Biện pháp giữ người, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp
BIỆN PHÁP GIỮ NGƯỜI, BẮT NGƯỜI BỊ GIỮ...
TRONG TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP
ĐẶNG VĂN THỰC*
Giữ người, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là biện pháp ngăn chặn mới được quy
định trong Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015. Đây là biện pháp sửa đổi, bổ sung, thay
thế cho biện pháp bắt khẩn cấp trước đây. Bài viết đi sâu phân tích nội dung quy định của BLTTHS
năm 2015 về biện pháp giữ người, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và đưa ra một số kiến
nghị hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp ngăn chặn này.
Từ khóa: Giữ người, bắt người bị giữ, trường hợp khẩn cấp, biện pháp ngăn chặn, Bộ luật tố
tụng hình sự.
Ngày nhận bài: 28/6/2020; Biên tập xong: 15/7/2020; Duyệt đăng: 02/10/2020
Measure of emergency custody and detainee arrest has first stipulated in the 2015 Criminal
Procedure Code amended and supplemented from former emergency custody measure.
The article concentrates on provisions of the 2015 Criminal Procedure Code on measures of
emergency custody and detainee arrest, then several recommendations to perfect criminal
procedure laws on that measure.
Keywords: Custody, detainee arrest, emergency, preventative measure, the Criminal Procedure Code.
rong quá trình giải quyết vụ án bảo lĩnh; đặt tiền để bảo đảm; cấm đi khỏi
hình sự, việc áp dụng biện pháp
ngăn chặn là rất cần thiết nhằm
nơi cư trú; tạm hoãn xuất cảnh. Bắt người
bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thể hiện
T
giúp Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tính chất đặc biệt, cấp bách của việc ngăn
chặn tội phạm, đồng thời góp phần ngăn
ngừa không cho các đối tượng bị nghi thực
hiện tội phạm gây khó khăn cho các hoạt
động điều tra. Qua thực tiễn áp dụng, có
thể thấy biện pháp giữ người trong trường
hợp khẩn cấp là biện pháp ngăn chặn quan
trọng, được áp dụng phổ biến để tạo điều
kiện thuận lợi cho quá trình giải quyết vụ
án của Cơ quan có thẩm quyền.
tụng kịp thời ngăn chặn tội phạm, hạn chế
việc người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho
việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục
phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án. Thể
chế hóa Hiến pháp năm 2013, BLTTHS năm
2015, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình
sự năm 2015, Luật thi hành tạm giữ, tạm
giam năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nhiều
quy định của BLTTHS năm 2003 về các biện
pháp ngăn chặn, đặc biệt là việc bổ sung
biện pháp giữ người trong trường hợp
khẩn cấp theo quy định tại Hiến pháp năm
2013: “Không ai bị bắt nếu không có quyết
định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc
phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân,
trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc
bắt, giam, giữ người do luật định”1. Theo
BLTTHS năm 2015, có 08 biện pháp ngăn
chặn có thể được áp dụng so với 06 biện
pháp ngăn chặn quy định tại BLTTHS năm
2003, bao gồm: Giữ người trong trường hợp
khẩn cấp; bắt người; tạm giữ; tạm giam;
1. Quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2015 về biện pháp giữ người, bắt
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp
1.1. Về căn cứ áp dụng
Căn cứ áp dụng biện pháp giữ người
trong trường hợp khẩn cấp cũng đồng thời
là căn cứ để bắt người bị giữ trong trường
hợp khẩn cấp. Các căn cứ giữ người trong
trường hợp khẩn cấp được quy định tại
khoản 1 Điều 110. Về cơ bản, các căn cứ tại
Điều 110 đều thể hiện rõ việc cần thiết phải
áp dụng ngay biện pháp giữ người trong
* Thạc sĩ, Phó trưởng khoa Pháp luật hình sự và
Kiểm sát hình sự, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội.
1ꢀ Khoản 2 Điều 20 Hiến pháp năm 2013
Số 05 - 2020
Khoa học Kiểm sát 36
ĐẶNG VĂN THỰC
trường hợp khẩn cấp, nếu không kịp thời năm 2015. Tuy nhiên, nếu chỉ thỏa mãn việc
xác nhận đúng đối tượng thực hiện hành vi
phạm tội thì chưa đủ căn cứ để giữ người,
bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.
Căn cứ trên chỉ khẳng định việc một đối
tượng nhất định có phải là người thực hiện
hành vi phạm tội hay không. Để áp dụng
biện pháp này, phải thỏa mãn tính khẩn
cấp, buộc phải thực hiện, nếu không sẽ gây
ra các khó khăn cho quá trình giải quyết vụ
án của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
tụng. Do đó, để áp dụng thì cần thỏa mãn
thêm điều kiện về việc cần ngăn chặn ngay
việc đối tượng bỏ trốn3. Việc đánh giá đối
tượng bỏ trốn có thể dựa trên việc đánh giá
toàn diện các yếu tố như: tính chất nghiêm
trọng của hành vi phạm tội và loại tội phạm
được thực hiện như tội trộm cắp, lừa đảo,
cướp, giết người, mua bán trái phép chất
ma túy…4; nhân thân người đó (có tiền án,
tiền sự hay không); hành vi chuẩn bị trốn
(ví dụ như mua vé xe để chuẩn bị rời khỏi
địa phương, bán nhà để chuyển đến nơi ở
mới…).
áp dụng biện pháp này sẽ gây ra các thiệt
hại hoặc cản trở quá trình giải quyết vụ án
của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
tụng. Cụ thể:
Căn cứ thứ nhất: Khi phát hiện một người
đang chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng
hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng. Có thể
thấy rằng, việc ngăn chặn tội phạm là một
yêu cầu cấp bách đối với tố tụng hình sự.
Đặc biệt các tội rất nghiêm trọng, đặc biệt
nghiêm trọng là các tội có tính chất và mức
độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn hoặc đặc
biệt lớn. Do đó, cần kịp thời ngăn chặn trước
khi tội phạm được thực hiện. Tuy nhiên, chỉ
tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn
cấp khi các tội rất nghiêm trọng, đặc biệt
nghiêm trọng thuộc các tội phạm được quy
định tại Điều 14 BLHS năm 2015 (sửa đổi,
bổ sung năm 2017), bởi ngoài các tội phạm
này thì ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, các
tội phạm khác dù là tội rất nghiêm trọng,
đặc biệt nghiêm trọng đều không phải chịu
trách nhiệm hình sự (TNHS)2.
Căn cứ thứ ba: Có dấu vết của tội phạm ở
người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc
trên phương tiện của người bị nghi thực
hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn
ngay việc người đó bỏ trốn hoặc tiêu hủy
chứng cứ. Để có thể giữ người, bắt người
trong trường hợp này, cần thỏa mãn việc
xác định được dấu vết của tội phạm ở người
hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên
phương tiện của người bị nghi thực hiện
tội phạm. Dấu vết của tội phạm như phát
hiện thấy dấu vết đồ vật, công cụ, phương
tiện, đồ vật bị trộm, cướp5… Dấu hiệu của
tội phạm được xác định thông qua các hoạt
động thực hiện khám xét, khám người của
Căn cứ thứ hai: Người cùng thực hiện
tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại
nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy
và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội
phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc
người đó trốn. Trong trường hợp này cần
phải có sự xác nhận của người cùng thực
hiện tội phạm (đồng phạm trong vụ án), bị
hại (người bị hại hoặc người đại diện của
cơ quan, tổ chức) hoặc người có mặt tại
nơi xảy ra tội phạm (có thể là người làm
chứng) về việc họ chính mắt nhìn thấy và
khẳng định đối tượng là người thực hiện
tội phạm. Việc xác nhận của những người
này phải được thể hiện trong biên bản lấy
lời khai theo đúng quy định của BLTTHS
3ꢀ.
Ngô Văn Vịnh, Biện pháp bắt người trong pháp luật
tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ luật học -
2ꢀ. Cần lưu ý, việc không áp dụng biện pháp giữ người Học viện khoa học xã hội (2019)
4ꢀ.
trong trường hợp khẩn cấp đối với các hành vi chuẩn
Xem Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSTC-
bị phạm tội thuộc các tội phạm khác không thuộc BCA-BQP ngày 7/9/2005 (được thay thế bằng Thông
Điều 14 không đồng nhất với việc không kịp thời tư liên tịch số 04/2018)
ngăn chặn hành vi chuẩn bị phạm tội đó, người phát 5ꢀ. TS. Phạm Mạnh Hùng, Giáo trình Luật tố tụng hình
hiện ra hành vi đó có thể báo tin để Cơ quan có thẩm sự, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội - Nhà xuất bản
quyền ngăn chặn bằng các chế tài hành chính khác.
Đại học Quốc gia Hà Nội
Số 05 - 2020
Khoa học Kiểm sát 37
BIỆN PHÁP GIỮ NGƯỜI, BẮT NGƯỜI BỊ GIỮ...
Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm biên phòng tỉnh, thành phố trực truộc
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên
phòng Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục
phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội
biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm
phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội
biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh
sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và
pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn
trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội
phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi
cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng.
Ngoài Cơ quan điều tra, các Cơ quan
được giao nhiệm vu tiến hành một số hoạt
động điều tra cũng là các cơ quan có vai trò
quan trọng trong việc phát hiện tội phạm.
Tuy nhiên, không phải bất kì Cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra nào cũng được giao thẩm quyền
áp dụng biện pháp giữ người, bắt người bị
giữ trong trường hợp khẩn cấp bởi nếu quy
định tất cả các Cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đều
có quyền áp dụng biện pháp này thì sẽ dẫn
đến chồng chéo về nhiệm vụ. Vì vậy, hiện
nay pháp luật chỉ quy định một số cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra có vị trí địa lý cách biệt được
áp dụng do yếu tố địa lý nên buộc phải áp
dụng biện pháp giữ người, bắt người bị giữ
trong trường hợp khẩn cấp mà không thể
thông báo để Cơ quan điều tra thực hiện
được.
Cần lưu ý việc xác định nội dung căn cứ
phải dựa trên các hoạt động phát hiện của
các cơ quan nhà nước, không phải dựa vào
các thông tin chưa được kiểm chứng để áp
dụng biện pháp giữ người, bắt người bị giữ
trong trường hợp khẩn cấp. Ví dụ: Nếu là
trường hợp nhận được tin báo về đối tượng
Nguyễn Văn A đang có hành vi cất giấu
ma túy tại nhà thì Cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng không thể ra quyết định
giữ người trong trường hợp khẩn cấp luôn
mà cần phải thực hiện việc khám xét để xác
định đúng việc thu giữ được dấu vết của tội
phạm ở nơi ở của Nguyễn Văn A, từ đó mới
có thể quyết định có áp dụng biện pháp giữ
người hay không.
1.2. Thẩm quyền áp dụng
Thẩm quyền áp dụng biện pháp giữ
người trong trường hợp khẩn cấp và biện
pháp bắt người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp đều do Cơ quan điều tra và Cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra áp dụng. Biện pháp
giữ người trong trường hợp khẩn cấp còn
bổ sung thêm chủ thể là người chỉ huy tàu
bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển rời sân
bay, bến cảng. Cụ thể, theo khoản 2 Điều
110 BLTTHS năm 2015, những người sau
đây được áp dụng biện pháp giữ người, bắt
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp:
a) Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan
điều tra các cấp
1.3. Thủ tục áp dụng
Thủ tục áp dụng biện pháp giữ người,
bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp
được quy định tại khoản 3, 4, 5, 6 Điều 110
BLTTHS năm 2015. Theo đó, khi xác định
được các căn cứ quy định tại các điểm a, b,
c, người có thẩm quyền sẽ ra lệnh giữ người
trong trường hợp khẩn cấp6. Trong thời hạn
12 giờ kể từ khi giữ người trong trường
hợp khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ trong
trường hợp khẩn cấp thì Cơ quan điều tra,
Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
Để đảm bảo tính chất khẩn cấp của việc
thực hiện việc giữ người, bắt người, trong
số các Cơ quan tiến hành tố tụng, pháp luật
tố tụng hình sự chỉ quy định thẩm quyền áp
dụng biện pháp này cho cơ quan trực tiếp
phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm. Thẩm
quyền áp dụng thuộc về người đứng đầu
của các cơ quan trên là Thủ trưởng, Phó thủ
trưởng Cơ quan điều tra.
b) Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung
đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn
biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng
6.ꢀ Xem khoản 3 Điều 110, khoản 2 Điều 132 BLTTHS
Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội năm 2015
38 Khoa học Kiểm sát
Số 05 - 2020
ĐẶNG VĂN THỰC
số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay
Do đó, để sửa đổi hạn chế này, có thể
và những người có thẩm quyền giữ người, xử lý theo hai hướng: Một là, tách Điều 110
trừ người chỉ huy tàu bay, tàu biển, phải ra thành hai điều luật độc lập, một điều quy
quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ định về biện pháp ngăn chặn: giữ người
hoặc trả tự do ngay cho người đó7. Lệnh bắt trong trường hợp khẩn cấp; một điều quy
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải định về: bắt người bị giữ trong trường hợp
gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp kèm khẩn cấp. Hai là, bổ sung tên Điều 110 để
theo tài liệu liên quan đến việc giữ người bao hàm nội dung của điều luật. Cụ thể,
để xét phê chuẩn. Trước khi xem xét, quyết Điều 110 có thể có tên: Giữ người và bắt
định phê chuẩn hoặc quyết định không phê người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Để
chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường bảo đảm tính ổn định của Bộ luật, chúng tôi
hợp khẩn cấp, nếu thấy cần thiết, Kiểm sát đồng ý với cách sửa đổi thứ hai nêu trên.
viên phải trực tiếp gặp, hỏi người bị giữ
trong trường hợp khẩn cấp. Trong thời hạn
12 giờ kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị
xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong
trường hợp khẩn cấp, Viện kiểm sát phải
ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định
không phê chuẩn. Trường hợp Viện kiểm sát
quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người
bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì người
đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn
cấp phải ra quyết định hủy bỏ quyết định
tạm giữ, Cơ quan điều tra đã nhận người bị
giữ trong trường hợp khẩn cấp phải trả tự
do ngay cho người bị giữ.
Thứ hai, theo quy định tại Điều 110
BLTTHS năm 2015, thẩm quyền áp dụng
biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn
cấp ngoài Cơ quan điều tra, Cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra còn có chủ thể là “người chỉ huy
tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển rời
sân bay, bến cảng”. Đối chiếu với quy định
tại Điều 109 về khái niệm biện pháp ngăn
chặn thì chủ thể được áp dụng các biện
pháp ngăn chặn chỉ có thể là cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng: “Đề kịp thời
ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ
người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều
2. Một số hạn chế và kiến nghị hoàn tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc
thiện quy định của pháp luật tố tụng hình để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm
sự về biện pháp giữ người trong trường quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm
hợp khẩn cấp
quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ
người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ,
tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi
khỏi nơi cư trú, tạm hoàn xuất cảnh”.
Thứ nhất, về mặt lập pháp, quy định
tại Điều 110 về biện pháp giữ người trong
trường hợp khẩn cấp chưa bao hàm hết nội
dung điều luật. Nội dung điều luật quy định
Do đó, để đảm bảo sự thống nhất giữa
cả về biện pháp giữ người trong trường quy định tại Điều 109 với các biện pháp
hợp khẩn cấp và biện pháp bắt người bị giữ ngăn chặn cụ thể, chúng tôi đề xuất sửa đổi
trong trường hợp khẩn cấp. Theo quy định Điều 109 như sau: “Để kịp thời ngăn chặn tội
tại Điều 109 BLTTHS năm 2015, giữ người phạm… Cơ quan, người có thẩm quyền trong
trong trường hợp khẩn cấp là một biện pháp phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng
ngăn chặn độc lập bên cạnh các biện pháp biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn
ngăn chặn khác như bắt, tạm giữ, tạm giam. cấp…”
Thứ ba, khoản 6 Điều 110 BLTTHS năm
7.ꢀ Đối với trường hợp tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân
bay, bến cảng thì sau khi giữ người trong trường hợp
2015 quy định trường hợp Viện kiểm sát
quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người
khẩn cấp, người chỉ huy tàu bay, tàu biển phải giải ngay bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì người
người bị giữ kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ
người trong trường hợp khẩn cấp đến Cơ quan điều tra
nơi có sân bay hoặc bến cảng đầu tiên tàu trở về.
đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn
cấp, Cơ quan điều tra đã nhận người bị giữ
Số 05 - 2020
Khoa học Kiểm sát 39
BIỆN PHÁP GIỮ NGƯỜI, BẮT NGƯỜI BỊ GIỮ...
trong trường hợp khẩn cấp phải trả tự do khác nhau cần hết sức chú ý để đảm bảo
ngay cho người bị giữ. Quy định này không tính thống nhất khi áp dụng các biện pháp
đề cập đến việc đối với quyết định tạm giữ trên, tránh trường hợp một nội dung những
thì có cần hủy bỏ hay không. Theo chúng có hai cách quy định trái ngược nhau, dẫn
đến khó áp dụng trên thực tế. Cụ thể:
tôi, việc khoản 6 Điều 110 không quy định
về việc hủy bỏ biện pháp tạm giữ là không
đầy đủ bởi việc không phê chuẩn lệnh bắt
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp
không phải là cơ sở để biện pháp tạm giữ
đương nhiên không còn hiệu lực. Theo
trình tự áp dụng, quyết định tạm giữ được
ra trước khi cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng ra lệnh bắt người bị giữ trong
trường hợp khẩn cấp. Do đó, quyết định
tạm giữ không phải là biện pháp ngăn chặn
đi kèm khi áp dụng biện pháp bắt người bị
giữ trong trường hợp khẩn cấp. Việc Viện
kiểm sát không phê chuẩn lệnh bắt người
bị giữ trong trường hợp khẩn cấp không
làm biện pháp tạm giữ không còn hiệu lực.
Đồng thời, khoản 6 Điều 110 không đề cập
đến nội dung hủy bỏ biện pháp tạm giữ
là chưa phù hợp với tinh thần tại khoản 4
Điều 117: “Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi ra
quyết định tạm giữ… nếu xét thấy việc tạm giữ
không có căn cứ hoặc không cần thiết thì Viện
kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm
giữ và người ra quyết định tạm giữ phải trả tự
do ngay cho người bị tạm giữ”.
Vì vậy, chúng tôi kiến nghị bổ sung thêm
vào nội dung tại khoản 6 Điều 110 như sau:
“…Trường hợp Viện kiểm sát quyết định không
phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường
hợp khẩn cấp thì Viện kiểm sát ra quyết định
hủy bỏ quyết định tạm giữ và người đã ra lệnh
giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Cơ quan
điều tra đã nhận người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp phải trả tự do ngay cho người bị giữ”.
Thứ tư, biện pháp giữ người, bắt người
bị giữ trong trường hợp khẩn cấp khi áp
dụng có nội dung đi kèm biện pháp ngăn
chặn tạm giữ. Đồng thời, biện pháp tạm
giữ có nhiều nội dung dẫn chiếu đến Điều
luật về biện pháp giữ người, bắt người bị
giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc ngược
lại. Vì vậy, việc xây dựng các quy định liên
+ Quy định về thẩm quyền ra quyết định
tạm giữ tại Điều 117 chưa có sự thống nhất
với quy định tại Điều 110. Khoản 2 Điều 117
quy định “Những người có thẩm quyền ra lệnh
giữ người quy định tại khoản 2 Điều 110 của
Bộ luật này có quyền ra quyết định tạm giữ”8.
Như vậy, với cách viện dẫn của BLTTHS
năm 2015 thì người có thẩm quyền ra quyết
định tạm giữ không chỉ bao gồm Cơ quan
điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra mà còn bao
gồm cả “người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi
tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến
cảng”. Việc viện dẫn như trên là không phù
hợp với các nội dung tiếp theo được quy
định tại Điều 110 BLTTHS năm 2015. Khoản
4 Điều 110 BLTTHS quy định “Sau khi giữ
người trong trường hợp khẩn cấp, những người
quy định tại điểm c khoản 2 Điều này phải giải
ngay người bị giữ kèm theo tài liệu liên quan
đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp
đến Cơ quan điều tra nơi có sân bay hoặc bến
cảng đầu tiên tàu trở về. Trong thời hạn 12 giờ
kể từ khi tiếp nhận người bị giữ, Cơ quan điều
tra phải lấy lời khai ngay và những người quy
định tại điểm a khoản 2 Điều này phải ra quyết
định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ trong
trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện
kiểm sát cùng cấp kèm theo tài liệu liên quan đến
việc giữ người để xét phê chuẩn”. Như vậy,
những người quy định tại điểm c khoản
2 Điều 110 không có quyền áp dụng biện
pháp tạm giữ. Do đó, chúng tôi cho rằng
quy định tại Điều 117 BLTTHS năm 2015
cho phép những người có quyền ra lệnh giữ
người trong trường hợp khẩn cấp quyền ra
lệnh tạm giữ mà không quy định loại trừ
8ꢀ. TS. Vũ Gia Lâm, Những bất cập trong quy định về
giữ người trong trường hợp khẩn cấp của Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2015, Kỷ yếu Hội thảo khoa học
"Biện pháp cưỡng chế theo Bộ luật tố tụng hình sự
quan đến các biện pháp này ở các điều luật Việt Nam năm 2015".
40 Khoa học Kiểm sát
Số 05 - 2020
ĐẶNG VĂN THỰC
những người quy định tại điểm c khoản 2 Cần lưu ý, hiện nay có nhiều quan điểm cho
Điều 110 có thể xuất phát từ nguyên nhân
do nhà làm luật đã không để ý đến những
thay đổi cơ bản của quy định về bắt người
tại Bộ luật này so với BLTTHS năm 2003.
Việc quy định này không phải xuất phát
từ nguyên nhân quy định cho họ quyền ra
quyết định tạm giữ với các đối tượng khác
như người bị bắt theo lệnh truy nã, người
bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang9.
Do đó, chúng tôi kiến nghị bỏ nội dung quy
định về thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm
giữ tại Điều 117 theo hướng: Thẩm quyền áp
rằng việc xác định thời điểm tính thời hạn
tạm giữ trong trường hợp này là kể từ khi
Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giữ
người (thể hiện thông qua biên bản giữ
người trong trường hợp khẩn cấp) là chưa
phù hợp với tinh thần của Điều 11811. Tuy
nhiên, thực tế hiện nay rất khó xác định thời
điểm người bị giữ trong trường hợp khẩn
cấp về đến trụ sở của Cơ quan điều tra, Cơ
dụng biện pháp tạm giữ được quy định tại điểm quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
a, b khoản 2 Điều 110 BLTTHS năm 2015.
hoạt động điều tra. Hiện pháp luật tố tụng
hình sự chỉ quy định việc lập biên bản khi
giữ người trong trường hợp khẩn cấp, chưa
quy định việc lập biên bản khi về đến trụ sở
Cơ quan điều tra, Cơ quan tiến hành một số
hoạt động điều tra. Do đó, chúng tôi kiến
nghị bổ sung thêm quy định: Khi Cơ quan
điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra áp giải người về trụ
sở thì phải lập biên bản giao nhận giữ người thi
hành lệnh và đại diện Cơ quan của đơn vị. Việc
+ Điều 117 BLTTHS năm 2015 quy định
thời điểm bắt đầu tính thời hạn tạm giữ như
sau: “Thời hạn tạm giữ không quá 3 ngày kể từ
khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận
người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải người bị
giữ, người bị bắt về trụ sở của mình hoặc kể từ
khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ người
phạm tội tự thú, đầu thú”. Theo quy định này
thì đối với trường hợp tạm giữ người khi
áp dụng biện pháp giữ người, bắt người bị
giữ trong trường hợp khẩn cấp, có hai thời
điểm tính thời điểm bắt đầu của thời hạn quy định như trên sẽ giúp cho Cơ quan có
tạm giữ: Một là, trường hợp Cơ quan điều
tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra nhận người bị giữ
(ví dụ trường hợp nhận người bị giữ trên tàu
bay, tàu biển) thì thời điểm bắt đầu tính thời
hạn tạm giữ là thời điểm ghi trên biên bản
bàn giao. Hai là, trường hợp Cơ quan điều
tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra trực tiếp thực
hiện lệnh giữ người trong trường hợp khẩn
cấp thì thời điểm bắt đầu thời hạn tạm giữ
là khi áp giải người đó về trụ sở của mình10.
thẩm quyền xác định được cụ thể, chính xác
thời điểm bắt đầu tính thời hạn tạm giữ khi
áp dụng biện pháp giữ người, bắt người bị
giữ trong trường hợp khẩn cấp./.
tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp giữ
người trong trường hợp khẩn cấp và thực hiện việc
áp giải người đó về trụ sở của mình (giữ người ở các
địa điểm xa trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra,
việc đi lại khó khăn, mất nhiều thời gian di chuyển
như vùng rừng núi, hải đảo hoặc ở ngoài tỉnh...) thì
thời hạn tạm giữ được tính từ khi áp giải người bị giữ
trong trường hợp khẩn cấp đó về đến trụ sở Cơ quan
9ꢀ. Xem: TS. Vũ Gia Lâm, tlđd.
10ꢀ.
Xem hướng dẫn tại Điều 17 Công văn 5024/ điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
VKSTC-V14 giải đáp vướng mắc liên quan đến quy số hoạt động điều tra”.
định của Bộ luật tố tụng hình sự và nghiệp vụ thực 11.ꢀ ThS. Nguyễn Quốc Hân, Những vướng mắc khi áp
hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ án dụng quy định về giữ người trong trường hợp khẩn cấp
hình sự trong ngành Kiểm sát nhân dân: “Trường và thủ tục bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp,
hợp Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ Tạp chí Kiểm sát số 15/2018.
Số 05 - 2020
Khoa học Kiểm sát 41
Bạn đang xem tài liệu "Biện pháp giữ người, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bien_phap_giu_nguoi_bat_nguoi_bi_giu_trong_truong_hop_khan_c.pdf

