Mở rộng khả năng tiếp cận vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
MỞ RỘNG KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN TÍN DỤNG ĐẦU TƢ PHÁT
TRIỂN CỦA NHÀ NƢỚC CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
Nguyễn Cảnh Hiệp,
Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Tóm tắt:
Bài viết này nghiên cứu về những rào cản ch nh sách đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
(DNNVV) trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển (ĐTPT) của Nhà nước. Thông qua
phân t ch các điều kiện cho vay nguồn vốn này theo quy định hiện hành của Chính phủ đặt trong
mối tương quan với điều kiện vay vốn tại các ngân hàng thương mại (NHTM) theo quy định của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), bài viết đã ch ra những rào cản chủ yếu mà DNNVV
phải đối mặt liên quan đến thủ tục vay vốn, tài sản bảo đảm tiền vay ( ĐTV) và lãi suất cho vay.
Dựa trên kết quả phân t ch đó, tác giả bài viết đề xuất một số giải pháp tháo gỡ các rào cản
nhằm mở rộng khả năng cho các DNNVV trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng ĐTPT của Nhà
nước để thực hiện các dự án đầu tư.
Từ khoá: Rào cản, tiếp cận vốn, tín dụng ĐTPT của Nhà nước
REMOVING OBSTACLES FOR SMES IN ACCESSING
THE STATE’S DEVELOPMENT INVESTMENT CREDIT
Abstract:
This article studies the obstacles for SMEs in accessing the State‟s development
investment credit. By analyzing lending conditions of this capital source currently regulated by
the Government in comparison with those of commercial banks regulated by the State Bank of
Vietnam, the article points out main obstacles that SMEs have to face relating to borrowing
procedures, security assets and lending rates. Based on the result of the analysis, the author
suggests some solutions to remove obstacles with the aim of encouraging SMEs to use the State‟s
development investment credit capital for carrying out investment projects.
Keywords: obstacles, capital access, the State‟s development investment credit
1. Đặt vấn đề
Thế giới đang chuyển mình trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mà trong đó có
sự phát triển và ứng dụng rộng rãi các công nghệ như điện toán đám mây, công nghệ di động,
Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI), mạng xã hội.... Cuộc cách
325
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0
mạng này có những tác động sâu rộng đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội, trong đó có hoạt
động của các DNNVV. Tuy nhiên, với những hạn chế cố hữu về năng lực tài chính, công nghệ
và quản lý, trong bối cảnh Cách mạng công nghệ lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, các DNNVV
càng tỏ ra dễ bị tổn thương hơn so với các doanh nghiệp lớn.
Theo thống kê của Hiệp hội DNNVV, đến năm 2018, Việt Nam có gần 600.000
DNNVV, chiếm khoảng 97,5% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động thực tế. Hàng năm, các
DNNVV đóng góp khoảng 40% tổng sản phẩm trong nước (GDP), 30% thu ngân sách nhà nước,
33% giá trị sản lượng công nghiệp, 30% giá trị hàng hóa xuất khẩu và tạo ra gần 60% việc làm...
Do đó có thể nói, đây là một lực lượng rất quan trọng của nền kinh tế nước ta trong giai đoạn
hiện nay.
Với nguồn vốn tự có nhìn chung còn nhỏ bé, hoạt động của các DNNVV nước ta vẫn trông
chờ phần nhiều vào nguồn vốn vay, trong đó bao gồm cả vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước.
Về thực chất, tín dụng ĐTPT của Nhà nước là một biện pháp hỗ trợ về nguồn vốn trung
và dài hạn có tính ưu đãi từ Nhà nước đối với các doanh nghiệp nói chung, trong đó có DNNVV,
dưới hình thức cho vay thông qua một định chế tài chính chuyên biệt là Ngân hàng Phát triển
Việt Nam (VDB) để đầu tư vào một số loại dự án phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và hạ tầng
thuộc những ngành nghề, lĩnh vực hoặc địa bàn mà Nhà nước ưu tiên đầu tư.
So với thời gian đầu mới được triển khai (năm 2000), nguồn vốn tín dụng ĐTPT của Nhà
nước hiện tại đã có sự thu hẹp đáng kể về danh mục đối tượng cho vay cũng như các điều kiện
ưu đãi trong đó. Tuy nhiên, nếu so với nguồn vốn vay của các NHTM, nguồn vốn tín dụng
ĐTPT của Nhà nước hiện nay nhìn chung vẫn có một số điểm hấp dẫn với thời hạn cho vay
tương đối dài, lãi suất cho vay không cao và không phải trả một số loại phí như khi vay vốn từ
NHTM (phí trả nợ trước hạn, phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng, phí thu xếp cho vay hợp
vốn, phí cam kết rút vốn…). Mặc dù vậy, để được sử dụng nguồn vốn này, các doanh nghiệp vay
vốn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo những quy định chặt chẽ của Chính phủ.
Đối với những doanh nghiệp lớn, có năng lực tài chính cũng như năng lực sản xuất kinh
doanh, việc đáp ứng các điều kiện vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước không phải là vấn đề
quá khó khăn. Tuy nhiên, đối với các DNNVV mà trong đó đa phần có năng lực tài chính và
trình độ quản lý hạn chế, thì những quy định nói trên trong nhiều trường hợp lại trở thành rào
cản trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghệ lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ và các
DNNVV của nước ta đang gặp nhiều khó khăn trong việc huy động vốn nói chung cũng như vốn
trung và dài hạn nói riêng, việc tháo gỡ các rào cản nhằm mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn
tín dụng ĐTPT của Nhà nước là một việc làm cần thiết, khi mà nguồn vốn này vẫn là một kênh
tài trợ được nhiều DNNVV lựa chọn để thực hiện một số loại dự án đầu tư nằm trong danh mục
được Chính phủ quy định nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.
2. Những rào cản chủ yếu đối với DNNVV trong tiếp cận vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc
hiện nay
Chính sách tín dụng ĐTPT của Nhà nước hiện hành được Chính phủ quy định tại Nghị
định số 32/2017/NĐ-CP ban hành ngày 31/3/2017, có hiệu lực từ ngày 15/5/2017. Theo quy định
326
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
tại Nghị định này, có khoảng 20 loại dự án đầu tư thuộc lĩnh vực phát triển kết cấu hạ tầng, nông
nghiệp, nông thôn và công nghiệp hoặc dự án đầu tư thực hiện tại một số địa bàn đặc thù (địa
bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc Khơ
me sinh sống tập trung, các xã thuộc Chương trình 135, các xã biên giới thuộc Chương trình 120,
các xã vùng bãi ngang) thuộc đối tượng được vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước. Số vốn cho
vay đối với mỗi dự án tối đa bằng 70% tổng mức vốn đầu tư của dự án. Thời hạn của mỗi khoản
vay do VDB quyết định theo khả năng thu hồi vốn của dự án và khả năng trả nợ của khách hàng
vay vốn, tối đa có thể lên tới 15 năm (đối với dự án thuộc nhóm A) hoặc 12 năm (đối với các dự
án khác).
Mặc dù được xây dựng và vận hành với mục đích tạo ra một công cụ hỗ trợ về nguồn vốn
tín dụng trung và dài hạn ưu đãi cho các doanh nghiệp, song chính sách tín dụng ĐTPT của Nhà
nước hiện nay vẫn chứa đựng trong đó những quy định chưa thực sự phù hợp với điều kiện thực
tế của nhiều doanh nghiệp hoặc tình hình của thị trường tài chính, vô hình trung tạo ra rào cản
đối với các doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng trong việc tiếp cận nguồn vốn này. Có
thể nhận ra những rào cản đó thông qua việc phân tích một số quy định về điều kiện vay vốn
trong chính sách tín dụng ĐTPT của Nhà nước sau đây:
Một là, về thủ tục vay vốn
Để được vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước, các doanh nghiệp phải đáp ứng một số
điều kiện nhất định theo quy định của Chính phủ. Ngoài những điều kiện thông thường mà các
doanh nghiệp thường vẫn phải đáp ứng khi vay vốn tại các tổ chức tín dụng (về năng lực pháp
luật của khách hàng, về mục đích sử dụng vốn vay, về hiệu quả của dự án, phương án vay
vốn…), các doanh nghiệp vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước còn phải đáp ứng một số điều
kiện tương đối khác biệt so với điều kiện áp dụng đối với khách hàng vay vốn tại các tổ chức tín
dụng thông thường. Chẳng hạn, theo quy định tại Nghị định số 32/2017/NĐ-CP, doanh nghiệp
vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước phải thực hiện các thủ tục đầu tư xây dựng, hạch toán kế
toán và kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, để được
chấp thuận cho vay và giải ngân vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước, doanh nghiệp vay vốn còn
phải thực hiện các thủ tục về chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư đối với dự án đầu tư công
theo quy định của Luật Đầu tư công cũng như thủ tục lựa chọn nhà thầu theo quy định của Luật
Đấu thầu…
Việc phải tuân thủ đầy đủ các quy định nói trên, đặc biệt là những quy định liên quan đến
thủ tục đầu tư xây dựng và lựa chọn nhà thầu, thường đòi hỏi rất nhiều hồ sơ được cấp bởi nhiều
cơ quan khác nhau, trong khi đa số DNNVV lại không có kinh nghiệm thực hiện các thủ tục này.
Do đó, nhiều trường hợp DNNVV không thể hoàn thành đủ các thủ tục theo quy định để được
vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước, hoặc vẫn hoàn thành đủ các thủ tục này nhưng lại tốn rất
nhiều thời gian và chi phí.
Ngoài ra, do không tổ chức tốt công tác kế toán nên sổ sách kế toán của các DNNVV
thường không phản ánh trung thực và đầy đủ tình hình tài chính doanh nghiệp, dẫn tới không đáp
327
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0
ứng được yêu cầu về hạch toán kế toán, báo cáo tài chính và kiểm toán báo cáo tài chính theo
quy định về điều kiện vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước…28
Tất cả những điều nói trên đã khiến cho nhiều DNNVV thấy e ngại khi vay vốn tín dụng
ĐTPT của Nhà nước. Trong khi đó, ngược lại với tình trạng này, DNNVV vay vốn tại NHTM
rất ít khi phải đáp ứng yêu cầu về các hồ sơ, thủ tục nói trên, đặc biệt là những thủ tục đòi hỏi
mất nhiều thời gian liên quan đến đầu tư xây dựng và lựa chọn nhà thầu. Đây cũng là một điểm
khiến nhiều DNNVV ngày càng có xu hướng lựa chọn nguồn vốn vay của NHTM thay vì vốn tín
dụng ĐTPT của Nhà nước, bởi sự đơn giản trong thủ tục cấp tín dụng của các ngân hàng này
giúp doanh nghiệp vay vốn tận dụng được thời cơ do giảm thiểu thời gian rút vốn vay để phục vụ
hoạt động đầu tư.
Hai là, về tài sản bảo đảm tiền vay
Tài sản BĐTV luôn là một vấn đề thách thức mà các DNNVV phải đối mặt khi phát sinh
nhu cầu sử dụng vốn từ các tổ chức tín dụng. Đối với những DNNVV có nhu cầu vay vốn trung
và dài hạn để đầu tư mới hoặc đầu tư mở rộng cơ sở sản xuất kinh doanh nhưng không nhiều có
tài sản để cầm cố, thế chấp, thì vấn đề BĐTV lại trở thành một rào cản khó có thể vượt qua để
tiếp cận được nguồn vốn của các ngân hàng.
Còn xét riêng trong hoạt động cho vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước, yêu cầu về
BĐTV tuy đã được quy định tương đối thông thoáng, song với điều kiện của nhiều DNNVV hiện
nay, thì yêu cầu về BĐTV vẫn có thể coi là một rào cản lớn khi tiếp cận nguồn vốn này. Theo
đó, ngoại trừ trường hợp các dự án đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định, còn lại các
trường hợp khác khi vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước để đầu tư dự án, doanh nghiệp phải
thực hiện các biện pháp BĐTV tại VDB theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm, với
biện pháp BĐTV do VDB xem xét, quyết định cụ thể đối với từng dự án29.
Quy định nêu trên cho thấy rằng, mặc dù có thể BĐTV bằng các hình thức khác nhau phù
hợp với quy định của pháp luật và mức độ rủi ro của khoản vay, song nhìn chung, các DNNVV
vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước đều phải thực hiện việc BĐTV bằng tài sản, cho dù đó có
thể là tài sản của doanh nghiệp hoặc của bên thứ ba, tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong
tương lai.
Trong khi đó, cơ chế BĐTV áp dụng cho các DNNVV vay vốn tại NHTM do NHNN quy
định lại có phần thông thoáng và cởi mở hơn. Theo đó, các DNNVV có thể được vay vốn mà
không cần tài sản BĐTV nếu thoả thuận được với NHTM, bởi Thông tư số 39/2016/TT-NHNN
28
Trước đây, theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 75/2011/NĐ-CP, chủ đầu tư dự án vay vốn tín dụng ĐTPT của
Nhà nước phải thực hiện chế độ hạch toán kế toán, báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật; báo cáo tài
chính hàng năm phải được kiểm toán bởi cơ quan kiểm toán độc lập. Hiện nay, Điều 6 Nghị định số 32/2017/NĐ-
CP cũng yêu cầu chủ đầu tư phải thực hiện chế độ hạch toán kế toán, báo cáo tài chính và kiểm toán báo cáo tài
chính hàng năm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, kết quả kiểm toán đa phần không đánh giá được độ tin
cậy đối với báo cáo tài chính của các DNNVV do kiểm toán viên thường đưa ra ý kiến loại trừ đối với rất nhiều
khoản mục quan trọng trên báo cáo tài chính như: tiền mặt, nợ phải thu, hàng tồn kho, tài sản cố định…
29 Theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 32/2017/NĐ-CP, chủ đầu tư khi vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước để
đầu tư dự án phải thực hiện các biện pháp đảm bảo tiền vay tại VDB theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo
đảm. Đối với từng dự án, VDB xem xét, quyết định cụ thể các biện pháp đảm bảo tiền vay theo, quy định của pháp
luật. Trường hợp các dự án đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
328
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
của NHNN cho phép các NHTM được quyết định và chịu trách nhiệm về việc cho vay không áp
dụng biện pháp BĐTV30.
Thực tế hiện nay cho thấy, đối với những khách hàng có uy tín, các NHTM thực hiện khá
phổ biến việc miễn tài sản BĐTV hoặc chỉ yêu cầu BĐTV với giá trị thấp hơn nhiều so với mức
vốn vay. Do đó, quy định về BĐTV trong cho vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước hiện hành,
trên phương diện nào đó, đã trở thành một rào cản đối với nhiều DNNVV trong việc tiếp cận và
sử dụng nguồn vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước, nhất là những DNNVV có dự án đầu tư hiệu
quả nhưng tài sản hình thành từ vốn vay không đủ điều kiện để BĐTV, trong khi bản thân doanh
nghiệp không có nhiều tài sản hoặc không có khả năng sử dụng tài sản của bên thứ ba để bảo
đảm cho các khoản vay.
Ba là, về lãi suất vay vốn
Theo quy định của Chính phủ tại Nghị định số 32/2017/NĐ-CP, các doanh nghiệp khi
vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước phải trả lãi vay theo lãi suất được xác định bằng lãi suất
trái phiếu kỳ hạn 5 năm do VDB phát hành, cộng tỷ lệ chi phí quản lý hoạt động và dự phòng rủi
ro của ngân hàng này.
Với lãi suất trúng thầu bình quân các lô trái phiếu có kỳ hạn 5 năm mà VDB phát hành
trong khoảng 2 năm gần đây thường dao động ở mức 5,2-5,3%/năm, cộng thêm tỷ lệ chi phí
quản lý hoạt động và dự phòng rủi ro của VDB ước tính khoảng 5,0-5,5%/năm, thì lãi suất tín
dụng ĐTPT của Nhà nước nếu tính đủ các chi phí theo quy định nói trên của Chính phủ sẽ nằm
trong khoảng 10-11%/năm. Trong khi đó, theo kết quả thống kê của NHNN được công bố cùng
thời kỳ, lãi suất cho vay trung và dài hạn bằng đồng Việt Nam của các NHTM phổ biến cũng chỉ
ở mức 9-11%/năm.
Những số liệu được thống kê và tính toán ở trên cho thấy lãi suất tín dụng ĐTPT của Nhà
nước hiện nay nhìn chung không có gì ưu đãi nếu so sánh với lãi suất cho vay thông thường của
các NHTM. Thậm chí, với cơ chế áp dụng lãi suất cho vay như quy định tại Nghị định số
32/2017/NĐ-CP, hoàn toàn có thể xảy ra trường hợp doanh nghiệp vay vốn tín dụng ĐTPT của
Nhà nước phải chịu mức lãi suất còn cao hơn cả lãi suất cho vay của các NHTM. Nguyên nhân
là do Nghị định số 32/2017/NĐ-CP chỉ quy định một mức lãi suất cho vay đối với mọi doanh
nghiệp mà không cho phép phân biệt lãi suất theo mức độ tín nhiệm của khách hàng, trong khi
Thông tư số 39/2016/TT-NHNN lại cho phép tổ chức tín dụng và khách hàng được thỏa thuận về
lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách
hàng. Điều đó cũng có nghĩa là những DNNVV có uy tín và có dự án đầu tư hiệu quả hoàn toàn
có thể được NHTM cho vay vốn với lãi suất thấp hơn mức lãi suất thông thường, tuỳ thuộc vào
mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp vay vốn cũng như hiệu quả của dự án.
Như vậy, có thể thấy rằng trong bối cảnh thị trường tài chính Việt Nam hiện tại, việc thực
hiện cơ chế lãi suất tín dụng ĐTPT của Nhà nước như quy định tại Nghị định số 32/2017/NĐ-
30
Theo quy định tại Điều 15 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, việc áp dụng biện pháp BĐTV hoặc không áp dụng
biện pháp BĐTV do tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận. Việc thỏa thuận về biện pháp BĐTV của tổ chức tín
dụng với khách hàng phù hợp với quy định của pháp luật về biện pháp bảo đảm và pháp luật có liên quan. Tổ chức
tín dụng quyết định và chịu trách nhiệm về việc cho vay không áp dụng biện pháp BĐTV.
329
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0
CP, trong chừng mực nào đó, cũng tạo ra một rào cản đối với nhiều DNNVV trong việc tiếp cận
nguồn vốn này, cho dù đó là doanh nghiệp có uy tín và có dự án đầu tư hiệu quả.
3. Giải pháp tháo gỡ rào cản nhằm mở rộng khả năng tiếp cận vốn tín dụng ĐTPT của Nhà
nƣớc cho DNNVV
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và quá trình cải cách tài
chính công, các ưu đãi trong chính sách tín dụng ĐTPT của Nhà nước có xu hướng giảm dần
nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới hoạt động tín dụng nhà nước đã đặt ra trong Chiến lược tài chính
Việt Nam đến năm 2020, cũng như mục tiêu từng bước giảm cấp bù của ngân sách nhà nước
được xác định tại Chiến lược phát triển VDB đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Mặc dù
vậy, với những điểm ưu đãi hiện có (như đã chỉ ra ở phần đầu của bài viết), trong nhiều trường
hợp cần thực hiện dự án đầu tư vào một số lĩnh vực hoặc địa bàn có điều kiện đặc thù, nguồn vốn
tín dụng ĐTPT của Nhà nước vẫn là một kênh cung ứng vốn ĐTPT quan trọng được nhiều
DNNVV ưu tiên lựa chọn khi xây dựng phương án tài chính của dự án.
Từ những phân tích ở phần trên của bài viết, có thể thấy rằng, mặc dù nguồn vốn tín dụng
ĐTPT của Nhà nước có thể đáp ứng được yêu cầu sử dụng vốn của DNNVV để đầu tư cho một
số loại dự án, song việc tiếp cận nguồn vốn này chưa thực sự thuận lợi như tiếp cận nguồn vốn
vay của các NHTM, trong khi tính chất ưu đãi trong chính sách tín dụng ĐTPT của Nhà nước
cũng không còn rõ nét như trước đây.
Để góp phần tháo gỡ những rào cản nhằm mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn này cho
DNNVV, các cơ quan quản lý và thực thi chính sách tín dụng ĐTPT của Nhà nước cũng như các
DNNVV cần xem xét thực hiện một số giải pháp:
Th nhất, đối với Chính phủ
- Sửa đổi các quy định về điều kiện vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước liên quan đến
lãi suất cho vay và tài sản BĐTV theo hướng cho phép VDB được thực hiện chính sách phân
biệt lãi suất cho vay và tỷ lệ BĐTV theo khách hàng vay vốn, tạo điều kiện cho các DNNVV có
uy tín và có dự án hiệu quả được vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước với lãi suất thấp hơn và
tỷ lệ BĐTV nhỏ hơn so với các doanh nghiệp khác. Việc áp dụng biện pháp BĐTV hoặc không
áp dụng biện pháp BĐTV đối với mỗi khoản vay do VDB quyết định và chịu trách nhiệm theo
mức độ rủi ro của khoản vay.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảm thiểu chi phí tạo lập nguồn vốn tín dụng ĐTPT
của Nhà nước làm cơ sở hạ lãi suất cho vay đối với các doanh nghiệp, thông qua việc ưu tiên cho
VDB được huy động các nguồn vốn có lãi suất thấp từ các quỹ tài chính ngoài ngân sách nhà
nước hoặc xem xét cấp bảo lãnh để VDB huy động vốn của các tổ chức tài chính, tín dụng quốc
tế trong trường hợp VDB tìm được nguồn vốn giá rẻ từ các tổ chức này.
Th hai, đối với VDB
- Chủ động và tích cực hướng dẫn các DNNVV trong quá trình thực hiện thủ tục vay vốn
tín dụng ĐTPT của Nhà nước (bao gồm cả các thủ tục lập và phê duyệt dự án đầu tư cũng như
thủ tục lựa chọn nhà thầu thi công các hạng mục của dự án) để giảm thiểu thời gian và chi phí
liên quan trong việc thực hiện các thủ tục này; tránh trường hợp doanh nghiệp phải mất nhiều
330
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
thời gian và chi phí hoàn thiện hồ sơ của dự án vay vốn hoặc không đáp ứng đủ điều kiện để
được vay vốn hoặc giải ngân vốn vay do thiếu các hồ sơ theo quy định.
- Tích cực tìm kiếm các nguồn vốn giá rẻ và đẩy mạnh huy động vốn bằng các hình thức
khác nhau đã được cho phép tại Điều lệ tổ chức và hoạt động của VDB để giảm thiểu chi phí huy
động vốn; đồng thời nghiên cứu ứng dụng các công nghệ hiện đại vào quản lý hoạt động của
VDB nhằm giảm tỷ lệ chi phí quản lý, làm cơ sở giảm lãi suất cho vay đối với các DNNVV sử
dụng vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước.
- Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng, trong đó đặc biệt chú trọng thẩm định hiệu
quả và tính khả thi của dự án cũng như năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn,
làm cơ sở quyết định lãi suất cho vay và biện pháp BĐTV đối với DNNVV phù hợp với hiệu quả
của dự án và mức độ rủi ro của khoản vay.
- Chú trọng thực hiện các giải pháp nâng cao năng lực và hiệu quả quản trị rủi ro (bao
gồm cả rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất và rủi ro thanh khoản) nhằm giảm thiểu các tổn thất và chi
phí phát sinh trong hoạt động tín dụng ĐTPT (đặc biệt là chi phí dự phòng rủi ro), tạo điều kiện
giảm lãi suất cho vay nhằm tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước cho
các doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng.
- Phát triển nguồn nhân lực có trình độ cùng với việc đầu tư các phương tiện hỗ trợ cần
thiết (đặc biệt là các thông tin kinh tế, kỹ thuật) nhằm nâng cao chất lượng thẩm định hiệu quả
của dự án cũng như năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn, làm cơ sở quyết
định lãi suất cho vay và biện pháp BĐTV phù hợp với mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp vay
vốn và rủi ro của khoản vay.
Th ba, đối với các DNNVV
- Chú trọng nâng cao năng lực quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó đặc biệt
là năng lực dự báo tình hình thị trường và lập kế hoạch kinh doanh, làm cơ sở xây dựng các dự
án đầu tư đáp ứng được yêu cầu về hiệu quả vay vốn phù hợp với chính sách tín dụng ĐTPT của
Nhà nước.
- Tổ chức tốt công tác kế toán nhằm minh bạch hoá tình hình tài chính của doanh nghiệp,
làm cơ sở để VDB có thể thẩm định và xác định các chỉ tiêu tín dụng (mức vốn cho vay, lãi suất
cho vay, tài sản BĐTV, mức vốn chủ sở hữu tham gia đầu tư…) phù hợp với năng lực tài chính
và mức độ rủi ro của doanh nghiệp.
4. Kết luận
Phát triển DNNVV là một nhiệm vụ quan trọng được Chính phủ quan tâm và nỗ lực thực
hiện bằng nhiều giải pháp khác nhau, trong đó có việc nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn tín
dụng cho các doanh nghiệp này.
Các giải pháp được đề xuất ở phần trên của bài viết tuy chưa giải quyết triệt để các điểm
vướng mắc cho DNNVV khi vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước, song nếu được triển khai
thực hiện sẽ có tác dụng tích cực trong việc tháo gỡ những rào cản chủ yếu về điều kiện cho vay,
qua đó mở rộng khả năng tiếp cận của DNNVV đối với nguồn vốn này.
Tuy nhiên, để có thể thực hiện thành công các giải pháp nói trên, bên cạnh sự ủng hộ của
Chính phủ và VDB, các DNNVV cũng cần nỗ lực nhiều hơn trong việc nâng cao năng lực của
331
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0
bản thân về mọi mặt, đặc biệt là trong việc quản lý tài chính và lập dự án đầu tư. Chỉ trong
trường hợp đó, việc cho vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước đối với các DNNVV mới đảm
bảo được yêu cầu vừa tạo điều kiện thuận lợi cho DNNVV nhưng lại vừa không gây rủi ro, tổn
thất cho Nhà nước và VDB./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cục Phát triển doanh nghiệp - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2017), Sách trắng Doanh nghiệp nhỏ
và vừa Việt Nam 2017, Hà Nội, 2017.
2. Hà Anh (2018), ―Công bố và giới thiệu chỉ số chính sách doanh nghiệp nhỏ và vừa của
ASEAN 2018‖, áo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, đăng tải ngày 01/10/2018, truy cập
3. Hồng Anh (2019), ―Tăng trưởng tín dụng năm 2018 đạt 14%‖, áo Nhân dân điện tử, đăng
4. Nguyễn Cảnh Hiệp (2017), ―Khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước:
nhìn từ yếu tố lãi suất‖, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 8 (471), Tr.49-55.
5. Nguyễn Cảnh Hiệp (2018), ―Hỗ trợ doanh nghiệp giảm chi phí sử dụng vốn tín dụng ĐTPT
của Nhà nước‖, Tạp chí Thị trường Tài chính - tiền tệ, số 24 (513), Tr. 26-28.
6. NHNN (2019), ―Những kết quả hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2019‖, Cổng thông
tin điện tử NHNN, đăng tải ngày 05/7/2019, truy cập tại
7. Nghị định số 32/2017/NĐ-CP ngày 31/3/2017 của Chính phủ về tín dụng đầu tư của Nhà
nước.
8. Quyết định số 369/QĐ-TTg ngày 28/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
Chiến lược phát triển Ngân hàng Phát triển Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm
2030.
9. Quyết định số 450/QĐ-TTg ngày 18/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
Chiến lược Tài chính đến năm 2020.
10. Thông tư số 39/2016/TT-NHNN của NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
332
Bạn đang xem tài liệu "Mở rộng khả năng tiếp cận vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước cho doanh nghiệp nhỏ và vừa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mo_rong_kha_nang_tiep_can_von_tin_dung_dau_tu_phat_trien_cua.pdf

