Một số bất cập, vướng mắc về thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng trong luật đất đai năm 2013

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Thị Dung  
MỘT SỐ BẤT CẬP, VƯỚNG MẮC VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG,  
GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TRONG LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2013  
A NUMBER OF SHORTCOMINGS, ISSUES ON LAND RECOVERY, COMPENSATION,  
AND CLEARANCE IN THE 2013 LAND LAW  
NGUYỄN THỊ DUNG  
TÓM TẮT: Luật Đất đai năm 2013 được ban hành trên cơ sở tổng kết, đánh giá các quy định phù  
hợp, chưa phù hợp của Luật Đất đai năm 2003 để có những sửa đổi, bổ sung cần thiết. Tuy nhiên,  
đạo luật này đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, trong đó có các quy định về thu hồi, bồi thường  
giải phóng mặt bằng. Phân tích những hạn chế và đưa ra những giải pháp tháo gỡ là nội dung mà  
tác giả đề xuất trong bài viết.  
Từ khóa: bất cập; vướng mắc; thu hồi đất; bồi thường; giải phóng mặt bằng.  
ABSTRACT: The 2013 Land Law was issued on the basis of summing up and evaluating the  
appropriate and inappropriate regulations of the 2003 Land Law to make necessary amendments  
and supplements. However, this law has revealed the limitations and shortcomings, including  
regulations on land recovery, compensation and clearance. Analysis on the limitations and  
proposing solutions to improve is the content that the author proposes in this article.  
Key words: shortcoming; issue; land recovery; compensation; land clearance.  
dụng đất. Thông qua pháp luật, Nhà nước cho  
phép người sử dụng đất được chuyển quyền sử  
dụng đất. Bằng cách đó - quyền sử dụng đất trở  
thành một loại tài sản tư, tham gia vào các giao  
dịch trên thị trường. Song các chủ thể này cũng  
có thể bị Nhà nước thu lại quyền sử dụng đất vì  
nhiều lý do khác nhau, như người sử dụng đất  
vi phạm pháp luật về đất đai, chấm dứt việc sử  
dụng đất theo quy định của pháp luật, tự  
nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng  
con người. Nhằm giải quyết nhu cầu tạo ra quỹ  
đất sạch cho bảo vệ an ninh, quốc phòng và  
phát triển kinh tế vì lợi ích quốc gia, công cộng,  
Nhà nước tiến hành thu hồi đất, bồi thường,  
giải phóng mặt bằng. Trong phạm vi đó, người  
có đất bị thu hồi sẽ được hưởng chính sách bồi  
thường, hỗ trợ. Nếu bị thu hồi đất ở và đáp ứng  
các điều kiện mà pháp luật quy định, còn được  
bố trí tái định cư. Pháp luật trong lĩnh vực này  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Bồi thường giải phóng mặt bằng là một  
nội dung quan trọng của pháp luật đất đai.  
Trong quá trình thực thi gặp không ít những  
khó khăn, thách thức, là sự không đồng thuận  
của người bị thu hồi đất đối với phương án bồi  
thường hỗ trợ, tái định cư. Bài viết tập trung  
nghiên cứu, đánh giá những bất cập, hạn chế  
của pháp luật trong lĩnh vực này và sự cần thiết  
phải sửa đổi Luật Đất đai trong thời gian tới.  
2. NỘI DUNG  
Những bất cập của quy định pháp luật về  
thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng  
khi Nhà nước thu hồi đất. Trên nền tảng của  
chế độ sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện  
chủ sở hữu, nhưng thực tế Nhà nước không  
trực tiếp sử dụng đất mà tiến hành trao quyền  
sử dụng đất cho các chủ thể dưới hình thức  
giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử  
 TS. Trường Đại học Luật Hà Nội, [email protected], Mã số: TCKH27-23-2021  
42  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 27, Tháng 5 - 2021  
vẫn còn những vấn đề nhất định cần phải tiếp  
tục thay đổi để đảm bảo sự công bằng hơn nữa  
giữa các lợi ích trong xã hội.  
Không có đất để bồi thường hoặc nếu có  
thì trong một số trường hợp giá trị của đất được  
bồi thường với đất bị thu hồi có sự chênh lệch  
nhất định. Hiện nay, nhóm đất nông nghiệp  
ngày càng giảm, nhóm đất phi nông nghiệp  
ngày càng tăng [3]. Dân số tăng, kinh tế - xã  
hội ngày càng phát triển đòi hỏi nhu cầu về đất  
tất yếu tăng lên để phục vụ cho nhu cầu dân cư  
và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để  
tăng diện tích đất phi nông nghiệp, phải chuyển  
mục đích từ nhóm đất nông nghiệp. Quy định  
“đất đổi đất” là không khả thi vì thực tế quỹ đất  
nhiều nơi không còn đặc biệt là nhóm đất nông  
nghiệp, trong đó đáng lưu tâm nhất là đất trồng  
lúa và đất trồng cây hằng năm khác, đất làm  
muối, đất nuôi trồng thủy sản và các loại đất  
rừng. Việc không được bồi thường bằng đất mà  
được bồi thường bằng tiền và các khoản hỗ trợ  
như hiện nay không phát huy nhiều giá trị do  
việc sử dụng tiền không hiệu quả. Bồi thường bằng  
đất có lợi hơn bồi thường bằng tiền đặc biệt là  
đối với nhóm đất có khả năng sinh lợi như đất  
ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp.  
Giá đất bồi thường hiện nay được xác định tại  
thời điểm có quyết định thu hồi mà không tính  
đến giá trị sinh lợi lâu dài của đất.  
2.1. Những vướng mắc về thu hồi đất  
Thứ nhất, hầu hết các dự án thu hồi đất  
đều xảy ra tình trạng khiếu kiện, trong đó, có  
khiếu kiện đông người, vì họ cho rằng, việc bồi  
thường chưa thỏa đáng, đời sống không đảm  
bảo. Những ảnh hưởng có thể thấy rõ như: 1) Diện  
tích đất nông nghiệp bị giảm sút dẫn đến diện  
tích đất nông nghiệp bình quân đầu người cũng  
giảm; 2) Người nông dân mất tư liệu sản xuất,  
dẫn đến mất việc làm, nhưng lại không có cơ  
hội và không có đủ điều kiện để tìm được một  
việc làm mới; 3) Tiền bồi thường từ đất đã không  
được nông dân sử dụng đúng cách, sau một thời  
gian, họ không còn gì trong tay, tiền hết, tư liệu  
sản xuất không còn, không việc làm, không thu  
nhập; 4) Dòng di chuyển lao động từ nông thôn  
ra thành thị ngày càng lớn và gây ra các hệ lụy  
về kinh tế - xã hội là điều không tránh khỏi; 5)  
Môi trường sống của người dân tại những vùng  
có xây dựng khu công nghiệp bị ảnh hưởng  
nghiêm trọng; 6) Khi tiến hành thu hồi đất nông  
nghiệp sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế,  
chính quyền địa phương chưa giải quyết tốt  
được cơ chế chuyển dịch cơ cấu ngành nghề;  
nạn thất nghiệp, kéo theo sự nghèo đói…[2].  
Thứ hai, về việc thực hiện kế hoạch thu  
hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm tài  
sản. Một thực tế phát sinh đó là trong số các hộ  
dân đều có diện tích xây dựng sau khi đã có  
chủ trương thu hồi đất, mục đích chính của việc  
làm này là để “chờ” được dự án bồi thường.  
Thứ ba, về việc gửi thông báo và quyết  
định thu hồi đất. Trong quá trình thực hiện các  
thủ tục thu hồi đất ở nhiều địa phương, cơ quan  
có thẩm quyền đã không gửi quyết định thu hồi  
đất đến các các hộ dân có đất bị thu hồi như  
Luật Đất đai đã quy định, mà chỉ phát hành  
thông báo thu hồi đất…  
2.3. Những vướng mắc về giá đất bồi thường  
Thứ nhất, giá đất nói chung và giá đất cụ  
thể làm căn cứ bồi thường khi Nhà nước thu  
hồi đất nói riêng không phù hợp với giá đất phổ  
biến trên thị trường, thậm chí là thấp hơn thị  
trường rất nhiều dẫn đến tình trạng khiếu nại  
phức tạp khi áp dụng bồi thường, làm ảnh  
hưởng đến quyền lợi của người có đất bị thu  
hồi và tiến độ giải phóng mặt bằng. Theo đó,  
nhiều nơi khung giá đất chỉ bằng 20% giá đất  
thị trường; bảng giá đất chỉ bằng 30-60% giá  
thị trường.  
Thứ hai, việc định giá đất cụ thể mang  
nặng ý chí của Nhà nước. Theo quy định, cơ  
quan quyết định giá đất cụ thể được thuê tư vấn  
xác định giá đất. Kết quả tư vấn là một trong  
những căn cứ quyết định giá đất. Tuy nhiên  
2.2. Những vướng mắc về bồi thường khi  
Nhà nước thu hồi đất  
43  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Thị Dung  
Luật Đất đai đã không quy định về giá đất do  
đơn vị tư vấn xác định có giá trị ràng buộc như  
thế nào khi quyết định giá đất. Thực tiễn cho  
thấy, nếu hội đồng thẩm định không thống nhất  
với kết quả tư vấn của đơn vị tư vấn, hội đồng  
yêu cầu đơn vị tư vấn xác định lại theo định  
hướng của hội đồng. Sẽ là minh bạch hơn, nếu  
giá đất do đơn vị tư vấn xác định được công  
khai cho người bị thu hồi đất được biết. Trường  
hợp không có sự đồng thuận, giá đất sẽ được  
xác định bởi đơn vị tư vấn giá đất độc lập.  
Thứ ba, giá đất cụ thể nhiều nơi không  
phải do ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định  
mà do ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định.  
Luật Đất đai năm 2013 quy định giá đất cụ thể  
do ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định nhưng  
một số ủy ban nhân dân cấp tỉnh lại căn cứ điều  
14 Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày  
19-6-2015 để ủy quyền cho ủy ban nhân dân  
cấp huyện quyết định giá đất cụ thể [9].  
không có diện tích đất nông nghiệp mới để  
giao, khó đi vào cuộc sống. Việc hỗ trợ, đào tạo  
chuyển đổi nghề nghiệp chỉ dừng lại bằng hình  
thức hỗ trợ bằng tiền để người bị thu hồi đất tự  
lo tìm kiếm việc làm mới, đa số người dân mất  
đất không sử dụng khoản tiền hỗ trợ đó để đầu  
tư vào sản xuất mà dùng vào mục đích sinh  
hoạt hằng ngày. Khi tiền hết, tư liệu sản xuất  
không còn, người dân rất khó có thể hòa nhập  
với tình hình mới, khó có thể làm một công  
việc mới khi mà đã quen với việc canh tác  
truyền thống, dẫn đến sau thu hồi đất đời sống  
của người dân không được cải thiện.  
2.5. Những vướng mắc trong hoạt động hỗ  
trợ, tái định cư  
2.5.1. Thiếu quan tâm đến hạ tầng xã hội  
Đánh giá chung về nhà tái định cư, đại  
diện sở xây dựng các tỉnh cho biết: chất lượng  
quỹ nhà tái định cư còn nhiều hạn chế. Các khu  
nhà tái định cư chưa được quy hoạch chi tiết,  
đồng bộ bao gồm hạ tầng kỹ thuật gắn liền hạ  
tầng xã hội như nhà trẻ, trường học, chợ, khu  
vui chơi, giải trí...  
2.4. Những vướng mắc về giải phóng mặt bằng  
Thứ nhất, về thời hạn bàn giao mặt bằng.  
Theo điểm b Khoản 3, điều 69, Luật Đất đai  
năm 2013, thời hạn bàn giao mặt bằng của  
người dân có đất thu hồi là không cố định, có  
thể 20 ngày, 30 ngày hoặc nhiều hơn... tùy theo  
yêu cầu tiến độ thực hiện của từng dự án.  
Trường hợp người có đất thu hồi không bàn  
giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường,  
giải phóng mặt bằng thì cơ quan tổ chức có  
thẩm quyền tổ chức vận động, thuyết phục để  
người có đất thu hồi thực hiện.  
2.5.2. Tình trạng thiếu nhà ở, đất ở tái định  
cư vẫn là một trở ngại chưa được khắc phục  
Tái định cư không chỉ là một chế định  
pháp luật mà còn là một chính sách an sinh xã  
hội của Nhà nước ta đối với những người bị thu  
hồi đất phải di chuyển chỗ ở. Theo quy định  
của pháp luật hiện hành, khu tái định cư phải  
được hoàn thành xong trước khi di dời dân khỏi  
nơi ở cũ. Đây là một quy định thể hiện được sự  
quan tâm của Nhà nước ta đối với người phải di  
chuyển chỗ ở nhằm bước đầu tạo lập cho họ  
một cuộc sống mới. Quy định này trên thực tế  
không được thực hiện nghiêm túc, làm ảnh hưởng  
đến uy tín của Nhà nước cũng như gây nên tình  
trạng người dân không chấp hành đúng chủ  
trương di dân tái định cư của Nhà nước.  
Thứ hai, vẫn còn trường hợp người dân  
phản đối việc giải phóng mặt bằng do không  
đồng ý với chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái  
định cư của Nhà nước. Giá đất do ủy ban nhân  
dân cấp tỉnh công bố theo quy định của Luật  
Đất đai hiện vẫn còn thấp hơn rất nhiều so với  
giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế  
trên thị trường.  
2.5.3. Tình trạng mua, bán suất tái định cư  
còn diễn ra phổ biến  
Thứ ba, các quy định về đào tạo chuyển  
đổi nghề nghiệp cho người trực tiếp sản xuất  
nông nghiệp bị thu hồi đất nông nghiệp mà  
Trong quá trình Nhà nước thu hồi đất, chỉ  
có một bộ phận người bị thu hồi đất được tái  
44  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 27, Tháng 5 - 2021  
định cư. Những người thuộc đối tượng này phải  
đáp ứng được một số yêu cầu nhất định, trong  
đó có yêu cầu về việc họ không còn chỗ ở nào  
khác, có nghĩa là sau khi bị thu hồi đất thì nơi  
được bố trí tái định cư. Có một thực tế hiện nay  
tại các khu tái định cư, nhất là tại các khu bố trí  
tái định cư bằng nhà ở, tình trạng mua, bán suất  
tái định cư diễn ra còn phổ biến.  
mà còn gắn liền với truyền thống dòng họ, tâm  
linh tín ngưỡng, tôn giáo, phong thủy…  
Thứ hai, nhiều vụ việc giải quyết khiếu nại  
không kịp thời, kéo dài, không chính xác, thậm  
chí là áp đặt dẫn đến tình trạng người có đất bị  
thu hồi bức xúc, khiếu nại đông người, vượt  
cấp làm cho quá trình giải quyết khiếu nại kéo  
dài, phức tạp, chậm bàn giao mặt bằng kéo dài  
tiến độ triển khai dự án gây thiệt hại cho các  
bên liên quan.  
2.6. Nguyên nhân của những vướng mắc  
trong quy định pháp luật về thu hồi đất, bồi  
thường và giải phóng mặt bằng khi Nhà  
nước thu hồi đất  
Thứ ba, việc xử lý các dự án “treo”, dự án  
chậm tiến độ chưa nghiêm minh và triệt để dẫn  
đến nhiều diện tích đất bị bỏ hoang, gây lãng  
phí, trong khi người dân không có đất sản xuất.  
Nhiều trường hợp, người bị thu hồi đất cho  
rằng, việc thu hồi đất cho các dự án này mang  
tính áp đặt, bồi thường không thỏa đáng nhưng  
lại bỏ hoang dẫn đến việc họ cảm thấy bị tổn  
thương “xót đất”, từ đó dẫn khiếu nại và tâm lý  
chống đối những dự án tương tự tiếp theo [5].  
Thứ tư, việc thực hiện các khâu từ thông  
báo thu hồi đất đến khi ban hành quyết định  
phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ, tái  
định cư trong nhiều trường hợp còn chậm trễ,  
chưa đảm bảo đúng quyền lợi của người bị thu  
hồi đất. Điều này do cán bộ thực hiện công tác  
bồi thường chưa làm hết trách nhiệm, năng lực  
chuyên môn chưa đáp ứng được yêu cầu của  
nhiệm vụ.  
2.6.1. Nguyên nhân khách quan  
Thứ nhất, nhiều quy định hiện hành về thu  
hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng khi  
Nhà nước thu hồi đất không phù hợp với thực  
tiễn và không đảm bảo được quyền tài sản của  
người bị thu hồi đất. Việc chưa có những tiêu chí  
cụ thể về xác định mục đích phát triển kinh tế - xã  
hội vì lợi ích quốc gia, công cộng đã dẫn đến tình  
trạng lợi dụng quy định này để mang lại lợi ích  
cho tư nhân. Các quy định về thu hồi và bồi  
thường còn thiếu minh bạch, giá đất bồi thường  
thấp và không phù hợp với giá thị trường [4].  
Thứ hai, cơ chế xác định bồi thường thể  
hiện sự áp đặt bởi ý chí của Nhà nước. Người  
có đất bị thu hồi mặc dù là chủ tài sản nhưng  
lại không được quyết định giá đất hoặc tham  
gia vào việc đánh giá đất một cách thực chất.  
Trong khi, kết quả tư vấn giá đất của đơn vị tư  
vấn cũng chỉ mang tính tham khảo, cơ quan  
quyết định cuối cùng vẫn là Nhà nước. Bên  
cạnh đó, quy trình định giá đất từ khi đơn vị tư  
vấn tham gia, đưa ra giá tư vấn đến khi quyết  
định giá đất thiếu công khai, minh bạch.  
2.7. Một số đề xuất hoàn thiện quy định  
pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, giải  
phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất  
2.7.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về căn  
cứ thu hồi đất  
Một trong những nguyên nhân dẫn đến  
bức xúc, khiếu nại khi thu hồi đất là người có  
đất bị thu hồi cho rằng, trong nhiều trường hợp  
Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã  
hội vì lợi ích quốc gia, công cộng nhưng thực  
chất là thu hồi đất vì lợi ích của tư nhân, chủ  
đầu tư và chèn ép người có đất bị thu hồi. Phổ  
biến nhất là tình trạng thu hồi đất giao cho tư  
nhân đầu tư phân lô bán nền, xây dựng nhà và  
2.6.2. Nguyên nhân chủ quan  
Thứ nhất, ý thức hệ và tâm lý gắn bó với  
đất, gắn bó với nơi “chôn rau cắt rốn” và ngại  
thay đổi nơi cư trú sản xuất của người Việt ở  
những mức độ khác nhau đều coi trọng đời  
sống tâm linh tín ngưỡng, tôn giáo. Đất đai đối  
với người dân Việt Nam không chỉ là không gian  
sống là tư liệu sản xuất, là địa điểm kinh doanh  
45  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Thị Dung  
các trung tâm thương mại - dịch vụ để bán cho  
thuê với lợi nhuận rất cao so với số tiền bỏ ra  
để bồi thường. Điều 62 Luật Đất đai năm 2013  
quy định căn cứ thu hồi đất để phát triển kinh tế  
- xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên cơ  
sở quyết định chủ trương đầu tư, chấp thuận  
đầu tư, quyết định đầu tư của từng dự án mà  
không căn cứ đối tượng được sử dụng đất sau  
thu hồi là Nhà nước hay tư nhân. Nếu chủ đầu  
tư là tư nhân, Nhà nước đã thu hồi đất cho tư  
nhân và lợi ích mang lại cho tư nhân, đây là  
nguyên nhân dẫn đến sự phản đối quyết liệt của  
người có đất bị thu hồi [6].  
thường yêu cầu về tính công khai, minh bạch  
công bằng trong thu hồi và bồi thường. Cụ thể:  
Thứ nhất, cần quy định giá đất làm căn cứ  
bồi thường là giá thị trường; giá trị trường cũng  
được áp dụng để bồi thường trong trường hợp  
chuyển dịch đất đai bắt buộc và chuyển dịch  
đất đai tự nguyện [7]. Nghị quyết số 19-NQ/TW  
và Bộ Luật Dân sự năm 2015 đã xác định quyền  
sử dụng đất là một loại tài sản và là hàng hóa  
đặc biệt. Cần quy định giá đất bồi thường trong  
trường hợp bồi thường bằng tiền. Nhà nước có  
quyền đơn phương thu hồi đất vì mục đích  
quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế - xã hội  
vì lợi ích quốc gia, công cộng, nhưng quyền sử  
dụng đất được trao cho người sử dụng đất là tài  
sản của họ. Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và  
là chủ thể trong “giao dịch” thu hồi đất. Người  
sử dụng đất là chủ thể đối với tài sản của mình  
được pháp luật bảo hộ [8].  
Sự không đồng thuận của người có đất bị  
thu hồi, của dư luận xuất phát từ căn nguyên ai là  
chủ sử dụng đất sau khi thu hồi, lợi ích chính  
mang lại sau khi thu hồi đất rơi vào đối tượng thụ  
hưởng nào (xã hội hay nhóm lợi ích thiểu số). Vì  
thế, cần sửa đổi, bổ sung căn cứ thu hồi đất để  
phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia,  
công cộng, theo hướng Nhà nước chỉ thu hồi  
đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc  
gia, công cộng, nếu chủ đầu tư dự án là Nhà  
nước. Tức là, cần xác định người được sử dụng  
đất sau thu hồi là ai và lợi ích thực sự mang lại  
sau khi thu hồi đất cho ai, chứ không phải dự  
án do cơ quan Nhà nước quyết định chủ trương  
đầu tư, chấp thuận đầu tư quyết định đầu tư.  
Đối với các dự án mà chủ đầu tư là tư nhân thì  
áp dụng các hình thức theo quy định tại điều 73  
Luật Đất đai năm 2013 (nhà đầu tư phải thỏa  
thuận để nhận quyền sử dụng đất thông qua các  
giao dịch trên thị trường).  
Thứ hai, cần quy định giá đất do đơn vị tư  
vấn xác định phải được công khai trước khi  
trình cơ quan xác định giá đất làm căn cứ bồi  
thường và đại diện những người bị thu hồi đất  
được tham gia vào quá trình xác định giá đất  
với tư cách là một thành viên của hội đồng xác  
định giá đất. Trường hợp giữa đại diện người  
có đất bị thu hồi, đơn vị tư vấn và cơ quan xác  
định giá đất không thống nhất về giá đất thì  
thuê đơn vị tư vấn giá đất độc lập để xác định.  
Thứ ba, ban hành quy định nghiêm cấm ủy  
ban nhân dân cấp tỉnh ủy quyền cho ủy ban nhân  
dân cấp huyện quyết định giá đất cụ thể làm  
căn cứ bồi thường. Ủy ban nhân dân cấp huyện  
có thể sâu sát, hiểu rõ giá đất trên thị trường ở  
địa phương. Đội ngũ tham mưu cho việc quyết  
định giá đất có thể không đảm bảo chuyên môn  
về giá như các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh.  
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá đất cụ  
thể trên cơ sở tham khảo giá do ủy ban nhân  
dân cấp huyện đề xuất.  
2.7.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về nguyên  
tắc bồi thường đất khi Nhà nước thu hồi đất  
Điều 74 Luật Đất đai năm 2013 quy định  
các nguyên tắc bồi thường về đất, trong nội  
dung của từng nguyên tắc lại quy định cụ thể  
những vấn đề cơ bản cốt lõi của bồi thường khi  
Nhà nước thu hồi đất, đó là điều kiện để được  
bồi thường về đất, giá đất làm căn cứ bồi  
thường cần xác định loại đất thu hồi và bồi  
2.7.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều kiện  
bồi thường về đất đai Nhà nước thu hồi đất  
46  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 27, Tháng 5 - 2021  
Liên quan đến điều kiện bồi thường về đất,  
vướng mắc phổ biến hiện nay là xem xét bồi  
thường đối với đất không có giấy tờ về quyền  
sử dụng đất nhưng người sử dụng đất đã hoặc  
đang sử dụng. Đối với loại đất này, theo quy  
định tại điều 75, điều 101 Luật Đất đai năm  
2013, Nhà nước sẽ bồi thường nếu đất đủ điều  
kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,  
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với  
đất. Để được cấp giấy chứng nhận quyền sử  
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn  
liền với đất thì phải được ủy ban nhân dân cấp  
xã nơi có đất xác định là đất sử dụng ổn định,  
không có tranh chấp.  
họ. Trong trường hợp này, việc có được bồi thường  
hay không, hoàn toàn phụ thuộc vào sự xác nhận  
đó. Khi xác nhận đất không có tranh chấp, cần  
được hiểu là tại thời điểm ủy ban nhân dân cấp  
xã xác nhận không có ai tranh chấp với người  
sử dụng đất; Không có người nào gửi đơn đến  
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền yêu cầu giải  
quyết tranh chấp. Để loại trừ những tranh chấp  
và mâu thuẫn không đáng có, việc xác nhận  
cho người sử dụng đất là sử dụng đất ổn định  
cần lấy ý kiến của những người sinh sống cùng  
thôn xóm, ấp, bản, tổ dân phố, khu tập thể biết  
rõ về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất để xác  
định thời điểm sử dụng đất. Những người được  
lấy ý kiến phải có đủ năng lực hành vi dân sự  
Khái niệm đất sử dụng ổn định theo quy  
địnhtạiKhoản1,điều21Nghịđịnhsố43/2014/NĐ-CP theo quy định của pháp luật dân sự tại thời  
như sau: Sử dụng đất ổn định là việc sử dụng  
đất liên tục vào một mục đích nhất định kể từ  
thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó  
đến thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử  
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác  
gắn liền với đất hoặc đến thời điểm quyết định  
thu hồi đất. Đây là điều hết sức bất hợp lý [1].  
Thứ nhất, quy định điều kiện để được bồi  
thường về đất trong trường hợp người sử dụng  
đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất cần  
căn cứ vào thời điểm bắt đầu sử dụng đất, căn  
cứ xác lập quyền sử dụng đất chứ không bắt  
buộc đất đó phải được sử dụng liên tục. Nếu tại  
thời điểm sử dụng đất là hợp pháp, chưa bị cơ  
quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất,  
chưa chấm dứt quyền sử dụng đất thông qua  
việc tặng cho, chuyển nhượng hoặc trả lại đất  
cho Nhà nước, thì được bồi thường. Quyền sử  
dụng đất của họ đã được xác lập kể từ thời  
điểm bắt đầu sử dụng. Việc người sử dụng đất  
không sử dụng trong một thời gian dẫn đến đất  
tình trạng sử dụng thiếu ổn định, không nên xác  
định là căn cứ cho việc bồi thường.  
điểm mà người sử dụng đất cho rằng bắt đầu sử  
dụng đất và tại thời điểm lấy ý kiến.  
3. KẾT LUẬN  
Thu hồi đất để phục vụ cho mục đích quốc  
phòng an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi  
ích quốc gia, công cộng là nhu cầu tất yếu  
khách quan. Với vai trò là chủ thể của quyền  
lực công, Nhà nước có quyền thu hồi đất để sử  
dụng cho các mục đích này dựa trên những căn  
cứ do pháp luật quy định. Việc thu hồi đất sẽ  
gây ra những thiệt hại cho người có đất bị thu  
hồi, đồng thời làm phát sinh mối quan hệ lợi  
ích cần được giải quyết giữa Nhà nước, nhà đầu  
tư và người bị thu hồi đất. Mặc dù đất đai thuộc  
sở hữu toàn dân nhưng quyền sử dụng đất là tài  
sản thuộc về người sử dụng đất. Cần có trách  
nhiệm bồi thường những thiệt hại, thực hiện  
những hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi và giải  
quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích phát sinh  
giữa Nhà nước, nhà đầu tư, người bị thu hồi  
đất và những người được hưởng lợi từ việc thu  
hồi đất. Những công việc đó cần phải đảm bảo  
cho sự công bằng, sự phồn thịnh của mỗi thành  
viên trong xã hội và cho cả nền kinh tế của  
nước nhà.  
Thứ hai, Người sử dụng đất cho rằng, đất  
được sử dụng ổn định không có tranh chấp nhưng  
ủy ban nhân dân cấp xã lại không xác nhận cho  
47  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Thị Dung  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Trần Quang Huy (2017), Bình luận chế định quản lý Nhà nước về đất đai trong Luật Đất đai 2013,  
Nxb Tư pháp.  
[2] Hoàng Thị Thu Phương (2017), Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp, Dân chủ và  
[4] Nguyễn Vinh Diện (2019), Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, Luận án Tiến sĩ  
Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.  
[5] Dương Đức Sinh (2017), Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp và  
thực tiễn thi hành tại thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học  
Luật Hà Nội.  
[7] Trần Quang Huy (2015), Bình luận chế độ quản lý nhà nước về đất đai theo Luật Đất đai 2013,  
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, Trường Đại học Luật Hà Nội.  
[8] Nguyễn Vinh Diện (2019), Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, Luận án Tiến sĩ  
Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.  
[9] Luật Tổ chức chính quyền địa phương, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-  
Ngày nhận bài: 02-5-2021. Ngày biên tập xong: 08-5-2021. Duyệt đăng: 20-5-2021  
48  
pdf 7 trang Thùy Anh 16340 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số bất cập, vướng mắc về thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng trong luật đất đai năm 2013", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_bat_cap_vuong_mac_ve_thu_hoi_dat_boi_thuong_giai_phon.pdf