phản đối.., được yêu cầu...xem xét lại trường hợp của mình...” là nhằm  
để ngăn chặn các hành động trục xuất tùy tiện, trục xuất hàng loạt mà  
không xuất phát từ lý do chính đáng về an ninh quốc gia như nêu ở  
Điều này. Thêm vào đó, không được phân biệt đối xử giữa những người  
nước ngoài khác nhau khi áp dụng Điều 13 (đoạn 9).  
định trong pháp luật, và phải phù hợp với các quy định khác của ICCPR  
(đoạn 3).  
Thứ ba, thuật ngữ “can thiệp tùy tiện” (arbitrary interference)  
dùng trong Điều 17 hàm nghĩa cả những can thiệp bất hợp pháp và  
những can thiệp được quy định trong pháp luật nhưng không phù hợp  
với các quy định khác của ICCPR (đoạn 4).  
4.2.9. Quyền được bảo vệ đời tư (right to privacy)  
Thứ tư, thuật ngữ “gia đình” (family) dùng trong Điều 17 cần  
được hiểu rộng theo nghĩa là bất cứ từ nào chỉ nhà ở hay nơi cư trú của  
một người mà được sử dụng trong xã hội của các quốc gia thành viên, ví  
Quyền này đầu tiên được đề cập trong Điều 12 UDHR. Theo Điều  
này, không ai phải chịu sự can thiệp một cách tuỳ tiện vào cuộc sống  
riêng tư, gia đình, nơi ở hoặc thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự  
hoặc uy tín cá nhân. Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ  
chống lại sự can thiệp và xâm phạm như vậy.  
dụ như từ “home” ở nước Anh, “manzel” ở các nước Arập, “zóhzhi” ở  
Trung Quốc, “domicile” ở Pháp, “zhilische” ở Liên bang Nga,  
“domicilio” ở Tây Ban Nha...(đoạn 5).  
Quy định trong Điều 12 UDHR sau đó được tái khẳng  
định ở Điều 17 ICCPR, trong đó nêu rằng: Không ai bị can thiệp  
một cách tuỳ tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tư, gia đình,  
nhà ở, thư tín, hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín.  
Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những can  
thiệp hoặc xâm phạm như vậy.  
Thứ năm, vì sự an toàn của tất cả mọi người trong xã hội, quyền về  
sự riêng tư không phải là quyền tuyệt đối. Tuy nhiên, các quốc gia chỉ nên  
thu thập thông tin về đời tư nếu như những thông tin đó là thiết yếu để  
bảo đảm lợi ích chung của xã hội như được thừa nhận trong ICCPR. Các  
quốc gia cần chỉ ra trong báo cáo thực hiện Công ước những quy định  
pháp luật nước mình liên quan đến những trường hợp được và những  
biện pháp can thiệp vào đời tư cùng những hoàn cảnh cụ thể được áp  
dụng (đoạn 7). Theo quy định ở Điều 17, tính toàn vẹn và bảo mật của  
thư tín phải được bảo đảm cả về mặt pháp lý và thực tế. Thư từ phải được  
giao tận tay người nhận mà không bị chặn lại, mở ra hay nói cách khác là  
xem trước. Việc theo dõi, bất kể bằng biện pháp điện tử hay các biện  
pháp khác, ví dụ như: nghe trộm điện thoại, điện tín... đều bị nghiêm  
cấm. Việc lục soát nhà cửa phải bị giới hạn chỉ được sử dụng trong trường  
hợp để tìm chứng cứ cần thiết và không được phép gây phiền nhiễu cho  
chủ nhà. Việc khám xét thân thể phải theo cách thức phù hợp để bảo đảm  
nhân phẩm của người bị khám xét; người khám xét phải cùng giới tính  
với người bị khám xét (đoạn 8). Việc thu thập và lưu giữ các thông tin cá  
nhân trong máy tính, các ngân hàng dữ liệu và các thiết bị khác, cho dù là  
bởi các quan chức nhà nước hay các thể nhân, pháp nhân khác, đều phải  
được quy định trong pháp luật. Nhà nước phải có những biện pháp hiệu  
quả để bảo đảm rằng, những thông tin cá nhân đó không rơi vào tay  
Một số khía cạnh liên quan đến nội dung Điều 17 ICCPR sau đó  
được UNHRC làm rõ thêm trong Bình luận chung số 16 thông qua tại  
phiên họp lần thứ 31 năm 1988 của Ủy ban, có thể tóm tắt những điểm  
quan trọng như sau:  
Thứ nhất, Điều 17 nhằm ngăn chặn những hành vi xâm phạm tùy  
tiện và bất hợp pháp vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, danh dự, uy tín  
của mọi người mà có thể do các quan chức nhà nước hay do các thể  
nhân và pháp nhân khác gây ra (đoạn 1). Các quốc gia thành viên có  
nghĩa vụ ngăn chặn cả các quan chức nhà nước và các thể nhân hay  
pháp nhân khác có những hành động xâm phạm tùy tiện và bất hợp  
pháp như vậy (đoạn 9).  
Thứ hai, thuật ngữ can thiệp “bất hợp pháp” (unlawful) dùng  
trong Điều 17 hàm nghĩa bất kỳ sự can thiệp nào vào đời tư, gia đình,  
nhà ở, thư tín, danh dự, uy tín của mọi người mà không được quy định  
trong pháp luật. Những can thiệp hợp pháp vào đời tư phải được quy  
181  
182  
Chương IV: Các quyền dân sự và chính trị trong luật Quốc tế  
Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người  
bởi pháp luật và khi việc đó là cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự  
công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do  
cơ bản của người khác. Khoản 4 Điều này yêu cầu các quốc gia thành viên  
Công ước phải tôn trọng quyền tự do của các bậc cha mẹ hoặc những người  
giám hộ hợp pháp trong việc giáo dục về tôn giáo và đạo đức cho con cái họ  
theo ý nguyện của riêng họ.  
những người không được pháp luật cho phép và không bị sử dụng vào các  
mục đích trái với Công ước. Để bảo đảm bảo vệ đời tư một cách hiệu quả,  
mỗi cá nhân cần có quyền được biết liệu thông tin cá nhân của mình có  
thể bị thu thập, lưu giữ bởi chủ thể nào, ở đâu, nhằm mục đích gì? Thêm  
vào đó, mỗi cá nhân cũng cần có quyền yêu cầu sửa chữa hoặc xóa bỏ  
thông tin cá nhân của mình nếu thông tin đang được lưu trữ không chính  
xác, hoặc bị thu thập hay lưu trữ một cách trái pháp luật (đoạn 10).  
Một số khía cạnh liên quan đến nội dung Điều 18 ICCPR sau đó  
được UNHRC làm rõ thêm trong Bình luận chung số 22 thông qua tại  
phiên họp lần thứ 48 năm 1993 của Ủy ban, mà có thể tóm tắt những  
điểm quan trọng như sau:  
Thứ sáu, Điều 17 cũng đặt ra trách nhiệm với các quốc gia thành  
viên trong việc ban hành các quy định pháp luật cần thiết để bảo vệ  
danh dự và uy tín của các cá nhân, bao gồm những quy định cho phép  
mọi người có khả năng tự bảo vệ trước những sự can thiệp hoặc xâm hại  
bất hợp pháp hay tùy tiện vào danh dự, uy tín của mình (đoạn 11).  
Thứ nhất, quyền tự do chính kiến, niềm tin, lương tâm và tôn  
giáo có tính bao quát và sâu sắc. Nó bao gồm quyền tự do suy nghĩ về  
tất cả các vấn đề, tự do tin tưởng và giữ niềm tin vào các tôn giáo hay tín  
ngưỡng, cả trên phương diện cá nhân hay tập thể. Các quyền tự do này  
phải được tôn trọng và không thể bị hạn chế hay tước bỏ trong mọi  
hoàn cảnh, kể cả trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia như nêu ở Điều  
4 của ICCPR (đoạn 1).  
4.2.10. Quyền tự do chính kiến, niềm tin, tín ngưỡng, tôn  
giáo (freedom of thought, conscience, religion)  
Cùng với tự do biểu đạt, những quyền tự do này thường được gọi là  
những tự do cơ bản (fundamental freedoms), đầu tiên được ghi nhận  
trong Điều 18 UDHR. Theo Điều này, mọi người đều có quyền tự do  
chính kiến, niềm tin, tín ngưỡng và tôn giáo, kể cả tự do thay đổi tín  
ngưỡng hoặc tôn giáo của mình, và tự do bày tỏ tín ngưỡng hay tôn  
giáo của mình bằng các hình thức như truyền giảng, thực hành, thờ  
cúng và tuân thủ các nghi lễ, dưới hình thức cá nhân hay tập thể, tại  
nơi công cộng hoặc nơi riêng tư.  
Thứ hai, các khái niệm “tín ngưỡng” (belief) và “tôn giáo”  
(religion) trong Điều 18 ICCPR cần được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm  
cả những lòng tin hữu thần và vô thần. Điều này không chỉ được áp  
dụng với các tôn giáo, tín ngưỡng có tính thể chế mà còn với những tập  
tục truyền thống mang tính tôn giáo (đoạn 2).  
Thứ ba, Điều 18 phân biệt giữa quyền tự do chính kiến, niềm tin,  
lương tâm, tôn giáo hoặc tín ngưỡng với tự do thực hành tôn giáo hay  
tín ngưỡng. Điều này không cho phép có bất kỳ sự giới hạn nào với  
quyền tự do chính kiến, niềm tin, lương tâm, và quyền tự do tin hoặc  
theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng. Những tự do này phải được bảo vệ  
không điều kiện (đoạn 3).  
Nội dung của Điều 18 UDHR sau đó được tái khẳng định và cụ thể  
hóa trong các Điều 18 và 20 ICCPR.  
Theo Điều 18 ICCPR: Mọi người đều có quyền tự do chính kiến, niềm  
tin, tự do tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền này bao gồm tự do có hoặc theo  
một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn, và tự do bày tỏ tín  
ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong cộng đồng với những người  
khác, công khai hoặc kín đáo, dưới các hình thức như thờ cúng, cầu  
nguyện, thực hành và truyền giảng. Không ai bị ép buộc làm những điều  
tổn hại đến quyền tự do lựa chọn hoặc tin theo tôn giáo hoặc tín ngưỡng  
của họ (Khoản 1 và 2). Khoản 3 Điều này quy định quyền tự do tín ngưỡng,  
tôn giáo có thể bị giới hạn (không phải là quyền tuyệt đối) song chỉ có thể  
Quyền tự do thực hành tôn giáo hay tín ngưỡng có thể được thực  
thi với tư cách cá nhân hay cùng với cộng đồng, ở nơi công cộng hay chỗ  
riêng tư; thể hiện ở các hành động như thờ cúng, tham gia những lễ hội  
tôn giáo, quan sát, thực hành và giảng dạy về tôn giáo. Khái niệm thờ  
cúng bao gồm những hoạt động lễ nghi, kỷ niệm, xây dựng những nơi  
thờ tự, sử dụng hay trưng bày các vật dụng và biểu tượng nghi lễ, tham  
gia các lễ hội và các ngày nghỉ lễ tôn giáo. Việc quan sát và thực hành  
183  
184  
Chương IV: Các quyền dân sự và chính trị trong luật Quốc tế  
Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người  
tôn giáo không chỉ bao gồm các hoạt động nghi lễ, mà còn bao gồm việc  
tuân thủ các nguyên tắc về ăn kiêng, trang phục, sử dụng ngôn ngữ đặc  
biệt, lựa chọn lãnh đạo tôn giáo, tăng lữ, người thầy tâm linh, thành lập  
các trường tôn giáo, biên soạn và phân phát các tài liệu tôn giáo (đoạn  
4).  
của ICCPR, đặc biệt là với các quy định về quyền bình đẳng, không phân  
biệt đối xử trong các Điều 2, 3 và 26 của Công ước. Những hạn chế không  
được dựa trên lý do nào khác ngoài các lý do quy định ở Khoản 3 Điều 18,  
kể cả những yếu tố có thể được sử dụng để hạn chế các quyền khác được  
ghi nhận trong ICCPR, ví dụ như lý do về an ninh quốc gia. Những hạn chế  
chỉ được áp dụng phù hợp và tương ứng với mục tiêu đề ra. Không được  
đặt ra các hạn chế nhằm mục đích phân biệt đối xử, hoặc áp dụng các hạn  
chế theo cách thức phân biệt đối xử. Liên quan đến khía cạnh này, cần lưu  
ý là các quan niệm về đạo đức có thể xuất phát từ nhiều truyền thống xã  
hội, triết học và tôn giáo khác nhau, do đó, những giới hạn về quyền tự do  
tôn giáo, tín ngưỡng với mục đích nhằm bảo vệ các giá trị đạo đức phải  
không được dựa hoàn toàn vào một truyền thống riêng biệt nào. Những  
người bị quản chế về mặt pháp lý, chẳng hạn như tù nhân, vẫn có quyền  
hưởng tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở mức độ cao nhất phù hợp với điều kiện  
quản chế (đoạn 8).  
Thứ tư, quyền tin hoặc theo một tôn giáo hay tín ngưỡng bao gồm  
quyền tự do lựa chọn một tôn giáo hay tín ngưỡng để tin hoặc theo, kể  
cả việc thay đổi niềm tin từ tôn giáo, tín ngưỡng này sang tôn giáo, tín  
ngưỡng khác, hay thay đổi niềm tin từ vô thần sang hữu thần và từ hữu  
thần sang vô thần. Khoản 2 Điều 18 cấm cưỡng ép tin, theo, bỏ hay thay  
đổi tôn giáo, tín ngưỡng, kể cả bằng những chính sách hay tập quán  
nhằm gây sức ép để đạt mục đích đó như hạn chế sự tiếp cận với các  
dịch vụ giáo dục, y tế, việc làm hoặc hạn chế các quyền quy định trong  
Điều 25 và các Điều khác của ICCPR (đoạn 5).  
Thứ năm, các trường công lập có thể giảng dạy những môn học như  
lịch sử đại cương của các tôn giáo và tín ngưỡng, miễn là nội dung cần  
trung lập và khách quan. Việc các trường công lập giảng dạy giáo lý của  
một tôn giáo hay nội dung một tín ngưỡng nhất định là trái với quy  
định trong Khoản 4 Điều 18, trừ phi việc giảng dạy như vậy là do ý  
nguyện và thuộc vào quyền quyết định của các bậc cha mẹ (đoạn 6).  
Thứ tám, việc một tôn giáo được xác định là quốc giáo, là tôn giáo  
chính thức hay truyền thống, hoặc có số lượng tín đồ chiếm đa số trong  
xã hội không được sử dụng để làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các  
quyền tự do quy định ở các Điều 18 và 27 ICCPR, cũng như không được  
tạo ra sự phân biệt đối xử với tín đồ của các tôn giáo khác, hoặc với  
những người không theo tôn giáo nào. Những hình thức phân biệt đối  
xử với tín đồ của các tôn giáo khác, hay với những người không theo tôn  
giáo trong bối cảnh này, ví dụ, việc quy định chỉ những tín đồ thuộc tôn  
giáo chiếm ưu thế mới được tham gia chính quyền hay dành những ưu  
đãi về kinh tế cho họ, đều trái với các quy định về quyền bình đẳng nêu  
ở Điều 26 ICCPR (đoạn 9).  
Thứ sáu, nghiêm cấm các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng có mục  
đích hoặc tính chất tuyên truyền cho chiến tranh hoặc hận thù, chia rẽ dân  
tộc, tôn giáo hay kích động sự phân biệt đối xử về chủng tộc, sự thù địch  
hoặc bạo lực như đã nêu ở Điều 20 ICCPR. Các quốc gia thành viên có  
nghĩa vụ sử dụng pháp luật để ngăn chặn những hành động đó (đoạn 7).  
Thứ bảy, Khoản 3 Điều 18 cho phép hạn chế quyền tự do tôn giáo,  
tín ngưỡng trong trường hợp cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng,  
sự bình yên hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản  
của người khác. Tuy nhiên, quyền không bị ép buộc làm những điều tổn  
hại đến quyền tự do lựa chọn hoặc tin theo tôn giáo hoặc tín ngưỡng và  
quyền của các bậc cha mẹ hay người giám hộ hợp pháp được giáo dục về  
tôn giáo và đạo đức cho con cái họ theo ý nguyện của riêng họ thì không  
được hạn chế trong mọi trường hợp. Các hạn chế trong Khoản 3 Điều 18  
cần phải được quy định trong pháp luật và phù hợp với các quy định khác  
Thứ chín, việc một học thuyết chính trị được coi là nền tảng  
chính thức cho thể chế chính trị ở một quốc gia thành viên cũng không  
được sử dụng để làm ảnh hưởng đến các quyền tự do nêu ở Điều 18 và  
các quyền khác trong ICCPR, cũng như không được tạo ra sự phân biệt  
đối xử với những người không theo hay không tán thành học thuyết  
chính trị đó (đoạn 10).  
Thứ mười, ICCPR không quy định quyền được từ chối thực hiện  
nghĩa vụ quân sự vì lý do lương tâm, tuy một số quốc gia đã ghi nhận  
185  
186  
Chương IV: Các quyền dân sự và chính trị trong luật Quốc tế  
Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người  
quyền này bằng cách cho phép thực hiện nghĩa vụ khác thay thế. Mặc  
dù vậy, nếu quyền này được ghi nhận trong pháp luật hay trong thực tế  
thì không được áp dụng theo cách thức phân biệt đối xử giữa các nhóm  
tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau (đoạn 11).  
Bổ sung cho quy định trong Điều 19, Điều 20 ICCPR đề cập một  
hạn chế cần thiết của quyền tự do biểu đạt, theo đó, mọi hình thức  
tuyên truyền cho chiến tranh, mọi chủ trương gây hằn thù dân tộc,  
chủng tộc hoặc tôn giáo để kích động sự phân biệt đối xử về chủng tộc,  
sự thù địch, hoặc bạo lực đều phải bị pháp luật nghiêm cấm.  
4.2.11. Quyền tự do ý kiến và biểu đạt (freedom of  
Một số khía cạnh liên quan đến nội dung Điều 20 ICCPR sau đó  
được UNHRC làm rõ thêm trong Bình luận chung số 11 thông qua tại  
phiên họp lần thứ 19 năm 1983 của Ủy ban, có thể tóm tắt những điểm  
quan trọng như sau:  
opinion and expression)  
Quyền tự do biểu đạt đầu tiên được ghi nhận trong Điều 19 UDHR.  
Theo Điều này, mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý  
kiến; kể cả tự do bảo lưu quan điểm mà không bị can thiệp; cũng như  
tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá các ý tưởng và thông tin bằng  
bất kỳ phương tiện truyền thông nào và không có giới hạn về biên  
giới. Điều này cũng lưu ý là các quan điểm, tư tưởng phải đảm bảo  
đúng nguyên tắc, đúng pháp luật, không được đi ngược lại lợi ích và  
đạo đức xã hội.  
Thứ nhất, việc cấm các hình thức tuyên truyền cho chiến tranh,  
gây hằn thù, chia rẽ dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hay kích động sự phân  
biệt đối xử về chủng tộc, sự thù địch, hoặc bạo lực là cần thiết và không  
mâu thuẫn với quyền tự do biểu đạt quy định ở Điều 19 ICCPR, bởi  
Điều này nêu rõ việc thực hiện quyền tự do biểu đạt phải kèm theo  
những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt (đoạn 2).  
Nội dung của Điều 19 UDHR sau đó được tái khẳng định và cụ thể  
hóa trong các Điều 19 và 20 ICCPR. Theo Điều 19 ICCPR, mọi người có  
quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp. Mọi người  
có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp  
nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực,  
hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình  
thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng  
nào tuỳ theo sự lựa chọn của họ (Khoản 1 và 2). Khoản 3 Điều này xác  
định quyền tự do biểu đạt “phải được thực hiện kèm theo những nghĩa  
vụ và trách nhiệm đặc biệt. Vì vậy, quyền này có thể phải chịu một số  
hạn chế nhất định được quy định trong pháp luật và là cần thiết để: (a)  
tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác và; (b) để bảo vệ an  
ninh quốc gia, trật tự công cộng, sự bình yên hoặc đạo đức xã hội”.  
Thứ hai, quy định cấm trong Khoản 1 Điều 20 cũng áp dụng cho  
tất cả những hình thức tuyên truyền đe dọa thực hiện hành động xâm  
lược hay phá hoại hòa bình trái với Hiến chương Liên hợp quốc. Tuy  
nhiên, Khoản 1 Điều 20 không ngăn cấm việc cổ vũ các quyền tự quyết,  
quyền độc lập hay quyền tự vệ của các dân tộc mà phù hợp với Hiến  
chương Liên hợp quốc. Trong khi đó, quy định cấm trong Khoản 2 Điều  
20 được áp dụng với những hành động khơi gợi lòng hận thù dân tộc,  
chủng tộc, tôn giáo, từ đó kích động sự phân biệt đối xử, sự thù địch hay  
bạo lực, bất kể sự tuyên truyền diễn ra ở bên trong hay bên ngoài các  
quốc gia có liên quan (đoạn 2).  
4.2.12. Quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong  
hôn nhân  
Nội dung Điều 19 ICCPR sau đó còn được UNHRC làm rõ thêm  
trong Bình luận chung số 10 thông qua tại phiên họp lần thứ 19 năm  
1983 của Ủy ban. Theo văn kiện này, quyền được giữ quan điểm  
của mình mà không bị ai can thiệp nêu ở Khoản 1 Điều 19 là quyền  
tuyệt đối, không được hạn chế hay tước bỏ trong bất cứ hoàn cảnh nào,  
kể cả trong tình huống khẩn cấp của quốc gia (đoạn 1).  
Đây thực chất là một tập hợp quyền có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.  
Những quyền này có quan hệ mật thiết với quyền được hỗ trợ để bảo vệ gia  
đình, quyền của các bà mẹ và trẻ em được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt  
(được ghi nhận trong Điều 10 ICESCR), cũng như với quyền bình đẳng của  
phụ nữ và quyền trẻ em được nêu ở một số điều khác của ICCPR.  
Quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong hôn nhân đầu tiên  
được đề cập trong các Điều 16 UDHR. Theo Điều này thì nam và nữ khi  
187  
188  
Chương IV: Các quyền dân sự và chính trị trong luật Quốc tế  
Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người  
đủ tuổi đều có quyền kết hôn và xây dựng gia đình mà không có bất kỳ  
sự hạn chế nào về chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Nam và nữ có  
quyền bình đẳng trong việc kết hôn, trong thời gian chung sống và khi  
ly hôn. Việc kết hôn chỉ được tiến hành với sự đồng ý hoàn toàn và tự  
nguyện của cặp vợ chồng tương lai (Khoản 1 và 2). Khoản 3 Điều này  
khẳng định, gia đình là tế bào tự nhiên và cơ bản của xã hội, được nhà  
nước và xã hội bảo vệ.  
bảo đảm, ví dụ như quyền tự do có niềm tin, chính kiến, tự do tôn giáo,  
tín ngưỡng (hàm ý rằng luật pháp của mỗi quốc gia phải tạo điều kiện  
cho khả năng kết hôn giữa những người theo các tôn giáo khác nhau và  
có quốc tịch khác nhau). Việc pháp luật quốc gia quy định lễ cưới phải  
đồng thời được tổ chức theo nghi thức tôn giáo và đăng ký kết hôn theo  
pháp luật cũng không trái với Công ước (đoạn 4).  
Thứ hai, về nguyên tắc, quyền xây dựng gia đình hàm ý là nam nữ  
có thể sinh đẻ và sống cùng nhau một cách tự nguyện. Vì vậy, chính  
sách kế hoạch hóa gia đình của các quốc gia thành viên phải phù hợp  
các điều khoản có liên quan của Công ước và đặc biệt không được mang  
tính chất phân biệt đối xử hay cưỡng bức. Thêm vào đó, quyền này cũng  
đòi hỏi các quốc gia thành viên phải thực thi các biện pháp phù hợp, cả  
ở cấp độ quốc gia và hợp tác quốc tế, để bảo đảm sự thống nhất hay tái  
thống nhất các gia đình bị chia tách do các nguyên nhân chính trị, kinh  
tế hay các nguyên nhân khác (đoạn 5).  
Các quy định kể trên của UDHR sau đó được tái khẳng định và cụ  
thể hóa trong Điều 23 ICCPR và Điều 10 ICESCR. Chính vì vậy, khi xếp  
các quyền có liên quan vào một nhóm chung là quyền về gia đình,  
nhóm chung này sẽ mang đặc trưng và đôi khi được xếp vào cả hai  
nhóm quyền dân sự và quyền xã hội. Cụ thể, về khía cạnh quan hệ thân  
nhân và tài sản, quyền về gia đình thuộc nhóm quyền dân sự, tuy nhiên,  
ở khía cạnh an sinh xã hội, quyền này thuộc nhóm quyền xã hội.  
Điều 23 ICCPR quy định: Gia đình là một tế bào cơ bản và tự nhiên  
của xã hội, được nhà nước và xã hội bảo hộ. Quyền kết hôn và lập gia  
đình của nam và nữ đến tuổi kết hôn phải được thừa nhận. Không được  
tổ chức việc kết hôn nếu không có sự đồng ý hoàn toàn và tự nguyện của  
cặp vợ chồng tương lai. Các quốc gia thành viên Công ước phải tiến  
hành các biện pháp thích hợp để bảo đảm sự bình đẳng về quyền và  
trách nhiệm của vợ và chồng trong suốt thời gian chung sống và khi ly  
hôn. Trong trường hợp ly hôn, phải có quy định bảo đảm sự bảo hộ cần  
thiết với con cái.  
Thứ ba, về quyền bình đẳng khi kết hôn, cần đặc biệt lưu ý việc  
bảo đảm không có sự phân biệt đối xử về giới tính liên quan đến việc  
nhập hay từ bỏ quốc tịch do kết hôn, cũng như bảo đảm quyền của  
cả vợ và chồng được bình đẳng trong việc giữ nguyên hay lựa chọn  
họ mới cho mình sau khi kết hôn (đoạn 7).  
Thứ tư, vợ chồng có quyền bình đẳng liên quan đến tất cả các vấn  
đề nảy sinh trong đời sống gia đình, ví dụ như việc lựa chọn nơi cư trú,  
tổ chức cuộc sống, giáo dục con cái, quản lý tài sản, kể cả trong việc ly  
hôn và trông nom, chu cấp, nuôi dưỡng, thăm nom con cái sau khi ly  
hôn...(các đoạn 8-9).  
Liên quan đến Điều 23 ICCPR, UNHRC đã giải thích thêm về ý  
nghĩa và nội dung của các quyền ghi nhận trong Điều này trong Bình  
luận chung số 19 thông qua tại phiên họp thứ 39 năm 1990 của Ủy ban,  
có thể tóm tắt những điểm quan trọng như sau:  
Thứ nhất, Khoản 2 Điều 23 ICCPR khẳng định quyền của nam và  
nữ đến tuổi kết hôn thì được kết hôn và lập gia đình một cách tự do, tự  
nguyện. Công ước không quy định độ tuổi kết hôn cụ thể cho cả nam và  
nữ - việc này tùy thuộc pháp luật của các quốc gia thành viên; tuy  
nhiên, độ tuổi kết hôn cần ở mức phù hợp để người kết hôn có thể thể  
hiện được sự tự nguyện hoàn toàn ý chí của mình trong khuôn khổ và  
điều kiện luật pháp cho phép. Thêm vào đó, các quy định pháp luật  
quốc gia về vấn đề này phải phù hợp với các quyền khác được Công ước  
4.2.13. Quyền tự do lập hội (freedom of association)  
Quyền này (cùng với quyền tự do hội họp một cách hòa bình) đầu  
tiên được ghi nhận trong Điều 20 UDHR. Ngoài việc quy định mọi người  
đều có quyền tự do hội họp và lập hội một cách hoà bình, Điều này còn  
nêu rõ (trong Khoản 2), không ai bị ép buộc phải tham gia vào bất cứ  
hiệp hội nào.  
Điều 22 ICCPR tái khẳng định và cụ thể hóa quy định về quyền tự  
do hội họp trong Điều 20 UDHR, trong đó nêu rõ: Mọi người có quyền tự  
189  
190  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 197 trang Thùy Anh 21100 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_ly_luan_va_phap_luat_ve_quyen_con_nguoi_phan_2.pdf