Một số bất cập, vướng mắc về thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng trong luật đất đai năm 2013
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Nguyễn Thị Dung
MỘT SỐ BẤT CẬP, VƯỚNG MẮC VỀ THU HỒI ĐẤT, BỒI THƯỜNG,
GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TRONG LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2013
A NUMBER OF SHORTCOMINGS, ISSUES ON LAND RECOVERY, COMPENSATION,
AND CLEARANCE IN THE 2013 LAND LAW
NGUYỄN THỊ DUNG
TÓM TẮT: Luật Đất đai năm 2013 được ban hành trên cơ sở tổng kết, đánh giá các quy định phù
hợp, chưa phù hợp của Luật Đất đai năm 2003 để có những sửa đổi, bổ sung cần thiết. Tuy nhiên,
đạo luật này đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, trong đó có các quy định về thu hồi, bồi thường
giải phóng mặt bằng. Phân tích những hạn chế và đưa ra những giải pháp tháo gỡ là nội dung mà
tác giả đề xuất trong bài viết.
Từ khóa: bất cập; vướng mắc; thu hồi đất; bồi thường; giải phóng mặt bằng.
ABSTRACT: The 2013 Land Law was issued on the basis of summing up and evaluating the
appropriate and inappropriate regulations of the 2003 Land Law to make necessary amendments
and supplements. However, this law has revealed the limitations and shortcomings, including
regulations on land recovery, compensation and clearance. Analysis on the limitations and
proposing solutions to improve is the content that the author proposes in this article.
Key words: shortcoming; issue; land recovery; compensation; land clearance.
dụng đất. Thông qua pháp luật, Nhà nước cho
phép người sử dụng đất được chuyển quyền sử
dụng đất. Bằng cách đó - quyền sử dụng đất trở
thành một loại tài sản tư, tham gia vào các giao
dịch trên thị trường. Song các chủ thể này cũng
có thể bị Nhà nước thu lại quyền sử dụng đất vì
nhiều lý do khác nhau, như người sử dụng đất
vi phạm pháp luật về đất đai, chấm dứt việc sử
dụng đất theo quy định của pháp luật, tự
nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng
con người. Nhằm giải quyết nhu cầu tạo ra quỹ
đất sạch cho bảo vệ an ninh, quốc phòng và
phát triển kinh tế vì lợi ích quốc gia, công cộng,
Nhà nước tiến hành thu hồi đất, bồi thường,
giải phóng mặt bằng. Trong phạm vi đó, người
có đất bị thu hồi sẽ được hưởng chính sách bồi
thường, hỗ trợ. Nếu bị thu hồi đất ở và đáp ứng
các điều kiện mà pháp luật quy định, còn được
bố trí tái định cư. Pháp luật trong lĩnh vực này
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bồi thường giải phóng mặt bằng là một
nội dung quan trọng của pháp luật đất đai.
Trong quá trình thực thi gặp không ít những
khó khăn, thách thức, là sự không đồng thuận
của người bị thu hồi đất đối với phương án bồi
thường hỗ trợ, tái định cư. Bài viết tập trung
nghiên cứu, đánh giá những bất cập, hạn chế
của pháp luật trong lĩnh vực này và sự cần thiết
phải sửa đổi Luật Đất đai trong thời gian tới.
2. NỘI DUNG
Những bất cập của quy định pháp luật về
thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng
khi Nhà nước thu hồi đất. Trên nền tảng của
chế độ sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện
chủ sở hữu, nhưng thực tế Nhà nước không
trực tiếp sử dụng đất mà tiến hành trao quyền
sử dụng đất cho các chủ thể dưới hình thức
giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử
42
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 27, Tháng 5 - 2021
vẫn còn những vấn đề nhất định cần phải tiếp
tục thay đổi để đảm bảo sự công bằng hơn nữa
giữa các lợi ích trong xã hội.
Không có đất để bồi thường hoặc nếu có
thì trong một số trường hợp giá trị của đất được
bồi thường với đất bị thu hồi có sự chênh lệch
nhất định. Hiện nay, nhóm đất nông nghiệp
ngày càng giảm, nhóm đất phi nông nghiệp
ngày càng tăng [3]. Dân số tăng, kinh tế - xã
hội ngày càng phát triển đòi hỏi nhu cầu về đất
tất yếu tăng lên để phục vụ cho nhu cầu dân cư
và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để
tăng diện tích đất phi nông nghiệp, phải chuyển
mục đích từ nhóm đất nông nghiệp. Quy định
“đất đổi đất” là không khả thi vì thực tế quỹ đất
nhiều nơi không còn đặc biệt là nhóm đất nông
nghiệp, trong đó đáng lưu tâm nhất là đất trồng
lúa và đất trồng cây hằng năm khác, đất làm
muối, đất nuôi trồng thủy sản và các loại đất
rừng. Việc không được bồi thường bằng đất mà
được bồi thường bằng tiền và các khoản hỗ trợ
như hiện nay không phát huy nhiều giá trị do
việc sử dụng tiền không hiệu quả. Bồi thường bằng
đất có lợi hơn bồi thường bằng tiền đặc biệt là
đối với nhóm đất có khả năng sinh lợi như đất
ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp.
Giá đất bồi thường hiện nay được xác định tại
thời điểm có quyết định thu hồi mà không tính
đến giá trị sinh lợi lâu dài của đất.
2.1. Những vướng mắc về thu hồi đất
Thứ nhất, hầu hết các dự án thu hồi đất
đều xảy ra tình trạng khiếu kiện, trong đó, có
khiếu kiện đông người, vì họ cho rằng, việc bồi
thường chưa thỏa đáng, đời sống không đảm
bảo. Những ảnh hưởng có thể thấy rõ như: 1) Diện
tích đất nông nghiệp bị giảm sút dẫn đến diện
tích đất nông nghiệp bình quân đầu người cũng
giảm; 2) Người nông dân mất tư liệu sản xuất,
dẫn đến mất việc làm, nhưng lại không có cơ
hội và không có đủ điều kiện để tìm được một
việc làm mới; 3) Tiền bồi thường từ đất đã không
được nông dân sử dụng đúng cách, sau một thời
gian, họ không còn gì trong tay, tiền hết, tư liệu
sản xuất không còn, không việc làm, không thu
nhập; 4) Dòng di chuyển lao động từ nông thôn
ra thành thị ngày càng lớn và gây ra các hệ lụy
về kinh tế - xã hội là điều không tránh khỏi; 5)
Môi trường sống của người dân tại những vùng
có xây dựng khu công nghiệp bị ảnh hưởng
nghiêm trọng; 6) Khi tiến hành thu hồi đất nông
nghiệp sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế,
chính quyền địa phương chưa giải quyết tốt
được cơ chế chuyển dịch cơ cấu ngành nghề;
nạn thất nghiệp, kéo theo sự nghèo đói…[2].
Thứ hai, về việc thực hiện kế hoạch thu
hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm tài
sản. Một thực tế phát sinh đó là trong số các hộ
dân đều có diện tích xây dựng sau khi đã có
chủ trương thu hồi đất, mục đích chính của việc
làm này là để “chờ” được dự án bồi thường.
Thứ ba, về việc gửi thông báo và quyết
định thu hồi đất. Trong quá trình thực hiện các
thủ tục thu hồi đất ở nhiều địa phương, cơ quan
có thẩm quyền đã không gửi quyết định thu hồi
đất đến các các hộ dân có đất bị thu hồi như
Luật Đất đai đã quy định, mà chỉ phát hành
thông báo thu hồi đất…
2.3. Những vướng mắc về giá đất bồi thường
Thứ nhất, giá đất nói chung và giá đất cụ
thể làm căn cứ bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất nói riêng không phù hợp với giá đất phổ
biến trên thị trường, thậm chí là thấp hơn thị
trường rất nhiều dẫn đến tình trạng khiếu nại
phức tạp khi áp dụng bồi thường, làm ảnh
hưởng đến quyền lợi của người có đất bị thu
hồi và tiến độ giải phóng mặt bằng. Theo đó,
nhiều nơi khung giá đất chỉ bằng 20% giá đất
thị trường; bảng giá đất chỉ bằng 30-60% giá
thị trường.
Thứ hai, việc định giá đất cụ thể mang
nặng ý chí của Nhà nước. Theo quy định, cơ
quan quyết định giá đất cụ thể được thuê tư vấn
xác định giá đất. Kết quả tư vấn là một trong
những căn cứ quyết định giá đất. Tuy nhiên
2.2. Những vướng mắc về bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất
43
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Nguyễn Thị Dung
Luật Đất đai đã không quy định về giá đất do
đơn vị tư vấn xác định có giá trị ràng buộc như
thế nào khi quyết định giá đất. Thực tiễn cho
thấy, nếu hội đồng thẩm định không thống nhất
với kết quả tư vấn của đơn vị tư vấn, hội đồng
yêu cầu đơn vị tư vấn xác định lại theo định
hướng của hội đồng. Sẽ là minh bạch hơn, nếu
giá đất do đơn vị tư vấn xác định được công
khai cho người bị thu hồi đất được biết. Trường
hợp không có sự đồng thuận, giá đất sẽ được
xác định bởi đơn vị tư vấn giá đất độc lập.
Thứ ba, giá đất cụ thể nhiều nơi không
phải do ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định
mà do ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định.
Luật Đất đai năm 2013 quy định giá đất cụ thể
do ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định nhưng
một số ủy ban nhân dân cấp tỉnh lại căn cứ điều
14 Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày
19-6-2015 để ủy quyền cho ủy ban nhân dân
cấp huyện quyết định giá đất cụ thể [9].
không có diện tích đất nông nghiệp mới để
giao, khó đi vào cuộc sống. Việc hỗ trợ, đào tạo
chuyển đổi nghề nghiệp chỉ dừng lại bằng hình
thức hỗ trợ bằng tiền để người bị thu hồi đất tự
lo tìm kiếm việc làm mới, đa số người dân mất
đất không sử dụng khoản tiền hỗ trợ đó để đầu
tư vào sản xuất mà dùng vào mục đích sinh
hoạt hằng ngày. Khi tiền hết, tư liệu sản xuất
không còn, người dân rất khó có thể hòa nhập
với tình hình mới, khó có thể làm một công
việc mới khi mà đã quen với việc canh tác
truyền thống, dẫn đến sau thu hồi đất đời sống
của người dân không được cải thiện.
2.5. Những vướng mắc trong hoạt động hỗ
trợ, tái định cư
2.5.1. Thiếu quan tâm đến hạ tầng xã hội
Đánh giá chung về nhà tái định cư, đại
diện sở xây dựng các tỉnh cho biết: chất lượng
quỹ nhà tái định cư còn nhiều hạn chế. Các khu
nhà tái định cư chưa được quy hoạch chi tiết,
đồng bộ bao gồm hạ tầng kỹ thuật gắn liền hạ
tầng xã hội như nhà trẻ, trường học, chợ, khu
vui chơi, giải trí...
2.4. Những vướng mắc về giải phóng mặt bằng
Thứ nhất, về thời hạn bàn giao mặt bằng.
Theo điểm b Khoản 3, điều 69, Luật Đất đai
năm 2013, thời hạn bàn giao mặt bằng của
người dân có đất thu hồi là không cố định, có
thể 20 ngày, 30 ngày hoặc nhiều hơn... tùy theo
yêu cầu tiến độ thực hiện của từng dự án.
Trường hợp người có đất thu hồi không bàn
giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường,
giải phóng mặt bằng thì cơ quan tổ chức có
thẩm quyền tổ chức vận động, thuyết phục để
người có đất thu hồi thực hiện.
2.5.2. Tình trạng thiếu nhà ở, đất ở tái định
cư vẫn là một trở ngại chưa được khắc phục
Tái định cư không chỉ là một chế định
pháp luật mà còn là một chính sách an sinh xã
hội của Nhà nước ta đối với những người bị thu
hồi đất phải di chuyển chỗ ở. Theo quy định
của pháp luật hiện hành, khu tái định cư phải
được hoàn thành xong trước khi di dời dân khỏi
nơi ở cũ. Đây là một quy định thể hiện được sự
quan tâm của Nhà nước ta đối với người phải di
chuyển chỗ ở nhằm bước đầu tạo lập cho họ
một cuộc sống mới. Quy định này trên thực tế
không được thực hiện nghiêm túc, làm ảnh hưởng
đến uy tín của Nhà nước cũng như gây nên tình
trạng người dân không chấp hành đúng chủ
trương di dân tái định cư của Nhà nước.
Thứ hai, vẫn còn trường hợp người dân
phản đối việc giải phóng mặt bằng do không
đồng ý với chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư của Nhà nước. Giá đất do ủy ban nhân
dân cấp tỉnh công bố theo quy định của Luật
Đất đai hiện vẫn còn thấp hơn rất nhiều so với
giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế
trên thị trường.
2.5.3. Tình trạng mua, bán suất tái định cư
còn diễn ra phổ biến
Thứ ba, các quy định về đào tạo chuyển
đổi nghề nghiệp cho người trực tiếp sản xuất
nông nghiệp bị thu hồi đất nông nghiệp mà
Trong quá trình Nhà nước thu hồi đất, chỉ
có một bộ phận người bị thu hồi đất được tái
44
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 27, Tháng 5 - 2021
định cư. Những người thuộc đối tượng này phải
đáp ứng được một số yêu cầu nhất định, trong
đó có yêu cầu về việc họ không còn chỗ ở nào
khác, có nghĩa là sau khi bị thu hồi đất thì nơi
được bố trí tái định cư. Có một thực tế hiện nay
tại các khu tái định cư, nhất là tại các khu bố trí
tái định cư bằng nhà ở, tình trạng mua, bán suất
tái định cư diễn ra còn phổ biến.
mà còn gắn liền với truyền thống dòng họ, tâm
linh tín ngưỡng, tôn giáo, phong thủy…
Thứ hai, nhiều vụ việc giải quyết khiếu nại
không kịp thời, kéo dài, không chính xác, thậm
chí là áp đặt dẫn đến tình trạng người có đất bị
thu hồi bức xúc, khiếu nại đông người, vượt
cấp làm cho quá trình giải quyết khiếu nại kéo
dài, phức tạp, chậm bàn giao mặt bằng kéo dài
tiến độ triển khai dự án gây thiệt hại cho các
bên liên quan.
2.6. Nguyên nhân của những vướng mắc
trong quy định pháp luật về thu hồi đất, bồi
thường và giải phóng mặt bằng khi Nhà
nước thu hồi đất
Thứ ba, việc xử lý các dự án “treo”, dự án
chậm tiến độ chưa nghiêm minh và triệt để dẫn
đến nhiều diện tích đất bị bỏ hoang, gây lãng
phí, trong khi người dân không có đất sản xuất.
Nhiều trường hợp, người bị thu hồi đất cho
rằng, việc thu hồi đất cho các dự án này mang
tính áp đặt, bồi thường không thỏa đáng nhưng
lại bỏ hoang dẫn đến việc họ cảm thấy bị tổn
thương “xót đất”, từ đó dẫn khiếu nại và tâm lý
chống đối những dự án tương tự tiếp theo [5].
Thứ tư, việc thực hiện các khâu từ thông
báo thu hồi đất đến khi ban hành quyết định
phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ, tái
định cư trong nhiều trường hợp còn chậm trễ,
chưa đảm bảo đúng quyền lợi của người bị thu
hồi đất. Điều này do cán bộ thực hiện công tác
bồi thường chưa làm hết trách nhiệm, năng lực
chuyên môn chưa đáp ứng được yêu cầu của
nhiệm vụ.
2.6.1. Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, nhiều quy định hiện hành về thu
hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng khi
Nhà nước thu hồi đất không phù hợp với thực
tiễn và không đảm bảo được quyền tài sản của
người bị thu hồi đất. Việc chưa có những tiêu chí
cụ thể về xác định mục đích phát triển kinh tế - xã
hội vì lợi ích quốc gia, công cộng đã dẫn đến tình
trạng lợi dụng quy định này để mang lại lợi ích
cho tư nhân. Các quy định về thu hồi và bồi
thường còn thiếu minh bạch, giá đất bồi thường
thấp và không phù hợp với giá thị trường [4].
Thứ hai, cơ chế xác định bồi thường thể
hiện sự áp đặt bởi ý chí của Nhà nước. Người
có đất bị thu hồi mặc dù là chủ tài sản nhưng
lại không được quyết định giá đất hoặc tham
gia vào việc đánh giá đất một cách thực chất.
Trong khi, kết quả tư vấn giá đất của đơn vị tư
vấn cũng chỉ mang tính tham khảo, cơ quan
quyết định cuối cùng vẫn là Nhà nước. Bên
cạnh đó, quy trình định giá đất từ khi đơn vị tư
vấn tham gia, đưa ra giá tư vấn đến khi quyết
định giá đất thiếu công khai, minh bạch.
2.7. Một số đề xuất hoàn thiện quy định
pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, giải
phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất
2.7.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về căn
cứ thu hồi đất
Một trong những nguyên nhân dẫn đến
bức xúc, khiếu nại khi thu hồi đất là người có
đất bị thu hồi cho rằng, trong nhiều trường hợp
Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã
hội vì lợi ích quốc gia, công cộng nhưng thực
chất là thu hồi đất vì lợi ích của tư nhân, chủ
đầu tư và chèn ép người có đất bị thu hồi. Phổ
biến nhất là tình trạng thu hồi đất giao cho tư
nhân đầu tư phân lô bán nền, xây dựng nhà và
2.6.2. Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, ý thức hệ và tâm lý gắn bó với
đất, gắn bó với nơi “chôn rau cắt rốn” và ngại
thay đổi nơi cư trú sản xuất của người Việt ở
những mức độ khác nhau đều coi trọng đời
sống tâm linh tín ngưỡng, tôn giáo. Đất đai đối
với người dân Việt Nam không chỉ là không gian
sống là tư liệu sản xuất, là địa điểm kinh doanh
45
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Nguyễn Thị Dung
các trung tâm thương mại - dịch vụ để bán cho
thuê với lợi nhuận rất cao so với số tiền bỏ ra
để bồi thường. Điều 62 Luật Đất đai năm 2013
quy định căn cứ thu hồi đất để phát triển kinh tế
- xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên cơ
sở quyết định chủ trương đầu tư, chấp thuận
đầu tư, quyết định đầu tư của từng dự án mà
không căn cứ đối tượng được sử dụng đất sau
thu hồi là Nhà nước hay tư nhân. Nếu chủ đầu
tư là tư nhân, Nhà nước đã thu hồi đất cho tư
nhân và lợi ích mang lại cho tư nhân, đây là
nguyên nhân dẫn đến sự phản đối quyết liệt của
người có đất bị thu hồi [6].
thường yêu cầu về tính công khai, minh bạch
công bằng trong thu hồi và bồi thường. Cụ thể:
Thứ nhất, cần quy định giá đất làm căn cứ
bồi thường là giá thị trường; giá trị trường cũng
được áp dụng để bồi thường trong trường hợp
chuyển dịch đất đai bắt buộc và chuyển dịch
đất đai tự nguyện [7]. Nghị quyết số 19-NQ/TW
và Bộ Luật Dân sự năm 2015 đã xác định quyền
sử dụng đất là một loại tài sản và là hàng hóa
đặc biệt. Cần quy định giá đất bồi thường trong
trường hợp bồi thường bằng tiền. Nhà nước có
quyền đơn phương thu hồi đất vì mục đích
quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế - xã hội
vì lợi ích quốc gia, công cộng, nhưng quyền sử
dụng đất được trao cho người sử dụng đất là tài
sản của họ. Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và
là chủ thể trong “giao dịch” thu hồi đất. Người
sử dụng đất là chủ thể đối với tài sản của mình
được pháp luật bảo hộ [8].
Sự không đồng thuận của người có đất bị
thu hồi, của dư luận xuất phát từ căn nguyên ai là
chủ sử dụng đất sau khi thu hồi, lợi ích chính
mang lại sau khi thu hồi đất rơi vào đối tượng thụ
hưởng nào (xã hội hay nhóm lợi ích thiểu số). Vì
thế, cần sửa đổi, bổ sung căn cứ thu hồi đất để
phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia,
công cộng, theo hướng Nhà nước chỉ thu hồi
đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc
gia, công cộng, nếu chủ đầu tư dự án là Nhà
nước. Tức là, cần xác định người được sử dụng
đất sau thu hồi là ai và lợi ích thực sự mang lại
sau khi thu hồi đất cho ai, chứ không phải dự
án do cơ quan Nhà nước quyết định chủ trương
đầu tư, chấp thuận đầu tư quyết định đầu tư.
Đối với các dự án mà chủ đầu tư là tư nhân thì
áp dụng các hình thức theo quy định tại điều 73
Luật Đất đai năm 2013 (nhà đầu tư phải thỏa
thuận để nhận quyền sử dụng đất thông qua các
giao dịch trên thị trường).
Thứ hai, cần quy định giá đất do đơn vị tư
vấn xác định phải được công khai trước khi
trình cơ quan xác định giá đất làm căn cứ bồi
thường và đại diện những người bị thu hồi đất
được tham gia vào quá trình xác định giá đất
với tư cách là một thành viên của hội đồng xác
định giá đất. Trường hợp giữa đại diện người
có đất bị thu hồi, đơn vị tư vấn và cơ quan xác
định giá đất không thống nhất về giá đất thì
thuê đơn vị tư vấn giá đất độc lập để xác định.
Thứ ba, ban hành quy định nghiêm cấm ủy
ban nhân dân cấp tỉnh ủy quyền cho ủy ban nhân
dân cấp huyện quyết định giá đất cụ thể làm
căn cứ bồi thường. Ủy ban nhân dân cấp huyện
có thể sâu sát, hiểu rõ giá đất trên thị trường ở
địa phương. Đội ngũ tham mưu cho việc quyết
định giá đất có thể không đảm bảo chuyên môn
về giá như các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá đất cụ
thể trên cơ sở tham khảo giá do ủy ban nhân
dân cấp huyện đề xuất.
2.7.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về nguyên
tắc bồi thường đất khi Nhà nước thu hồi đất
Điều 74 Luật Đất đai năm 2013 quy định
các nguyên tắc bồi thường về đất, trong nội
dung của từng nguyên tắc lại quy định cụ thể
những vấn đề cơ bản cốt lõi của bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất, đó là điều kiện để được
bồi thường về đất, giá đất làm căn cứ bồi
thường cần xác định loại đất thu hồi và bồi
2.7.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều kiện
bồi thường về đất đai Nhà nước thu hồi đất
46
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 27, Tháng 5 - 2021
Liên quan đến điều kiện bồi thường về đất,
vướng mắc phổ biến hiện nay là xem xét bồi
thường đối với đất không có giấy tờ về quyền
sử dụng đất nhưng người sử dụng đất đã hoặc
đang sử dụng. Đối với loại đất này, theo quy
định tại điều 75, điều 101 Luật Đất đai năm
2013, Nhà nước sẽ bồi thường nếu đất đủ điều
kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất. Để được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn
liền với đất thì phải được ủy ban nhân dân cấp
xã nơi có đất xác định là đất sử dụng ổn định,
không có tranh chấp.
họ. Trong trường hợp này, việc có được bồi thường
hay không, hoàn toàn phụ thuộc vào sự xác nhận
đó. Khi xác nhận đất không có tranh chấp, cần
được hiểu là tại thời điểm ủy ban nhân dân cấp
xã xác nhận không có ai tranh chấp với người
sử dụng đất; Không có người nào gửi đơn đến
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền yêu cầu giải
quyết tranh chấp. Để loại trừ những tranh chấp
và mâu thuẫn không đáng có, việc xác nhận
cho người sử dụng đất là sử dụng đất ổn định
cần lấy ý kiến của những người sinh sống cùng
thôn xóm, ấp, bản, tổ dân phố, khu tập thể biết
rõ về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất để xác
định thời điểm sử dụng đất. Những người được
lấy ý kiến phải có đủ năng lực hành vi dân sự
Khái niệm đất sử dụng ổn định theo quy
địnhtạiKhoản1,điều21Nghịđịnhsố43/2014/NĐ-CP theo quy định của pháp luật dân sự tại thời
như sau: Sử dụng đất ổn định là việc sử dụng
đất liên tục vào một mục đích nhất định kể từ
thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó
đến thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất hoặc đến thời điểm quyết định
thu hồi đất. Đây là điều hết sức bất hợp lý [1].
Thứ nhất, quy định điều kiện để được bồi
thường về đất trong trường hợp người sử dụng
đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất cần
căn cứ vào thời điểm bắt đầu sử dụng đất, căn
cứ xác lập quyền sử dụng đất chứ không bắt
buộc đất đó phải được sử dụng liên tục. Nếu tại
thời điểm sử dụng đất là hợp pháp, chưa bị cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất,
chưa chấm dứt quyền sử dụng đất thông qua
việc tặng cho, chuyển nhượng hoặc trả lại đất
cho Nhà nước, thì được bồi thường. Quyền sử
dụng đất của họ đã được xác lập kể từ thời
điểm bắt đầu sử dụng. Việc người sử dụng đất
không sử dụng trong một thời gian dẫn đến đất
tình trạng sử dụng thiếu ổn định, không nên xác
định là căn cứ cho việc bồi thường.
điểm mà người sử dụng đất cho rằng bắt đầu sử
dụng đất và tại thời điểm lấy ý kiến.
3. KẾT LUẬN
Thu hồi đất để phục vụ cho mục đích quốc
phòng an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi
ích quốc gia, công cộng là nhu cầu tất yếu
khách quan. Với vai trò là chủ thể của quyền
lực công, Nhà nước có quyền thu hồi đất để sử
dụng cho các mục đích này dựa trên những căn
cứ do pháp luật quy định. Việc thu hồi đất sẽ
gây ra những thiệt hại cho người có đất bị thu
hồi, đồng thời làm phát sinh mối quan hệ lợi
ích cần được giải quyết giữa Nhà nước, nhà đầu
tư và người bị thu hồi đất. Mặc dù đất đai thuộc
sở hữu toàn dân nhưng quyền sử dụng đất là tài
sản thuộc về người sử dụng đất. Cần có trách
nhiệm bồi thường những thiệt hại, thực hiện
những hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi và giải
quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích phát sinh
giữa Nhà nước, nhà đầu tư, người bị thu hồi
đất và những người được hưởng lợi từ việc thu
hồi đất. Những công việc đó cần phải đảm bảo
cho sự công bằng, sự phồn thịnh của mỗi thành
viên trong xã hội và cho cả nền kinh tế của
nước nhà.
Thứ hai, Người sử dụng đất cho rằng, đất
được sử dụng ổn định không có tranh chấp nhưng
ủy ban nhân dân cấp xã lại không xác nhận cho
47
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Nguyễn Thị Dung
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Trần Quang Huy (2017), Bình luận chế định quản lý Nhà nước về đất đai trong Luật Đất đai 2013,
Nxb Tư pháp.
ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, Nghiên cứu Lập pháp, số 22.
[4] Nguyễn Vinh Diện (2019), Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, Luận án Tiến sĩ
Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
[5] Dương Đức Sinh (2017), Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp và
thực tiễn thi hành tại thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học
Luật Hà Nội.
[7] Trần Quang Huy (2015), Bình luận chế độ quản lý nhà nước về đất đai theo Luật Đất đai 2013,
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, Trường Đại học Luật Hà Nội.
[8] Nguyễn Vinh Diện (2019), Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, Luận án Tiến sĩ
Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
[9] Luật Tổ chức chính quyền địa phương, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-
Ngày nhận bài: 02-5-2021. Ngày biên tập xong: 08-5-2021. Duyệt đăng: 20-5-2021
48
Bạn đang xem tài liệu "Một số bất cập, vướng mắc về thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng trong luật đất đai năm 2013", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mot_so_bat_cap_vuong_mac_ve_thu_hoi_dat_boi_thuong_giai_phon.pdf

