Một số vấn đề pháp lý đặt ra đối với quy định phát triển mô hình kinh tế chia sẻ ở Việt Nam hiện nay

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA ĐỐI VỚI QUY ĐỊNH...  
PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH KINH TẾ CHIA SẺ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY...  
TRẦN THỊ VIỆT HÀ*  
Bài viết giới thiệu khái quát về mô hình kinh tế chia sẻ cũng như sự phát triển của  
mô hình kinh tế chia sẻ ở nước ta hiện nay, từ đó nêu lên sự cần thiết hoàn thiện khung  
pháp lý điều chỉnh đối với mô hình kinh tế này nhằm thúc đẩy sự phát triển, đồng thời  
hạn chế những tác động tiêu cực của nó với đời sống xã hội, người lao động, doanh nghiệp  
và nền kinh tế.  
Từ khóa: Kinh tế chia sẻ, kinh tế truyền thống.  
Ngày nhận bài: 15/11/2020; Biên tập xong: 18/11/2020; Duyệt đăng: 20/11/2020.  
The article introduces an overview of sharing economy model as well as its  
development in Vietnam curently. On that basis, the author shows the need to complete  
legal framework for sharing economy model to promote the development and limit its  
negative impacts on social life, laborers, enterprises and the economy.  
Keywords: Sharing economy, traditional economy.  
uộc cách mạng công nghiệp và các lĩnh vực. Đây là thuật ngữ được  
số 4.0 đã hình thành nên một  
thời đại “công nghệ số” và  
sử dụng để chỉ một mô hình kinh doanh  
ngang hàng, một mô hình kinh tế mà  
trong đó những người có nhu cầu trao đổi  
hàng hóa dịch vụ ngang hàng với nhau  
(peer-to-peer) với sự hỗ trợ của nền tảng  
mạng internet.  
Trong mô hình kinh tế chia sẻ người  
tham gia sẽ được tiếp cận, sử dụng với  
sản phẩm, dịch vụ phục vụ cho nhu cầu  
của mình thông qua việc thuê lại tài sản  
đó từ một người khác - là chủ sở hữu sản  
phẩm, dịch vụ đó. Bằng cách này, chi  
phí họ cần bỏ ra ít hơn rất nhiều so với  
việc chi tiền để trở thành chủ sở hữu sản  
phẩm. Đồng thời, người chủ sở hữu của  
sản phẩm, dịch vụ lại có thể kiếm được  
tiền từ tài sản đang tạm thời nhàn rỗi của  
mình. Tuy nhiên, khác với việc cho thuê  
tài sản thông thường, việc chia sẻ tài sản  
này được thực hiện thông qua nền tảng  
công nghệ số.  
C
những mô hình kinh tế như kinh tế chia sẻ  
(sharing economy) đã nhanh chóng phát  
triển, tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế  
của các quốc gia, kinh tế thế giới, làm thay  
đổi tư duy của các doanh nghiệp, xã hội  
và các nhà quản lý chính sách. Tại Việt  
Nam, kinh tế chia sẻ xuất hiện từ năm  
2014 và liên tục tăng trưởng mạnh trong  
những năm qua. Tuy nhiên, cũng như  
nhiều quốc gia khác, bên cạnh những tác  
động tích cực mà nó mang lại thì sự xuất  
hiện của mô hình này cũng đặt ra những  
yêu cầu điều chỉnh của pháp luật để đảm  
bảo hài hòa lợi ích của các loại hình doanh  
nghiệp trong nền kinh tế, lợi ích của cộng  
đồng, lợi ích của Nhà nước.  
1. Kinh tế chia sẻ và sự phát triển của mô  
hình kinh tế chia sẻ ở Việt Nam hiện nay  
Mô hình kinh tế chia sẻ trên thế giới  
Kinh tế chia sẻ là một khái niệm đang  
ngày càng trở nên phổ biến bởi sự hiện  
Cùng với sự phát triển không ngừng  
của các nền tảng công nghệ số (công nghệ  
diện của nó trong các quốc gia, các ngành * Thạc sĩ, Khoa Luật- Học viện An ninh nhân dân  
Số chuyên đề 4 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 63  
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA ĐỐI VỚI QUY ĐỊNH...  
3G, GPS, dịch vụ thanh toán online), kinh  
tế chia sẻ đã tiếp thêm lực đẩy để phát  
triển lan rộng trên toàn thế giới, nhanh  
chóng trở thành một trong những mô  
hình kinh tế phát triển với tốc độ nhanh  
nhất trong lịch sử. Số lượng cũng như  
mức tăng trưởng của các công ty hoạt  
động theo mô hình kinh doanh này là một  
minh chứng rõ rệt cho sự bùng nổ của mô  
hình kinh tế chia sẻ tại hầu khắp các quốc  
gia trên thế giới. Năm 2018, tại Mỹ, số  
Thực trạng của kinh tế chia sẻ ở Việt Nam  
Ở Việt Nam, kinh tế chia sẻ được biết  
đến nhiều vào năm 2014 với sự gia nhập  
vào thị trường Việt Nam của những doanh  
nghiệp nước ngoài hoạt động theo mô hình  
này như Uber, Tripvn… Trong hơn 6 năm  
tồn tại ở nước ta, mô hình kinh tế này luôn  
được đánh giá là có tiềm năng phát triển  
mạnh mẽ. Theo khảo sát tại Việt Nam, cứ  
76% số người được hỏi cho biết họ sẵn  
sàng tận dụng các sản phẩm và dịch vụ  
công ty hoạt động theo mô hình kinh tế chia sẻ, cao hơn con số 66% đối với người  
tiêu dùng toàn cầu. Đồng thời, chỉ có 18%  
số người từ chối chia sẻ tài sản cá nhân của  
mình, thấp hơn 14% so với tỷ lệ trung bình  
toàn thể giới.3 Kinh tế chia sẻ có mặt trong  
rất nhiều ngành nghề và lĩnh vực kinh  
doanh của nước ta, trong đó nổi lên 3 loại  
hình dịch vụ chính là vận tải trực tuyến,  
chia sẻ phòng ở và cho vay ngân hàng.  
Trong lĩnh vực vận tải, nếu những ngày  
đầu mới chỉ có sự góp mặt của hai ứng  
dụng đặt xe của doanh nghiệp nước ngoài  
là Grab và Uber thì hiện nay, chúng ta đã  
chứng kiến sự ra đời của hàng loạt các  
ứng dụng công nghệ đặt xe và các doanh  
nghiệp công nghệ vận tải nội địa như  
Go-Việt, Be, VATO, Gonow của Vieꢁel  
hay T.Net của FPT. Các doanh nghiệp vận  
tải truyền thống cũng nhanh chóng thay  
đổi phương thức hoạt động kinh doanh  
từ thủ công sang ứng dụng công nghệ.  
Dịch vụ giao nhận đồ ăn cũng phát  
triển nhanh chóng theo hai hướng là dịch  
vụ phát triển thêm của các ứng dụng  
vận tải cũ và dịch vụ riêng lẻ mới ra đời.  
Hàng loạt những ứng dụng đặt thức ăn  
trực tuyến ra đời đã dẫn tới sự cạnh tranh  
rất lớn. Có thể kể đến một số cái tên nổi  
bật, được biết đến hiện nay là GrabFood,  
Foody/Now.vn, GoFood, Lala.  
này đã tăng lên hàng trăm công ty và tổng  
giá trị đã đạt trên 463,9 tỷ USD, chiếm 3%  
GDP. Hay tại Trung Quốc, quy mô của thị  
trường kinh tế chia sẻ năm 2015 đã vượt  
ngưỡng hơn 152 tỷ USD và Chính phủ  
Trung Quốc kỳ vọng nền kinh tế chia sẻ sẽ  
đóng góp 10% GDP vào năm 2020…1  
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, mô  
hình kinh tế này đã có dấu hiệu phát triển  
chậm lại. Hàng loạt các doanh nghiệp  
hàng đầu trong mô hình kinh doanh này  
như Uber, WeWork… chịu thua lỗ nặng  
nề, thậm chí những người sáng lập đã phải  
bán đi toàn bộ cổ phần của mình hay hủy  
bỏ kế hoạch IPO. Nhiều nền tảng chia sẻ  
khác tại Trung Quốc cũng đang phải đối  
mặt với nguy cơ trên do khách hàng liên  
tục yêu cầu hoàn lại tiền mặt ký gửi2… Có  
thể thấy, kinh tế chia sẻ không còn được  
xem là xu thế của thời đại mà thay vào đó  
là các mô hình kinh tế mới mẻ hơn như  
blockchain. Kinh tế chia sẻ từ một mô  
hình được xem là hái ra vàng thì hiện nay  
lại bị chính phủ các quốc gia e ngại, kiểm  
soát chặt chẽ bởi các chính sách, quy định  
thay vì chào đón bởi những rủi ro tiềm ẩn  
mà nó mang lại.  
1ꢀ  
hꢁp://doanhnghiephoinhap.vn/su-bung-no-kinh  
-te-chia-se-tren-the-gioi.html  
2ꢀ  
hꢁp://www.baodongnai.com.vn/dong-nai-cuoi- 3ꢀhttp://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/  
tuan/202001/nen-kinh-te-chia-se-tuong-lai-huy- kinh-te-chia-se-va-tiem-nang-phat-trien-tai-viet-  
hoang-hay-dieu-tan-2982901/index.htm  
nam-302040.html  
64 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 4 - 2020  
TRẦN THỊ VIỆT HÀ  
Trong lĩnh vực du lịch lưu trú là sự tảng kinh tế mới, giúp kinh tế Việt Nam  
xuất hiện của Airbnb - ứng dụng kết nối phát triển nhanh trong thời gian tới. Tuy  
người cần thuê nhà với những người có nhiên, trong quá trình phát triển ở Việt  
phòng trống cần cho thuê thông qua ứng  
dụng di động. Airbnb đã chóng đặt được  
con số phòng ngủ, nhà cho thuê trên 1.000  
phòng tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh cùng  
với một số tỉnh thành khác. Theo sau đó là  
những ứng dụng đặt phòng, thuê phòng  
cả nội địa và quốc tế tham gia cuộc đua  
trên lĩnh vực lưu trú này như Triip.me,  
Booking, Mytour, Agoda, Traveloka,...  
Tài chính là lĩnh vực tiếp theo ghi nhận  
sự tham gia của kinh tế chia sẻ. Những  
dịch vụ tài chính ứng dụng công nghệ cho  
vay ngang hàng (peer- to- peer lending) ra  
đời, điển hình như cung cấp nền tảng kết  
nối giữa bên cho vay và người đi vay. Tại  
Việt Nam, mô hình này xuất hiện vào năm  
2016 và hiện có khoảng gần 10 công ty như:  
Huydong.com, Tima, SHA, Mobivi,…  
Ngoài 3 lĩnh vực nổi bật trên thì hiện  
nay, mô hình kinh tế chia sẻ cũng đã dần  
góp mặt trong một số dịch vụ khác như  
ăn uống, lao động, hàng hóa tiêu dùng;  
dịch vụ sửa chữa… Báo cáo nghiên cứu  
về nền kinh tế số Đông Nam Á năm 2019  
của Google, Temasek Holdings, Bain&Co,  
quy mô thị trường gọi xe và giao đồ ăn  
trực tuyến tại Việt Nam đạt doanh thu 1,1  
tỷ USD vào năm 2019, tăng hơn 5 lần so  
với năm 2015 (200 triệu USD) và dự báo  
đạt 4 tỷ USD vào năm 2025…4  
Việt Nam là một trong những quốc gia  
có tốc độ phát triển và ứng dụng Internet  
cao nhất thế giới với 58 triệu người dùng.  
Đây là nhân tố thúc đẩy, cùng với những  
yếu tố nội tại và ngoại sinh giúp cho kinh  
Nam, mô hình này cũng đã phát sinh  
nhiều vấn đề mới đối với cơ quan quản  
lý cần được xem xét và có những sự điều  
chỉnh kịp thời.  
Văn bản pháp lý đầu tiên chính thức  
ghi nhận sự có mặt có mặt của mô hình  
kinh tế chia sẻ ở Việt Nam là Quyết định  
số 24/QĐ-BGTVT ngày 07/01/2016 của Bộ  
Giao thông vận tải về việc ban hành Kế  
hoạch thí điểm triển khai ứng dụng khoa  
học công nghệ hỗ trợ quản lý và kết nối  
hoạt động vận tải hành khách theo hợp  
đồng. Theo đó, cho phép thí điểm triển  
khai loại hình Grab trong thời gian 2 năm  
từ năm 2016 đến năm 2018 tại 05 tỉnh  
thành phố là: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh,  
Đà Nẵng, Khánh Hòa và Quảng Ninh.  
Tuy nhiên, khi thực hiện thí điểm thì  
nhiều bất cập mà Grab gây ra đã làm nảy  
sinh những bức xúc trong dư luận xã hội,  
đặc biệt là tạo ra mâu thuẫn cạnh tranh  
giữa các doanh nghiệp taxi truyền thống  
trong nước một cách gay gắt.  
Với nỗ lực đưa vận tải công nghệ vào  
khuôn khổ quản lý, hạn chế những rủi ro  
và tác động tiêu cực của dịch vụ này mang  
lại, các nhà quản lý cũng xây dựng các  
văn bản quy phạm để điều chỉnh trực tiếp  
đến loại hình dịch vụ vận tải đặc biệt này.  
Sau 12 lần dự thảo, Nghị định số 10/2020/  
NĐ-CP ngày 17/01/2020 của Chính phủ  
quy định về kinh doanh và điều kiện kinh  
doanh vận tải bằng ô tô đã được ban hành  
thay thế cho Nghị định số 86/2014/NĐ-CP  
ngày 25/02/2014. Nghị định này đã cùng  
tế chia sẻ được xem là có thể trở thành nền đưa taxi truyền thống và taxi công nghệ  
vào quản lý thống nhất. Đây cũng được  
4https://pbgdpl.hanoi.gov.vn/tin-noi-bat/-/asset  
xem là khung pháp lý chính thức đầu  
_publisher/sxBNLsQSLyY8/content/nhieu-van-  
tiên hợp pháp hóa xe công nghệ và mở ra  
nhiều cơ hội phát triển cho mô hình này  
tại Việt Nam.  
e-phap-ly-can-hoan-thien-e-phat-trien-mo-hinh-  
kinh-te-chia-se?_101_INSTANCE_sxBNLsQSLyY8_  
viewMode=view  
Số chuyên đề 4 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 65  
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA ĐỐI VỚI QUY ĐỊNH...  
Không chỉ trong lĩnh vực vận tải, đối chia sẻ, cũng như gây khó khăn cho chính  
với mô hình kinh tế chia sẻ nói chung, các  
cơ quan quản lý cũng đã thể hiện sự ghi  
nhận và sự quan tâm đến mô hình kinh tế  
chia sẻ đối với sự phát triển kinh tế Việt  
Nam. Ngày 12/8/2019, Thủ tướng Chính  
phủ đã ban hành Quyết định số 999/QĐ-  
TTg phê duyệt Đề án thúc đẩy mô hình  
kinh tế chia sẻ với mục tiêu đảm bảo môi  
trường kinh doanh bình đẳng giữa các  
doanh nghiệp kinh doanh theo mô hình  
kinh tế chia sẻ và kinh tế truyền thống.  
Điều này cũng được thể hiện trong Nghị  
quyết số 52/NQ-TW của Bộ Chính trị  
ban hành ngày 27/9/2019 về “Một số chủ  
trương, chính sách chủ động tham gia  
cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”.  
Đây được cho là kim chỉ nam cho các hoạt  
động hoạch định chính sách sau này liên  
quan đến phát triển, quản lý đối với mô  
hình kinh tế chia sẻ.  
các doanh nghiệp kinh doanh theo mô  
hình này.  
Các doanh nghiệp truyền thống  
dường như đang chịu sự quản lý chặt  
chẽ hơn về điều kiện kinh doanh, thuế…  
trong khi các doanh nghiệp kinh tế chia  
sẻ với nhiều ưu điểm và sự dễ hòa nhập  
lại không có bất cứ ràng buộc và nghĩa  
vụ nào. Điều này khiến cho các doanh  
nghiệp truyền thống chịu sức ép, khó  
cạnh tranh với các doanh nghiệp theo  
mô hình kinh tế chia sẻ. Trong khi đó,  
các doanh nghiệp kinh tế chia sẻ lại  
cũng gặp những trở ngại nhất định khi  
theo đuổi mô hình kinh doanh này bởi  
hiện nay còn thiếu cơ sở pháp lý đối với  
những hoạt động kinh doanh liên quan  
đến mô hình kinh tế chia sẻ cũng như  
sự lúng túng của các cơ quan quản lý  
khi xác định được bản chất và nội dung  
2. Những vấn đề pháp lý đặt ra đối cần quản lý nên họ thường không cấp  
phép cho doanh nghiệp. Trên thực tế  
đã có không ít doanh nghiệp vì những  
khó khăn trên nên thay vì đăng ký thành  
lập doanh nghiệp ở Việt Nam, họ đã  
lựa chọn việc đăng ký thành lập ở nước  
ngoài, sau đó trở về nước tiến hành  
các hoạt động đầu tư dưới danh nghĩa  
doanh nghiệp nước ngoài. Việc doanh  
nghiệp tiếp tục hoạt động mà không có  
hành lang pháp lý rõ ràng sẽ khiến Nhà  
nước thất thu thuế, môi trường kinh  
doanh gặp rào cản và người tiêu dùng  
không được bảo vệ.  
với mô hình kinh tế chia sẻ ở Việt Nam  
Mặc dù đã có những sự nhìn nhận  
đúng đắn và can thiệp quản lý kịp thời đối  
với mô hình kinh tế chia sẻ, tuy nhiên, qua  
đánh giá, hệ thống pháp luật Việt Nam  
đối với mô hình này còn nhiều khoảng  
trống và hạn chế. Cụ thể là:  
Thiếu các quy định đảm bảo sự cạnh  
tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp  
Các quy định về loại hình kinh tế chia  
sẻ ở Việt Nam hiện nay mới chỉ được thể  
hiện thông qua các chính sách ở từng lĩnh  
vực cụ thể chứ chưa có quy định chung.  
Hệ thống pháp luật về kinh doanh,  
thương mại (Luật doanh nghiệp, Luật  
đầu tư, Luật lao động, Luật cạnh tranh…)  
tuy rất phong phú và đa dạng nhưng vẫn  
đang ở trạng thái điều chỉnh cho các mô  
hình kinh tế truyền thống và bỏ ngỏ đối  
với mô hình kinh tế chia sẻ. Việc thiếu các  
quy định pháp lý này đã tạo ra nguy cơ  
Vấn đề xác định trách nhiệm của các  
bên và bảo vệ người tiêu dùng  
Một điểm khác biệt của mô hình kinh  
tế chia sẻ là làm hình thành nên nhiều  
mối quan hệ mới, sự tham gia của ít nhất  
ba bên chủ thể gồm người cung cấp dịch  
vụ, người sử dụng dịch vụ và nhà cung  
cấp nền tảng, thay vì hai bên như trong  
tiềm ẩn xung đột với các mô hình kinh tế mô hình kinh doanh truyền thống. Tuy  
66 Khoa học Kiểm sát Số chuyên đề 4 - 2020  
TRẦN THỊ VIỆT HÀ  
nhiên, hiện nay các quy định của pháp nghệ làm việc với các doanh nghiệp  
luật gần như mới chỉ điều chỉnh các  
mối quan hệ hai bên mà chưa có những  
quy định trách nhiệm pháp lý đối với  
các chủ thể tham gia với nhau. Bởi vậy,  
khi có bất cứ rủi ro nào xảy ra, các bên  
thường tìm cách đùn đẩy trách nhiệm  
và cơ quan quản lý nhà nước cũng sẽ  
không nắm được thông tin. Đặc biệt,  
trong mối quan hệ này, người sử dụng  
dịch vụ/hàng hóa thường là người yếu  
thế. Khi có tranh chấp xảy ra trong quá  
trình sử dụng dịch vụ, họ thường không  
được bảo vệ một cách thỏa đáng.  
Một vấn đề nữa cũng cần lưu tâm là  
nếu như trong các mô hình kinh doanh  
truyền thống, các quy định của pháp luật  
đã tạo ra một khung pháp lý quy định  
các sản phẩm, dịch vụ đưa ra thị trường  
cần phải đáp ứng những tiêu chuẩn gì,  
cơ quan nào sẽ đứng ra quản lý thì ngược  
lại, đối với các doanh nghiệp trong mô  
hình kinh tế chia sẻ, các sản phẩm dịch vụ  
mà họ cung cấp chủ yếu mang tính chất  
tự phát và cũng không có quy định cụ  
thể nào về quản lý chất lượng sản phẩm  
dịch vụ. Điều này ảnh hưởng đến quyền  
lợi của người tiêu dùng khi sử dụng sản  
phẩm dịch vụ đó.  
trung gian như một lao động thực thụ.  
Đồng thời, trong quá trình hoạt động,  
họ vẫn phải chịu sự quản lý và xử phạt  
từ các doanh nghiệp này nếu như không  
đáp ứng được các yêu cầu đặt ra. Tuy  
nhiên, họ lại không được xem là những  
người lao động trong các doanh nghiệp.  
Vì thế, hầu hết họ không được tham gia  
bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm hưu  
trí, các khóa đào tạo nâng cao kỹ năng  
cũng như được bảo đảm an toàn như ở  
các công ty truyền thống. Như vậy, có  
thể thấy các vấn đề như bảo vệ quyền lợi  
người lao động, chính sách quản lý lao  
động, việc làm, an sinh xã hội đối với các  
chủ thể tham gia trong mô hình kinh tế  
chia sẻ hiện nay đều chưa được quan tâm  
một cách thỏa đáng có thể gây ảnh hưởng,  
tác động tiêu cực đến bản thân người lao  
động và mất ổn định xã hội.  
Vấn đề thu thuế và các nghĩa vụ tài  
chính phát sinh  
Thực hiện nghĩa vụ thuế và các nghĩa  
vụ tài chính khác khi tiến hành các hoạt  
động kinh doanh là một trong những  
nghĩa vụ cơ bản của doanh nghiệp cũng  
như cá nhân, tổ chức. Tuy nhiên hiện nay,  
do những khó khăn trong việc xác định  
người nộp thuế là doanh nghiệp trung  
gian hay người cung ứng dịch vụ cũng  
như khó khăn trong việc xác định loại  
thuế phải nộp, đặc biệt là vấn đề thu thuế  
của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ xuyên  
quốc gia về tránh đánh thuế hai lần… nên  
các quy định của pháp luật thuế hiện nay  
khi áp dụng đối với mô hình kinh tế chia  
sẻ còn gặp nhiều khó khăn.  
Vấn đề bảo vệ quyền lợi người lao động  
và an sinh xã hội  
Trong mối quan hệ ba bên của mô  
hình kinh tế chia sẻ, người cung ứng  
dịch vụ là một chủ thể tương đối đặc  
biệt. Rất khó để xác định được bản chất  
mối quan hệ giữa người cung ứng dịch  
vụ và bên trung gian - nhà cung cấp nền  
tảng bởi trong một số ngành nghề lĩnh  
vực đặc thù như vận tải, liệu một lái xe  
công nghệ có được coi là người lao động  
hay chỉ đơn thuần là nhà thầu độc lập?  
Thêm vào đó, đa số các doanh nghiệp  
theo mô hình kinh tế chia sẻ có trụ sở kinh  
Xét về bản chất, những tài xế xe công doanh ở bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, do  
Số chuyên đề 4 - 2020 Khoa học Kiểm sát 67  
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA ĐỐI VỚI QUY ĐỊNH...  
vậy khó có thể quản lý thuế với các doanh pháp luật hiện hành, qua đó kịp thời ban  
hành các văn bản quản lý thống nhất với  
hoạt động kinh doanh theo mô hình kinh  
tế chia sẻ cũng như sửa đổi, bổ sung các  
quy định còn chưa phù hợp. Cụ thể, cần  
bổ sung những quy định của Luật doanh  
nghiệp, Luật cạnh tranh, Luật đầu tư…  
nhằm đảm bảo cạnh tranh công bằng  
giữa kinh tế truyền thống và kinh tế chia  
sẻ. Các quy định nên được triển khai  
theo hướng nới lỏng các điều kiện kinh  
doanh đối với các doanh nghiệp truyền  
thống, đồng thời nhanh chóng xác định  
bản chất của kinh tế chia sẻ, kịp thời có  
văn bản hướng dẫn các doanh nghiệp, cơ  
quan quản lý trong quá trình triển khai  
các hoạt động đăng lý thành lập, cấp giấy  
phép hoạt động, đầu tư, bổ sung kịp thời  
đối với những loại hình kinh doanh mới  
như dịch vụ tài chính, cho vay ngang  
hàng nhằm đảm bảo quyền tự do kinh  
doanh của các chủ thể.  
Thứ hai, bổ sung các quy định xác  
định trách nhiệm các bên trong kinh  
tế chia sẻ theo hướng bảo vệ quyền lợi  
của bên yếu thế, tăng trách nhiệm của  
đơn vị cung cấp dịch vụ nền tảng bởi  
suy cho cùng, đây là bên trung gian kết  
nối cũng như nắm rõ được các thông tin  
về các bên còn lại và thường sẽ là người  
được hưởng nhiều quyền lợi nhất, nắm  
thế chủ động trong mối quan hệ này.  
Theo đó, bên doanh nghiệp cung ứng  
cần thực hiện các nghĩa vụ đối với người  
sử dụng dịch vụ (tiếp nhận khiếu nại  
và chịu trách nhiệm rủi ro…) và với cơ  
quan nhà nước có thẩm quyền (nghĩa vụ  
kê khai, nộp thuế, thẩm định năng lực  
của bên cung ứng).  
nghiệp này. Đa số chỉ thu được thuế thu  
nhập doanh nghiệp theo phương thức  
trực tiếp vì không quản lý được các nguồn  
thu đầu vào của doanh nghiệp. Nguyên  
nhân là do hiện nay chúng ta thiếu các  
cơ chế, chính sách quản lý đối với các các  
giao dịch thanh toán điện tử xuyên biên  
giới để có thể giám sát việc thực hiện  
nghĩa vụ thuế của các đối tác nước ngoài  
tham gia vào các hoạt động kinh doanh ở  
Việt Nam.  
Quyền về dữ liệu cá nhân, quyền riêng tư  
Trong mô hình kinh tế chia sẻ, các  
doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nền  
tảng sẽ thu thập những thông tin giao  
dịch cũng như các thông tin nhận dạng  
của khách hàng như họ và tên, địa chỉ  
liên lạc, số điện thoại, địa chỉ email, số  
tài khoản… và hầu hết trong các điều  
khoản của mình, các nhà cung cấp nền  
tảng có thể tự cho phép họ xử lý và chia  
sẻ thông tin cá nhân mà họ thu được.  
Khi đó, quyền bảo vệ thông tin cá nhân  
của người cung cấp thông tin nhằm sử  
dụng dịch vụ trên nền tảng kinh tế chia  
sẻ được thực hiện ra sao? Mặc dù pháp  
luật Việt Nam cũng đã xác lập nền tảng  
pháp lý ban đầu để bảo vệ quyền về dữ  
liệu cá nhân (Luật An ninh mạng, Bộ luật  
hình sự…) nhưng nhìn chung, trong các  
văn bản này vẫn còn nhiều điểm chưa  
thống nhất trong việc xác định “thông  
tin cá nhân” có nội hàm như thế nào, loại  
thông tin cá nhân nào cần được được  
bảo mật. Các quy định còn nằm rải rác  
trong nhiều văn bản, Luật, Nghị định,  
thông tư,… và chưa có sự thống nhất,  
gây khó khăn cho việc bảo vệ quyền về  
sự riêng tư dữ liệu và bảo vệ thông tin  
cá nhân.  
Cần sớm xây dựng, ban hành những  
quy định về quản lý chất lượng sản phẩm,  
dịch vụ để bảo vệ lợi ích người tiêu dùng,  
đặc biệt là trong hoạt động thương mại  
3. Một số kiến nghị  
Thứ nhất, cần rà soát các quy định điện tử có liên quan đến kinh tế chia sẻ.  
68 Khoa học Kiểm sát Số chuyên đề 4 - 2020  
TRẦN THỊ VIỆT HÀ  
Những văn bản như Nghị định số 52/2013/ không có trụ sở tại Việt Nam thì xây  
NĐ-CP về thương mại điện tử, Luật Bảo  
vệ người tiêu dùng 2010… hiện nay gần  
như bỏ ngỏ các quy định trách nhiệm của  
các bên liên quan đến kinh tế chia sẻ nói  
chung và trách nhiệm của các bên đối với  
người tiêu dùng tham gia vào mô hình  
này nói riêng.  
dựng cơ chế khấu trừ thuế thông qua  
ngân hàng. Đồng thời, cũng cần có quy  
định thu thuế đối với người cung ứng  
dịch vụ theo nguồn thu nhập (đối với  
người có đăng ký kinh doanh) hoặc thu  
thuế khấu trừ qua doanh nghiệp trung  
gian (đối với người không có đăng ký  
kinh doanh).  
Ngoài ra, tăng cường ký kết các hiệp  
định đa phương, song phương nhằm hỗ  
trợ hoạt động thu thuế và thu thập thông  
tin điều tiết thuế đối với các hoạt động  
điện tử xuyên biên giới.  
Thứ năm, cần có những quy định đảm  
bảo quyền riêng tư và bảo vệ thông tin các  
nhân của người sử dụng dụng nền tảng  
kinh tế chia sẻ. Pháp luật Việt Nam cần  
có những cơ chế hiệu quả hơn nữa trong  
việc kiểm soát hoạt động thu thập và xử  
lý dữ liệu cá nhân. Cụ thể, bổ sung thêm  
các quy định liên quan đến việc cá nhân  
được áp dung các biện pháp bảo hộ pháp  
lý để chống lại bên vận hành nền tảng nếu  
thông tin cá nhân bị xâm hại hay sử dụng  
không đúng mục đích. Tăng trách nhiệm  
bảo vệ dữ liệu người dùng đối với doanh  
nghiệp cung cấp dịch vụ nền tảng và chế  
tài xử lý thích hợp đối với các vi phạm  
nếu có.  
Có thể thấy, kinh tế chia sẻ hiện vẫn  
đang là mô hình đầy hấp dẫn đối với các  
doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam,  
đồng thời cũng đang phát huy được  
những tác động tích cực đến đời sống của  
người dân và với nền kinh tế. Tuy nhiên,  
nếu không kịp thời điều chỉnh và bổ sung  
các văn bản pháp luật để quản lý đối với  
hoạt động kinh doanh theo mô hình kinh  
doanh này thì sẽ khó phát huy được tiềm  
năng của mô hình và hạn chế được rủi ro  
Thứ ba, ban hành các quy định về bảo  
vệ người lao động, thực hiện an sinh xã  
hội trong mô hình kinh tế chia sẻ. Cần  
xác định rõ bản chất mối quan hệ người  
tham gia cung ứng dịch vụ và bên cung  
ứng dịch vụ nền tảng trong từng trường  
hợp cụ thể để có sự điều chỉnh pháp luật  
kịp thời. Theo đó, cần có các quy định cụ  
thể đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của  
người lao động tham gia mô hình kinh tế  
chia sẻ trên cơ sở đảm bảo hài hòa được  
lợi ích chính đáng của người lao động và  
các bên liên quan. Ví dụ, xác định trách  
nhiệm của bên cung cấp dịch vụ nền  
tảng trong việc đại diện mua một số loại  
bảo hiểm nhất định cho người cung ứng  
dịch vụ trên cơ sở phí do người cung  
ứng đóng để đảm bảo chia sẻ rủi ro đặc  
thù với từng ngành nhất định như bảo  
hiểm tai nạn, bảo hiểm thất nghiệp, bảo  
hiểm hưu trí…  
Thứ tư, điều chỉnh các quy định về  
nghĩa vụ nộp thuế của các chủ thể tham  
gia mô hình kinh tế chia sẻ nhằm đảm  
bảo công bằng với các nhà cung cấp dịch  
vụ truyền thống và tránh thất thu thuế.  
Theo đó, cần quy định các khoản thu  
nhập chịu thuế, xác định đối tượng nộp  
thuế và thuế suất. Ví dụ như xác định  
khoản thu thuế từ hoạt động cung cấp  
dịch vụ kết nối cho người cung ứng đối  
với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ  
nền tảng. Nếu doanh nghiệp có trụ sở  
tại Việt Nam thì thu thuế như đối với các  
doanh nghiệp khác trên cơ sở lợi nhuận  
của doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp mà nó đem đến./.  
Số chuyên đề 4 - 2020 Khoa học Kiểm sát 69  
pdf 7 trang Thùy Anh 12320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số vấn đề pháp lý đặt ra đối với quy định phát triển mô hình kinh tế chia sẻ ở Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_van_de_phap_ly_dat_ra_doi_voi_quy_dinh_phat_trien_mo.pdf